1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhận thức quy luật này trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

21 763 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 176 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ...4 1.. Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và tr

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Lời mở đầu 2

Phần 1 Nội dung tiểu luận 4

A Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 4

1 Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội 4

2 Các khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 5

2.1 Lực lượng sản xuất 5

2.2 Quan hệ sản xuất 6

3 Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 7

B Nhận thức và vận dụng quy luật này trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta 13

1 Thời kì trước đổi mới 14

2 Thời kì từ đổi mới đất nước đến nay (từ sau đại hội VI của Đảng) 14

2.1 Đại hội VI của Đảng (1986) 15

2.2 Đại hội VII của Đảng (05/1991) 16

2.3 Đại hội VIII của Đảng (06/1996) 17

2.4 Đại hội IX của Đảng (04/2001) 18

2.5 Đại hội X của Đảng (04/2006) 19

Phần 2 Kết luận 22

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác có một nội dung khoa họcsâu sắc và vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nhận thức và cải tạo xã hội.Bản thân Mác cũng coi học thuyết là kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu về

xã hội của mình Lênin cho rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là nềntảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra rằng mỗi hình thái kinh tế - xãhội có một phương thức sản xuất đặc trưng của nó Thông qua phương thứcsản xuất người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của các thời đại lịch sửkhác nhau Các Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ởchỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào vớinhững tư liệu lao động nào” Phương thức sản xuất ở đây chính là sự thốngnhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuấttương ứng Sự thống nhất đó thể hiện ở một trong hai quy luật mà bất cứ mộthình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải vận động tuân theo, đó là quy luậtquan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất

Thông qua việc giải quyết đề tài: “Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhận thức quy luật này trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta” tôi xin trình bày hai vấn đề chính sau:

 Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hayquy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất

 Việc nhận thức và vận dụng quy luật này trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nước ta

 Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn vận dụngmột cách sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác,đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực

Trang 3

lượng sản xuất, vào điều kiện cụ thể của nước ta để định ra nhữngnhiệm vụ chiến lược cho cách mạng Việt Nam Có thể nói, thắng lợicủa cách mạng Việt Nam trước đây cũng như thắng lợi trong côngcuộc đổi mới gần 20 năm qua không thể thiếu vai trò “kim chỉ nam”của học thuyết hình thái kinh tế -xã hội

Trang 4

Phần 1 NỘI DUNG TIỂU LUẬN

A. QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT NHẤT ĐỊNH PHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1 Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khoa học để tiếpcận đúng đắn khi giải quyết những vấn đề cơ bản của các ngành khóa học xãhội rất đa dạng Bất kì một hiện tượng xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đếnhiện tượng tinh thần, đều chỉ có thể hiểu đúng khi gắn với một hình thái kinh

tế - xã hội nhất định

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sửdùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệsản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lựclượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựngtrên những quan hệ sản xuất ấy

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử đãvạch rõ kết cấu cơ bản và phổ biến của mọi xã hội, vạch rõ cơ chế của quátrình vận động và phát triển tất yếu khách quan của xã hội Hình thái kinh tế -

xã hội là một tổ chức kết cấu vật chất đặc biệt, là một cơ thể sống, nột cơ cấuhoàn chình luôn vận đông, phát triển bao gồm những quan hệ vật chất vànhững quan hệ tư tưởng cho nên bất cứ một hình thái kinh tế - xã hội nàocũng bao gồm 3 bộ phận: quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng và lựclượng sản xuất

Bất cứ một hình thái kinh tế - xã hội cũng vận động và phát triển theo haimối quan hệ hay hai quy luật đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tínhchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về quan hệ giữa

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trang 5

2 Các khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

2.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiêntrong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất nói lên nănglực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội đồngthời nó cũng nói lên trình độ chinh phục tự nhiên của con người

Lực lượng sản xuất là yếu tố khách quan, là nền tảng vật chất của toàn bộlịch sử nhân loại bao gồm những yếu tố vật chất và yếu tố người của nền sảnxuất, cụ thể là để có thể tiến hành sản xuất thì con người cần có những tư liệusản xuất nhất định Tư liệu sản xuất gồm có đối tượng lao động và tư liệu laođộng

Đối tượng lao động là những vật mà trong quá trình sản xuất con người

sử dụng công cụ lao động tác động vào chúng để sản xuất ra của cải vật chất.Những đối tượng lao động bao gồm những vật có sẵn trong tự nhiên và nhữngvật đã qua sơ chế gọi là nguyên liệu

Tư liệu lao động là những vật mà con người đặt giữa mình với đối tượnglao động dùng để tác động vào đối tượng lao động trong quá trình sản xuấtnhư công cụ lao động, những phương tiện vận chuyển hàng hóa, những đồchứa đựng, bảo quản đối tượng lao động

Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động là yếu tố “động” nhất, cáchmạng nhất, là “khí quan của bộ óc người”, “là sức mạnh của tri thức đã đượcvật thể hóa” có tác dụng “nối dài bàn tay” Chính do sự tiến bộ của công cụlao động mà phân công lao động xã hội ngày một phát triển Do đó công cụlao động giữ vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất, là thước đo trình độphát triển của lực lượng sản xuất, trình độ chinh phục tự nhiên của con người,

là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế khác nhautrong lịch sử

Tuy nhiên, trong mối quan hệ với con người thì con người giữ vai tròquyết định Con người là chủ thể sáng chế ra những công cụ lao động thíchhợp, cải tiến chúng và sử dụng chúng để cải biến thế giới khách quan theo

Trang 6

mục đích của mình.Vì vậy, công cụ lao động nói riêng và tư liệu sản xuất nóichung dù có ý nghĩa lớn đến đâu đi chăng nữa, thực chất chỉ là nguồn lực phụthuộc con người, nếu tách khỏi con người, chúng không thể trở thành lựclượng sản xuất của xã hội.

2.2 Quan hệ sản xuất

Con người muốn sống và đảm bảo cuộc sống của mình thì phải lao độngsản xuấ ra của cải vật chất Muốn sản xuất được, con người phải dựa vàonhau, phụ thuộc lẫn nhau, nghĩa là những người sản xuất phải có quan hệ vớinhau Những quan hệ này tất yếu hình thành một cách khách quan không phụthuộc vào đầu óc con người hay do ý muốn con người quyết định Đó chính lànhưng quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sảnxuất của cải vật chất, nó bao gồm 3 quan hệ cơ bản: các quan hệ sở hữu đốivới tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất và cácquan hệ trong phân phối sản phẩm lao động

Các mối quan hệ đó đều là những mối quan hệ bản chất, không được coinhẹ mặt nào, nhưng trong đó thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vaitrò quyết định đối với 2 mặt quan hệ kia Bản chất của bất cứ quan hệ sản xuấtnào cũng do mối quan hệ này quyết định, nghĩa là chế độ sở hữu đối với tưliệu sản xuất như thế nào thì chế độ tổ chức quản lý sản xuất và chế độ phânphối sản phẩm lao động làm ra như thế ấy Tuy nhiên 3 mặt của quan hệ sảnxuất có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành cấu trúc đồng bộ mang tính hệthống, nên khi xác định vai trò quyết định của quan hệ sở hữu thì đồng thờiphải thấy được vai trò quan trọng của 2 mặt quan hệ kia Nếu tổ chức quản lýsản xuất và phân phôi sản phẩm lao động không tốt thì có thể làm xói mòn,biến dạng quan hệ sở hữu

3 Quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, mà tác động biện chứng lẫn nhau

Trang 7

hình thành nên quy luật phổ biến của lịch sử phát triển xã hội loài người, đó làquy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, quy luật này đã chỉ rõ tính phụ thuộc khách quan của quan hệsản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, đến lượt mình quan hệ sảnxuất tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất.

Nói đến tính chất của lực lượng sản xuất là nói đến tính chất của công cụlao động rằng công cụ lao động đó có tính chất cá nhân hay tính xã hội:

- Tính chất cá nhân của lực lượng sản xuất thể hiện trong nền sản xuấtđược thực hiện bằng những công cụ thủ công, thô sơ như liềm, hái, cày,cuốc… Nghĩa là khi công cụ sản xuất còn ở trình độ thấp nó không đòi hỏinhiều người cùng làm, cùng tiến hành một lúc mà mỗi người có thể tự mình

sử dụng công cụ lao dộng riêng vẫn tiến hành sản xuất được

- Tính chất xã hội của lực lượng sản xuất thể hiện khi nền sản xuất đượcthực hiện bằng máy móc, máy móc ra đời bắt buộc nhiều người phải tập trunglại cùng làm, cùng tiến hành một lúc mới sử dụng được công cụ, ví dụ nhưtrong sản xuất dây chuyền

Trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thôngqua việc sử dụng công cụ lao động cải biến thế giới tự nhiên để sản xuất racủa cải vật chất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở 5 điểm sau:

- Trình độ của công cụ lao động

- Trình độ tổ chức lao động xã hội

- Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

- Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người

- Trình độ phân công lao động

Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là trạng thái mà ở đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất đang tạođiều kiện đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Tiêu chuẩn căn bản để xétmột quan hệ sản xuất nào đó có phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất nằm ở chỗ quan hệ sản xuất đó có thúc đẩy lực lượng sản xuất

Trang 8

phát triển hau không? Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất liệu

có quy định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó?

a Trước hết phải nói rằng lực lượng sản xuất có vai trò quyết định sự

hình thành, biến đổi và phát triển của quan hệ sản xuất

Vì theo nguyên lý quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức thì nộidung quyết định hình thức và hình thức có sự tác động trở lại nội dung Ở đâylực lượng sản xuất là nội dung nên lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sảnxuất Vai trò quyết định đó biểu hiện ở các điểm:

- Lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất như thế

ấy, nghĩa là sự biến đổi của các quan hệ sản xuất tùy thuộc vào tínhchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất xãhội hóa thì quan hệ sản xuất cũng phải xã hội hóa Tính chất và trình độcủa quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ cảu lực lượngsản xuất

- Với một lực lượng sản xuất nhất định thì luôn luôn đòi hỏiphải có một quan hệ sản xuất nhất định phù hợp với nó

- Lực lượng sản xuất biến đổi thì quan hệ sản xuất cũng phảibiến đổi theo

Tóm lại tất cả những điều đó chứng tỏ rằng theo sau sự phát triển của cáclực lượng sản xuất thì các quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo và nền sản xuất

xã hội chỉ có thể phát triển mạnh mẽ trên cơ sở các quan hệ xã hội luôn phùhợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Vì vậy những quan hệsản xuất mới không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện vật chất củanhững quan hệ đó chưa chín muồi Do vậy muốn có quan hệ sản xuất mới rađời phải phát triển lực lượng sản xuất đến một mức độ nào đó, nghĩa là phảitạo ra được nền tảng vật chất cho các quan hệ xã hội đó Trong trường hợp cụthể, nhất là trường hợp bỏ qua một phương thức nào đó thì khi quan hệ sảnxuất mới ra đời, muốn nó tồn tại phải nhanh chóng tạo ra cốt vật chất cho nó

Do đó Đảng ta phải thực hiện 3 cuôc cách mạng: cách mạng sản xuất, cách

Trang 9

mạng khoa học kỹ thuât và cách mạng văn hóa tư tưởng, trong đó cách mạngkhoa học kỹ thuật là quan trọng nhất.

Cùng với sự hình thành và phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sảnxuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, sự phù hợp đó tạo động lực cho lực lượng sản xuất phát triển,khi đạt đến một trình độ nhất định mà quan hệ sản xuất không còn phù hợp sẽphát sinh mâu thuẫn gay gắt giữa 2 mặt của phương thức sản xuất, tất yếu sẽdẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng quan hệ sản xuất mớiphù hợp hơn, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thay thế bằng quan hệ sản xuất mớicũng có nghĩa là xóa bỏ một thương thức sản xuất đã lỗi thời thay bằng mộtphương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là cơ sở khách quan của cáccuộc đấu tranh giai cấp, tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội, làm cho xã hộichuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác caohơn

b Chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng chỉ ra quan hệ sản xuất cũng có có tính

độc lập tương đối với lực lượng sản xuất, nghĩa là quan hệ sản xuất cũng tác

động trở lại lực lượng sản xuất

Theo quan điểm duy vật biện chứng thì tuy nội dung quyết định hìnhthức nhưng hình thức không thụ động phụ thuộc vào nội dung mà hình thức

có tác động tích cực trở lại nội dung, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự pháttriển của nội dung Ở đây, quan hệ sản xuất bị quyết định bởi lực lượng sảnxuất trong tất cả các giai đoạn lịch sử và đến lượt nó quan hệ sản xuất tácđộng trở lại lực lượng sản xuất nghĩa là sau khi ra đời quan hệ sản xuất có tácđộng đến lực lượng sản xuất theo hai chiều trái ngược nhau: phù hợp hoặckhông phù hợp

Sự tác động phù hợp thể hiện ở chỗ:

Đó là sự kết hợp đúng đắn giữa các mặt cấu thành quan hệ sản xuất vớicác yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại phương thức liên kết có hiệu

Trang 10

quả cao giữa người lao động và tư liệu sản xuất Đó là điều kiện đảm bảo cho

sự phát triển, là quy luật chung phổ biến tác động trong toàn bộ lịch sửchuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác caohơn

Khi các quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ hiện có củalực lượng sản xuất thì chúng thực sự quyết định sự phát triển mạnh mẽ vàkhông ngừng của các lực lượng sản xuất bởi các nguyên nhân sau:

- Khi các quan hệ sản xuất mới ra đời, chúng tạo ra nhữngquy luật kinh tế mới và chính những quy luật kinh tế này lại là đòn bẩythúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Chẳng hạn như chủ nghĩa tư bản

ra đời cùng với quy luật giá trị thặng dư đã thúc đẩy sản xuất phát triểnnhanh chóng, chỉ chưa đầy một thế kỉ chủ nghĩa tư bản đã tạo ra mộtlượng vật chất lớn chưa từng có

- Khi các quan hệ sản xuất mới ra đời sẽ tạo ra những hìnhthức tổ chức sản xuất mới phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển

- Khi các quan hệ sản xuất mới ra đời tạo ra một bước mớitrong giải phóng người lao động ở một mức cao hơn so với những quan

hệ sản xuất trước đó Chẳng hạn như người nông nô trong xã hội phongkiến có hứng thú lao động hơn người nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô

lệ vì trong xã hội chiếm hữu nô lệ con người bị cột chặt vào đẳng cấpcuối cùng của xã hội

Sự không phù hợp thể hiện ở chỗ:

Khi các quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ hiện cócủa lực lượng sản xuất, tức là lúc các quan hệ sản xuất bộc lộ mâu thuẫn sâusắc, không thể điều hòa được với các lực lượng sản xuất, chúng sẽ biến thànhtrở lực, xiền xích trói buộc, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Một mặt các quan hệ sản xuất không phát triển cùng nhịp với sự pháttriển của lực lượng sản xuất, mà có xu hướng phát triển chậm dần lại, trở nênlỗi thời, lạc hậu, mặt này thể hiện rõ trong các xã hội có đối kháng giai cấp

Ngày đăng: 07/05/2014, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w