iểu luận: Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia nhằm giới thiệu chung về Nho gia và Đạo gia, sự tương đồng giữa Nho Gia và Đạo gia, nét đặc thù của hai dòng tư tưởng Nho gia và đạo gia. Những ảnh hưởng của học thuyết Nho gia và Đạo gia đến xã hội Việt Nam.
Trang 1Tiểu luận
Nét tương đồng và khác biệt giữa
Nho gia và Đạo gia
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Giới thiệu chung về Nho gia và Đạo gia 3
II Sự tương đồng giữa Nho Gia và Đạo gia 6
2.1 Về lịch sử hình thành và phát triển 6
2.2 Về quan điểm 7
III Nét đặc thù của hai dòng tư tưởng Nho gia và đạo gia 12
3.1 Vũ trụ và nhân sinh 12
3.2 Thế giới quan 12
3.3 Những tư tưởng biện chứng 12
IV Những ảnh hưởng của học thuyết Nho gia và Đạo gia đến xã hội Việt Nam 15
4.1 Ảnh hưởng của Nho gia 15
4.2 Ảnh hưởng của Đạo gia 15
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ở Trung Hoa thời Trung đại, các trường phái triết học thường đề cập đến
vũ trụ quan, nhân sinh quan, tuy có khác nhau ít nhiều, nhưng chung quy đều nói đến con người với những quan hệ xung quanh, đều đi đến công nhận thế giới này
là nhất thể Trong số các quan niệm triết học cổ đại Trung Hoa, nổi bật hơn cả có
lẽ là Nho giáo và Đạo giáo Ảnh hưởng của Nho và Đạo giáo khá sâu rộng, từ tư tưởng xã hội, văn hóa, phong tục tập quán cho đến vân học
Ngày nay, nhân dân Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Song, những tàn dư của Nho giáo và Đạo giáo vẫn tiếp tục tồn tại
ở Việt Nam và tác động vào đời sống xã hội theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực
Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu triết học Nho giáo và Đạo giáo là điều cần thiết để từ đó vận dụng những tinh hoa, những giá trị cốt lỗi nhất vào đời sống hiện tại đồng thời nhận ra những điểm hạn chế trong từng tư tưởng để rút kinh nghiệm và cải thiện nó sao cho phù hợp với thời đại
Mặc dù qua quá trình giảng dạy tận tình của thầy Bùi Văn Mưa, thầy Hoàng Trung, nhưng đề tài này vẫn còn rất nhiều hạn chế và không tránh khỏi sai sót Đề tài tiểu luận này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về Sự tương đồng, khác biệt giữa Nho gia và đạo gia, từ đó phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của hai tư tưởng triết học này đến nền dân tộc Việt Nam
Trang 5I GIớI THIệU CHUNG Về NHO GIA VÀ ĐạO GIA
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy (Theo:
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/)
Cho đến hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian, đó là vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước Công nguyên, tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp…
Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
Lịch sử Triết học đã phải trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến đỉnh cao như giai đoạn Triết học của Arixtốt, Đemôcrit và Platon nhưng cũng có lúc nó bị biến thành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã hội tôn giáo bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X –
XV Đến những năm 40 của thế kỷ XIX – Triết học Mác ra đời dựa trên những điều kiện lịch sử về kinh tế xã hội, những tiền đề khoa học tự nhiên và sự kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng của nhân loại
Sự phát triển của Triết học là sự phát triển song song giữa hai nền Triết học Phương Tây và Triết học Phương Đông Nhưng do điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa mà sự phát triển của hai nền Triết học có sự khác nhau Phương Tây phát triển Triết học “hướng ngoại”, bởi những yêu cầu phát triển khoa học nghiên cứu; còn Phương Đông chịu sự tác động của chính trị, chiến tranh diễn ra liên tục, nên Triết học „hướng nội‟, nghiên cứu về Tôn giáo có Ấn
Độ, về chính trị - đạo đức – xã hội có Trung Quốc Nhưng dù phát triển ở Phương Đông hay Phương Tây, thì Triết học cũng là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người
Trung Quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III tr CN kéo dài tới tận thế kỷ III tr CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến
Trang 6Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực
tiễn, những quan hệ đạo đức - chính trị của xã hội Tuy họ vẫn đứng trên quan
điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiến phương Đông Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra các nhà tư tưởng lớn, và hình thành nên các trường phái Triết học khá hoàn chỉnh
Trong số các trường phái triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc tri thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử
đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là nho học hay “Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó
Có thể nói, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên (Bắc Hàn),Hàn Quốc (Nam Hàn) và Việt Nam Những người
thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho
sĩ hay nho sinh Hiện tại có khoảng 150 triệu người theo Nho giáo tại châu Á
Một trường phái Triết học lớn nữa của Trung Hoa là Đạo giáo Đạo giáo tức là giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Hoa, là tôn giáo đặc hữu chính thống của nước này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo có thể xuất hiện ở thế kỉ thứ 4 trước công nguyên, khi tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử xuất hiện Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn chương, nghệ thuật, dưỡng sinh, y học, hóa học, vật lý, địa
lý, lịch sử,…
Trang 7Hai trường phái Triết Học này đã có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan của Triết học sau này, không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền Triết học Trung Hoa, trong đó có Việt Nam
Trang 8II Sự TƯƠNG ĐồNG GIữA NHO GIA VÀ ĐạO GIA
2.1 Về lịch sử hình thành và phát triển
Nho gia và Đạo gia là hai trường phái triết học lớn của Trung Hoa, được
hình thành và phát triển trong thời Xuân Thu, Chiến quốc Đây là thời đại tư
tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học giả đưa ra học thuyết của mình nhằm góp phần biến đổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn lạc bấy
lâu nay
Trường phái Nho gia do Khổng Tử sáng lập vào cuối thời Xuân Thu, rất quan tâm đến các vấn đề đạo đức – chính trị - xã hội Người kế tục nổi tiếng của Khổng Tử là Mạnh Tử (372-289 Tr.CN) và Tuân Tử (298-238 Tr.CN)
Người sáng lập ra trường phái Đạo gia là Lão Tử (khoảng 580- 500
gần thời với Khổng Tử, tức là vào khoảng cuối Xuân Thu sang đầu Chiến quốc Người có công hoàn thiện tư tưởng của Đạo gia là Trang
Tử (396 - 286 Tr.CN), Đương Chu (395 – 335 Tr.Cn), chuyên bàn về các vấn đề nhân sinh
Nho gia và Đạo gia cùng có những ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài đến nền văn
hóa tinh thần của Trung Hoa nói riêng, của nhiều quốc gia phương Đông nói chung:
Nho giáo ảnh hưởng sâu sắc về mặt đạo đức vào phép xử thế, về quan
điểm chính trị, vạch ra đường lối chính trị cho chính quyển phong kiến thời bấy giờ
lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y học, hóa học, vật lý, địa lý, lịch sử…
Trang 92.2 Về quan điểm
2.2.1 Khởi nguyên vũ trụ
Nho gia và đạo gia đều có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, luôn nhấn mạnh tinh thần nhân văn, chú trong đến các tư tưởng triết học liên quan đến con người, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt
Thứ hai, chú trọng đến lĩnh vực chính trị -đạo đức của xã hội, coi việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người Có thể nói, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận
và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa
Thứ ba, nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản đối sự "thái quá" hay"bất cập"
Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy là nhận thức trực giác, coi trọng tác dụng của cái "Tâm", coi đó là gốc rễ của nhận thức
Quan niệm về đạo và đức:
Nho gia: Khổng tử coi đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để
giữ gìn trật tự xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người Xuất phát từ khai thác lý luận âm dương – ngũ hành, Đổng Trọng Thư
là người đã đưa ra thuyết “trời sinh vạn vật” và “thiên nhân cảm ứng”
để hoàn chỉnh thêm Nho gia trong việc giải thích vạn vật, con người và
xã hội
vạn vật Vạn vật nhờ Đạo mà được sinh ra, nhờ Đức mà thể hiện và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo Đạo sinh ra một (khí thống nhất), một sinh ra Hai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba (trời, đất, người), Ba sinh ra vạn vật
Quan niệm về âm dương:
Trang 10Cả hai trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn từ Âm Dương Âm và Dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm
có Dương và trong Dương có Âm
Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương
và trong Dương có Âm
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng
đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau
2.2.2 Thế giới quan – Nhân sinh quan
Bản tính nhân loại đều có một tính gốc:
Nho Gia: Tính gốc là tính thiện (Khổng Tử, Mạnh Tử) hay tính ác
(Tuân Tử) Cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều cho rằng: “bản tính con gười ta là thiện Còn như người ta có làm những điều bất thiện, chẳng qua họ theo tự dục của mình, chứ không phải bản tính con người ta là
như vậy” (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, 6, 15) Nhưng tại sao bản tính
con người là thiện và tính thiện do đâu mà có? Mạnh tử đưa ra ba căn
cứ để lý giải: Tính thiện của con người được thể hiện ở bốn đức lớn: nhân, nghĩa, lễ, trí Mạnh Tử viết:”Phàm những vật đồng loại đều
mang một bản chất giống nhau Tại sao đối với con người ta lại nghi ngờ điều đó? Các bậc thánh nhân và chúng ta đều đồng loại” (Mạnh
Tử, Cáo Tử thượng, 7)
khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với đạo Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là
không nên làm gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng Làm mà như
không làm, như thế có đặng không
Trang 11 Về đạo đức: “Đạo” liên quan đến sự phát triển, tiến hoá của trời đất,
muôn vật, Đức gắn chặt với Đạo
Nho Gia: Đạo là quy luật biến chuyển, tiến hoá của vạn vật trời đất
Đạo là quy luật biến chuyển, tiến hoá của vạn vật trời đất Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà người quân tử
phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều:
đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè"
(sách Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ,
huynh đệ, bằng hữu" Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Đường
đi lối lại của Nho gia đúng đắn phải theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là đạo; noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm
tắc của vạn vật, quy luật biến hóa tự thân của vạn vật Đạo là quy luật
biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức
Quan điểm về con người:
Cả hai đều tập trung chủ yếu vào xã hội và con người, xây dựng, đào tạo con người, hướng tới sự thống nhất, hài hòa giữa con người và xã hội Coi con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu, hướng vào nội tâm - luôn cố
gắng tìm tòi về bản thân con người và mối quan hệ giữa con người và xã hội xung quanh và ít quan tâm đến khoa học tự nhiên Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận, là nguyên nhân sâu xa của sự
kém phát triển kinh tế, khoa học so với văn minh Phương Tây (hướng ngoại)
Chằng hạn như Khổng Tử (Nho gia) đề cao vai trò, sức mạnh của dân Ông coi dân là gốc nước, gốc có vững thì nước mới yên bình Vì dân là gốc nước cho nên nước phải lấy dân làm gốc
Và Đạo gia cho rằng Con người là sản phẩm cao quý nhất của tự nhiên,
sinh ra từ đạo tự nhiên, cho nên đã sinh ra rồi thì phải bảo tồn sự sống của mình
Trang 12 Đều theo chủ nghĩa duy tâm:
Nho Gia: Mạnh Tử hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho Gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận Tư tưởng triết học của Tuân tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ
Đạo Gia: Đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể Lão tử cho rằng “Không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời”
2.2.3 Những tư tưởng biện chứng
Nho gia và Đạo gia ít quan tâm đến vấn đề lý giải thế giới, nguồn gốc của
vũ trụ, tuy nhiên trong đó vẫn có những quan điểm biện chứng mang tính duy vật:
Chẳng hạn như Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến hóa theo
một trật tự không gì cưỡng lại được, như một quy luật:”Trời có gì đâu mà
bốn mùa vẫn thay đổi, muôn vật vẫn sinh ra”
Đạo gia: Lão Tử cố gắng tìm ra quy luật khách quan của sự vật phát triển
và biến hóa, dạy mọi người hành động theo quy luật tự nhiên Và “thế giới là
một thể thống nhất, vận hành vì đạo, thông qua đức mà đạo nằm trong vạn vật luôn biến hóa Đạo là cái vô Cái vô sinh ra cái hữu Cái hữu sinh ra vạn vật” (Bùi Văn Mưa & tiểu ban triết học, Triết học phần I: Đại cương về lịch
sử triết học, tr.67, 2010, ĐHKT, HCM) Đạo vừa mang tính khách quan (vô
vi), vừa mang tính phổ biến
Quan điểm biện chứng đa phần đều mang tính duy tâm
Nho Gia: Khổng tử cho trời là một lực lượng vô hình quyết định số phận
của mỗi người và sự thịnh sang của mỗi thời đại (Vua dân tế trời) Mỗi cá nhân sự sống chết hay nghèo hèn, phú quý là do Thiên mệnh quy định, phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải cầu Sống theo mệnh trời, tuân theo mệnh trời thì sống, làm những điều nhân thiện thì có thể biến nguy