1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam

86 716 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam
Tác giả Bùi Diệu Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Ánh
Trường học Trường đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam nghiên cứu khái quát những nét đặc trưng tiêu biểu trong văn hoá kinh doanh Đan Mạch cùng những tác động của nó trong các hoạt động thương mại giữa Đan Mạch với Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp về văn hoá kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ Việt nam Đan Mạch.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

MẠCH VỚI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Bùi Diệu Hương

Hà Nội - 05/2009

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 3

1.1 Khái niệm về VHKD 3

1.1.1 Văn hoá 3

1.1.2 Văn hoá kinh doanh 16

1.2 Ảnh hưởng của VHKD đến quan hệ thương mại quốc tế 19

1.2.1 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến tư duy trong kinh doanh 20

1.2.2 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến giao tiếp trong kinh doanh 21

1.2.3 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến marketing 23

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA ĐAN MẠCH VÀ VIỆT NAM 26

2.1 Giới thiệu chung về Đan Mạch 26

2.1.1 Đất nước Đan Mạch 26

2.1.2 Hệ thống chính trị 27

2.1.3 Con người 27

2.1.4 Kinh tế 29

2.1.5 Văn hóa 33

2.2 Quan hệ thương mại của Việt Nam – Đan Mạch 40

2.2.1 Các hiệp định thương mại đã ký kết 40

2.2.2 Trao đổi thương mại 41

2.3 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam 42

2.3.1 Đặc điểm văn hóa kinh doanh của Đan Mạch 42

2.3.3 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 55

Trang 3

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẰM

TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ĐAN MẠCH 61

3.1 Đánh giá nhận thức của thương nhân Việt Nam về văn hóa kinh doanh của Đan Mạch 61

3.1.1 Thành công 61

3.1.2 Hạn chế 62

3.2 Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 63

3.2.1 Xuất khẩu 64

3.2.2 Nhập khẩu 67

3.3 Một số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 68

3.3.1.Giải pháp đối với Nhà nước 69

3.3.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp 74

3.3.3 Một số giải pháp khác 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của EU năm 2008 29 Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Đan Mạch giai đoạn 2004 – 2008 32 Bảng 3: Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường chính của Đan Mạch năm

2007 (%) 33 Bảng 4: Tỷ lệ hàng hóa nhập từ các thị trường chính của Đan mạch năm 2007(%) 33 Bảng 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2003 - 2007 41 Bảng 7: Cơ cấu tiêu dùng của người Đan Mạch 52

Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành của Đan Mạch năm 2006 30

Trang 5

1

LỜI NÓI ĐẦU

Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới Hòa cùng xu hướng chung đó, quá trình mở cửa hội nhập kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng diễn ra mạnh mẽ

và sâu rộng Có thể nói quá trình này đã và đang mang lại cho Việt Nam nhiều thành quả tốt đẹp, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong các nội dung của quá trình hội nhập kinh tế thì hoạt động thương mại quốc tế (bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu) là một trong những nội dung then chốt và mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã có nhiều thuận lợi hơn nhờ vào việc nhiều rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế như thuế quan hay hạn ngạch đã dần dần được dỡ bỏ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản khác mà các doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua nếu muốn thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường nước ngoài, trong đó có văn hóa kinh doanh Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến quan hệ thương mại quốc tế và thay đổi theo từng quốc gia Vì vậy, việc tìm hiểu văn hóa kinh doanh của đối tác nước ngoài luôn là việc làm cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Đan Mạch là một trong những nước phương Tây đầu tiên đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước trong suốt hơn ba mươi năm qua Gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đan Mạch cũng bắt đầu khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước Một trong những nguyên nhân là do sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về văn hóa kinh doanh Đan Mạch vẫn còn ở mức hạn chế Với mong muốn được đóng góp một phần vào việc cung cấp thêm những thông tin bổ ích và thiết thực về vấn đề này, người viết đã lựa

chọn đề tài “Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương

mại của Đan Mạch với Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Mục tiêu cơ bản của khóa luận là nghiên cứu khái quát những nét đặc trưng, tiêu biểu trong văn hóa kinh doanh (VHKD) Đan Mạch cùng những tác động của nó trong các hoạt động thương mại giữa Đan Mạch với Việt Nam, qua đó đề xuất một

Trang 6

2

số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến đề tài, khóa luận đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thu thập thông tin (thông qua các nguồn giáo trình, sách báo, luận án, Internet…) , phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh…

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về VHKD và ảnh hưởng của VHKD đến

thương mại quốc tế

Chương 2: Ảnh hưởng của VHKD Đan Mạch đến quan hệ thương mại của

Đan Mạch với Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp về VHKD nhằm tăng cường quan hệ thương

mại Việt Nam – Đan Mạch

VHKD vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam Hơn nữa, do giới hạn

về thời gian và trình độ hiểu biết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Người viết rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình từ phía thầy cô và các bạn sinh viên để có thể hoàn thiện hơn nữa nghiên cứu này

Qua đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường và các thầy

cô trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và cung cấp những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Ánh, người đã hết sức tận tâm giúp đỡ người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Trang 7

3

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm về văn hóa kinh doanh

Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá nói chung nên để có cái nhìn sâu sắc và toàn vẹn hơn khi nghiên cứu về mảng này chúng ta không thể không đề cập đến khái niệm văn hoá

1.1.1 Văn hoá

1.1.1.1 Khái niệm văn hoá

Có thể nói văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hoá cũng rất đa dạng

Tiếp cận từ khía cạnh ngôn từ, thuật ngữ văn hoá - tiếng Anh và tiếng Pháp gọi là culture, tiếng Đức gọi là kultur – có nguồn gốc từ tiếng Latin là cultus Khi lần đầu tiên được đưa vào sử dụng ở Châu Âu thế kỷ thứ XVIII, từ cultus mang ý nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt cây lương thực Sang thế kỷ thứ XIX, nghĩa của

từ này được mở rộng ra, bao hàm cả nghĩa nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo con người Còn ở phương Đông, trong tiếng Hán Việt, văn hoá là một từ ghép giữa chữ

văn và chữ hoá Văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người

có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của

người cầm quyền Còn hoá trong văn hoá chính là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt,

cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống.1

Như vậy, xét về mặt chữ nghĩa, văn hoá chính là sự nuôi dưỡng và phát triển con người một cách toàn diện

Xét về khía cạnh nội dung bên trong, văn hoá cũng được hiểu theo nhiều nghĩa

khác nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu Từ nửa sau thế kỷ thứ XIX, các học giả bắt đầu tập trung nghiên cứu sâu khái niệm văn hoá và từ đây văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, tâm lý học,

1

Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, tr.18

Trang 8

4

dân gian học, văn hóa học, xã hội học và thậm chí là cả kinh tế học Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa.2

Nhân loại học và xã hội học là những lĩnh vực có nhiều nghiên cứu sâu sắc và rộng rãi về văn hoá hơn cả Định nghĩa về văn hoá đầu tiên được công nhận rộng rãi

là định nghĩa của nhà nhân loại học người Anh Edward Tylor (1832 – 1917) đưa ra

vào những năm 1980 Theo ông, “Văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các

kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ khả năng, tập quán nào khác mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Culture is that complex whole which includes knowledge, belief, art, morals, law, customs and other capabilities and habits acquired by man as a member of

chưa bao hàm đầy đủ những khía cạnh “hữu hình” - một phần không thể thiếu của

văn hoá Nhà nhân chủng học người Mỹ Melville Jean Herskovits (1985 – 1963) đã

bù lấp được phần thiếu hụt này của Edward Tylor với định nghĩa “Văn hoá là phần

Như vậy văn hoá là sự kết hợp của cả hai nhân tố khách quan và chủ quan Nhân tố

khách quan hay còn gọi là mặt “hữu hình” của văn hoá, bao gồm những công cụ,

đường xá, chương trình truyền hình, kiến trúc và những vật chất khác do con người

tạo ra Còn nhân tố chủ quan hay còn gọi là mặt “vô hình” của văn hoá, bao gồm

những quy tắc, giá trị, tư tưởng, phong tục và những biểu tượng có ý nghĩa khác Có thể thấy, hai khái niệm trên của hai nhà nhân loại học đều đi theo con đường cổ điển Trong khi đó, giáo sư tâm lý học người Mỹ Harry Triandis lại có cái nhìn khá mới

mẻ Theo ông, “văn hoá bao hàm những sự tương đồng và khác biệt; các nền văn

hoá đều chứa đựng đồng thời những điểm giống và khác nhau” (views culture as an interplay of sameness and differences; all cultures are simultaneously very similar

2

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh

doanh ở Việt Nam, Luận Án TS Kinh tế, tr.9.

4

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 129

Trang 9

5

chung, đặc trưng cho loài người nhưng với tư cách là những nhóm người hay những

xã hội thì chúng ta lại có rất nhiều điểm khác biệt Chẳng hạn, một số xã hội mang tính cá nhân cao như xã hội Mỹ trong khi đó lại có những xã hội mang tính tập thể cao như xã hội Nhật Bản Sự thay đổi và phát triển của văn hoá trong từng xã hội giúp tạo nên những nét đặc trưng để phân biệt xã hội đó với các xã hội khác Như vậy, theo quan điểm của Harry Triandis thì văn hoá chính là yếu tố biểu hiện lối sống của các thành viên trong một xã hội như cách ăn, mặc, ở, đi lại Thêm vào đó, văn hoá còn biểu hiện trong cách đối xử của cá nhân với nhau và với những nhóm người khác Và quan trọng nhất là qua văn hoá chúng ta thấy được niềm tin và các giá trị của một xã hội cũng như thế giới quan của họ

Nếu như ban đầu khi được chính thức trở thành một khái niệm mang tính khoa học, văn hoá mới chỉ được đề cập nhiều trong nhiều nghiên cứu về mặt xã hội thì hiện nay nó còn được nghiên cứu sâu sắc trong cả lĩnh vực kinh tế - lĩnh vực dường như “ít liên quan” đến văn hoá Định nghĩa về văn hoá tiêu biểu trong kinh tế được đưa ra bởi Geert Hofstede, một chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hoá và quản

lý người Hà Lan Ông định nghĩa “Văn hoá là sự chương trình hoá chung của tinh

thần, giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm người khác… Theo đó, văn hoá bao gồm các hệ thống giá trị và các giá trị là một trong những yếu tố nền tảng của văn hoá” (Culture is defined as the collective programming of the mind which distinguishes the members of one human group from another Culture, in this sense, includes systems of values; and values are

trừu tượng về cái họ cho là đúng đắn và luôn khát khao vươn tới Mặt khác, văn hoá còn bao hàm những quy tắc, luật lệ làm hình thành nên cách cư xử của con người trong những tình huống cụ thể

Như vậy, có thể thấy trong mỗi định nghĩa, văn hoá lại được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, đặc trưng cho từng lĩnh vực nghiên cứu của các học giả

5

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 129

6

Charles W.L Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr 89

Trang 10

6

Đó là yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp đúng với bản chất đa chiều của văn hoá Tuy vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế cũng đã hầu hết công nhận định nghĩa về văn hoá của Tổng giám đốc UNESCO, ông Frederico Mayor Định nghĩa được chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá năm 1970 họp tại

Venice, Ý và được phát biểu như sau: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho

dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho

Theo đánh giá của cá nhân người viết, đây là định nghĩa rất rộng và khá hoàn chỉnh Nó đã bao hàm những giá trị vật chất và giá trị tinh thần, những giá trị truyền thống và những giá trị hiện đại do con người kiến tạo nên Từ đó hình thành nên những nét đặc trưng trong văn hoá của từng quốc gia, từng dân tộc Định nghĩa này được người viết chọn làm

cơ sở để nghiên cứu các vấn đề tiếp theo

1.1.1.2 Đặc điểm của văn hoá

Văn hóa mang rất nhiều đặc điểm khác nhau đúng như tính chất đa chiều, phức tạp của nó nhưng tựu chung lại nó mang những nét đặc trưng sau:8

- Văn hoá mang tính tập quán: Thật vậy, các nền văn hoá khác nhau thì biểu

hiện đầu tiên là sự khác nhau trong tập quán Đó là những thói quen, nếp sống khác nhau Chẳng hạn như người Châu Á có thói quen dùng cơm bằng đũa trong khi đó người Châu Âu lại có thói quen dùng cơm bằng dao, dĩa

- Văn hoá mang tính cộng đồng cao: Văn hoá không thể tồn tại do chính bản

thân nó mà phải dựa vào sự tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong cộng đồng Tính cộng đồng trong văn hoá thể hiện ở việc các thành viên dù muốn hay không vẫn thường bị chi phối bởi nó Một ví dụ là ở Việt Nam thời phong kiến

thường có tục lệ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Và theo đó, rất nhiều trường hợp

con cái không được tự do lựa chọn mà phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ trong chuyện hôn nhân

7

Nguyễn Hoàng Ánh, “Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng VHKD tại Việt

Nam”, Luận án TS Kinh tế, 2004, tr 10

8

Nguyễn Hoàng Ánh, “Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh

doanh ở Việt Nam”, Luận án TS Kinh tế, 2004, tr 11

Trang 11

7

- Văn hoá mang tính dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, đặc trưng

cho tư duy, cho quan niệm của họ Chẳng hạn, tặng quà là một truyền thống của người Việt Nam Quà tặng biểu thị tình cảm của người tặng đối với người nhận và

là một cách để tăng cường mối quan hệ Tuy nhiên, đối với nhiều nước phương Tây như Đan Mạch hay Mỹ, họ rất ít khi tặng và nhận quà, thậm chí những quà tặng có giá trị lớn lại bị coi là đồ hối lộ

- Văn hoá có thể học hỏi được: Mặc dù mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng

song họ vẫn có thể học hỏi văn hoá của các dân tộc khác Trong bối cảnh giao lưu

và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc học hỏi những tinh hoa của các nền văn hoá tiến bộ đã trở nên ngày càng phổ biến Một ví dụ dễ thấy là trước đây, người Việt Nam chỉ quen ăn cơm thì giờ đây đồ ăn nhanh đã được chấp nhận rộng rãi

- Văn hoá mang tính chủ quan: Đặc điểm này của văn hoá được biểu hiện ở

chỗ, người dân thuộc các nền văn hoá khác nhau có những suy nghĩ, thái độ và cách nhìn nhận khác nhau đối với cùng một sự việc, hoàn cảnh Ở Việt Nam, việc đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão là không chấp nhận được trong khi đó ở các nước phương Tây thì bố mẹ về già vào sống ở viện dưỡng lão là hoàn toàn bình thường

- Văn hoá mang tính khách quan: Văn hoá được hình thành trong quá trình

sống và lao động của con người Nó là kết quả của quá trình con người thích nghi với môi trường cho nên nó tồn tại khách quan, độc lập với ý muốn chủ quan của từng thành viên trong cộng đồng Chúng ta với tư cách là các cá nhân chỉ có thể học hỏi và chấp nhận nó chứ không thể biến đổi nó

- Văn hoá mang tính lịch sử: Từ những giai đoạn đầu xuất hiện của loài người,

những mầm mống của văn hoá cũng bắt đầu được hình thành và nó không ngừng được củng cố và phát triển theo từng bước phát triển của con người Bởi vậy văn hoá mang tính lịch sử cao và những quan niệm của nó rất khó bị phá vỡ

- Văn hoá có tính kế thừa: Cùng với quá trình phát triển của loài người từ thế

hệ này sang thế hệ khác, văn hoá cũng được tích luỹ và kế thừa Những giá trị kế thừa từ thế hệ trước cộng thêm những giá trị tạo ra ở hiện tại đã làm cho kho tàng văn hoá của dân tộc ngày càng phong phú và đa dạng

Trang 12

8

- Văn hoá luôn thay đổi: Có thể thấy rất rõ điều này qua sự thay đổi trong cách

nghĩ, cách sinh hoạt và làm việc của con người trong các giai đoạn phát triển Một

ví dụ điển hình là quan niệm về chữ “hiếu” của dân tộc Viêt Nam Thời phong kiến người ta quan niệm “Trung với nước, hiếu với vua”, còn ngày này người ta quan niệm “Trung với nước, hiếu với dân”

Nắm được những đặc trưng của văn hoá nói chung sẽ giúp chúng ta có phương tiện để nghiên cứu sâu vào từng nền văn hoá, từ đó sẽ tránh được những hiểu lầm trong giao tiếp cũng như trong quan hệ thương mại với các quốc gia khác nhau

1.1.1.3 Các thành phần của văn hoá

Theo các chuyên gia kinh tế phương Tây thì văn hoá bao gồm tám thành tố chính9, đó là:

- Ngôn ngữ

- Tôn giáo

- Những giá trị và quan điểm

- Các phong tục tập quán và thói quen

- Yếu tố vật chất của văn hoá

9

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh

doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 14

10

Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International

Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr.313.

Trang 13

9

không thể hiểu được những sắc thái, những nghĩa khác của từ và những từ lóng nếu

họ không am hiểu về thói quen sử dụng ngôn ngữ của đất nước đó Ngôn ngữ cũng

là công cụ giúp định hình những nét đặc trưng, tạo ra ranh giới phân cách của từng nền văn hoá giống như một ranh giới vật chất Thật vậy, không gì có thể phân biệt một nền văn hoá này với một nền văn hoá khác tốt như ngôn ngữ Một đất nước có bao nhiêu ngôn ngữ thì sẽ có bấy nhiêu nền văn hoá tách biệt Một ví dụ điển hình

là đất nước Thuỵ Sỹ Tại đây có đến bốn ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Rôman - và tương ứng với nó là bốn nền văn hoá khác nhau

Trong giao tiếp, các thông điệp không chỉ được truyền tải bằng lời, bằng chữ viết mà còn bằng cả những cử chỉ, hành động nữa Thực tế cho thấy ngôn ngữ không lời giúp cho quá trình giao tiếp của chúng ta trở nên sinh động và hiệu quả hơn rất nhiều Những ánh mắt, những nụ cười, những động tác đi kèm với ngôn ngữ có lời sẽ giúp biểu đạt những cảm xúc, suy nghĩ một cách trực tiếp giúp người nghe cảm nhận được sâu sắc thông điệp được truyền đi Loại ngôn ngữ không dùng lời này cũng là một nét văn hóa đặc sắc và thay đổi từ quốc gia này sang quốc gia khác Ví dụ, thông thường gật đầu có nghĩa là đồng ý nhưng ở Bungari và Hy Lạp dấu hiệu này lại biểu hiện sự phản đối.11

Một ngôn ngữ đặc biệt nữa cũng được chú ý khá nhiều trong giao tiếp, đặc biệt

là giao tiếp quốc tế, đó là ngôn ngữ của quà tặng Ở mỗi nền văn hoá khác nhau phong tục tặng quà cũng như ngôn ngữ của quà tặng cũng khác nhau Ví dụ, Ở Nhật, tặng quà là một nghệ thuật, thể hiện tình bạn, sự kính trọng và thái độ ngưỡng mộ Nghi thức tặng quà rất quan trọng Quà luôn được đựng trong một hộp quà nhỏ, được bọc rất đẹp bằng loại giấy chất lượng, và sau đó món quà được trao cho đối phương với đầy sự kính trọng Người ta mong đợi trao quà tặng ngay trong lần đầu gặp gỡ, và món quà sẽ trở thành một phần trong cuộc làm ăn của bạn Trong khi đó, đối với các đối tác tới từ những quốc gia châu Âu, họ không có truyền thống tặng quà sâu đậm Thói quen của họ là không tặng quà ngay lần đầu gặp mặt, hoặc tặng

11

http://advice.vietnamworks.com.vn/vi/career/tin-noi-bat/suc-manh-cua-ngon-ngu-cu-chi.html

Trang 14

10

quà như một thói quen, trong tất cả những lần gặp mặt.12

Phong tục tập quán tặng quà và ý nghĩa của nó thay đổi theo từng quốc gia, song vẫn có những món quà

được coi là “an toàn” trong hầu hết các trường hợp là sôcôla, hoa hồng và rượu

whiskey E-cốt loại hảo hạng

 Tôn giáo (Religion)

Tôn giáo có thể được hiểu là một hệ thống các niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh và những nghi lễ liên quan đến niềm tin đó Hiện nay trên thế giới có năm tôn giáo chính là:13

- Đạo Thiên Chúa

- Đạo Hồi

- Đạo Hindu

- Đạo Phật

- Đạo Khổng

Tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hoá, bao gồm rất nhiều những thái

độ và niềm tin chi phối hành vi ứng xử của con người trong tất cả các lĩnh vực Trong lĩnh vực kinh doanh, tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng bởi nó chi phối đến tư duy, đến giao tiếp, đến hành vi tiêu dùng của mỗi cá nhân và nhiều vấn đề khác Xét về ảnh hưởng của tôn giáo đến kinh doanh phải kể đến cả ảnh hưởng tích cực lẫn ảnh hưởng tiêu cực Một điển hình cho ảnh hưởng tích cực của tôn giáo là Đạo Tin Lành (một trong hai nhánh chính của Thiên Chúa Giáo) Đây là đạo giáo đề cao sự cần cù lao động, tạo ra của cải vật chất và sự tiết kiệm Sự lao động chăm chỉ kết hợp với sự tích luỹ để mở rộng sản xuất đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Tư Bản Ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo tới kinh doanh thể hiện rõ nhất qua tác động của Đạo Hồi Giáo lý của Đạo Hồi rất khắt khe như cấm tiêu thụ đồ uống có cồn, cấm đánh bạc, cấm cho vay nặng lãi và phụ nữ phải ăn mặc rất kín đáo Những điều cấm kỵ này đã gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực như đồ uống

Trang 15

11

có cồn, du lịch nghỉ mát, vui chơi giải trí, thời trang cho nữ giới, quảng cáo, ngân hàng

và các dịch vụ cho vay có lãi suất khác. 14

Như vậy, tôn giáo không chỉ có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày mà nó còn

có vai trò chi phối rất lớn đến hoạt động kinh doanh Mỗi quốc gia khác nhau lại có những tôn giáo khác nhau chi phối

 Những giá trị và thái độ (Values and Attitudes)

Những giá trị trong một xã hội chính là nhân tố kiến tạo nên nền tảng văn hoá của xã hội đó Chúng là những quan niệm căn bản giúp con người phân biệt được đúng với sai, cái chấp nhận được với cái không chấp nhận được, cái quan trọng với cái không quan trọng, cái bình thường với cái bất thường.15 Còn thái độ là sự đánh giá các giải pháp khác nhau dựa trên các giá trị Thái độ được hiểu gần giống các quan điểm trừ một điểm là nó được hình thành một cách tự nhiên, vô thức và không dựa trên cơ sở lý trí.16 Những nền văn hoá khác nhau có những giá trị khác nhau và

từ đó hình thành nên những thái độ đánh giá khác nhau với cùng một sự việc Một

ví dụ điển hình là sự đúng giờ Đây là một giá trị nền tảng ở Bắc Mỹ, Bắc Âu và Nhật Bản trong khi đó nó lại không phải là giá trị truyền thống ở những nước Trung Đông và Châu Phi Do đó, trong khi những người Bắc Mỹ, Bắc Âu và Nhật Bản coi thời gian là tiền bạc và đánh giá thấp những người trễ hẹn thì những người Trung Đông và Châu Phi lại có thể chấp nhận việc trễ hẹn, thậm chí là chậm đến vài tiếng đồng hồ

Đối với những người làm kinh doanh thì việc tìm hiểu các giá trị cũng như thái

độ của đối tác trong giao thương quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt là trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sôi động như hiện nay vì nó sẽ giúp

họ tránh được những sai lầm đáng tiếc

 Các phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức (folkways and mores)

14

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 141

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 139.

16

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 139.

Trang 16

12

Phong tục tập quán (folkways) là những thói quen được đưa vào nếp sống hàng ngày.17 Nhìn chung phong tục tập quán không liên quan nhiều đến những hành động mang tính đạo đức mà nó là những quy ước xã hội liên quan đến các vấn đề như: cách ăn mặc thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, thế nào là hành vi xã hội đúng đắn, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống ra sao hay cách đối xử tốt với những người xung quanh… Ví dụ như Indonesia là một đất nước theo đạo Hồi nên trang phục của họ phải rất kín đáo Trang phục của những người nghèo có thể được chấp

nhận thiếu thốn nhưng những du khách ăn mặc “thiếu thốn” với chân đất, quần soọc,

áo dây… sẽ bị coi là bất lịch sự Họ có thể chấp nhận quần lửng nhưng phải đủ rộng

và ít nhất là dài đến đầu gối

Chuẩn mực đạo đức (mores) là những cách cư xử được coi là đúng đắn và có tính chất bắt buộc chung đối với các thành viên trong xã hội.18 Ví dụ, con cái phải hiếu thảo và phục dưỡng cha mẹ, vợ chồng phải sống chung thủy với nhau, học trò phải kính trọng thầy cô… Những chuẩn mực đạo đức mang ý nghĩa lớn hơn nhiều

so với các phong tục tập quán Nếu có những hành động trái với các chuẩn mực đạo đức thì sẽ bị xã hội lên án và còn có thể bị trừng phạt thích đáng Trong nhiều xã hội, một số chuẩn mực đạo đức còn được chuyển hoá thành các quy định của pháp luật Vì vậy mà những xã hội tiến bộ đều có những đạo luật chống lại tội phạm, các hành vi loạn luân và tục ăn thịt người… Các chuẩn mực đạo đức của những nền văn hoá khác nhau cũng có nhiều điểm khác nhau Chẳng hạn, ở Mỹ, việc uống rượu là hoàn toàn bình thường nhưng ở Arab, hành vi đó là trái với chuẩn mực xã hội và có thể bị phạt tù. 19

 Văn hoá vật chất (material culture)

Văn hoá vật chất bao gồm những sản phẩm vật chất do con người tạo ra từ những sản phẩm phục vụ trực tiếp đời sống vật chất của con người như nhà cửa, trường học, thành phố, nhà máy… đến những sản phẩm phục vụ đời sống tinh thần như đền chùa, miếu mạo, nhà thờ Nền văn hoá vật chất của một quốc gia được

17

Charles W.L Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr 90

18

Charles W.L Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr 90

Trang 17

13

biểu hiện qua đời sống vật chất và là kết quả của sự phát triển công nghệ.20 Do đó,

nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ nhận thức và lối sống ở quốc gia đó Ở những quốc gia có trình độ công nghệ cao, các hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống giáo dục, tài chính… rất phát triển Đó là động lực cho sự mở mang giao lưu kinh tế quốc tế Vì thế, ở những nước này, thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng Ngược lại, ở những nước nông nghiệp nghèo, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài hầu như không mấy được quan tâm

 Mỹ học (Aesthetics)

Mỹ học gắn liền với nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật, trong xã hội và thường được biểu hiện trong mỹ thuật, âm nhạc, kịch, văn hoá dân gian và khiêu vũ.Mỹ học cũng là một yếu tố văn hoá có ảnh hưởng đến các hành vi ứng xử và những quan niệm trong đời sống xã hội cũng như trong kinh doanh Một biểu hiện cho tác động này là quan niệm khác nhau về ý nghĩa biểu trưng của màu sắc ở những quốc gia khác nhau Ví dụ, màu biểu trưng cho sự tang tóc ở Mỹ và Mêhicô là màu đen, trong khi đó ở Viễn Đông là màu trắng và đen, còn

ở Brazil là màu tía Hay như ở các nước theo đạo Hồi, màu xanh lá cây được xem là màu sắc mang lại sự tốt lành nên những quảng cáo có sử dụng màu xanh lá cây hoặc những kiện hàng được bọc bằng màu này sẽ rất được ưa chuộng Trong khi đó, ở Châu Phi người ta thường dùng giấy bọc màu đỏ vì đây mới là màu may mắn của

họ. 21 Đây cũng là điều quan trọng đối với những người làm marketing Để tránh những rủi ro về văn hoá khi thâm nhập vào thị trường mới, cần phải nghiên cứu cẩn thận để xem liệu màu sắc mình đang sử dụng cho những sản phẩm, những kiện hàng hay những mẫu quảng cáo có bao hàm ý nghĩa đặc biệt nào không

 Giáo dục (Education)

Giáo dục là một thành tố không thể thiếu của văn hoá Nó chính là phương tiện chính thức giúp truyền đạt văn hoá cho các cá nhân trong xã hội Hệ thống giáo dục của một xã hội sẽ góp phần duy trì và tạo nên những khác biệt về văn hoá của

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 19.

21

Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International

Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr 296

Trang 18

14

xã hội đó so với xã hội khác Những giá trị và chuẩn mực của xã hội là những nội dung được truyền đạt qua các thế hệ thông qua cả giáo dục chính quy và không chính quy.22 Giáo dục chính quy là giáo dục thông qua hệ thống nhà trường và đóng vai trò chủ chốt trong xã hội Tại đây, con người được học những kiến thức cơ bản

về tự nhiên, xã hội Bên cạnh đó, những chuẩn mực đạo đức như sự kính trọng, vâng lời, tính trung thực, sự ngăn nắp, đúng giờ… cũng dần được hình thành trong mỗi học sinh một cách gián tiếp qua đời sống học đường Còn giáo dục không chính quy chính là sự giáo dục của gia đình và xã hội - đây cũng là môi trường có tác động không nhỏ đến việc hình thành tư duy và nhận thức cho con người

Trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ quyết định đến trình độ dân trí của quốc gia đó Thước đo trình độ giáo dục của một xã hội chủ yếu là tỷ lệ mù chữ, chất lượng và số lượng trường học, số lượng học sinh và có thể là cả tỷ lệ kinh phí Nhà nước chi cho giáo dục Với những người hoạt động trong lĩnh vực marketing, tỷ lệ người biết chữ là rất được quan tâm bởi nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của họ trong việc lựa chọn phương tiện, loại hình quảng cáo, địa điểm bán hàng… Ví dụ, ở Pakistan, tỷ lệ mù chữ lên tới 70% nên đây sẽ không thể là thị trường tốt cho việc kinh doanh sách báo và những hình thức quảng cáo sử dụng sách báo hay tờ rơi cũng không thể hữu dụng ở quốc gia này.23

Trong trường hợp này, tốt nhất các nhà làm quảng cáo nên sử dụng những hình thức quảng cáo có hình ảnh

Như vậy, tìm hiểu trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ giúp cho việc quyết định lựa chọn phương thức thâm nhập vào một thị trường mới đạt được hiệu quả

 Cấu trúc xã hội (social structure)

Cấu trúc xã hội được hiểu là cách thức tổ chức xã hội cơ bản của xã hội đó Mọi xã hội đều có cấu trúc riêng của nó và từ đó hình thành nên các mối quan hệ có ảnh hưởng tới hành vi ứng xử của các thành viên trong xã hội đó Tuy cấu trúc xã hội bao gồm nhiều phương diện khác nhau nhưng để thấy sự khác biệt trong văn hoá giữa các xã hội thì người ta dựa trên hai phương diện chính.24

Trang 19

15

Đầu tiên là mức độ coi trọng tính cá nhân (đối lập với nó là tính tập thể) của từng xã hội Những người thuộc những nền văn hoá mang tính cá nhân cao thường coi mình là một cá thể riêng lẻ khác biệt so với những người khác Họ rất rõ ràng trong khi giao tiếp và thường đi thẳng vào vấn đề cần bàn bạc Mỹ, Phần Lan, Pháp… là những ví dụ điển hình cho đặc tính cá nhân cao này Trong khi đó, những nền văn hoá mang tính tập thể cao như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… lại đề cao tập thể và thường nghĩ cho toàn cục Ở các công ty của Nhật Bản hay Trung Quốc, tính thân thiện và lòng trung thành là rất quan trọng và thường được duy trì Thứ hai là sự phân chia địa vị xã hội Mọi xã hội đều được phân tầng thành những giai cấp và sự phân chia này dựa trên cơ sở nền tảng xã hội, nghề nghiệp và thu nhập Giai cấp là những tập đoàn người đông đảo, giống nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, về quan hệ của họ với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, do đó có sự khác nhau về phương thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội mà họ được hưởng Ấn Độ là nước điển hình cho xã hội tồn tại chế độ phân biệt sâu sắc giữa các tầng lớp và giai cấp khác nhau trong xã hội, ở đó, việc chuyển đổi từ giai cấp này sang giai cấp khác

là rất khó Điều này gây cản không chỉ hạn chế những cơ hội đạt được những vị trí cao trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến cả việc thăng tiến trong công việc Đó là lý

do mà trong một công ty của Ấn Độ, những người có năng lực chuyên môn tốt nhưng xuất thân ở một tầng lớp thấp thì chưa chắc đã có thể thăng tiến Ngược lại, những người có xuất thân từ những tầng lớp cao hơn trong xã hội sẽ có nhiều cơ hội đạt được những vị trí quan trọng trong công ty hơn.25

Trong khi đó, Mỹ lại là nước điển hình cho những xã hội có sự phân biệt giai cấp thực sự không rõ nét Và sự chuyển đổi giữa các giai cấp là hoàn toàn có thể

Hai khía cạnh trên có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy trong kinh doanh và do đó

sẽ ảnh hưởng đến phong cách làm việc cũng như phương thức hoạt động của các tổ chức kinh doanh Trong quan hệ thương mại quốc tế, cấu trúc xã hội là yếu tố quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý bởi họ phải lãnh đạo những người đến từ những nền văn hoá khác biệt với văn hoá của họ

Trang 20

16

1.1.2 Văn hoá kinh doanh

1.1.2.1 Khái niệm văn hoá kinh doanh

Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá cũng được thể hiện rõ nét qua toàn

bộ quá trình tổ chức và hoạt động của một tổ chức Cụ thể, nó được biểu hiện từ cách chọn và bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ, từ cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức cho đến những phương thức quản lý kinh doanh mà chủ thể kinh doanh áp dụng sao cho có hiệu quả nhất Bản thân hoạt động kinh doanh có mục đích là lợi nhuận chứ không lấy các giá trị văn hoá làm mục tiêu trực tiếp song từ những hoạt động cụ thể trên đã dần dần hình thành nên các giá trị văn hoá trong kinh doanh Chính vì vậy

mà đã hình thành nên một khái niệm khá mới mẻ: văn hoá kinh doanh

Cả văn hoá và kinh doanh đều đã xuất hiện từ rất lâu song mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh mới chỉ được đi sâu nghiên cứu sau khi Hofstede cho xuất

bản công trình nghiên cứu mang tên “Văn hoá và tổ chức - phần mềm của ý thức” (Culture and organisations – The software of the mind) vào thập niên 60 của thế kỷ trước Cho đến khoảng thập niên 90 của thế kỷ 20, thuật ngữ văn hoá kinh doanh

(VHKD) mới xuất hiện

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về VHKD Có những quan điểm cho rằng VHKD chính là kinh doanh có văn hoá Điều này biểu hiện rõ trong định nghĩa về VHKD của Giáo Sư Hoàng Trinh:

“Văn hoá kinh doanh (hay kinh doanh có văn hoá) có nghĩa là hoạt động kinh tế có

hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp, sản phẩm đạt chất lượng cao, tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường trong nước và nước ngoài, làm

Định nghĩa trên chưa nêu bật được bản chất của VHKD, ngược lại đã đánh đồng VHKD với kinh doanh có văn hoá, vì thế đã gây nhầm lẫn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của VHKD là những vấn đề văn hoá liên quan đến kinh doanh trong khi đó đối tượng của kinh doanh có văn hoá là việc kinh doanh đảm bảo tính đạo đức Khác với quan

điểm trên, học giả Đỗ Minh Cương đã đưa ra định nghĩa về VHKD như sau: “Văn

26

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 52.

Trang 21

17

hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình

Định nghĩa này đã nêu bật được sự khác biệt giữa VHKD và kinh doanh có văn hoá song lại mắc phải một nhược điểm là không chỉ rõ chủ thể kinh doanh là một quốc gia hay một doanh nghiệp

Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm coi VHKD chính là văn hoá doanh nghiệp bởi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp Tiêu biểu cho quan điểm này là định nghĩa về VHKD của Edgar H.Schein, chuyên gia nghiên cứu về các tổ

chức Theo ông, “Văn hoá doanh nghiệp (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những

quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải

Cách hiểu này được các nhà nghiên cứu về kinh doanh chấp nhận, xuất phát từ quan niệm coi kinh doanh là hoạt động đặc thù của doanh nghiệp Tuy nhiên, cách hiểu này có phần hạn hẹp vì mặc dù doanh nghiệp là chủ thể chính của mọi hoạt động kinh doanh nhưng kinh doanh cũng là một hoạt động phổ biến liên quan mật thiết đến mọi thành viên trong xã hội

Có lẽ nhóm quan điểm tiến bộ và đúng đắn nhất là nhóm coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội Theo các nhà nghiên cứu

trong Viện Kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ thì “Văn hóa kinh doanh có thể được

định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hoá của một xã hội đến những

Đây là một định nghĩa khá ngắn gọn và đầy đủ, đã bao trùm lên mọi khía cạnh của đời sống kinh doanh

Cũng theo quan điểm tiến bộ trên, TS Nguyễn Hoàng Ánh, đã đưa ra một định

nghĩa tương đối cụ thể và bao quát về VHKD Đó là “Văn hóa kinh doanh là sự thể

hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn

27

Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, tr 69

28

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 50.

29

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 51.

Trang 22

18

hoá dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá

những khái niệm của những học giả tiến bộ Nó vừa bao hàm những giá trị văn hóa dân tộc được thể hiện trong kinh doanh, vừa có những giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng

VHKD có ảnh hưởng quyết định đến kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh quốc

tế Mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau lại có những mô hình văn hoá khác nhau, tạo nên đặc trưng riêng cho VHKD Mặt khác, những yếu tố ảnh hưởng đến VHKD luôn vận động, thay đổi làm cho nó cũng biến đổi theo Vì vậy, việc tìm hiểu sâu sắc về VHKD của các đối tác chính là chìa khoá thành công cho các doanh nghiệp muốn vươn ra tầm quốc tế

1.1.2.2 Các khía cạnh của văn hoá kinh doanh

Căn cứ trên góc độ văn hoá quốc gia, nhà nhân chủng học người Hà Lan, Geert Hofstede - một chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hoá và quản lý đã đưa

ra bốn khía cạnh để xem xét biểu hiện của VHKD, đó là:31

- Tính cá nhân/ Tính tập thể: Đặc điểm này liên quan đến các mối quan hệ

giữa các cá nhân với những người xung quanh Theo Hofstede, những thành viên trong các xã hội mang tính tập thể cao như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, thường gắn bó với nhau trong một tổ chức Do đó, những công ty ở những nước này thường ra quyết định dựa trên ý kiến tập thể Trong khi đó, ở những xã hội mang đậm tính cá nhân như Mỹ, Canada, Đan Mạch… thì sự liên kết ràng buộc giữa các

cá nhân là hết sức lỏng lẻo và những quyết định dựa trên ý kiến cá nhân là phổ biến

- Sự phân cấp quyền lực: Đây là yếu tố phản ánh mức độ chấp nhận sự phân

chia quyền lực bất bình đẳng giữa các cá nhân Ở những nước có sự phân cấp quyền lực cao như Malaysia, Goatemala, Philipin… những nhân viên tin rằng những người lãnh đạo luôn luôn đúng Do đó, họ không hề chủ động đưa ra những quyết định bất

30

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 54.

31

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 137

Trang 23

19

thường Trong khi đó, ở những nước có sự phân cấp quyền lực thấp như Đan Mạch, Thuỵ Điển…những quyết định có sự tham gia của nhân viên là cực kỳ phổ biến và mang lại hiệu quả cao

- Tính cẩn trọng: Đặc điểm này phản ánh mức độ dám chấp nhận và đương

đầu với những tình thế không rõ ràng hoặc bất ổn của các thành viên trong xã hội Nhân viên ở những nước có tính cẩn trọng cao như Nhật Bản, Hy Lạp và Thổ Nhĩ

Kỳ có xu hướng gắn bó lâu dài với một công ty Ngược lại, những nhân viên ở những nước có tính cẩn trọng thấp như Mỹ, Singapore và Đan Mạch lại linh hoạt hơn rất nhiều trong việc chuyển chỗ làm

- Nam tính/ Nữ tính: Người ta thường dùng đặc điểm này để xem xét vai trò

của giới tính trong công việc Trong môi trường nam tính, vai trò của giới tính rất

được coi trọng và các “giá trị nam tính” truyền thống như sự thành đạt, quyền lực…

quyết định các ý tưởng văn hoá Tiêu biểu cho đặc điểm này là Australia và Nhật Bản Trong môi trường nữ tính, vai trò của giới tính ít được coi trọng hơn và ít có sự phân biệt nam nữ trong công việc Những nước Bắc Âu là những nước tiêu biểu cho dạng tính cách này

Căn cứ vào quá trình kinh doanh, có thể coi VHKD bao gồm:32

- Văn hoá doanh nghiệp: đây là thành phần đầu tiên của VHKD vì doanh

nghiệp chính là chủ thể của hầu hết các hoạt động kinh doanh

- VHKD trong Marketing: bao gồm văn hoá trong sản xuất, phân phối và xúc

tiến thương mại

- Văn hóa đàm phán: tức là VHKD trong quá trình giao tiếp, trao đổi và thuyết

phục giữa các đối tác kinh doanh để đi đến ký kết các hợp đồng thương mại

- Văn hoá tiêu dùng: tức là những tập quán, thị hiếu, quan điểm của người tiêu

dùng khi lựa chọn, đánh giá để đi quyết định mua hàng

Ảnh hưởng của văn hoá đến hoạt động kinh doanh đã giúp hình thành nên một nền tiểu văn hoá mới đó là văn hoá kinh doanh Và VHKD chính là yếu tố then chốt,

32

Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá

kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr 59

Trang 24

20

quyết định đến tư duy trong kinh doanh, đến giao tiếp trong kinh doanh và đến tâm

lý tiêu dùng của người dân trong từng nền văn hoá

1.2.1 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến tư duy trong kinh doanh

Nói đến tư duy trong kinh doanh quốc tế là nói đến lối nhận thức, quan niệm

và thói quen kinh doanh của các thương nhân Việc nắm bắt được tâm lý, thái độ của đối tác, đặc biệt là đối tác nước ngoài là cực kỳ quan trọng để có thể đưa ra những ứng xử và quyết định phù hợp VHKD của mỗi quốc gia khác nhau sẽ hình thành nên những cá tính và hành vi khác nhau của các nhà kinh doanh

Ảnh hưởng đầu tiên cần quan tâm là sự khác nhau trong quan niệm về thời

gian Trong kinh doanh, có những quốc gia luôn hướng tới những sự phát triển

trong tương lai, có những quốc gia chú trọng tới những thành quả trong quá khứ và cũng có những quốc gia lại chú trọng tới hiện tại Chẳng hạn Nhật Bản là nước chú trọng tới sự phát triển cho tương lai Cái họ quan tâm không phải là kế hoạch để phát triển trong quý tới mà là trong 10 năm tới Còn các nước Châu Âu lại chú trọng tới quá khứ cho nên họ cho rằng những kế hoạch phải của họ phải phù hợp với các truyền thống và giá trị nền tảng đã hình thành trước đó Cho nên, các công ty Nhật Bản thường có kế hoạch chiến lược cho một giai đoạn khá dài, có khi lên tới hàng thập kỷ, trong khi đó, ở các công ty Châu Âu thì chỉ là vài năm Mỹ là nước tiêu biểu cho việc chú trọng tới hoạt động kinh doanh trong hiện tại Do đó, họ rất quý trọng thời gian Với họ, thời gian là tiền bạc nên họ rất nghiêm ngặt trong việc thực hiện đúng lịch trình, đúng hẹn, đặc biệt là trong các cuộc gặp gỡ làm ăn Trong khi

đó, các nước Châu Mỹ La Tinh thì lại khá linh hoạt về mặt thời gian Họ thường có

xu hướng đến muộn hơn so với đối tác trong các cuộc gặp.33

Ngoài ảnh hưởng tới nhận thức của người kinh doanh về vấn đề thời gian, VHKD còn ảnh hưởng đến cá tính và thói quen kinh doanh của doanh nhân, từ đó

ảnh hưởng đến các hành vi của thương nhân trong kinh doanh Thương nhân ở những nước chịu ảnh hưởng của nền văn hoá La tinh (Châu Âu, Châu Mỹ) - những nước có tính cẩn trọng thấp - có xu hướng ưa thích sự thay đổi và dám mạo hiểm

33

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 140

Trang 25

Những thương nhân Nhật Bản lại khác, họ cẩn trọng, tỉ mỉ và trung thành Do đó, họ thường kỹ tính trong lựa chọn đối tác làm ăn và khi đã lựa chọn ai thì họ sẽ có xu hướng gắn kết lâu dài Hiểu biết những quan niệm, cá tính và thói quen kinh doanh của các nước khác nhau sẽ giúp cho người làm kinh doanh đưa ra những quyết định đúng đắn từ việc lựa chọn đối tác làm ăn đến việc duy trì mối quan hệ thương mại lâu dài

1.2.2 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến giao tiếp trong kinh doanh

Trong kinh doanh, giao tiếp đóng vai trò cực kỳ quan trọng từ khâu tiếp xúc đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng đến việc duy trì mối quan hệ giữa các bên, nhất

là khi các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh xuyên văn hoá Những người mua và người bán đến từ những quốc gia khác nhau, mang theo những hiểu biết, những kỳ vọng và phong cách giao tiếp dưới ảnh hưởng của các nền văn hoá khác nhau Do

đó, những “xung đột văn hóa” rất dễ xảy ra và gây nhiều rắc rối cho các bên

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến giao tiếp trong kinh doanh là ngôn ngữ Am

hiểu và biết cách sử dụng thành thạo ngoại ngữ là một lợi thế trong giao tiếp với thương nhân nước ngoài Ngược lại, nó cũng có thể trở thành rào cản hoặc gây ra những hiểu lầm đáng tiếc khi đàm phán hoặc trao đổi ý tưởng kinh doanh nếu năng lực ngoại ngữ của thương nhân hạn chế Những rào cản này càng lớn khi họ gặp những biệt ngữ kinh doanh chỉ được sử dụng ở một nền văn hoá nào đó Ví dụ, doanh nhân Mỹ thường sử dụng rất nhiều những thành ngữ bắt nguồn từ thể thao

hoặc quân đội như “The bottom line – điểm mấu chốt”, “to beat around the bush –

nói vòng vo”, “get down to brass tacks – đi sâu vào bản chất vấn đề”, hay “feather

34

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 140

Trang 26

22

thương nhân nước ngoài trong giao tiếp với thương nhân Mỹ nếu không am hiểu về tiếng Anh - Mỹ

Trong giao tiếp cũng cần chú ý đến ngôn ngữ không lời Tuy không tác động trực tiếp đến giao tiếp nhưng nó là phương tiện giúp cho quá trình giao tiếp được sinh động và biểu đạt nhiều ý nghĩa Nếu không quan tâm đến ngôn ngữ không lời

sẽ dẫn đến những ấn tượng không tốt từ phía đối tác và hiểu lầm là chuyện dễ xảy ra bởi cùng một cử chỉ hành động nhưng lại được hiểu khác nhau ở những nền văn hoá khác nhau Ví dụ, người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà

họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa , hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực Ngược lại, đối với người Trung Quốc, né tránh giao tiếp bằng mắt lại bị coi là không đáng tin cậy.36

Hiệu quả của giao tiếp trong kinh doanh còn bị ảnh hưởng bởi phong cách giao tiếp trong các cuộc gặp gỡ công việc, trong đàm phán, trong các nghi thức xã giao… Hành vi ứng xử trong gặp gỡ kinh doanh rất phong phú, đa dạng tuỳ vào VHKD của từng quốc gia Chẳng hạn như ở Mỹ, vì muốn tiết kiệm thời gian nên những cuộc gặp làm việc thường ngắn, tập trung và đi thẳng vào vấn đề Khi gặp nhau, họ thường nói chuyện làm ăn trước rồi mới nói chuyện riêng tư Trong khi đó,

ở một số nước châu Á, việc vừa gặp nhau đã bàn chuyện làm ăn lại bị coi là bất lịch

sự Trong đàm phán, việc hai bên không hiểu phong cách giao tiếp của nhau cũng gây nhiều phiền phức Xét một ví dụ là với người Nhật Bản, quá trình đàm phán, thương lượng của họ diễn ra khá chậm chạp và phức tạp Trong khi đó người Mỹ lại

có phong cách tiến hành các giao dịch một cách nhanh chóng Vì vậy, khi làm việc với người Nhật Bản, người Mỹ có thể cảm thấy khó thích nghi với tốc độ đàm phán chậm rãi của người Nhật

35

S Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R Riesenberger (2007), International Business: Strategy,

Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr 146

36

Việt báo.vn, “Văn hóa kinh doanh Trung Quốc”, Thu Lê (22/06/ 2006),

http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Van-hoa-kinh-doanh-Trung-Quoc/50754481/411/

Trang 27

23

Các nghi thức xã giao cũng ảnh hưởng đến việc gây ấn tượng ban đầu và việc duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài Khi lần đầu tiên gặp mặt, trao danh thiếp là một nghi thức cần thiết nhưng hình thức trao và nhận danh thiếp không thực sự có giống nhau giữa các nước Người Mỹ khi trao danh thiếp cho nhau chỉ nhìn lướt qua hoặc thậm chí không nhìn danh thiếp trước khi cất đi hoặc bỏ vào túi Họ quan niệm tập trung vào người đang đối thoại với mình quan trọng hơn và thể hiện tôn trọng hơn

là nhìn vào danh thiếp Đối với người Trung Quốc thì lại khác Họ rất trịnh trọng khi trao và nhận danh thiếp Sau khi nhận danh thiếp bằng hai tay, họ không cất ngay vào túi mà đọc cẩn thẩn và để lên trên bàn để thể hiện sự tôn kính Ngoài ra,

để duy trì mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài, nhiều nước có thói quen tặng quà cho đối tác Tuy nhiên, cũng cần phải cẩn thận trong việc chọn quà và cách tặng quà Người Nhật rất thích được tặng quà tuy nhiên không nên tặng họ những món quà với số lượng là 4 hoặc 9, những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may mắn

Qua phân tích trên có thể thấy, quá trình giao tiếp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi VHKD của các bên Cho nên tìm hiểu về VHKD của đối tác để có những cách ứng xử phù hợp sẽ giúp đạt hiệu quả tốt trong giao tiếp với thương nhân nước ngoài

1.2.3 Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến marketing

Marketing là hoạt động rất phổ biến và có ảnh hưởng rất nhiều đến thành công trong kinh doanh Cũng giống như giao tiếp, marketing cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của VHKD

Xét về mặt ảnh hưởng của VHKD đến hoạt động marketing nói chung thì có hai ảnh hưởng, bao gồm ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp. 37

Ảnh hưởng trực tiếp của VHKD lên hoạt động marketing là tác động lên chính hành vi của các chủ thể kinh doanh hay hành vi của các nhà hoạt động thị trường Những hành vi đó sẽ được biểu hiện qua các biện pháp marketing mà họ thực hiện Ảnh hưởng gián tiếp được thể hiện thông qua tác động của VHKD tới nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó quyết định đến các biện pháp marketing của người bán

Trang 28

24

Xét về các công cụ đơn lẻ của marketing mix thì VHKD có những tác động cụ thể sau:

- Thứ nhất, sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giá trị và thái

độ Sản phẩm muốn tiêu thụ được phải phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng về mẫu

mã, nhu cầu và những yêu cầu khác Ví dụ như ở những nước hồi giáo, những sản phẩm từ thịt bò chắc chắn sẽ không thể bán hay ở Việt Nam người ta thường kiêng

ăn mực, ăn vịt vào đầu tháng

- Thứ hai, chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ văn hoá đối với

sự thay đổi thông qua cái gọi là “giá tâm lý” Người Nhật là một ví dụ Công ty

P&G đã tìm cách bán bột giặt Cheer ở Nhật bằng cách giảm giá nhưng thật không may điều này đã làm hạ danh tiếng của bột giặt này vì đối với người Nhật, hàng đắt tiền mới là hàng tốt.38

- Thứ ba, hệ thống phân phối thường bị ảnh hưởng bởi tập quán mua sắm Ở

Việt Nam, người tiêu dùng có thói quen mua bán nhỏ lẻ, thường chỉ mua trong ngày nên hệ thống chợ và các cửa hàng bán lẻ là kênh phân phối hàng tiêu dùng phổ biến Bên cạnh đó, sự thay đổi thói quen mua sắm cũng dẫn đến sự thay đổi cơ cấu của hệ thống phân phối Mội ví dụ là ở Tây Ban Nha, các kênh phân phối bán lẻ hàng dệt may tại đây đã và đang trong quá trình thay đổi cơ cấu do người Tây Ban Nha đang thay đổi thói quen mua hàng. 39

Trước đây, họ chọn mua các loại trang phục tại các cửa hàng ở trung tâm hoặc ngay gần trung tâm thành phố cho thuận tiện Tuy nhiên, gần đây, người Tây Ban Nha đang có xu hướng mua hàng ở các trung tâm bán hàng

có quy mô lớn - nơi tập trung nhiều các cửa hàng bày bán đa dạng các loại sản

phẩm với những thương hiệu khác nhau

- Thứ tư, chính sách xúc tiến hỗn hợp và quảng cáo bị ảnh hưởng sâu sắc bởi

vấn đề ngôn ngữ và thái độ của nền văn hoá đang được tiếp cận Một ví dụ là ở Nhật Bản, hãng P&G đã sử dụng một đoạn quảng cáo xà bông Camay trong đó một người đàn ông khi gặp một người phụ nữ lần đầu tiên đã so sánh làn da của cô ấy với làn da của một con búp bê bằng sứ xinh đẹp Mặc dù đoạn phim quảng cáo này

38

Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International

Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr 293

39

Cục xúc tiến thương mại, “Các kênh phân phối hàng dệt may tại Tây Ban Nha”,

http://www.hptrade.com.vn/news/hoso/200902265510313672

Trang 29

25

rất có hiệu quả ở Nam Mỹ và Châu Âu nhưng lại là một sự xúc phạm đối với người Nhật Lý do là vì với người Nhật, một người đàn ông mà khen một người phụ nữ như vậy là không tinh tế và thậm chí còn bị coi là thô lỗ.40

Như vậy có thể thấy, VHKD là một vấn đề khá mới mẻ nhưng lại có ảnh hưởng sâu rộng tới thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Việc tìm hiểu về VHKD cũng như tác động của nó tới thương mại quốc tế sẽ giúp các doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng thâm nhập vào thị trường mới cũng như mở rộng kinh doanh ở thị trường hiện tại Bên cạnh đó, hiểu biết về VHKD của đối tác sẽ giúp doanh nghiệp có được lợi thế trong giao dịch thương mại quốc tế, đặc biệt là trong đàm phán Vì vậy, có thể nói am hiểu VHKD là một trong những nhân tố tạo nên thành công cho các chủ thể kinh doanh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

40

Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International

Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr 293.

Trang 30

26

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA ĐAN MẠCH VỚI VIỆT NAM

2.1.1 Đất nước Đan Mạch

Vương quốc Đan Mạch là một đất nước thuộc vùng Scandinavia với diện tích 43.098 km²,41 một phần ba trong số đó là diện tích của 443 hòn đảo lớn nhỏ Thuộc chủ quyền của Đan Mạch (nhưng không thuộc Liên minh châu Âu) còn có các vùng

tự trị đảo Greenland với diện tích là 2.175 km² và Quần đảo Faroe (gồm 18 đảo ở biển Bắc) với diện tích là 1.399 km² Địa hình của Đan Mạch khá bằng phẳng, với điểm cao nhất chưa tới 171m so với mực nước biển Phía Nam Đan Mạch có đường biên giới với Đức, phía Tây là Bắc Hải và phía Đông giáp với biển Baltic

Về địa phận hành chính, chính quốc bao gồm 5 vùng: Hovedstaden, Midtjylland, Nordjylland, Sjaelland, Syddanmark Thủ đô của Đan Mạch – Copenhagen - là thành phố lớn nhất của Đan Mạch, đồng thời là thành phố lớn thứ hai trong khu vực Bắc Âu (chỉ thua thành phố Stockholm - thủ đô của Thuỵ Điển) Copenhagen có 1,1 triệu dân (năm 2009).42 Với cương vị thủ đô, Copenhagen là nơi đặt trụ sở của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trung ương của Đan Mạch

Do có dòng hải lưu nóng Gulff Stream chảy qua, cùng với vị trí phía bắc nên Đan Mạch có khí hậu ôn hoà: mùa hè lạnh hơn so với các nước châu Âu khác, nhưng mùa đông lại ấm áp hơn, lượng mưa hàng năm vào loại trung bình Nhiệt độ trung bình cả năm là 7,90oC Tháng 2 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình xuống tận

- 40oC Tháng 7 là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình là 16,60oC Tài nguyên chủ yếu của Đan Mạch là dầu mỏ, khí gas tự nhiên, cá, muối, đá vôi, đá phấn, sỏi và cát Các cảng biển và ga chính là Aarhus, Asnaesvaerkets, Aalborg, Copenhagen, Elsinore, Ensted, Esbjerg, Fredericia, Frederikshavn, Kalundborg, Odense và Roenne

Trang 31

27

2.1.2 Hệ thống chính trị

Đan Mạch là xứ sở cổ kính và tồn tại như một quốc gia độc lập từ hơn 1.400 năm nay và là một trong những vương quốc lâu đời nhất thế giới Ngày quốc khánh của Đan Mạch là ngày 16/04 - ngày sinh nhật của nữ hoàng Margrethe II

Đan Mạch theo thể chế quân chủ lập hiến, vua hoặc nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia (chỉ đóng vai trò tượng trưng) và người đứng đầu đất nước hiện nay là nữ hoàng Margrethe II Bà sinh năm 1940, là con gái vua Frederik VII và lên ngôi từ năm 1972.43

Các hoạt động của Nhà nước do Hiến pháp điều chỉnh Hiến pháp được vua Frederik VII ký ban hành ngày 5 tháng 6 năm 1849 Luật này chuyển quốc gia Đan Mạch từ một vương quốc do một người cai trị sang một quốc gia theo chính thể quân chủ lập hiến với chế độ tam quyền phân lập Quyền lập pháp ở trong tay quốc hội, quyền hành pháp do chính phủ đảm nhiệm và quyền tư pháp độc lập Hiện nay,

có 7 đảng trong Quốc hội gồm Đảng Tự do, Đảng Xã hội Dân chủ, Đảng Nhân dân Đan Mạch, Đảng Bảo thủ, Đảng Tự do Xã hội, Đảng Nhân dân XHCN, Danh sách Thống nhất Thủ tướng hiện nay là ông Anders Fogh Rasmussen thuộc Đảng Tự do Đan Mạch có quan hệ gắn bó về mọi mặt với các nước Tây Bắc Âu và Mỹ Quốc gia này ủng hộ một châu Âu thống nhất, vững mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và cũng sớm tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực như: Hội viên khối EFTA năm 1959, Hội đồng Bắc Âu năm 1952 Đan Mạch gia nhập NATO năm 1949 và là thành viên EU từ 01/01/1973 Đan Mạch phê chuẩn Hiệp ước Maastricht về liên minh kinh tế và tiền tệ từ 18/05/1993 Tuy nhiên, như đã nói

ở trên, Đan Mạch vẫn chưa tham gia hệ thống tiền tệ chung châu Âu (Euro)

cư hoặc con cháu của họ, những người đến từ Bosnia, vùng Nam và Tây Á và từ

Trang 32

28

những nước láng giềng của Đan Mạch Ngoài ra, còn có những nhóm dân cư nhỏ sống ở vùng đảo Greenland và Faroese Đan Mạch có các dân tộc sau: Scandinavian, Inuit, Faroese, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Somali

Đan Mạch còn là một trong những quốc gia có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới (77,96 tuổi), trong đó, tuổi thọ trung bình của nữ giới là 80,41 tuổi còn nam giới là 75,65 tuổi.45

Cùng với sự tăng cao về mặt tuổi thọ trung bình, người Đan Mạch cũng có xu hướng kết hôn muộn Ngày nay, tuổi kết hôn lần đầu trung bình ở nam giới là 34 tuổi và nữ giới là 32 tuổi.46

Số lượng con cũng ít hơn (trung bình mỗi gia đình có khoảng 2 con) và do đó, tỷ lệ tăng dân số ở nước này rất thấp chỉ có khoảng 0,295% (năm 2008).47

Người dân Đan Mạch cực kỳ thân thiện và tử tế với khách nước ngoài đến đây,

họ nói tiếng Anh lưu loát và luôn giữ sự thân mật một cách hết sức “hygge” (có

nghĩa là cảm giác hài lòng, tin tưởng, thoải mái và gần gũi) - một khái niệm khó diễn đạt lại bằng ngôn ngữ khác Đó có thể là sự hài lòng với những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày, giống như uống cà phê hay đọc sách vào một buổi trưa trời mưa hoặc một bữa sáng trong yên lặng với bạn bè dưới ánh mặt trời vào một ngày chủ nhật Ngoài ra, người Đan Mạch còn rất khiêm tốn, không thích khoe khoang những thành tích của bản thân mình Đức tính khiêm tốn này được thể hiện

rõ trong “Jante Law”, 48

một đạo luật bất thành văn của Aksel Sandemose – tiểu thuyết gia mang hai dòng máu Na Uy và Đan Mạch – với nội dung quan trọng là:

- Đừng nghĩ mình là tất cả

- Đừng nghĩ bạn quan trọng hơn chúng tôi

- Đừng nghĩ bạn thông minh hơn chúng tôi

- Đừng nghĩ bạn giỏi giang hơn chúng tôi

Đạo luật này giúp cho người dân Đan Mạch tránh thói tự phụ và ý thức được trách nhiệm xã hội của mình

Trang 33

29

2.1.4 Kinh tế

Đan Mạch có một nền kinh tế mở và năng động Theo đánh giá của World Economic Forum – Diễn đàn Kinh tế Thế giới - năm 2008, Đan Mạch là quốc gia có nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh thứ hai châu Âu (sau Thụy Điển)

Bảng 1: Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của

Trang 34

30

Tuy là thành viên của EU nhưng Đan Mạch vẫn chưa tham gia hệ thống tiền tệ chung của Liên minh châu Âu – đồng euro Hiện nay, đồng tiền chính thức của Đan Mạch vẫn là đồng krone với tỷ giá so với đồng euro bao giờ cũng xấp xỉ: 1 euro = 7,45 krone.50

Tuy rất nghèo về khoáng sản, tài nguyên chủ yếu là đồng ruộng, biển, đất sét

và đá vôi nhưng Đan Mạch biết sử dụng những thế mạnh của mình để trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới, mức công nghiệp hoá cao Mức sống của người dân nơi đây thuộc hàng cao nhất thế giới với mức GDP bình quân đầu người khoảng 38.900 USD (năm 2008).51

Cơ cấu kinh tế của Đan Mạch đã có sự chuyển dịch rõ rệt trong những thập kỷ gần đây, từ một nền kinh tế nông - công nghiệp đã trở thành một nền kinh tế phát triển mạnh theo hướng dịch vụ Năm 2006, GDP trong ngành dịch vụ chiếm tới 74%, sau đó là ngành công nghiệp với 24,6% và cuối cùng là nông nghiệp với 1,4%.52

Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành của Đan Mạch năm 2006

Trang 35

31

Vào đầu thế kỷ 21, số lao động trong các ngành dịch vụ chiếm tới gần 3/4 tổng

số lao động của toàn quốc Các ngành dịch vụ chính bao gồm: khách sạn và nhà hàng, vận tải, thông tin liên lạc, dịch vụ bưu điện, dịch vụ tài chính, dịch vụ thương mại, dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông, dịch vụ nghiên cứu và phát triển,

kế toán và kiểm toán, cho thuê máy móc…

Tuy không chiếm tỷ trọng lớn về GDP (24,6%) cũng như về lao động trong nền kinh tế quốc dân nhưng công nghiệp vẫn là một ngành quan trọng của Đan Mạch Các ngành công nghiệp mũi nhọn của Đan Mạch là:

- Công nghiệp chế biến thực phẩm: là ngành truyền thống, có trình độ kỹ thuật

cao, là nước cung cấp chính trên thế giới về thịt, đặc biệt là dăm bông, bơ, phomát,

đồ uống (bia Calberg, Turborg)

- Công nghiệp sản xuất xi măng: nhờ nguồn đất sét và đá vôi khá dồi dào, kỹ

thuật sản xuất bằng phương pháp khô, sản phẩm của Đan Mạch nổi tiếng thế giới Đan Mạch đã bán trên 1000 nhà máy xi măng cho các nước

- Công nghiệp cơ khí, đóng tàu: có truyền thống hàng thế kỷ nay, có thể đóng

các tàu chở dầu 500.000 tấn, sản phẩm nổi tiếng là động cơ diesel thuỷ 1/3 số động

cơ diesel thuỷ trên thế giới hiện nay là do Đan Mạch sản xuất hoặc được sản xuất theo giấy phép của Đan Mạch

- Năng lượng: có dầu mỏ và khí đốt nhưng trữ lượng ít Đan Mạch là nước

đứng đầu thế giới về xuất khẩu turbin chạy bằng sức gió

Nét nổi bật về nền công nghiệp Đan Mạch là cơ cấu và quy mô công ty, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ 75% doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, 1%

có từ 500 nhân viên trở lên, và 5% có từ 200 nhân viên trở lên Lớn nhất trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm, đồ uống, thuốc lá là công ty sản xuất thịt Danish Crown (19.000 người) và công ty sữa Arla (10.000 người) Công ty Carlsberg (23.000 người trên toàn cầu) sản xuất bia, Novo Nordic sản xuất insulin và các chế phẩm enzym; Lego sản xuất đồ chơi lắp ghép, Danfoss và Grundfoss sản xuất bơm và thiết bị điều chỉnh nhiệt độ…54

Trang 36

32

Đan Mạch là một trong những nước có nền nông nghiệp và chăn nuôi phát triển rất cao, với trình độ công nghệ cơ giới hoá cao, từ lâu nổi tiếng thế giới trong sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống Những sản phẩm nông nghiệp chính là lúa mạch, bột mỳ, khoai tây, củ cải đường, thịt lợn, sản phẩm hàng ngày, cá Nền kinh tế thị trường của Đan Mạch phụ thuộc rất nhiều vào việc nhập khẩu nguyên liệu thô và thương mại quốc tế Các hoạt động xuất nhập khẩu chiếm khoảng 2/3 tổng GDP của cả nước Tình hình xuất nhập khẩu của Đan Mạch trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Đan Mạch giai đoạn 2004 – 2008

(Đơn vị: tỷ USD)

Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Nhập khẩu 71,58 79,748.998 90,57 95,13 100,71

Bảng trên cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008, cả khối lượng hàng xuất khẩu và nhập khẩu của Đan Mạch đều liên tục tăng (xuất khẩu tăng 1,29 lần và nhập khẩu tăng 1,4 lần) và cán cân thương mại luôn ở mức xuất siêu Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Đan Mạch là máy móc và thiết bị, thịt và các sản phẩm từ thịt, sản phẩm hàng ngày, cá, dược phẩm, đồ nội thất, cối xay gió… Các mặt hàng nhập khẩu chính: máy móc, thiết bị, thiết bị dùng cho sản xuất công nghiệp, hoá chất, ngũ cốc và thực phẩm, hàng tiêu dùng

Thị trường xuất khẩu chính của Đan Mạch là EU (64,7%), trong đó ba nước

mà Đan Mạch xuất khẩu sang nhiều nhất là Đức (16,7%), Thụy Điển (14,7%) và Anh (8,0%) Thị trường nhập khẩu chính của Đan Mạch vẫn là EU (69,9%) và nhập khẩu nhiều nhất từ ba thị trường là Đức (21,8%), Thụy Điển (14,4%) và Hà Lan

55

Statistics Denmark http://www.statbank.dk/statbank5a/default.asp?w=1024

Trang 37

Bảng 4: Tỷ lệ hàng hóa nhập từ các thị trường chính của Đan mạch năm 2007(%)

Thị trường nhập khẩu Tỷ lệ hàng nhập khẩu (2007)

Ngôn ngữ chính của Đan Mạch là tiếng Đan Mạch còn ngôn ngữ chính thứ hai

là tiếng Đức Trên đảo Greenland người ta còn nói tiếng Greenlandic, còn ở quần đảo Faroe thì tiếng Faroe cũng là ngôn ngữ chính thức Phía Nam Đan Mạch có

Trang 38

34

khoảng 80.000 dân nói tiếng Đức Tiếng Đan Mạch thuộc nhánh phía Bắc của nhóm ngôn ngữ German của hệ ngôn ngữ Ấn - Âu với rất nhiều từ vay mượn từ ngôn ngữ miền Bắc nước Đức Ngày nay tiếng Anh là ngoại ngữ quan trọng nhất ở Đan Mạch Tuy nhiên, tiếng Đức và tiếng Pháp vẫn có một ảnh hưởng đáng kể

Người Đan Mạch tuy không sử dụng nhiều ngôn ngữ không lời như người

Mỹ và nhiều quốc gia khác những cũng vẫn mang một vài đặc điểm riêng cần chú ý Chẳng hạn như người Mỹ hành động xoay tròn ngón tay trỏ và chỉ vào thái dương

có ý nói người đối diện bị điên thì ở Đan Mạch nó lại có ý lăng mạ những người lái

xe khác trên đường phố Trong những cuộc gặp gỡ và tiếp xúc, người Đan Mạch thường tỏ ra khá cởi mở và thân mật song lại giữ một khoảng cách nhất định với người đối thoại Ngoài ra, trong khi đối thoại, người Đan Mạch giao tiếp bằng mắt rất nhiều và thường thấy khó chịu nếu đối phương khoanh tay trước mặt mình.59

Người Đan Mạch ít khi chạm vào người khác trong khi giao tiếp nhưng đôi khi họ vẫn vỗ nhẹ vào lưng đối phương để thể hiện sự tin tưởng của mình

2.1.5.2 Tôn giáo

Đan Mạch là nơi đạo Tin Lành phát triển mạnh với cuộc cải cách Luther năm

1536 Đạo tin lành Hiện nay, có khoảng 95% dân số nước này theo đạo Tin Lành dòng Evangelical Lutheran, còn lại là đạo Tin lành và Công giáo La Mã (Protestant

và Roman Catholic) chiếm 3%, đạo Hồi (Muslim) (2%).60

Theo Hiến pháp Đan Mạch “các công dân sẽ được quyền thành lập các giáo

Do vậy, tất cả các công dân Đan Mạch đều được tự do thờ cúng theo tôn giáo họ chọn Kết quả là, có nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau - và cũng có nhiều người theo thuyết vô thần Người ta ước chừng có khoảng 150 cộng đồng tôn giáo với nhiều quy mô khác nhau

ở Đan Mạch

2.1.5.3 Những giá trị và thái độ

Nền văn hóa của một quốc gia được kiến tạo bởi rất nhiều giá trị nhưng trong

đó bao giờ cũng có những giá trị cốt lõi và Đan Mạch cũng vậy Những giá trị nổi

Trang 39

 Đề cao chủ nghĩa cá nhân

Theo mô hình của Geert Hofstede, Đan Mạch có chỉ số về tính cá nhân khá cao (74), đứng thứ 8 trong số 50 nước và 3 vùng lãnh thổ mà Geert nghiên cứu.63

Người Đan Mạch rất tự hào về công việc của họ và không muốn nhận sự giúp đỡ từ người khác bởi họ tin rằng chỉ có họ mới có thể làm tốt nhất việc của mình.64

Họ cũng có xu hướng suy nghĩ độc lập khi đưa ra quyết định Và luôn phấn đấu để đạt được thành tích cá nhân cao nhất cũng chính là mục đích của người Đan Mạch Mặc dù Đan Mạch là một đất nước mang tính cá nhân cao nhưng vẫn mang một số đặc điểm của chủ nghĩa tập thể Hầu hết họ khá khiêm tốn và không khoe khoang về những thành tích bản thân đạt được Ngoài ra, ở Đan Mạch quyền lực lại không chỉ tập trung trong tay một số người Vì vậy mà ở Đan Mạch, chủ nghĩa cá nhân khuyến khích người ta phát triển năng khiếu cá nhân nhưng không ủng hộ tính ích kỷ.65

 Tính cẩn trọng thấp

Trong mô hình các khía cạnh văn hóa của Geert Hofstede, chỉ số cẩn trọng của Đan Mạch cũng ở mức rất thấp, được 23 điểm, cũng đứng ở vị trí số 3 từ dưới lên.66

Tính cẩn trọng thấp này, nói chung, khiến cho người Đan Mạch thường có thái độ tích cực chứ không hay nghi ngờ những người họ không quen biết như người Trung Quốc Trong kinh doanh, những doanh nhân Đan Mạch thường ưa mạo hiểm hơn doanh nhân ở những nước có tính cẩn trọng cao và luôn muốn thử những điều mới lạ.67 Đó là lý do khiến cho sự sáng tạo, đổi mới diễn ra rất mạnh mẽ ở Đan Mạch

Trang 40

về dân tộc, tôn giáo, giai cấp hay giới tính Trong các doanh nghiệp Đan Mạch, những người lao động chân tay cũng được đối xử bình đẳng như người làm việc văn phòng và sự phân quyền cho cấp dưới là tương đối phổ biến Điều đó có nghĩa, nhân viên sẽ được tham dự vào quá trình ra quyết định của ban giám đốc và họ không phải luôn phục tùng mệnh lệnh cấp trên như ở nhiều nước châu Á Cũng nhờ

có sự phân cấp quyền lực thấp mà trong xã hội Đan Mạch, vai trò của người phụ nữ cũng được coi trọng ngang bằng với nam giới

2.1.5.4 Phong tục tập quán

Cũng như những giá trị và thái độ, phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức của Đan Mạch rất phong phú nhưng trong khuôn khổ của khóa luận, người viết chỉ xin giới thiệu một vài nét tiêu biểu, có liên quan đến đề tài nghiên cứu

 Nghi thức chào hỏi

Đối với người Đan Mạch, việc chào hỏi không yêu cầu trịnh trọng, chỉ cần một cái bắt tay chặt và mỉm cười là đủ Phụ nữ thường là người chủ động bắt tay trước và trong khi bắt tay nên nhìn thẳng vào mắt đối phương Khi đến hoặc khi ra

về, người Đan Mạch thường bắt tay và nói lời tạm biệt với từng người một Người Đan Mạch thường sử dụng tên trong khi chào hỏi và giao tiếp thông thường. 69

 Phong tục tặng quà

Người Đan Mạch có thói quen tặng quà cho những người thân và bạn bè gần gũi trong gia đình vào những dịp đặc biệt như sinh nhật hoặc Giáng sinh Ngoài ra, khi được mời đến ăn tối tại một gia đình, người Đan Mạch cũng thường mang theo một món quà nhỏ, có thể là hoa, sôcôla loại ngon hoặc rượu hảo hạng Nếu được mời đến dự những bữa tiệc thì phép lịch sự của người Đan Mạch sẽ là gửi đến trước một bó hoa Những món quà hoặc hoa thường được gói cẩn thận trong giấy gói màu

Ngày đăng: 07/05/2014, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ ngoại giao Việt Nam (12-06-2008) ,“Việt Nam - Đan Mạch đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại”,http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns080611090951 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Đan Mạch đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại
Tác giả: Bộ ngoại giao Việt Nam
Năm: 2008
2. Doanh nhân 360 (08/07/2008), “Tác động của yếu tố văn hóa trong hoạt động marketing của doanh nghiệp”,http://www.doanhnhan360.vn/Desktop.aspx/Kinh-doanh-360/Kinh-doanh/Tac_dong_van_hoa_marketing_doanh_nghiep/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân 360 ("08/07/2008), “Tác động của yếu tố văn hóa trong hoạt động marketing của doanh nghiệp
4. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
6. Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận Án TS Kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Ánh
Năm: 2004
7. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (27/02/2009), “Các kênh phân phối hàng dệt may tại Tây Ban Nha”,http://chongbanphagia.vn/beta/diemtin/20090227/cac-kenh-phan-phoi-hang-det-may-tai-tay-ban-nha Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kênh phân phối hàng dệt may tại Tây Ban Nha
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2009
8. Saga, “Văn hóa tặng quà trong kinh doanh” (11/12/2007), http://www.saga.vn/TruyenthongvaPR/quanhekinhdoanh/9012.saga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saga", “Văn hóa tặng quà trong kinh doanh
9. Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, “Đến lượt Bắc Âu rơi vào suy thoái”, Tấn Lộc (28/2/2009), http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/ghinhan/15881/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến lượt Bắc Âu rơi vào suy thoái
Tác giả: Tấn Lộc
Nhà XB: Thời báo Kinh tế Sài Gòn online
Năm: 2009
12. Việt báo.vn, “Văn hóa kinh doanh Trung Quốc”, Thu Lê (22/06/2006), http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Van-hoa-kinh-doanh-Trung-Quoc/50754481/411/.II. Danh mục tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh 1. Danishnet.com: http://www.danishnet.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa kinh doanh Trung Quốc
Tác giả: Thu Lê
Nhà XB: Việt báo.vn
Năm: 2006
3. Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business: The Challenge of Global Competition
Tác giả: Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor
Nhà XB: NXB Mc Graw Hill
Năm: 2007
4. executiveplanet.com: http://www.executiveplanet.com 5. Export.gov: http://web.ita.doc.gov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Executive Planet
Tác giả: Anna Woods
Nhà XB: Executive Planet
Năm: 2024
9. Kwintessentail: http://www.kwintessential.co.uk 10. new to denmark,dk: http://www.nyidanmark.dk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kwintessentail": http://www.kwintessential.co.uk 10. "new to denmark,dk
11. Nguyen Hoang Anh, Impacts of the culture on the business relationships between Viet Nam – Denmark: Preliminary results Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impacts of the culture on the business relationships between Viet Nam – Denmark: Preliminary results
Tác giả: Nguyen Hoang Anh
12. S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business: Strategy, Management and The New Reality
Tác giả: S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger
Nhà XB: NXB Prentice Hall
Năm: 2007
15. W.L.Hill(2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6 16. Worldbusinessculture.com : http://www.worldbusinessculture.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business
Tác giả: W.L. Hill
Nhà XB: NXB Mc Graw Hill
Năm: 2007
17. World Economic Forum, “The Global Competitiveness Report 2008-2009” (08/10/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Economic Forum", “The Global Competitiveness Report 2008-2009
8. Lothar Katz, Negotiating International Business – The Negotiator’s Reference Guide to 50 Countries Around the World Khác
13. The Danish Import Promotion Office DIPO, HSH – Norwegian Office of Import Promotion, The Swedish Chambers of Commerce (2005), Exporting to Scandinavia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của - Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam
Bảng 1 Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của (Trang 33)
Bảng 3: Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường chính của Đan Mạch năm - Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam
Bảng 3 Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường chính của Đan Mạch năm (Trang 37)
Bảng 5 : Bảng xếp hạng 10 nước dẫn đầu Thế giới về Công nghệ Thông tin - Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam
Bảng 5 Bảng xếp hạng 10 nước dẫn đầu Thế giới về Công nghệ Thông tin (Trang 42)
Bảng 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2003 - 2007 - Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam
Bảng 6 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2003 - 2007 (Trang 45)
Bảng 7: Cơ cấu tiêu dùng của người Đan Mạch - Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam
Bảng 7 Cơ cấu tiêu dùng của người Đan Mạch (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w