Khóa luận tốt nghiệp: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2008 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ đánh giá hiệu quả của các chính sách nhà nước trong công tác quản lý việc nhập khẩu vàng và ảnh hưởng vĩ mô của nó tới nền kinh tế, vấn đề an ninh tiền tệ. Khuyến nghị trong công tác quản lý nhâpj khẩu vàng và công tác điều hành thị trường vàng để trở thành một kênh đầu tư an toàn hiệu quả.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHẬP KHẨU VÀNG CỦA VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ẢNH HƯỞNG
TỚI VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ
Họ và tên sinh viên Lớp
Khoá Giáo viên hướng dẫn
: Lª HuyÒn Vy : NhËt 6
: 44 : ThS NguyÔn Quang HiÖp
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 2Mục lục
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình vẽ
Lời nói đầu 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VÀNG, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ 4
1.1 Giới thiệu chung về vàng và thị trường vàng 4
1.1.1 Đặc điểm và giá trị của vàng 4
1.1.2 Sơ lược về thị trường vàng thế giới 8
1.2 Tổng quan về vấn đề an ninh tiền tệ 25
1.2.1 Khái niệm an ninh tiền tệ 25
1.2.2 Ổn định và dấu hiệu của sự ổn định tiền tệ 26
1.2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ 27
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU VÀNG CỦA VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ 30
2.1 Thị trường vàng Việt Nam 30
2.1.1 Đặc điểm chung của thị trường Việt Nam 30
2.1.2 Đặc điểm của thị trường vàng Việt Nam 31
2.2 Nhập khẩu vàng năm 2008 36
2.2.1 Công thức quy đổi giá vàng 36
2.2.2 Diễn biến thị trường vàng Việt Nam năm 2008 37
2.2.3 Tình hình nhập khẩu vàng năm 2008 40
2.2.4 Nhận xét chung về thực trạng nhập khẩu vàng năm 2008 53
2.3 Ảnh hưởng của nhập khẩu vàng tới vấn đề an ninh tiền tệ 54
2.3.1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhập khẩu vàng và vấn đề an ninh tiền tệ 54
Trang 32.3.2 Đánh giá về những ảnh hưởng thực tế của nhập khẩu vàng tới
vấn đề an ninh tiền tệ của Việt Nam 59
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬP KHẨU VÀNG VÀ VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ 69
3.1 Các đề xuất về chính sách quản lý nhập khẩu vàng 69
3.1.1 Đề xuất với chính sách quản lý nhập khẩu vàng 69
3.1.2 Đề xuất đối với chính sách tỷ giá 73
3.2 Các đề xuất liên quan đến quản lý thị trường vàng nội địa 74
3.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 74
3.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại 78
3.3 Các giải pháp hỗ trợ khác của chính phủ đảm bảo an ninh tiền tệ khi có sự thay đổi trong thị trường nhập khẩu vàng 79
3.3.1 Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình 79
3.3.2 Tăng cường quy chế lành mạnh và an toàn 81
3.3.3 Tăng cường tính thống nhất trên các thị trường tài chính 84
3.3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế 85
Kết luận 87
Tài liệu tham khảo 89
Phụ lục
Trang 4Danh mục các từ viết tắt
NHNN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTW Ngân hàng trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
TBCN Tư bản chủ nghĩa
CBGA Central Bank Gold Agreement – Thỏa thuận về vàng của các
NHTW SJC Công ty Vàng Bạc Đá Quý thành phố Hồ Chí Minh
WGC World Gold Council – Hội đồng vàng thế giới
GFMS Gold Fields Mineral Services
IMF International Monetary Fund – Quỹ tiền tệ quốc tế
WB World Bank – Ngân hàng thế giới
Trang 6Lời nói đầu
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với các vận hội lớn để phát triển đất nước thì chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro Một trong những nguy cơ đó là vấn đề an ninh tiền tệ An ninh tiền tệ có mối liên hệ chặt chẽ tới an ninh quốc gia Một quốc gia hùng mạnh nhất thiết phải là một quốc gia có một thị trường tài chính tiền tệ lành mạnh
Có nhiều yếu tố quyết định vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia trong đó không thể không kể đến vai trò của thị trường vàng Là một kim loại quý, vàng là một loại tài sản tích lũy thông dụng Cùng với giá trị tiền
tệ, vàng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa của mỗi quốc gia Việt Nam lại là một quốc gia có nền văn hóa gắn chặt với vàng, cầu về vàng của người dân không ngừng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Nước ta cũng có một số mỏ quặng vàng và mỏ vàng nhưng trữ lượng không lớn, chỉ đáp ứng được khoảng 5% nhu cầu của thị trường, 95% còn lại phải nhập khẩu Quy mô và số lượng vàng nhập khẩu liên tục tăng trong những năm gần đây Là một loại hàng hóa có giá trị cao, giá trị nhập khẩu vàng do đó cũng chiếm một phần không nhỏ trong giá trị nhập siêu của quốc gia
Câu hỏi đặt ra ở đây là nhập khẩu vàng có liên quan như thế nào tới vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia mà cụ thể là tình hình an ninh tiền
tệ của Việt Nam? Đây là một vấn đề còn khá mới mẻ và chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ, hệ thống Với đề tài khóa luận: “Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2008 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ”, tôi
mong có thể phần nào lý giải được mối quan hệ này và nêu ra một số
Trang 7khuyến nghị để nhập khẩu vàng nói riêng và thị trường vàng nói chung đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, góp phần ổn định an ninh tiền tệ quốc gia
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Bài khóa luận nghiên cứu thực trạng nhập khẩu vàng của Việt Nam trong năm 2008 và ảnh hưởng của nó tới vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia Số liệu trong bài được trích dẫn từ các báo cáo tổng kết theo quý của Hiệp hội Vàng thế giới, NHNN Việt Nam và một số báo tạp chí trong và ngoài nước
3 Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi bài khóa luận này, tôi xin phép không đi sâu vào đánh giá hiệu quả của việc nhập khẩu hay kinh doanh vàng mà nội dung bài khóa luận nghiêng về phân tích và đánh giá hiệu quả của các chính sách của nhà nước trong công tác quản lý việc nhập khẩu vàng và ảnh hưởng vĩ mô của
nó tới nền kinh tế cụ thể là tới vấn đề an ninh tiền tệ Từ đó rút ra một số khuyến nghị trong công tác quản lý nhập khẩu vàng và công tác điều hành thị trường vàng để vàng trở thành một kênh đầu tư an toàn, hiệu quả cao
4 Tình hình nghiên cứu
Nhập khẩu vàng và ảnh hưởng của nó tới vấn đề an ninh tiền tệ là một vấn đề còn khá mới và những nghiên cứu có tính khoa học về vấn đề này còn khá hạn chế Trên thực tế đã có những khóa luận, luận án thạc sỹ kinh
tế, luận án tiến sỹ kinh tế về các vấn đề kinh doanh vàng hay vấn đề quản
lý ngoại hối tại Việt Nam trong đó nhập khẩu vàng cũng là một nội dung được đề cập đến tuy còn khá sơ sài Còn về vấn đề an ninh tiền tệ thì chủ yếu chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ, chưa thành hệ thống Tuy vậy, những công trình bài nghiên cứu đó rất hữu ích cho tôi trong quá trình nghiên cứu
đề tài : “Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2008 và ảnh hưởng tới vấn đề
an ninh tiền tệ”
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh
tế chính trị, khóa luận còn sử dụng các phương pháp xử lý số liệu, phân tích đối chiếu, so sánh, kết hợp lý luận với thực tiễn … nhằn rút ra những vấn
đề có tính khái quát và phổ biến
6 Kết cấu đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận có kết cấu ba chương:
Chương 1: Tổng quan về thị trường vàng và lý luận chung về vấn
Đề tài là một vấn đề mới, phức tạp đặc biệt với một sinh viên như tôi
vì trình độ hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm của bản thân chưa có, việc thu thập và xử lí thông tin gấp và gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy nội dung bài viết còn nhiều vấn đề chưa được đề cập đầy đủ và còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chỉ bảo của thầy cô và bạn
bè về nội dung cũng như cách trình bày
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, thạc sỹ Nguyễn Quang Hiệp đã giành thời gian đóng góp nhiều ý kiến quý báu, bổ
sung cũng như chỉnh lí nội dung và hình thức giúp tôi hoàn thành khoá luận này
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VÀNG, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ LÝ
LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ
1.1.Giới thiệu chung về vàng và thị trường vàng
1.1.1 Đặc điểm và giá trị của vàng
Từ xa xưa, kim loại đã phục vụ con người một cách tận tụy và trung thành Kim loại có vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như góp phần tạo nên động lực phát triển cho con người Vì vậy mà George Agrieola, nhà
tư tưởng người Đức thế kỉ XVI, tác giả của nhiều công trình luyện kim đã khẳng định: “Con người sẽ không làm được gì nếu không có kim loại” Thế giới kim loại thật đa dạng, phong phú, hấp dẫn và chắc chắn trong tương lai, kim loại vẫn giữ vị trí hàng đầu như vẫn luôn là cơ sở của nền văn hóa vật chất của nhân loại
Trong các kim loại thì vàng từ xa xưa đã được con người tôn vinh là:
“Vua của các kim loại”, “Kim loại của các vua” Lịch sử của vàng gắn liền với lịch sử nhiều nền văn minh nhân loại Qua quá trình phát triển, con người đã đưa vàng từ vị trí một loại vật chất quý hiếm lên ngôi báu vật, có sức mạnh huyền bí Vàng được coi là thước đo giá trị cho tất cả các loại hàng hóa khác
Vậy vàng là gì? Sức mạnh của nó ở đâu? Để hiểu rõ về vàng, trước hết chúng ta cần nghiên cứu về nó dưới dạng một loại vật chất thuần túy
1.1.1.1 Vàng là một kim loại quý
Xét trên phương diện khoa học, vàng là một nguyên tố hoá học có kí
hiệu Au (tên Latinh là Aurum), được xếp thứ 79 trong bảng tuần hoàn
Mendeleep Vàng là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các
Trang 10hoá chất Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích
Trong đời sống, từ xa xưa, vàng đã là một kim loại cao giá, được nhiều người hâm mộ, ước mơ Nguyên nhân chủ yếu, có lẽ do vàng là một kim loại khan hiếm, lại có nhiều thuộc tính lý hóa và ngày càng có nhiều công dụng mới được phát hiện Ai cũng biết rằng từ xa xưa, vàng đã được sử dụng để chế tạo các loại vật dụng, đồ trang sức, trang trí sang trọng Màu vàng tượng trưng cho sự phồn thịnh, cao sang Các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam, vàng lại càng được ưa chuộng hơn
1.1.1.2 Vàng là một kim loại không có quá nhiều nhƣng cũng không quá hiếm
Loài người biết đến vàng và khai thác nó từ bao giờ chưa ai biết đích xác, nhưng hầu hết mọi dân tộc đều biết đến vàng vì sự có mặt của nó trên khắp thế giới Cho tới nay, quốc gia nào cũng cố gắng thăm dò, tìm kiếm
và khai thác thứ tài nguyên kim loại quý này Những tài liệu thống kê của Tạp chí vàng thế giới năm 2000 cho thấy hầu như lục địa nào cũng có vàng, tuy mức độ tập trung phân tán có khác nhau, trữ lượng cũng có sự cách biệt rất lớn
Trong thiên nhiên, vàng tồn tại như một thành phần của vỏ trái đất, được phân bổ khắp nơi, trên mặt đất, trong lòng đất và cả trong nước biển
Do vậy việc tìm ra một mỏ vàng với một nhà địa chất giàu kinh nghiệm là không khó, nhưng sẽ là rất khó để tìm ra một mỏ vàng có trữ lượng lớn trên
100 tấn vàng Các nhà kinh tế Mỹ đã tính rằng, cứ 1000 mỏ vàng được tìm thấy thì mới có một mỏ vàng có trữ lượng lớn Nói tìm vàng vừa dễ lại vừa khó là như vậy
Hiện nay, mỏ vàng có quy mô khai thác, trữ lượng, hàm lượng vàng lớn nhất là mỏ Eezsteling của Nam Phi, trữ lượng ước tính khoảng 3,3 triệu tấn, hàm lượng vàng 5,7gr/tấn quặng Còn vàng đang được khai thác ở độ
Trang 11sâu nhất trong lòng đất là ở mỏ vàng Gold Strike, nằm ở bang Nevada, miền tây Hoa Kỳ Người ta gọi đó là mạch vàng của thế kỷ, chứa 900 tấn vàng, nằm sâu 400m dưới lòng đất.-1
Trong nước biển, các nhà địa chất cho biết cũng chứa vàng, nhưng hàm lượng vàng rất ít, 1m3
nước biển chứa khoảng 0,05mgr vàng Trữ lượng vàng trong đại dương ước tính khoảng 3 tỷ tấn nhưng công nghệ hiện nay chưa đáp ứng được việc khai thác, hơn nữa chi phí “đãi nước tìm vàng” như thế này rõ ràng là quá cao
Trong lịch sử nhân loại, ước tính khoảng 116,746 tấn vàng đã được khai thác Các khu vực khai thác chính là Nam Phi 43.989 tấn, Liên bang Nga khoảng 16.679 tấn, Mỹ khoảng 5.570 tấn, Australia 7.169 tấn, Brazil
2482 tấn và Colombia 2.086 tấn.2
1.1.1.3 Giá trị của vàng
Từ những thuộc tính vốn có, vàng đã sớm có ích cho con người về nhiều mặt Nó đã lần lượt thỏa mãn những nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp trong đời sống con người với tư cách là vật phẩm tiêu dùng, tư liệu sinh hoạt hoặc là vật biểu thị cho một ước lệ chung: tiền tệ
Đầu tiên, cùng với sự phát hiện ra vàng, con người đã thông qua lao động làm cho vàng trở thành hữu ích dưới dạng các trang sức cho bản thân Ngoài ra, vàng còn được sử dụng rộng rãi làm các đồ tế tự, đúc các bức tượng thần linh Dần dần, nghề thủ công mỹ nghệ kim hoàn đã hình thành
và phát triển, phục vụ cho nhu cầu làm đẹp, tôn giáo và biểu thị quyền lực của con người như đồ dùng hàng ngày, đồ trang sức, các công trình mỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc
Dùng vàng làm đồ trang sức, trang trí là một trong những mục đích sử dụng đầu tiên trong sử dụng vàng của con người Đồng tiền vàng đầu tiên
1
Người điều khiển giá vàng – Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 2/2006 trang 9
Trang 12ra đời vào thế kỷ thứ IX trước công nguyên dưới triều đại vua Gyges ở Lydie (Ai Cập) Cung điện Babylon nổi tiếng trong lịch sử cũng được trang hoàng rực rỡ: lối đi lát cẩm thạch, cánh cửa dát vàng, bọc đồng và nạm kim cương Chùa Vàng nổi tiếng ở gần Bangkok (Thái Lan) cũng có một bức tượng đúc bằng vàng khối, nặng 5,5 tấn
Bên cạnh các giá trị truyền thống, ngày càng có nhiều công dụng mới của vàng được phát hiện và ứng dụng trong các ngành công nghiệp mới Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính
và hóa tính mong muốn khác, vàng trở nên nổi bật từ cuối thế kỉ 20 như là một kim loại công nghiệp thiết yếu
Một số ứng dụng mới của vàng:
Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu
Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều sản phẩm khác
Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được
sử dụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt
là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên đồ gốm trước khi nung
Axít clorauric được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc
Trang 13 Aurothiomalat dinatri dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp
nó đạt kỷ lục vào thế kỉ thứ 19 Khi đó các khoản thanh toán quốc tế trên cơ
sở vàng đã được thực hiện mà hầu như không gặp bất kì trở ngại nào Nhưng Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, rồi Đại chiến thế giới Hai và tình hình thế giới mới đã làm thay đổi căn bản tình hình này Khả năng chuyển đổi bên trong của vàng đã bị hủy bỏ Mọi nỗ lực quay lại sự ổn định trước đây đều thất bại Ngày nay, vàng không còn giá trị tiền tệ trực tiếp, nhưng vẫn là một vật đảm bảo giá trị số một trên thế giới, là “vịnh tránh bão” trong điều kiện lạm phát, khủng hoảng hay suy thoái kinh tế Thị trường vàng cùng với thị trường dầu mỏ, thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối là những thị trường quan trọng góp phần ổn định các vấn đề an ninh, tài chính, tiền tệ của một quốc gia
1.1.2 Sơ lược về thị trường vàng thế giới
Trong nền kinh tế, vàng là một loại hàng hóa đặc biệt nên thị trường vàng cũng là một thị trường đặc biệt Nó mang sắc thái riêng biệt, chịu nhiều nhân tố tác động và ngược lại, nó cũng tác động sâu rộng tới nhiều
Trang 14lĩnh vực hoạt động kinh tế khác Giá vàng thế giới cũng như giá vàng trong nước thường được xem như một loại phong vũ biểu kinh tế Những vấn đề phức tạp xung quanh giá vàng luôn luôn là một ẩn số đối với những người
đã từng bận tâm về nó Vì thế, một nhận thức đúng đắn về vàng là cần thiết khi thực hiện bất kỳ một hành vi kinh tế nào
1.1.2.1 Sự hình thành thị trường vàng thế giới
Bản vị vàng
Nói đến sự hình thành của thị trường vàng chúng ta có thể bắt đầu từ chế độ bản vị vàng Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ ổn định nhất của TBCN, dùng kim loại vàng làm cơ sở vật ngang giá, xuất hiện năm 1870 ở Anh và nhanh chóng lan ra các nước phương Tây
Một quốc gia theo chế độ bản vị vàng sẽ
1 Tuyên bố đơn vị tiền tệ của nước mình tương đương với một trọng lượng vàng được quy định nào đó
2 Sẵn sàng nhận mua và bán vàng tự do, không hạn chế với bất cứ ai theo giá đã công bố, không có chênh lệch giữa giá mua và giá bán (tức nhà nước chấp nhận tự do chuyển đổi giữa tiền giấy và vàng)
3 Không hạn chế việc nhập khẩu và xuất khẩu vàng
Khi hai quốc gia cùng theo chế độ bản vị vàng thì lúc đó chế độ này sẽ định ra một “đồng giá vàng” hoặc một hối suất cố định giữa hai nước Người ta gọi đó là Hối suất cố định dưới chế độ bản vị vàng (Gold standard)
Ví dụ: Vào một thời điểm nào đó, 1 đôla Mỹ tương đương 1/35 ounce vàng, 1 bảng Anh tương đương 3/35 ounce vàng Lúc đó, một bảng Anh
“nặng” gấp ba lần một đôla Mỹ Hối suất quy đổi là 3 USD đổi 1 GBP Thế ổn định này được giữ tương đối vững cho đến năm 1914 khi chiến tranh thế giới thứ Nhất bùng nổ Trong thời kỳ chiến tranh các nước tham chiến đã mất khá nhiều vàng dự trữ để trang trải các chi phí Tình thế đó
Trang 15buộc các chính phủ các nước phải ban hành lệnh cưỡng bách ban hành tiền giấy, tức là không cho đổi tiền giấy ra vàng nữa
Kể từ sau khi chế độ bản vị vàng sụp đổ, thế giới bắt đầu bước sang giai đoạn mới: đồng tiền không mang giá trị thực chất của vật liệu làm ra
nó nữa
Bản vị vàng thoi hay Bản vị vàng hối đoái (Gold Bar Standard)
Còn gọi là chế độ Bản vị Sterling lấy đồng Bảng Anh làm tiêu chuẩn Không cho đổi trực tiếp tiền giấy sang vàng nên người ta gọi đây là hình thức Bản vị vàng gián tiếp Chỉ có đồng Bảng Anh và đồng Dollar Mỹ mới
có thể đổi trực tiếp sang vàng và phải đổi với số lượng lớn
Theo các nhà nghiên cứu thì đây là bước lùi của hệ thống tiền tệ TBCN: sự liên kết giữa vàng và tiền giấy đã trở nên lỏng lẻo, trong chế độ bản vị vàng gián tiếp người ta thấy sự xuất hiện của hiện tượng lạm phát Năm 1931 chế độ bản vị vàng thoi sụp đổ do đồng Bảng Anh bị phá giá Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho hệ thống bản vị vàng dưới mọi hình thức ở Châu Âu và Mỹ sụp đổ
Bản vị Dollar Mỹ (Dollar Standard)
Được thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ II ở Bretton Wood Tại hội nghị Bretton Wood diễn ra vào tháng 7/1944 với 44 nước tham dự (có
cả Liên Xô cũ) đã thống nhất thông qua hệ thống tiền tệ Bretton Wood dùng đồng Dollar Mỹ làm tiêu chuẩn tiền tệ của thế giới Cũng tại hội nghị này tổ chức IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và WB (Ngân hàng thế giới) được thành lập Kể từ đó đồng USD được coi là cầu nối giữa vàng và toàn bộ hệ thống tiền tệ thế giới
Bản vị Dollar Mỹ thực chất cũng là bản vị vàng gián tiếp: chỉ có các NHTW của các nước mới có quyền đổi trực tiếp từ tiền giấy sang vàng, và chỉ cho phép đổi tiền thuộc lĩnh vực ngoại thương
Trang 16Vì là bản vị vàng gián tiếp nên có hiện tượng lạm phát, để giữ giá vàng
ổn định Mỹ đã nỗ lực rất hiều nhưng cuối cùng đành phải phá giá Dollar vào tháng 8 năm 1971 và ngừng không cho đổi trực tiếp tiền sang vàng nữa Do đó hệ thống tiền tệ Bretton Wood đã sụp đổ
Bản vị SDR hay Bản vị tiền vàng (SDR Standard)
Là sáng kiến của tổ chức IMF vào năm 1970 gọi là quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right - SDR) SDR giúp các nước hội viên của IMF
có thêm một phương tiện thanh toán quốc tế mà không cần dùng đến dự trữ vàng hay ngoại hối
SDR không phải là tiền mặt mà thực chất là sổ kế toán ghi các khoản
nợ có của mỗi hội viên 1 lượng SDR = 0.8888671 g vàng nhưng chỉ tồn tại trên sổ sách nên gọi là bản vị tiền vàng Cứ 5 năm IMF họp một lần để quyết định phần trăm đóng góp quỹ của các nước hội viên Việt Nam đã là thành viên của IMF từ ngày 21 tháng 9 năm 1956
Nguyên tắc hoạt động của “sổ” SDR: Quốc gia A thâm hụt cán cân ngoại thương với quốc gia B, nếu A và B đều là thành viên của IMF thì A không phải trả tiền trực tiếp cho B mà tài khoản SDR của A sẽ bị trừ đi khoản thâm hụt đó (ghi bên có) và sẽ chuyển sang sổ SDR của B (ghi bên nợ) tại IMF
Các nước hội viên thanh toán nợ nần trong ngoại thương và cũng chỉ trong lĩnh vực ngoại thương mới được phép dùng sổ SDR để thanh toán thông qua SDR trên sổ sách của IMF IMF ngoài vai trò trung tâm thanh toán quốc tế còn đóng vai trò trung tâm tín dụng quốc tế bằng cách làm chủ
nợ của những nước thiếu hụt và làm con nợ của những nước dư thừa trong cán cân thanh toán
Bản vị tiền giấy (Currency Standard)
Trang 17Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chế độ bản vị tiền giấy (trong đó có Việt Nam), đây là chế độ phát hành và lưu thông tiền giấy theo Pháp luật của mỗi nước (tiền giấy ở đây bao hàm tiền làm bằng kim loại và tiền làm bằng giấy)
Trong chế độ bản vị tiền giấy, tiền không đổi trực tiếp sang vàng được nên có thể nói tiến giấy và vàng không có mối quan hệ gì, tiền tệ không còn
là dấu hiệu của vàng nữa Vàng chỉ là một loại hàng hóa đắt tiền mà thôi Tiền giấy là phương tiện lưu thông bắt buộc do tín nhiệm Chính Phủ mà công dân lấy tiền giấy làm phương tiện thanh toán, cất trữ
Như vậy, theo thời gian vàng đã tách khỏi thế giới tiền tệ Nhưng 35.500 tấn vàng không mất đi đâu Nó chỉ thay đổi trật tự phân bổ về phương diện dự trữ với chức năng là một loại “tài sản có” quan trọng nhất biểu thị phần nào trật tự kinh tế mới giữa các nước Hiện nay, vàng tồn tại dưới hai hình thức: vàng khối tự do được mua bán tự do trên thị trường và theo giá thị trường Những người nắm giữ vàng theo dạng này có thể là người dân, người kinh doanh, nhà đầu cơ chuyên nghiệp, doanh nghiệp kim hoàn hay các nhà công nghiệp nắm giữ vàng với vai trò là một loại nguyên liệu thuần túy … Với mức độ khác nhau các chủ thể trên đều có thể tham gia tác động vào giá vàng trên thị trường tự do và cũng bị tác động trở lại theo những chiều hướng khác nhau Nghiên cứu về động thái (behaviour)
và phương thức hoạt động của họ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số nguyên nhân là giá vàng biến động
Dạng tồn tại thứ hai của vàng trong xã hội hiện đại chính là dước dạng các thỏi vàng dự trữ Chủ nhân của những khối vàng này chỉ gồm một số ít đối tượng đặc biệt Đó là các NHTW và các cơ quan tiền tệ, tổ chức tài chính quốc tế ví như IMF Những nơi này vẫn tiếp tục giữ vàng – tiền tệ như là một phần dự trữ của các “liên minh” bao gồm các đồng tiền trong và ngoài nước và các chứng từ có giá khác Đôi khi, vì sức ép giải quyết mất
Trang 18cân đối trong thanh toán quốc tế, hoặc chỉ đơn giản để thay đổi cơ cấu dự trữ quốc gia theo từng thời kỳ mà các nước phải bán, cầm cố hoặc mua vào một phần quỹ dự trữ của mình Các NHTW thường có khuynh hướng tăng thêm quỹ vàng dự trữ thông qua thị trường tự do hoặc thông qua các thỏa thuận song phương giữa các NHTW Ngược lại, các tổ chức tiền tệ, tài chính quốc tế phải giữ một thái độ thụ động vì điều lệ các cơ quan đó chỉ cho phép hoạt động hạn chế với vàng, bất kỳ quyết định bán ra hay mua vàng vào đều cần sự nhất trí của đại đa số các thành viên
1.1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá vàng thế giới
a Cung vàng trên thế giới
Có hai nguồn cung vàng chủ yếu cho thị trường vàng thế giới
Thứ nhất, nguồn cung vàng chủ yếu cho thị trường là từ nguồn khai
thác
Bảng 1.1 Nguồn cung vàng quý 3 năm 2008
(so với quý 4 năm 2007)
Tấn % thay
đổi
Giá trị (triệu USD)
% thay đổi (giá trị)
Nguồn: GFMS và tính toán của WGC - Trích Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
Nguồn cung vàng do khai thác liên tục giảm trong các năm vừa qua Theo báo cáo của Hiệp hội vàng thế giới, sản lượng vàng khai thác của toàn thế giới trong những năm vừa qua liên tục giảm nhưng mức độ giảm sản
Trang 19lượng đang ngày càng nhỏ hơn Nếu so sánh sản lượng khai thác quý 3 năm
2008 với sản lượng của quý 4 năm 2007 thì sản lượng vàng khai thác được
đã giảm 1%, khoảng 368 tấn Sản lượng khai thác tại một số quốc gia khai thác vàng lớn trên thế giới liên tục giảm tiêu biểu nhất là Nam Phi Sản lượng khai thác tại Indonesia, Australia và Mỹ cũng sụt giảm Bù đắp cho
sự sụt giảm này là sự gia tăng sản lượng tại các quốc gia như Trung Quốc, các nước châu Mỹ Latinh đặc biệt là Peru
Hình 1.1 Sự suy giảm sản lƣợng vàng khai thác qua các quý,
từ quý 1 năm 2006 đến quý 3 năm 2008
Nguồn: GFMS - Trích Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
Năm 2008, Trung Quốc đã vượt qua Nam Phi trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới Trong hơn 120 năm qua, Nam Phi luôn đứng đầu thế giới về sản lượng khai thác vàng nhưng trong 10 năm qua tốc độ đã giảm nhiều, từ chỗ chiếm 70% sản lượng thế giới năm 1970 xuống còn 20% năm 1997 và 11,8% năm 2006 Không những vượt qua về sản lượng khai thác, Trung Quốc còn mới phát hiện thêm 5 mỏ vàng có trữ lượng đáng kể Hiện trữ lượng vàng của Trung Quốc khoảng 15.000 đến 20.000
Trang 20tấn Năm 2008, Trung Quốc có khả năng sản xuất được 300 tấn vàng, bốn tháng đầu năm sản lượng đã đạt 84,039 tấn Với sản lượng vàng ngày càng tăng dần và công nghệ ngày càng tốt hơn, Trung Quốc sẽ vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia sản xuất vàng lớn nhất trên thế giới Sản lượng vàng của Trung Quốc đã tăng 34,84% trong 5 năm qua.
Năm 2007, sản lượng tiêu thụ ở Trung Quốc cũng tăng 23%, biến Trung Quốc thành thị trường tiêu thụ vàng thứ hai thế giới sau Ấn Độ Sản lượng vàng tiêu thụ ở Ấn Độ giảm 50% trong khi Trung Quốc tăng 15% (112,1 tấn), Ai Cập là 15%, Nga 9% và đặc biệt tại Việt Nam với 71% (35 tấn)3 Giới khai thác và kinh doanh vàng hy vọng khi có thêm nguồn sản xuất sẽ làm giá vàng hạ và kéo nhu cầu tiêu thụ tăng trở lại Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới, khoảng 722 tấn/năm tăng 7% trong năm
2007, Mỹ đứng thứ 3 với 278 tấn (giảm 18%), thị trường Italia và Anh cũng sụt giảm, năm 2007 theo WGC cho thấy doanh số bán vàng trang sức của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục tăng 34% lên 302,2 tấn trở thành nước tiêu thụ đứng thứ 2 thế giới
Ngoài số vàng khai thác mới, một nguồn cung nữa cho thị trường vàng thế giới chính là vàng trong dự trữ ngoại hối của của các NHTW và các định chế tài chính trên thế giới
Cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, dự trữ vàng của các NHTW và các định chế tài chính trên thế giới hầu như không có sự thay đổi lớn nào Song, với sự thay đổi của hệ thống tiền tệ thế giới, cơ cấu dự trữ của các NHTW cũng bắt đầu có sự thay đổi Việc hình thành Liên minh tiền tệ và đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào ngày 01/01/1999 là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự trữ vàng của các NHTW Tổng dự trữ ngoại hối của các nước thành viên khu vực đồng Euro đã vượt quá nhu cầu cần thiết, bởi vì trước đây, vàng được sử dụng để duy trì tỷ giá đồng tiền
Trang 21
quốc gia theo khuôn khổ cơ chế tỷ giá (ERM), nhưng lúc này, sự can thiệp như vậy là không cần thiết nữa Các NHTW của châu Âu đã bắt đầu “chia tay” với các khoản dự trữ vàng của mình và điều đó có tác động trực tiếp tới thị trường vàng
Vàng là một trong những tài sản trong danh mục dự trữ ngoại hối của quốc gia Thông thường, các nước dự trữ bằng USD, trong trường hợp USD có xu hướng mất giá, thì các NHTW sẽ có động thái xem xét khả năng nâng dự trữ vàng bằng cách bán USD để chuyển sang vàng Điều này tác động đến cầu vàng, khiến giá vàng thế giới tăng cao Trong trường hợp ngược lại, các NHTW sẽ xem xét khả năng bán vàng và tăng dự trữ USD Điều này sẽ tác động tăng cung vàng, khiến giá vàng có xu hướng giảm Theo tính toán của các chuyên gia, trong quỹ dự trữ ngoại hối của NHTW các nước công nghiệp phát triển hiện có khoảng 30.000 tấn vàng được cất trữ từ khi vàng còn được sử dụng để đảm bảo giá trị cho đồng tiền đang lưu hành Chỉ riêng 3.443 tấn vàng dự trữ của Đức (theo Hiệp hội vàng thế giới – Tháng 12-2008) cũng đã lớn hơn sản lượng vàng hàng năm của toàn thế giới Nguồn dự trữ vàng của các quốc gia lớn như vậy đã giúp cân bằng giá vàng trên thị trường
Việc dự trữ vàng của các NHTW trên thế giới hiện nay vẫn có sự phân chia theo khu vực Các NHTW châu Á tiếp tục giữ rất ít hoặc không giữ vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia Trong khi đó, các NHTW châu Âu, hiện vẫn đang nắm giữ một khối lượng lớn dự trữ quốc gia bằng vàng, đang tiếp tục có xu hướng giảm tỷ trọng vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia Họ là những người bán vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia lớn nhất Theo thỏa thuận về vàng lần 2 – Central Bank Gold Agreement 2 – CBGA2 của 15 NHTW lớn nhất trên thế giới, sản lượng vàng tối đa các NHTW này bán ra thị trường mỗi năm là không quá 500 tấn Thỏa thuận này kéo dài 5 năm Trong năm thứ 4 của thỏa thuận, tính tới ngày 27/09/2008 các NHTW tham
Trang 22gia kí thỏa thuận mới chỉ bán 358 tấn trong số 500 tấn của năm Đây là con
số bán ra thấp nhất kể từ khi CBGA được kí kết lần đầu tiên năm 1999 Tính đến cuối năm 2008 (số lượng được thông báo ngày 09/01/2009) các NHTW đã bán thêm 48 tấn vàng, tổng số vàng được các NHTW lớn bán ra trong năm 2008 là khoảng 406 tấn Những NHTW bán nhiều vàng nhất trong năm là NHTW Pháp (20 tấn), NHTW Hà Lan (8 tấn).4
Hình 1.2 Sản lƣợng vàng bán ra của các NHTW theo CBGA2
qua các năm từ 2004 đến 2008
Nguồn: WGC - Trích Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
b Cầu vàng trên thế giới
Chúng ta cần phân biệt vàng nguyên liệu dùng để chế biến ra sản phâm hàng hóa và vàng – tiền tệ dùng như một phương tiện đầu cơ tích trữ Ngoài ra, có một số lớn vàng vừa là nguyên liệu vừa mang tính chất dự trữ (như vàng trong công nghiệp kim hoàn) Dạng vàng này thường tập trung ở các nước Trung Đông, Đông Nam Á và Ấn Độ Mặt khác, các khu vực công nghiệp có nhu cầu sử dụng vàng nguyên liệu có thể cung ứng lại theo
4
Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC, trang 14
Trang 23hình thức tái chế Đối với vàng – tiền tệ, mức cầu thuần túy đáp ứng dự trữ vàng cũng rất khó xác định, vì nó bị chi phối bới mức tăng giảm dự trữ tùy theo sự biến đổi của giá vàng tính bằng bản tệ và tình hình hối đoái
Nhu cầu của khu vực kim hoàn
Khu vực kim hoàn là nguồn tiêu thụ chủ yếu trên thị trường vàng, hàng năm tiêu thụ từ ½ đến ¾ sản lượng khai thác của các hầm mỏ Mức cầu hàng năm của khu vực này đã tăng dần trong những năm gần đây Mức cầu thuần tùy của khu vực kim hoàn cũng biến động tùy thuộc giá vàng tính theo đồng bản tệ của nước tiêu thụ Trong những năm vàng tăng giá, nhu cầu đeo vàng nữ trang cũng thường tăng lên, nhất là tại các nước đang phát triển Ngược lại, việc sản xuất vàng nữ trang tại các nước phát triển là khá ổn định Từ đó cho thấy việc mua sắm nữ trang với mỗi nước lại có một ý nghĩa khác nhau
Hình 1.3 Nhu cầu vàng của ngành kim hoàn theo các nước (tấn, quý 3 năm 2008 so với quý 3 năm 2007, % thay đổi)
Nguồn: GFMS- Trích: Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
Mức cầu của các ngành công nghiệp có sử dụng vàng
Trang 24Nhu cầu về vàng trong các ngành công nghiệp không có nhiều biến động lớn và đang có xu hướng giảm đi, tuy rất nhỏ Hai ngành công nghiệp
sử dụng nhiều vàng nhất hiện nay là công nghiệp điện – điện tử và ngành nha khoa Nhu cầu vàng trong ngành điện – điện tử tập trung chủ yếu tại các nước phát triển, trong đó nước có số cầu lớn nhất là Nhật Bản Nhưng nếu so sánh với nhu cầu năm 2008, thì số cầu về vàng của Nhật đã giảm 15% do sự sụt giảm sản lượng các các nhà máy do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Nhu cầu về vàng trong ngành nha khoa cũng liên tục giảm trong các năm vừa qua do sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng và việc khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển, con người ngày càng tìm ra nhiều các nguyên liệu mới đáp ứng được những yêu cầu của cả ngành nha khoa và của người tiêu dùng Số cầu về vàng của ngành nha khoa năm 2008 ước tính đã giảm 11% so với năm 2007
Hình 1.4 Nhu cầu vàng trong các ngành công nghiệp (tấn) (ngành điện – điện tử, ngành khác và nha khoa) (tính từ quý 1 năm 2006 đến quý 3 năm 2008)
Nguồn: GFMS - Trích: Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
Trang 25 Mức cầu của các NHTW
Các nước công nghiệp mới, các nước có nền kinh tế cất cánh, có thặng
dư ngoại tệ như Đài Loan, Ấn Độ thường cất trữ vàng Trong những năm gần đây, Liên bang Nga cũng liên tục mua thêm vàng dự trữ Trung Quốc cũng tuyên bố sẽ nâng mức dự trữ vàng của mình lên khoảng 2000 tấn so với con số 600 tấn hiện nay
Mức cầu về đầu cơ và đầu tư
Bảng 1.2 Cầu về vàng (quý 3 năm 2008 so với quý 4 năm 2007)
Tấn % thay
đổi
Giá trị (triệu USD)
% thay đổi (giá trị)
Trong đó đầu tư theo hình
Nguồn: GFMS và tính toán của WGC - Trích Gold Investment Digest, quý 4 năm 2008, WGC
Nhìn vào bảng trên ta thấy, nhu cầu về vàng cho đầu tư chính là khu vực có mức độ tăng trưởng cao nhất (20%), so với khu vực kim hoàn (2%)
và các ngành công nghiệp và nha khoa (giảm 3%)
Có thể nhận thấy nhu cầu vàng cho đầu tư của Mỹ và các nước châu
Âu đã tăng mạnh trong quý 3 năm 2008 Trong đó, đầu tư vàng theo hình thức ETFs có mức độ tăng trưởng mạnh nhất Gold Exchange Traded Fund (ETFs), một hình thức đầu tư vàng - chứng khoán được đảm bảo 100% bằng vàng vật chất phát triển mạnh Đỉnh cao của hình thức đầu tư này là vào nửa sau của tháng 9/2008 do Ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ và lo ngại về hiệu ứng Domino đối với ngành ngân hàng thế giới
Trang 26Hình 1.5 Nhu cầu vàng cho đầu tƣ của Mỹ và châu Âu
và diễn biến giá vàng từ quý 1 năm 2005 đến quý 3 năm 2008
Nguồn: GFMS và WGC
1.1.2.3 Một số yếu tố tác động đến giá vàng
Các yếu tố có thể kể ra ở đây như giá dollar Mỹ, giá dầu, giá chứng khoán, giá các hàng hóa khác hay là các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước Chúng có tác động qua lại tới giá vàng Chúng không làm thay đổi cơ bản mức giá vàng đã xác lập theo các yếu tố nội tại của thị trường vàng (cung và cầu), nhưng lại có thể là nguyên nhân làm giá vàng biến động, tăng lên giảm xuống trong một biên độ nào đó Ngược lại, các yếu tố này cũng chịu tác động của giá vàng khi nó biến động Trong điều kiện có hạn, tôi chỉ xin được đi sâu vào hai yếu tố là dollar Mỹ và các chính sách của chính phủ là hai yếu tố có tác động trực tiếp và sâu sắc nhất đến giá vàng
Quan hệ giữa giá vàng và dollar (đôla) Mỹ
Thông thường, việc dollar Mỹ lên giá so với các đồng tiền mạnh khác
sẽ đi đôi với hiện tượng giảm giá vàng
Trang 27Từ lâu, vàng với vai trò đặc biệt trong hệ thống tiền tệ quốc tế, được xem là một phương tiện chủ yếu trong việc đầu cơ và chống lại đồng dollar
Từ đó mà tạo ra một thông lệ trong giới đầu tư: sự tăng giá ở thị trường này (vàng hay dollar) sẽ tự động tạo áp lực giảm giá ở thị trường kia
Ngay cả khi vai trò tiền tệ của vàng đã suy giảm thì thực tế là vàng vẫn
là một giá trị trú ẩn khi tài sản là dollar có nguy cơ bị mất giá Trong một chừng mực nào đó, người ta vẫn dùng hối suất thả nổi giữa dollar với các đồng tiền mạnh khác như một tỷ số kinh tế để ra quyết định đầu tư hay đầu
cơ vàng
Mọi giao dịch trên thị trường mua bán vàng đều dùng đơn vị USD/ounce để tính giá vàng Như vậy, tỷ giá hối đoái giữa USD và đồng bản tệ sẽ xác định trực tiếp giá vàng tính theo bản tệ của nước đó Do đó, tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng đến các quyết định mua và bán vàng của các các nhà đầu tư, đầu cơ trong nước
Tuy nhiên, không phải lúc nào giá vàng và đô la Mỹ cũng biến động theo thông lệ Ngoài ra, trong sự biến đổi ngược chiều hoặc cùng chiều,sự biến động tăng giảm giá vàng không cùng thời điểm và không cùng tỷ lệ biến động của đô la Mỹ Bởi lẽ tự thân giá vàng hay giá đô la Mỹ còn chịu
sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố khác
Quan hệ giữa giá vàng với các chính sách của nhà nước
Ngoài các chủ trương, chính sách của Nhà nước về kinh tế, chính trị có thể ảnh hưởng gián tiếp tới giá vàng, người ta còn ghi nhận những thay đổi trong chủ trương của nhà nước về quyền cất trữ vàng, kinh doanh vàng và các chính sách thuế với vàng là các nhân tố tác động trực tiếp tới giá vàng
Thứ nhất, phương diện pháp lý của việc cất trữ và kinh doanh vàng
Bảng 1.3 Các quy định về cất giữ và kinh doanh vàng
Trang 28Nam Phi Tự do Tự do Theo giấy phép của Ngân hàng
Nguồn: Crédit Suisse, mise à jour par l’auteur
Bảng trên cho thấy, mọi biện pháp quản lý từ thả lỏng hay thắt chặt đối với vàng đều đang được các nước áp dụng, từ những quy định tương đối thoáng, chỉ ở mức độ kiểm soát hoạt động xuất - nhập khẩu vàng vào lãnh thổ cho đến các biện pháp gắt gao như cấm tư nhân cất trữ vàng dưới
Trang 29bất kỳ hình thức nào khác ngoài nữ trang và đồ mỹ nghệ, nhà nước nắm độc quyền trong ngoại thương về vàng
Hậu quả của các chính sách thắt chặt đều giống nhau ở khắp mọi nơi: mức cung không đủ cho mức cầu về vàng của khu vực tư nhân, mức chênh lệch giữa giá vàng nội địa và giá vàng thế giới tất yếu dẫn đến các hoạt động buôn lậu vàng phát triển
Vì thế hiện nay, các nước tuy không còn sử dụng các biện pháp cứng rắn nhưng cũng đều đặt vàng trong tầm kiểm soát của nhà nước với những mức độ quản lý khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế và quan điểm chính trị của chính phủ Nhìn chung, các nước đều lựa chọn giải pháp cho
tư nhân tự do cất trữ và kinh doanh vàng nhưng không được xuất khẩu, nhập khẩu vàng một cách tự do, đồng thời tăng cường các biện pháp thắt chặt quản lý hối đoái
Thứ hai, chế độ thuế khóa đối với các giao dịch về vàng
Một khi vàng đã trở về vị trí là một loại hàng hóa, việc kinh doanh vàng đương nhiên phải chịu thuế như kinh doanh các hàng hóa khác
Trang 30Chính sách thuế ở một số nước cho thấy thuế suất trên giao dịch vàng tại các nước cũng khác nhau Có những nước không dành cho vàng bất ký
ưu đãi nào như ở Italia (35%), Tây Ba Nha (30%) Lại có nước không đánh thuế trên các giao dịch về vàng như ở Singapore (0%), do đó, tại những nước này, những người kinh doanh vàng có được khoản lãi đáng kể
Tất nhiên, mọi khoản thuế có liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng đều được cộng vào giá vàng và cuối cùng là giá bán các sản phẩm của vàng Vì vậy, khi áp dụng các chính sách thuế khác nhau cũng sẽ làm cho giá vàng khác nhau
Tóm lại, qua nghiên cứu tổng quát về vàng và thị trường vàng thế giới, chúng ta có thể rút ra những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sau:
1 Vàng mang tính truyền thống và tính quy luật Do có chức năng thanh toán quốc tế, vàng luôn có một sức mạnh tiềm ẩn
2 Thị trường vàng là một thị trường đặc biệt, mang sắc thái riêng biệt, chịu tác động của nhiều nhân tố; và ngược lại nó cũng tác động sâu rộng tới nhiều lĩnh vực khác Do đó, cần có một nhận thức đúng đắn về vàng trong các hoạt động kinh tế
3 Mọi biện pháp kiềm tỏa, cứng rắn về vàng đã áp dụng nhiều nơi, đều có chung một hậu quả là thất bại
4 Vàng luôn luôn có giá trị tiềm ẩn khiến cho người ta thường xuyên
có xu hướng quay trở lại với vàng khi bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mất
ổn định
5 NHTW luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong những vấn đề liên quan đến vàng Thị trường tư và vai trò của các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng ngày càng trở nên quan trọng
1.2 Tổng quan về vấn đề an ninh tiền tệ
1.2.1 Khái niệm an ninh tiền tệ
Trang 31Khi nhắc tới an ninh người ta thường nghĩ ngay tới an ninh chính trị, quân sự và xã hội Những năm gần đây, khái niệm an ninh đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau từ an ninh tài chính, an ninh năng lượng, đến an ninh lương thực, cùng nhiều nội dung xung quanh hoặc có liên quan đến các vấn đề an ninh trên
Đây là những vấn đề lớn liên quan đến nền kinh tế khi chuyển đổi, mở cửa hội nhập ngày một sâu rộng, không những có ý nghĩa trong quá trình phát triển của đất nước, mà còn có ý nghĩa ổn định bên trong để ứng phó với biến động ở bên ngoài Trong phạm vi bài khóa luận này, xin được nói
về an ninh tiền tệ, một nội dung quan trọng với ý nghĩa đối với việc kiềm chế lạm phát, đề phòng thiểu phát, không chỉ không bị cuốn hút vào vòng xoáy mà còn có ý nghĩa chủ động hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô
Trong từ điển tiếng Việt, an ninh được định nghĩa là “yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm”, dùng để chỉ một trạng thái an toàn, không có rủi ro, là tình trạng an toàn, yên ổn, có bảo đảm Từ đó, có thể đưa ra khái
niệm “an ninh tiền tệ là để chỉ một tình trạng tiền tệ ổn định, an toàn và
vững mạnh” An ninh tiền tệ trong quá trình hội nhập là điều kiện thiết yếu
để ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa, đảm bảo an ninh kinh tế và phát triển bền vững
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải phân tích sự ổn định và dấu hiệu của sự ổn định tiền tệ
1.2.2 Ổn định và dấu hiệu của sự ổn định tiền tệ
“An ninh tiền tệ” làm cho người ta nghĩ ngay đến việc chống nạn tiền giả, nạn rửa tiền, cướp tiền, phá hoại đồng tiền quốc gia Đó là những ý nghĩa quan trọng, nhưng chủ yếu được xét theo ý nghĩa hẹp “An ninh tiền
Trang 32tệ” còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là lòng tin đối với đồng tiền quốc gia, được thể hiện ở các nội dung sau đây
Một, giá trị của đồng nội tệ được bảo đảm, trên cơ sở ổn định giá cả
hàng hóa, dịch vụ Đồng tiền giống như cái thước để đo giá của nhiều loại hàng hóa, dịch vụ Cái thước không thể đối với lúc này, đối với loại hàng hóa, dịch vụ này thì ngắn lại, đối với lúc khác, đối với loại hàng hóa, dịch
vụ khác thì dài ra Theo lý thuyết thì giá cả (biểu hiện bằng tiền của giá trị)
có thể cao hoặc thấp hơn giá trị, nhưng tổng giá cả phải bằng tổng giá trị Khi tổng giá cả lớn hơn tổng giá trị thì lạm phát, đồng tiền sẽ bị mất giá Khi tổng giá cả thấp hơn tổng giá trị thì thiểu phát, đồng tiền sẽ lên giá
Hai, tình trạng đô la hóa ở mức vừa phải Đô la hóa là một trong
những nguyên nhân chủ yếu làm cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do lớn tạo nên các cơn sốt USD; làm cho việc ra/vào ngoại tệ khó kiểm soát Theo khuyến cáo của IMF, mức độ đô la hóa
có thể chấp nhận ở một quốc gia là dưới 30%.5
Ba, sự lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Sự
lành mạnh, ổn định thể hiện ở nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là bảo đảm tính thanh khoản, trình độ quản trị rủi ro, công khai minh bạch thông tin
Bốn, cán cân thanh toán quốc tế tương đối cân bằng Dự trữ ngoại hối
quốc gia đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn và đảm bảo nhu cầu ngoại tệ tài trợ cho nhập khẩu Theo khuyến cáo của WB, lượng dự trữ ngoại hối an toàn càn đảm bảo 12 tuần (3 tháng) nhập khẩu.6
1.2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ
Thị trường tiền tệ có vai trò quan trọng để đảm bảo cho sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Hội nhập vào thị trường tiền tệ thế giới có thể làm tăng tính bất ổn theo hai cách:
Trang 33- Mở cửa nền kinh tế của các nước đang phát triển làm cho nền kinh tế nước đó tiếp cận trực diện với những nguồn gốc mới của những cú sốc trong kinh tế quốc tế
- Khuếch đại và làm trầm trọng thêm những cú sốc trong nước
Tự do hóa tiền tệ chứa đựng những nguy cơ bất ổn như tự do hóa có thể kéo theo thu hút vốn, nếu như lãi suất quốc gia cao hơn lãi suất quốc tế, nhưng thu hút vốn cũng đặt ra nhiều vấn đề như thất thoát vốn Chúng sẽ tăng cường tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mở rộng tín dụng Chúng cũng đặt ra nhiều khó khăn về chính sách kinh tế bởi vì các cơ quan quản lý buộc phải lựa chọn giữa việc tăng tỷ giá hối đoái - bất lợi cho khu vực xuất khẩu - với việc tăng tổng lượng tiền mặt một cách thái quá… Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á, và ngay trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, người ta ngày càng coi trọng vấn đề rủi
ro tiền tệ, và vấn đề an ninh tiền tệ trong chiến lược an ninh quốc gia, đồng thời đã đưa ra hàng loạt các biện pháp chính sách và cơ chế nhằm phòng ngừa rủi ro tiền tệ An ninh tiền tệ cũng là nền tảng quan trọng trong hệ thống an ninh kinh tế quốc gia, do đó trong chiến lược an ninh kinh tế quốc gia cần coi trọng và phòng tránh rủi ro tiền tệ Một số tiêu chuẩn đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ:
Một, bảo đảm giá trị của đồng tiền, trên cơ sở ổn định giá cả hàng hóa,
dịch vụ Ổn định tiền tệ giúp cho giá cả ổn định Vấn đề cần xem xét ở đây
là có thể chấp nhận một mức lạm phát được chấp nhận nào đó Lạm phát nếu ở mức độ vừa phải sẽ giống như một chất kích thích tăng trưởng kinh
tế Tuy nhiên khi lạm phát vượt quá một mức độ nhất định nào đó thì phải
có những tác động nhất định đưa nó trở về trạng thái ổn định
Hai, cần theo dõi sát biến động của ngoại tệ để có cách thức điều hành
tỷ giá linh hoạt, kịp thời và thích hợp
Trang 34Ba, giảm thiểu và khắc phục tình trạng đô la hóa ở nước ta Đây là một
trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do lớn tạo nên các cơn sốt USD; làm cho việc ra/vào ngoại tệ khó kiểm soát
Bốn, tập trung tiền tệ vào hệ thống ngân hàng để NHNN điều hành tập
trung chính sách tiền tệ, tránh có sự phân tán ra các đơn vị khác ngoài hệ thống ngân hàng (tổ chức phi ngân hàng như các tập đoàn, tổng công ty )
Năm, đặc biệt quan tâm đến sự lành mạnh và ổn định của hệ thống
NHTM Sự lành mạnh, ổn định này được thể hiện ở nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là bảo đảm tính thanh khoản, trình độ quản trị rủi ro, công khai minh bạch thông tin
Sáu, NHNN tăng cường thanh tra, giám sát hệ thống NHTM; điều
hành thông qua các công cụ như lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu, trong đó lãi suất cơ bản là công cụ chính
Bảy, trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu, cần rà soát các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt đầu tư bất động sản; rà soát các khoản tiền gửi và đầu tư tại các NHTM, tổ chức nước ngoài, không
để xảy ra thiệt hại; đánh giá hoạt động đầu tư, kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài Các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu cần rà soát khả năng thanh toán của khách hàng
Tám, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán tổng thể, tăng dự trữ
ngoại hối để tăng sức mạnh của đất nước, tăng tính thanh khoản của quốc gia, giảm nợ của nước ngoài
Trang 35CHƯƠNG II TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU VÀNG CỦA VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ
2.1 Thị trường vàng Việt Nam
2.1.1 Đặc điểm chung của thị trường Việt Nam
Với vị trí địa lý đặc biệt, ở giao điểm của nhiều con đường buôn bán quốc tế, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh tế Lịch sử cho thấy Việt Nam từ xa xưa đã là địa bàn chiến lược quan trọng, một cửa ngõ và đầu mối trong giao dịch quốc tế
Việt Nam với dân số 86 triệu người (Tổng cục thống kê, năm 2008),
đứng thứ mười ba trên thế giới là một thị trường có sức cầu khá lớn đối với bất kỳ một nhà sản xuất nào Dân số cao lại đang bước vào giai đoạn có cơ cấu “dân số vàng” sức mua của thị trường là rất lớn Mức tăng tiêu dùng của Việt Nam trong những năm qua tính theo % thường xuyên đạt 2 con số Trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng trung bình của tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước khoảng 23% và có xu hướng tăng cao vào những năm gần đây Nếu trừ hệ số trượt giá thì tốc độ tăng tiêu dùng cũng đã vượt tốc độ tăng GDP7
Việt Nam là một thị trường có nhu cầu cao về vàng Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng chung của hệ tư tưởng Phật giáo và Nho giáo Vàng ở Việt Nam mang cả hai yếu tố giá trị: giá trị thẩm
mỹ, giá trị tài sản tích lũy Ngoài ra, vàng cũng mang trong mình giá trị văn hóa xã hội, là một thứ “của hồi môn” không thể thiếu trong các đám cưới hỏi Chính từ sự khác biệt này, mà vàng nữ trang được chế biến tại Việt Nam nói riêng và các nước Châu Á nói chung thường có hàm lượng vàng
Trang 36
cao để có thể bán lại khi cần với mức giá gần bằng giá mua Các yêu cầu về
mỹ thuật cũng có nhưng không phải là yêu cầu cao nhất
2.1.2 Đặc điểm của thị trường vàng Việt Nam
2.1.2.1 Chủ thể trong thị trường vàng
Như bất kỳ thị trường vàng nào trên thế giới, chúng ta có thể chia các chủ thể hoạt động trong thị trường vàng theo động cơ mua vàng và những phản ứng của họ đối với giá vàng Các đối tượng này là các tác nhân quan trọng can dự vào sự hình thành giá vàng trên thị trường, khiến cho giá cả có thể tách rất xa so với giá trị thực của vàng Có thể chia thị trường vàng Việt Nam theo ba đối tượng sau:
1 Những người tích trữ: Đây là những người có vốn nhàn rỗi, giữ
vàng với mục đích “phòng thân” Phần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắn cho họ trước các biến động kinh tế xã hội và với tính dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt Họ có thể là công nhân, viên chức, nông dân hay bất kỳ ai trong xã hội Họ có ba đặc điểm: giữ vàng như một tài sản chìm tại nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cần nhắc tới yếu tố lợi nhuận khi quyết định mua hay bán vàng và sau cùng họ cũng không quan tâm tới tác động lên xuống của giá cả
2 Những người đầu tư: Họ cũng tích trữ nhưng “tích cực” hơn những
người tích trữ thể hiện ở các đặc điểm: vàng của họ có thể ở dạng “vàng tín dụng” gửi tại một tài khoản ngân hàng, xem vàng như một nguồn vốn đầu
tư sinh lợi và chỉ giữ nguồn vốn dưới dạng bằng vàng khi cần thiết Họ thường thực hiện nhiều hành vi mua bán, hoặc vay và cho vay, qua đó, nguồn vốn của họ tăng lên Họ quan tâm đến sự biến động giá vàng trong
cả ngắn hạn và dài hạn và luôn đặt nó lên bàn cân lãi suất
3 Những người đầu cơ: Họ hoạt động cũng tương tự như những nhà
đầu tư, nhưng họ có thể dự đoán và khai thác giá vàng trong thời gian ngắn
Họ chấp nhận rủi ro cao để có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn bằng sự
Trang 37cảm nhận nhanh chóng và phản ứng linh hoạt, nhạy bén trước những nhân
tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá vàng
Hiện nay, ở nước ta, cùng với sự ra đời của ngày càng nhiều các sàn giao dịch vàng, số lượng các nhà đầu tư, đầu cơ vàng cũng ngày càng tăng lên Điều này thể hiện thị trường vàng Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hóa, vàng đang dần trở thành một kênh đầu tư hữu hiệu với nhiều người
2.1.2.2 Khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh vàng
Thực hiện đường lối đổi mới, các quy định quản lý hoạt động kinh doanh vàng bạc cũng ngày càng được hoàn thiện theo hướng thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh và nhà đầu tư Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng có thể kể ra như Nghi định 63/1998/NĐ-CP về quản lý và kinh doanh vàng bạc, Nghị định 174/1999/NĐ-CP cũng về quản
lý hoạt động kinh doanh vàng, Nghị định 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối, Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 Hiện nay nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp về vàng của mọi tổ chức và cá nhân dưới dạng vàng khối, vàng thỏi, vàng cục, vàng cốm, vàng lá, vàng sa khoáng, vàng gốc, vàng tư trang Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền cất giữ, vận chuyển hoặc gửi vàng ở Ngân hàng Các cá nhân và tổ chức cũng có thể thành lập các cửa hàng kinh doanh vàng khi đảm bảo được các yêu cầu về nguồn vốn và điều kiện kinh doanh Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng hiện nay vẫn do NHNN và cơ quan chuyên trách là Vụ Quản lý ngoại hối đảm nhận
Tuy nhiên, cho đến thời điểm kết thúc năm 2008 thì Việt Nam vẫn chưa có một quy định thống nhất và chính thức về hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước (hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản
ở nước ngoài đã được đề cập đến trong quyết định 03/2006/QĐ-NHNN) và quy định về quy chế hoạt động của các sàn giao dịch vàng Mặc dù các sàn
Trang 38giao dịch vàng liên tiếp được thành lập trong năm 2008, nhưng mỗi sàn lại
có một điều lệ riêng, thiếu đồng bộ và người được lợi từ các điều lệ này vẫn
là chủ sàn, nhà đầu tư vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi, tổn thất Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là ban hành một quy chế hoạt động cho các sàn giao dịch vàng này, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh, bảo về quyền và lợi chính đáng của các nhà đầu tư
2.1.2.3 Mạng lưới kinh doanh vàng
Ở thị trường truyền thống, nơi diễn ra các giao dịch vàng “thật”- vàng vật chất, qua một quá trình phát triển lâu dài, thị trường vàng Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến vượt bậc so với cách đây vài chục năm Xu hướng mở thể hiện rõ nét qua tính đa dạng về chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường Ngoài các công ty chiếm tỷ trọng lớn, có khả năng chi phối giá như Công ty vàng bạc đá quý SJC, PNJ, SACOM, ACB, SCB… còn có
sự góp mặt của nhiều NHTM, hàng ngàn tiệm vàng lớn nhỏ trên cả nước cùng mạng lưới các nhà đầu tư cá nhân khắp mọi miền Các chủ thể tiếp cận thị trường tiềm năng này với nhiều mục đích khác nhau, có thể là để kinh doanh, để tích trữ, để sản xuất, để thanh toán hay chỉ đơn giản là nhu cầu trang sức làm đẹp… Tất cả những yếu tố này hình thành nên Cung – Cầu về vàng trên thị trường, là động lực giúp thị trường được “bôi trơn” và vận hành
Nói tới mạng lưới kinh doanh vàng vật chất không thể không kể tên các nhà sản xuất vàng miếng Trước nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư, sức nóng của thị trường vàng đã thu hút nhiều nhà đầu tư chuyển vốn từ chứng khoán, bất động sản sang mặt hàng kim loại quý này Mặt khác, trong năm 2008, tốc độ lạm phát tuy giảm nhiệt, nhưng vẫn ở mức cao, lại thêm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên xu hướng chuyển tiền sang vàng của người dân cũng ngày càng gia tăng Trong năm
2008, NHNN quyết định nâng hạn mức sản xuất vàng miếng cho các doanh
Trang 39nghiệp Cụ thể, khối lượng vàng miếng được sản xuất trong năm 2008 của Công ty Vàng bạc Đá quý Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tp.HCM là 1.500 kg; của Công ty trách Vàng bạc Đá quý Ngọc Thẩm là
200 kg; của Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận là 2.000 kg và Công ty Bảo Tín Minh Châu được sản xuất với khối lượng là 700 kg
Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) là doanh nghiệp được sản xuất với khối lượng lớn nhất trong năm 2008 với hạn mức 50.000 kg; kế đến là công ty kinh doanh mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với khối lượng là 9.000 kg
Tổng hạn mức khối lượng vàng miếng những doanh nghiệp trên được sản xuất trong năm 2008 là 63.400 kg.8
Thị trường có thêm nhiều nhãn hiệu vàng miếng tạo điều kiện cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn mua dự trữ cũng như đầu tư Tuy nhiên, điều đó chưa hẳn để các nhãn hiệu vàng mới sẽ thành công vì lâu nay, người tiêu dùng vẫn quen chọn nhãn hiệu quen thuộc SJC được xem
là nhãn hiệu vàng miếng được nhiều người ưa chuộng nhất hiện nay, với doanh thu bình quân trong 2 năm qua lên đến 1 tỷ USD.9
Nếu như 2 năm trở về trước, để tiến hành các giao dịch vàng, nhà đầu
tư thường đơn thuần tìm tới các tiệm vàng lớn, nhỏ khắp mọi nơi hay các ngân hàng có nghiệp vụ giao dịch vàng Thì hơn 2 năm trở lại đây, tại Việt Nam đã xuất hiện một cách thức giao dịch mới: giao dịch vàng tập trung qua sàn và khái niệm “sàn giao dịch vàng” xuất hiện Sàn giao dịch vàng là nơi mà người có nhu cầu mua và bán vàng “gặp nhau” để thực hiện giao dịch mà mình mong muốn dưới sự đảm bảo an toàn về tính pháp lý cho việc mua bán này
Trên thực tế, nếu muốn thực hiện giao dịch mua bán vàng, nhà đầu tư
có thể tiến hành các giao dịch này trên thị trường tự do vô cùng nhanh
8
http://vietbao.vn/Kinh-te/Tang-han-muc-san-xuat-vang-mieng-nam-2008/65119510/87/
Trang 40chóng, gọn nhẹ, không cần thực thi các thủ tục, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu rườm rà… nhưng kèm theo đó là rủi ro trong giao dịch cũng rất cao, đặc biệt khi thực hiện những giao dịch có giá trị lớn Thế nhưng, khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về giao dịch an toàn, chuyên nghiệp và đảm bảo tính pháp lý ngày càng được coi trọng Xuất phát từ những nhu cầu này mà sàn giao dịch vàng đã manh nha xuất hiện ở Việt Nam, đi đầu là Sàn giao dịch vàng ACB
Với doanh số giao dịch vàng mỗi ngày lên tới con số ngàn tỷ thì mô hình sàn giao dịch vàng mà ACB khởi dựng thật sự là một món lời lớn cho những người cầm trịch, và xu hướng lập sàn giao dịch vàng bắt đầu Sau ACB, Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận PNJ đã hợp tác với Ngân hàng Đông Á thành lập Công ty Vàng bạc Quốc tế (InterGold) giao dịch thương hiệu vàng miếng PNJ-Đông Á Tiếp đó, cuối tháng 5/2008, Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC cũng liên kết với VPBank và Công
ty Chứng khoán Hà Thành để lập nên Sàn giao dịch vàng tại Hà Nội… Và cho tới nay, trên thị trường đã có hơn 10 NHTM tham gia giao dịch vàng,
có thể kể ra đây: Ngân hàng ACB, Ngân hàng Eximbank, Ngân hàng Sacombank, Ngân hàng Việt Á, Ngân hàng Sài Gòn, Ngân hàng Phát triển Nhà Tp.HCM, Ngân hàng Phương Nam và Ngân hàng Nam Á Con số này được dự tính có khả năng sẽ còn tăng thêm trong tương lai
2.1.2.4 Chính sách nhập khẩu vàng và chủ trương thắt chặt quản lý ngoại hối với vàng
Việc nhập khẩu vàng phải được Nhà nước thực hiện một cách chặt chẽ, kịp thời vì không thể để giá vàng tách rời khỏi mặt bằng chung, không
để thiếu hụt nguồn cung vàng là điều kiện cần phải có đối với sự tồn tại của các đơn vị kinh doanh vàng và là công cụ ổn định giá cả Nhưng trên thực
tế, trong thời gian qua việc nhập khẩu vàng chưa có chủ trương nhất quán
và hợp lý Nhà nước không cấm các cá nhân tự do kinh doanh mua bán