Khóa luận tốt nghiệp: Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới nêu lý luận chung về tập đoàn kinh tế đồng thời làm rõ tính tất yếu khách quan, điều kiện con đường hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Vai trò của tập đoàn kinh tế trong phạm vi nền kinh tế quốc dân và trên bình diện thế giới. Thực trạng phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt nam và đề xuất một số biện pháp để phát triển mô hình này trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
THỜI GIAN TỚI
Sinh viên thực hiện : Lê Quang Huy Lớp : Pháp 1
Khóa : 44 Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Phạm Duy Liên
Hà Nội, 5 - 2009
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 7
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 7
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 9
1.3 PHÂN LOẠI TĐKT 14
1.3.1 CĂN CỨ THEO BIỂU HIỆN CỦA LIÊN KẾT : 14
1.3.2 CĂN CỨ THEO TÍNH CHẤT SỞ HỮU : 16
1.3.3 CĂN CỨ THEO TÊN GỌI CỦA TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN 16
1.4 ĐIỀU KIỆN VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CÁC TĐKT 19
1.5 VAI TRÒ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 23
1.6 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ 27
1.6.1 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 27
1.6.2 KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 31
1.6.3 BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 37
2.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ TẤT YẾU HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 37
2.2 QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ THÍ ĐIỂM HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 38
2.3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BAN ĐẦU HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 42
2.4 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY THEO HƯỚNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 46
2.4.1 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY 91 46
Trang 3
1
2.4.2 MỐI QUAN HỆ NỘI BỘ 49
2.4.3 CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH 53
2.4.4 QUAN HỆ GIỮA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VỚI CÁC TẬP
ĐOÀN KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 53
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG 56
2.5.1 NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TẬP ĐOÀN KINH TẾ TỪ CÁC TỔNG CÔNG TY 91 56
2.5.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ 58
2.5.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ 62
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO
VAI TRÒ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 65
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC HÌNH THÀNH
TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 65
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP
ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 68
3.2.1 LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH
TẾ 68
3.2.2 XÁC ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 70
3.2.3 LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ HOÀN THIỆN CẤU TRÚC NỘI BỘ
71
3.2.4 CƠ CẤU LẠI CÁC TỔNG CÔNG TY ĐƯỢC XÂY DỰNG
THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC TẬP
ĐOÀN ĐANG THÍ ĐIỂM 74
3.2.5 NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM TẠO LẬP MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU
KIỆN CHO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN 81
Trang 5
3
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tập đoàn kinh tế (TĐKT) luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, ngành
và của cả nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, khi mà
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì vai trò của các TĐKT càng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết Tập đoàn (TĐ) không chỉ là đầu tầu của nền kinh
tế mà còn trở thành biểu tượng cho sức mạnh của một quốc gia, bảo vệ nền
kinh tế trong nước trước sự thâm nhập của các nền kinh tế khác
Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, Chính phủ Việt
Nam nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển các
TĐKT nếu muốn cạnh tranh bình đẳng với các nước phát triển Vì vậy thời
gian qua, Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyết tâm xây dựng các TĐKT
bằng nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo ra những “trụ cột” kinh tế Với
đặc điểm là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã chọn cho
mình hướng đi là thiết lập các TĐKT của Nhà nước - một dạng đặc biệt của
mô hình TĐKT - thông qua quá trình cải cách toàn diện các doanh nghiệp
Nhà nước (DNNN) Tuy nhiên ngay cả khi các tập đoàn thí điểm đã đi vào
hoạt động, giới nghiên cứu và những người làm thực tiễn vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau về nhiều nội dung xung quanh mô hình này Tại kỳ họp thứ
hai, Quốc hội khoá XII (tháng 10/2007), lần đầu tiên Quốc hội lên tiếng về
“phong trào” thành lập TĐKT cho thấy tầm quan trọng cũng như những khó
khăn, phức tạp của vấn đề này
Như vậy hình thành và phát triển các TĐKT ở Việt Nam là yêu cầu
xuất phát từ thực tiễn, đồng thời cả lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết Nhằm đem lại một cái nhìn tổng quát
về quá trình hình thành, hiện trạng cũng như xu hướng phát triển mô hình này
ở Việt Nam, em chọn đề tài “ Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện
trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới” làm khoá luận tốt nghiệp
của mình
Trang 6
4
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề này Các
công trình nghiên cứu nước ngoài tập trung vào lý giải những nội dung về xây
dựng và phát triển các TĐKT theo dạng đưa ra các mô hình lý thuyết Những
tài liệu thực tiễn thường là những bản báo cáo thường niên của các TĐ riêng
lẻ Hơn nữa, các tác giả thường căn cứ vào thực tiễn các TĐ ở nước họ để
tổng kết luận giải Điển hình là các công trình sau: cuốn sách Bàn về cải cách
toàn diện DNNN của tác giả Trương Văn Bân (1999), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội; các bài viết, thông tin trên trang thông tin điện tử của các TĐKT
cụ thể và trên trang chính thức của hai tạp chí nổi tiếng FORTUNE
(http://www.fortune.com) và Businessweek (http://www.businessweek.com)
cung cấp khá đầy đủ, cập nhật các thông tin liên quan đến những TĐKT hàng
đầu thế giới trên các mặt như doanh thu, lợi nhuận, lĩnh vực kinh doanh cùng
với những bài phân tích của các chuyên gia trên từng lĩnh vực cụ thể
Các công trình trong nước cũng đề cập nhiều vấn đề xung quanh
TĐKT Đáng chú ý là các công trình: cuốn sách Mô hình tập đoàn kinh tế
trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2002) của tác giả Vũ Huy Từ, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội; cuốn Thành lập và quản lý các TĐKT ở Việt Nam
(1996) của tác giả Nguyễn Đình Phan, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội hay
cuốn sách Tập đoàn kinh tế - lý luận và khả năng ứng dụng vào Việt Nam
(2005) của tác giả Trần Tiến Cường (chủ biên) Ngoài ra cũng cần phải kể
đến các bài báo, các tạp chí chuyên nghành trên các trang web của các viện
nghiên cứu, các trường đại học, các bài dịch theo chủ đề cũng hết sức phong
phú, đa dạng Về số lượng đây là mảng có số bài viết đồ sộ Về nội dung,
mảng nghiên cứu này đề cập đến nhiều vấn đề nhiều khía cạnh liên quan,
phân tích thực trạng các TCTNN và các giải pháp phát triển chúng thành các
TĐKT Có thể nói đây là những tài liệu rất quan trọng trong quá trình nghiên
cứu bởi thông tin được cập nhật, có nhiều ý tưởng mới Tuy nhiên do giới hạn
phạm vi đăng tải, các công trình chỉ tiếp cận, phân tích một mặt, một khía
cạnh nào đó của vấn đề, không thể giải quyết được nhiều nội dung trong một
bài báo khoa học
Trang 7
5
Như vậy các công trình nghiên cứu ngoài nước có đề cập đến sự hình
thành và phát triển các TĐKT nhưng không thể áp dụng như một công thức
trong điều kiện Việt Nam Các công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến
nhiều khía cạnh với nhiều cách thức tiếp cận nhưng chưa có công trình nào hệ
thống đầy đủ về sự hình thành và xu hướng phát triển các TĐKT được nhìn
nhận từ thực trạng hoạt động và sự vận động nội tại phù hợp với điều kiện
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm góp phần làm rõ một số nội dung lý luận và thực tiễn về TĐKT ,
đánh giá thực trạng hoạt động, các quan hệ nội tại, mối liên kết kinh tế trong
các TCT được thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7/3/94 của Thủ tướng
Chính phủ (gọi tắt là TCT 91); đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp để
góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các TĐKT mạnh trên cơ
sở các TCTNN, trong đó trọng tâm là các TCT 91
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng: Đối tượng của đề tài được xác định là những nội dung chủ
yếu liên quan đến sự hình thành, thực trạng và xu hướng phát triển các TĐKT
ở Việt Nam, bao gồm: con đường, điều kiện hình thành, mô hình, cơ chế
chính sách, liên kết nội bộ, quan hệ sở hữu một số nội dung được đề cập
nhằm làm rõ mối quan hệ với những nội dung chủ yếu trong quá trình nghiên
cứu
*Phạm vi: Phạm vi của đề tài là các TCT 91 (bao gồm cả các tập đoàn
đang thí điểm) trên những nội dung chủ yếu liên quan đến hình thành, thực
trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới Các TCTNN được thành lập
theo Quyết định 90/TTg (gọi tắt là TCT 90) và các TCT thành lập sau này
được nghiên cứu, đề cập nhằm đảm bảo tính khoa học, logic của nội dung
Về thời gian: Tính từ khi có chủ trương hình thành các TĐKT ở Việt
Nam năm 1994, được đánh dấu bằng sự ra đời của Quyết định 91/TTg của
Chính phủ, trong đó trọng tâm được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm
2001 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8
6
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hoá những vấn
đề chung về TĐKT, những căn cứ lý thuyết và thực tiễn hình thành và phát
triển các TĐKT trong nền kinh tế thị trường
- Phương pháp thống kê, so sánh: sử sụng các số liệu thống kê để phân
tích, so sánh, rút ra những kết luận làm cơ sở đề xuất quan điểm và giải pháp
thúc đẩy quá trình phát triển các TĐKT, dần hoàn thiện mô hình này trong
điều kiện nền kinh tế Việt Nam
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Làm rõ 3 điều kiện và 2 con đường hình thành và phát triển các
TĐKT
- Rút ra 6 bài học với Việt Nam qua phân tích kinh nghiệm hình thành
và phát triển các TĐKT Trung Quốc, Nhật Bản
- Nêu rõ 4 kết quả bước đầu, 4 nhóm hạn chế và 3 nhóm nguyên nhân
thông qua phân tích thực trạng hoạt động các TCT theo mô hình tập đoàn
- Đối với các TĐKT thí điểm: hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả, để chúng thực sư trở thành những TĐKT đủ mạnh, có khả năng cạnh
tranh nhằm đạt mục tiêu kì vọng khi thành lập
- Định hướng phát triển trong tương lai nhằm phát huy sức mạnh nội tại
của các tập đoàn
7 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khoá luận gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về tập đoàn kinh tế
Chương 2: Thực trạng phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát triển, nâng cao vai trò của các
tập đoàn kinh tế
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài nghiên cứu
không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của thầy cô và các bạn cùng quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn Cuối
cùng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Duy Liên đã tận tình hướng
dẫn em hoàn thành khóa luận này
Trang 9
7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế
Mặc dù xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX nhưng khái niệm tập
đoàn kinh tế cho đến nay vẫn là nội dung gây nhiều tranh luận
Xét từ góc độ pháp lý: Tập đoàn là tên gọi để chỉ một nhóm công ty kết
nối với nhau bằng vốn hay bằng quyền biểu quyết Mỗi công ty trong tập
đoàn là một pháp nhân độc lập, tức là có quyền đi kiện và bị kiện, có tài sản
để được thực hiện quyền đó Tập đoàn không phải là một khái niệm pháp lý vì
trong luật không có khái niệm trách nhiệm tập thể Giả sử khởi tố một tập
đoàn ra toà thì sẽ không có ai trong nhóm công ty kia đứng ra nhận giấy triệu
tập [3, tr11-12]
Có thể khẳng định TĐKT không phải là thuật ngữ pháp lý mà chỉ là
thuật ngữ dùng để nhận diện một tổ hợp kinh doanh, vì chưa có doanh nghiệp
nào đăng ký địa vị pháp lý của mình với tư cách là một tập đoàn Hiện nay
cũng chưa có một nghiên cứu chính thức những doanh nghiệp nào được coi là
TĐKT, tiêu chí chủ yếu là dựa vào đặc điểm của chúng Cũng vì thế mà trên
thế giới hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê hiện có bao nhiêu TĐKT Bản
thân các nhà kinh tế trong nhiều trường hợp xem xét một công ty có phải
TĐKT hay không cũng còn nhiều ý kiến chưa thống nhất
Trong một văn bản chung của Uỷ ban kinh tế và mậu dịch Nhà nước và
Uỷ ban cải cách cơ cấu Nhà nước với tiêu đề “Quy định tạm thời về việc
thành lập và quản lý các TĐDN” được đưa ra vào tháng 4 năm 1995, Trung
Quốc lại cho rằng TĐDN được xem như một tổ hợp kinh doanh tập hợp các
doanh nghiệp có liên quan với nhau bởi công ty mẹ (CTM) Công ty mẹ như
một hạt nhân trong tập đoàn, các công ty mẹ và các doanh nghiệp có liên quan
khác đều là pháp nhân Đối với những công ty trực thuộc hoặc những đơn vị
không phải là pháp nhân sẽ không phải là các thành viên độc lập của tập đoàn
Cho đến nay, dù còn nhiều định nghĩa khác nhau nhưng quan niệm chung về
tập đoàn của Trung Quốc có thể được hiểu đây là một tổ chức kinh tế bao
gồm các pháp nhân có quan hệ với nhau theo cách này hoặc cách khác Các
Trang 10
8
quan hệ đó có thể là quan hệ đầu tư, quan hệ hợp tác hay quan hệ nhân sự với
các cấp độ khác nhau như chặt chẽ, lỏng lẻo hay nửa chặt chẽ
Theo một công trình nghiên cứu của Công ty Ernst& Young (4, tr15)
không có khái niệm duy nhất cho TĐKT Mỗi quốc gia có một định nghĩa
khác nhau dẫn đến có nhiều cách gọi khác nhau đối với thực thể kinh doanh
này Chẳng hạn ở các quốc gia Mỹ Latinh được gọi là Grupes, ở ấn Độ là
Business house, ở Hàn Quốc là Chaebol, Nhật là Zaibatsu, phương tây là
conglomerate
Ơ Việt Nam, hiện vẫn chưa có định nghĩa chính xác về TĐKT mà thực
chất xung quanh vấn đề này vẫn còn rất nhiều tranh cãi
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: TĐKT là tổ hợp các
công ty hoạt động trong một ngành hoặc những ngành khác nhau trong phạm
vi một nước hoặc nhiều nước, tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức
tạp vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung
tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Nó trở thành hình thức phổ
biến, có vai trò chi phối và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế ở nhiều
nước trong giai đoạn hiện nay [30]
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được
xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
"Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài
với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh
khác Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con Tập
đoàn kinh tế Các hình thức khác." [24, tr.218]
Như vậy, mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về tập đoàn kinh
tế nhưng tựu chung lại có thể thấy TĐKT là một hình thức tổ chức chứa đựng
trong nó những pháp nhân độc lập Theo quy định pháp lý của nhiều quốc gia
và xuất phát từ khái niệm có thể thấy, bản thân TĐKT không có tư cách pháp
nhân mà chỉ là một thuật ngữ, một khái niệm dùng để nhận diện một mô hình
kinh doanh chứa đựng trong đó các pháp nhân độc lập có mối quan hệ, liên
kết đa dạng
Trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn, quan hệ sở
hữu đầu tư vốn là chủ yếu Tuy vậy, quan hệ chi phối trong tập đoàn không
Trang 11
9
chỉ giới hạn ở vốn mà còn bao hàm cả công nghệ, thị trường, thương
hiệu Ngoài các quan hệ này, các thành viên còn quan hệ với nhau trên cơ sở
hợp đồng, về thị trường, về khoa học công nghệ Liên kết công ty mẹ - công
ty con (CTM-CTC) trong các tập đoàn là tương đối bởi các quan hệ đầu tư
đan xen (đầu tư ngang, chéo, ngược) qua đó chúng có thể chi phối lẫn nhau
Theo nghĩa hẹp, quan niệm về TĐKT có thể là: TĐKT là tổ hợp các pháp
nhân với liên kết vốn là chủ yếu
1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Thực tế cho thấy, khái niệm, mô hình của các TĐKT rất đa dạng, do đó
khó có thể lượng hoá các tiêu chí của tập đoàn Để làm rõ mô hình TĐKT, có
thể khái quát thông qua các đặc điểm của chúng Những đặc điểm vừa phải
chỉ rõ những biểu hiện bên ngoài, vừa phải khắc hoạ những liên kết cơ bản
bên trong các TĐKT
Thứ nhất, tập đoàn không có tư cách pháp nhân, cơ cấu tổ chức phức tạp:
Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam quan niệm TĐKT là nhóm
công ty có quy mô lớn Trên thế giới, luật công ty của các quốc gia cũng
không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, “business group” hay
“group” mà chỉ đăng ký là “công ty - company” Như vậy, TĐKT không có tư
cách pháp nhân mà nó là một tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó nhiều
công ty có tư cách pháp nhân Do đó, ngoài những quan hệ về vốn, thị trường,
công nghệ các công ty thành viên trong tập đoàn bình đẳng trước pháp luật,
được thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật, được điều chỉnh bởi
các văn bản pháp luật có liên quan
Cơ cấu tổ chức của TĐKT khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống
nhất Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hoá, đặc điểm ngành
nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của
mỗi tập đoàn Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một CTM và các CTC,
trong đó CTM thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị trường,
ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động đến mục tiêu đã
định sẵn thông qua chiến lược chung, qua tỷ lệ góp vốn hay những quan hệ
khác Các CTC hoạt động độc lập với CTM, quan hệ với CTM thông qua đầu
tư vốn, công nghệ, thị trường Các CTC hoạt động độc lập trước pháp luật, có
Trang 12
10
thể đầu tư vào nhau, thậm chí CTC có thể đầu tư ngược vào CTM Mối quan
hệ giữa CTM và CTC tùy thuộc từng mô hình tập đoàn Thông thường, các
TĐKT thường được tổ chức theo 3 dạng cơ cấu: (1) Cơ cấu tổ chức hình tháp:
đỉnh tháp là trung tâm quyền lực, điều hành mọi hoạt động của tập đoàn, sự
phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhưng đảm bảo trật tự
từ trên xuống; (2) Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thường được phân
định và giới hạn theo cấp quản lý như cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản
lý cấp 3, cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3; (3) Cơ cấu tổ chức mạng lưới:
Các quan hệ đan xen, ban đầu là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng
lưới, sau đó mỗi nhân tố trong mạng lưới này có thể phát triển thành một
trung tâm độc lập với đầy đủ các quan hệ như trong mạng lưới ban đầu
Cơ cấu điển hình của một tập đoàn bao gồm: CTM nằm ở trung tâm,
đóng vai trò điều hành chung, có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát
triển mỗi tập đoàn Các thành viên trong tập đoàn gồm 3 loại: Chặt chẽ, lỏng
lẻo và liên kết Thành viên chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ mật
thiết với CTM về vốn, lợi ích, sản xuất kinh doanh ; thành viên bán chặt chẽ
là những doanh nghiệp có quan hệ lợi ích nhất định, tham gia một phần vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn; thành viên lỏng lẻo là các doanh
nghiệp có quan hệ hợp đồng ổn định, lâu dài với CTM
Thứ hai, quan hệ sở hữu hỗn hợp, phức tạp và mang tính xã hội hoá cao:
Tập đoàn kinh tế tồn tại ở nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu
Nhà nước (SHNN), gia đình, cổ phần Nhìn chung, hầu hết các TĐKT trên
thế giới là sở hữu hỗn hợp Sở hữu hỗn hợp cho phép các TĐKT phát huy khả
năng huy động vốn, linh hoạt trong đầu tư, phân tán rủi ro, tăng năng lực cạnh
tranh Mặc dù trong cơ cấu tập đoàn có nhiều chủ sở hữu nhưng thường tồn
tại một chủ sở hữu lớn, đóng vai trò CTM, có quyền lực chi phối các công ty
thành viên Tính chất đa sở hữu của các tập đoàn phản ánh quá trình phát triển
của mô hình kinh doanh này khi mà quy mô sản xuất lớn đòi hỏi lượng vốn
khổng lồ Chế độ cổ phần ra đời khắc phục được những hạn chế về quy mô
vốn thông qua việc huy động trên thị trường chứng khoán Ngày nay, sở hữu
nhiều chủ diễn ra theo xu hướng tăng số người có cổ phần trong tập đoàn và
giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành viên trên tổng giá trị, do đó tập đoàn
Trang 13
11
không còn là sở hữu của một cá nhân hay một quốc gia nữa mà là sở hữu
quốc tế, có quốc tịch ở một quốc gia nhất định Cùng với quá trình đó, các
quan hệ pháp lý của các chủ sở hữu cũng thay đổi Người công nhân với tư
cách người làm thuê, giờ đây đã trở thành những cổ đông đồng sở hữu Dưới
tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sức ép cạnh tranh trên
thị trường, các công ty không ngừng mở rộng quy mô hoạt động, tăng quy mô
vốn bằng nhiều cách, trong đó chủ yếu là thu hút thêm vốn xã hội Như vậy,
sở hữu hỗn hợp trong các tập đoàn kéo theo sự thay đổi địa vị pháp lý của
người lao động về sở hữu Tuy vậy, sự tham gia của người lao động - những
người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của mỗi tập đoàn thường
chiếm tỷ trọng sở hữu cổ phần không lớn trong tổng vốn kinh doanh Song
song với việc thay đổi địa vị pháp lý về sở hữu của người lao động là việc sở
hữu hỗn hợp được xã hội hoá, quốc tế hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu
ra thị trường
Thứ ba,liên kết vốn mang tính phổ biến, chi phối các liên kết khác:
Đặc trưng nổi bật của các TĐKT là bao gồm nhiều hình thức liên kết,
trong đó liên kết về vốn mang tính phổ biến Các bên tham gia liên kết do nhu
cầu tự thân là chính Các bên tham gia chỉ thực hiện liên kết khi nào mối quan
hệ đó mang lại lợi ích cho chính mình Quyền hạn của các bên tham gia liên
kết tuỳ thuộc vào tính chất của chính các mối quan hệ liên kết hoặc mức độ
đóng góp của mỗi bên Trường hợp công ty mẹ (CTM) đầu tư, góp vốn ở các
công ty con (CTC) hoặc giữa các công ty với nhau thì quyền hạn và trách
nhiệm được quy định bởi tỷ lệ góp vốn Mối quan hệ đó có thể là chi phối,
góp vốn với tư cách cổ đông thông thường và mối liên kết được duy trì hay
chấm dứt bằng việc công ty thực hiện đầu tư tiếp tục duy trì hay rút vốn
Trong quan hệ CTM - CTC, quyền và mức độ chi phối của CTM với CTC
nhận đầu tư vốn được quy định trong điều lệ của CTC nhưng hầu hết các
CTM nắm giữ quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của CTC Quyền lợi của
CTM được đảm bảo bằng phần lợi nhuận thu được thông qua tỷ lệ vốn góp
Ngoài ra, các tập đoàn còn có mối liên kết với các doanh nghiệp khác thông
qua vốn góp của CTM với tỷ lệ chưa đủ mức chi phối (cổ đông thông thường)
Trang 14
12
hoặc tạo những liên kết ngoài vốn với các doanh nghiệp độc lập, tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh như gia công sản phẩm, phân phối, đại lý
Thứ tư, vốn, doanh thu, lao động thường có quy mô lớn:
Quy mô của TĐKT có nhiều khác biệt tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực
kinh doanh, thời điểm khác nhau và quốc gia khác nhau Tuy chưa thống nhất
tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động nhưng nói đến TĐKT là
ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí lớn hơn cả tổng
sản phẩm quốc dân của một quốc gia
Một điểm đáng lưu ý khi xác định quy mô vốn của một doanh nghiệp
lớn, của một TĐKT là cơ cấu hợp thành giá trị Ngoài vốn cố định, vốn lưu
động, vốn nhân lực còn một bộ phận quan trọng là giá trị thương hiệu; ở một
số tập đoàn, giá trị thương hiệu chiếm trên 50% tổng giá trị thị trường nhưng
lại không nằm trong sổ sách của tập đoàn Năm 2005, giá trị thị trường của 5
TĐKT tiêu biểu đạt 1.060,35 tỷ USD, trong đó Coca - Cola có giá trị 105,5 tỷ
USD, Microsoft là 272,46 tỷ USD, IBM là 121,3 tỷ USD, con số này với
General Electric (GE) và Intel lần lượt là 391,6 tỷ USD và 169,46 tỷ USD
[17] Năm 2006, tổng giá trị của Coca - Cola đạt 103 tỷ USD, của Pepsi đạt
105,4 tỷ USD Giai đoạn 2001 - 2005, doanh thu của PepsiCo tăng 70%, riêng
quý II năm 2006, tập đoàn này tăng trưởng 13% so với cùng kỳ năm trước và
đạt lợi nhuận ở mức kỷ lục với gần 1,36 tỷ USD [22, tr.3]
Một số đặc điểm dễ nhận thấy của TĐKT là doanh thu lớn Nhiều tập
đoàn với quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên
doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil, doanh thu năm 2006
lên tới 339,983 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm
2006 đặt 315,654 tỷ USD, tập đoàn PepsiCo chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006,
doanh thu đạt gần 16 tỷ USD, trong đó lợi nhuận lên đến 2,4 tỷ USD Trong
tốp 500 công ty hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2006 được tạp chí Fortune
bình chọn, tập đoàn Nike có doanh thu thấp nhất, đứng thứ 500 cũng đạt
doanh thu lên tới 13,739 tỷ USD [25] Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại,
hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành, có mặt ở nhiều quốc gia với
rất nhiều sản phẩm hàng hoá khác nhau Chính điều này đã đem lại doanh thu
khổng lồ cho các TĐKT
Trang 15
13
Riêng về tiêu chí lợi nhuận, một số nghiên cứu cho rằng tiêu chí lợi
nhuận lớn là một đặc điểm cơ bản của tập đoàn bởi quy mô hoạt động rộng,
tiềm lực vốn lớn, kinh doanh đa ngành Tuy nhiên không nên dùng tiêu chí
lợi nhuận trong ngắn hạn (1-3 năm) bởi trong nền kinh tế thị trường, chuyện
thua lỗ là bình thường và một tập đoàn có lợi nhuận âm trong vài ba năm
cũng chưa nói lên điều gì, thậm chí đó còn có thể là chiến lược trong kinh
doanh Chẳng hạn tập đoàn hùng mạnh Pemex và tập đoàn Vodafone năm
2006 cũng thua lỗ với các con số tương ứng là 7 triệu USD và 39,092 triệu
USD nhưng vẫn xếp hạng khá cao với thứ tự tương ứng là 40 và 66 trong tổng
số 500 công ty hàng đầu thế giới [25] Thậm chí có tập đoàn hai năm liên tiếp
thua lỗ như Vodafone: năm 2005 thua lỗ 13,910 triệu USD, năm 2006 tiếp tục
lỗ 39,092 triệu USD nhưng có tên trong danh sách Mặc dù lợi nhuận không
phải là tiêu chí đặc trưng của các tập đoàn nhưng ngoài những con số cá biệt,
hầu hết các tập đoàn đều có lợi nhuận rất lớn với tốc độ tăng trưởng ngoạn
mục, đồng thời nó làm nên sức mạnh, vị thế của mỗi tập đoàn trong một môi
trường cạnh tranh toàn cầu
Lực lượng lao động đông đảo về số lượng, trình độ cao cũng là một đặc
điểm của tập đoàn Về số lượng, theo công bố của Fortune (2006), tập đoàn
FedEx có 212.241 lao động, tập đoàn Intel có 48.655 lao động, tập đoàn
Starbucks có 91.056 lao động [25] hay tập đoàn P&G với nhiều sản phẩm nổi
tiếng ở Việt Nam có trên 100.00 lao động [21, tr.15] Lực lượng lao động của
các tập đoàn không giới hạn trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà phân bố ở
khắp nơi trên thế giới Thông thường, các tập đoàn đầu tư ở đâu sẽ tuyển dụng
nhân lực ở đó, đồng thời có chính sách thu hút chất xám khắp nơi trên thế
giới Microsoft, Coca-Cola, PepsiCo là ví dụ tiêu biểu về tính đa sắc tộc, đa
quốc tịch, đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý
trong cơ cấu tập đoàn Về chất lượng, mặc dù đội ngũ lao động phân bố khắp
nơi nhưng nhìn chung, trình độ khá đồng đều thông qua quy trình tuyển dụng
chặt chẽ, đào tạo và đào tạo lại rất chặt chẽ của mỗi tập đoàn Tính chất quốc
tế hoá lao động là một điểm đáng chú ý trong tất cả các tập đoàn hiện nay
Đội ngũ cán bộ quản lý trong các tập đoàn là những nhân vật xuất sắc, có ảnh
Trang 16
14
hưởng to lớn không chỉ đến sự lớn mạnh của bản thân mỗi tập đoàn mà còn
tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội
Thứ năm, các tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực:
Trước đòi hỏi của thị trường và sự phát triển của nền kinh tế, các loại
hình kinh doanh trong tập đoàn ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Chiến
lược sản phẩm và hướng đầu tư của tập đoàn cũng dần được mở rộng Tập
đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nhưng không tuỳ tiện mà dựa trên mối
quan hệ kinh tế - kỹ thuật giữa các ngành ở mỗi ngành đều có định hướng
ngành chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của
tập đoàn Hiện nay, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành nghề, đa
lĩnh vực xoay quanh một hoặc một số ít các công nghệ chủ chốt là để phân tán
rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo
đảm cho hoạt động của tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả, đồng thời tận
dụng được cơ sở vật chất và khả năng của tập đoàn
Xu hướng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng
dụng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập
đoàn Như vậy, ngoài các công ty sản xuất, một số đơn vị hợp thành tồn tại
khá phổ biến trong các tập đoàn là các đơn vị kinh doanh vốn (cho thuê tài
chính hoặc các hình thức khác), doanh nghiệp bảo hiểm, các cơ sở nghiên cứu
(có tập đoàn có tới một trung tâm nghiên cứu, trong đó có cả cơ sở nghiên cứu
chiến lược), các công ty thương mại Một số tập đoàn có nhu cầu vận tải đã
xây dựng cho mình một năng lực vận tải khá lớn vừa phục vụ cho mình vừa
phục vụ thị trường
1.3 Phân loại TĐKT
Để phân loại các TĐKT người ta thường dựa vào các căn cứ sau:
1.3.1 Căn cứ theo biểu hiện của liên kết :
a Tập đoàn liên kết những công ty cùng ngành: Ví dụ như Cartel,
Syndicate, Trust, Keiretsu hay còn gọi là liên kết ngang - sự kết hợp các
công ty hoạt động trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh, nhất là trong
những ngành có mức độ cạnh tranh cao và những doanh nghiệp có ưu thế sẽ
nắm vai trò chủ đạo Các doanh nghiệp thoả hiệp với nhau để ấn định giá cả,
chia sẻ thị trường hoặc định mức sản lượng để hạn chế cạnh tranh và tăng lợi
Trang 17
15
nhuận, ở mức cao hơn các doanh nghiệp sẽ mua lại một phần hoặc toàn bộ
doanh nghiệp khác đang là đối thủ cạnh tranh Hiện nay, hình thức này không
còn phổ biến trong các nước tư bản phát triển Một mặt, vì nhu cầu của thị
trường hết sức đa dạng, phong phú và biến đổi nhanh chóng nên với hình thức
này khó đem lại hiệu quả cao Mặt khác, do nguồn vốn tập trung vào một
ngành hàng nên thường có rủi ro lớn Cuối cùng, do sự ngăn cấm, hạn chế của
Chính phủ các nước vì nó tạo độc quyền, ngăn cản cạnh tranh
b Tập đoàn liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng ngành: Đó là
liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà ở
đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó Trong
tập đoàn dạng này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau nhưng
có mối liên quan chặt chẽ với nhau Sự liên kết này thường dẫn đến sự phát
triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vị thế
cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
hữu hiệu hơn Hiện nay, loại hình tập đoàn này vẫn còn phổ biến với tên gọi
như Concern, Conglomerate, Chaebol
Các tập đoàn này chỉ phát triển và hoạt động có hiệu quả khi có đủ các
điều kiện cần thiết về môi trường, khoa học-công nghệ và trình độ quản lý,
đặc biệt phải có thị trường chứng khoán phát triển, có hệ thống thông tin toàn
cầu và khả năng xử lý tổng hợp các thông tin về thị trường, đầu tư Do vậy,
các nước mới phát triển chỉ có thể phát triển các tập đoàn chủ yếu ở lĩnh vực
sản xuất về thương mại
c Tập đoàn liên kết hỗn hợp: Liên kết giữa các doanh nghiệp không
cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, không có mối liên hệ với nhau
về quy trình sản xuất hay cung ứng sản phẩm nhằm bổ sung lợi thế cho nhau
Trên thực tế hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều sự kết hợp của các kiểu liên
kết ngang và dọc, nó bao gồm nhiều thực thể kinh doanh hoạt động trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Từ đó hình thành các
kiểu liên kết đa ngành, đa lĩnh vực hết sức phong phú Ngày nay, một TĐKT
mạnh thường có cơ cấu kinh doanh gồm nhiều ngành nghề, kể cả các ngành
không liên quan với nhau Có thể thấy mô hình tập đoàn này đang được ưa
chuộng và trở thành xu hướng chính hiện nay Cơ cấu của nó thường gồm một
Trang 18
16
ngân hàng hoặc một công ty tài chính lớn, một công ty thương mại và các
công ty sản xuất công nghiệp
1.3.2 Căn cứ theo tính chất sở hữu :
Nhiều tập đoàn tư bản lớn ngày nay có nguồn gốc từ những công ty sở
hữu gia đình Từ sở hữu của từng tư bản cá biệt chúng chuyển dần thành sở
hữu tập thể các nhà tư bản độc quyền Nói chung chúng vẫn mang sắc thái của
sở hữu tư nhân nhưng lại gắn bó rất chặt chẽ với Chính phủ tư bản Thứ hai,
sự phát triển của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào các chính sách kinh tế của các
Chính phủ này Thứ ba, các Chính phủ cũng phải dựa vào các TĐKT này như
những lực lượng vật chất quan trọng, đảm bảo khả năng cạnh tranh và sức
mạnh kinh tế của nước đó Hiện nay, hình thức hỗn hợp dưới dạng công ty cổ
phần là một hình thức được ưa chuộng vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao
nhất, đồng thời nó cũng phản ánh được lợi ích của nhiều bên tham gia trong
tập đoàn đó
1.3.3 Căn cứ theo tên gọi của tiến trình phát triển
Trong quá trình phát triển các TĐKT có các hình thức gắn với tên gọi
chủ yếu sau:
Một là, Cartel:
Đây là loại hình tập đoàn của các công ty trong một ngành, lĩnh vực sản
xuất kinh doanh Các công ty này có mức độ sản xuất hoặc thương mại dịch
vụ giống nhau thường xuyên cạnh tranh với nhau nhưng không thắng nổi
nhau, cuối cùng đi đến ký kết hợp đồng với nhau hoặc thoả thuận kinh kế
nhằm thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống
nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu loại, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ nhằm mục
đích hạn chế cạnh tranh giữa các thành viên Trong Cartel, các doanh nghiệp
thành viên vẫn giữ tính độc lập về mặt pháp lý, về kinh tế được điều hành
bằng hợp đồng kinh tế
Hai là, Syndicate :
Thực chất đây là dạng đặc biệt của Cartel Điểm khác biệt căn bản so
với Cartel là trong tập đoàn dạng Syndicate có một văn phòng thương mại
chung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công
ty phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này Như vậy các
Trang 19
17
công ty trong Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng hoàn
toàn mất tính độc lập về thương mại Tính liên kết của dạng tập đoàn này
được thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm
Ba là, Trust :
Là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu thụ như
Syndictate mà còn liên kết ở khâu sản xuất Trust bao gồm nhiều doanh
nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều khiển Khác với
Cartel và Syndicate, các doanh nghiệp thành viên trong Trust đều bị mất
quyền độc lập về sản xuất và thương mại Các nhà đầu tư tham gia trong Trust
đều là các cổ đông Việc thành lập Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu và
khu vực đầu tư để thu lợi nhuận độc quyền cao
Bốn là, Consortium:
Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân
hàng, được thành lập nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài
nước hoặc tiến hành công việc buôn bán nào đó Đứng đầu Consortium
thường là ngân hàng lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức
này Consortium gắn bó rất chặt chẽ với các Concern
Năm là, Concern:
Đây là hình thức tập đoàn phổ biến nhất hiện nay Concern không có tư
cách pháp nhân, các công ty thành viên trong Concern vẫn giữ nguyên tính
độc lập về mặt pháp lý Mối quan hệ giữa các công ty thành viên trong
Concern dựa trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung Đó là những thoả
thuận về phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản
xuất kinh doanh chặt chẽ và có hệ thống tài chính chung Trong loại hình này
người ta thành lập công ty mẹ điều hành hoạt động của tập đoàn Công ty này
điều hành các hoạt động tài chính, không quan tâm đến hoạt động sản xuất
kinh doanh Thực chất đây là công ty cổ phần nắm giữ phần vốn đóng góp của
các công ty thành viên Thế mạnh của loại hình tập đoàn này là tạo ra một thế
lực tài chính lớn, phát triển kinh doanh và gây ảnh hưởng lớn đến chính trị-xã
hội nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh của tập đoàn
Trang 20
18
Sáu là, Conglomerate:
Đây là loại tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực Các công ty thành viên ít có
mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi với nhau, thậm chí không có mối
quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất Loại hình này hình thành bằng cách
thu hút cổ phần của những doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất, đặc biệt là các
doanh nghiệp đang có tốc độ phát triển cao, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau về mặt tài chính Trong Conglomerate không có ngành nghề nào là
chủ chốt, chúng được hình thành bằng cách thu hút cổ phần của những công
ty đang ở vào giai đoạn phát triển cao Thông qua hoạt động mua bán chứng
khoán trên thị trường, cơ cấu sản xuất của Conglomerate thường chuyển
hướng tập trung vào những ngành nghề có lợi nhuận cao Việc thôn tính dần
các công ty có lãi suất cao làm cho cơ cấu ngành nghề của tập đoàn thay đổi
nhanh chóng Đặc điểm cơ bản của hình thức Tập đoàn kinh tế này là huy
động vốn thông qua phát hành chứng khoán và hoạt động của nó chủ yếu
nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát tài chính Do đó, Conglomerate có mối
quan hệ rất chặt chẽ với ngân hàng
Bảy là, Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia:
Trong những thập kỷ gần đây, thời đại tư bản tài chính, thế lực tư bản
độc quyền tăng lên, xu hướng thừa tư bản trở lên phổ biến, tất yếu hình thành
con đường xuất khẩu tư bản ra nước ngoài tìm kiếm lợi nhuân Việc hợp nhất
các doanh nghiệp đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, dẫn đến hình thành các
Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia Đó là sản phẩm của sự liên minh giữa các
nhà tư bản có thế lực nhất, các tập đoàn này có quy mô mang tầm cỡ quốc tế,
có một hệ thống chi nhánh dày đặc ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ
suất lợi nhuận thông qua bành trướng quốc tế
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ, xu hướng
toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, tác động của cạnh tranh toàn cầu, mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận là nguyên nhân dẫn đến hình thành các Tập đoàn kinh tế
xuyên quốc gia Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia được hiểu là những công ty
hoạt động trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, trên lãnh thổ nhiều quốc
gia Do đó, cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản đó là “Công ty mẹ” thuộc
sở hữu của các nhà tư bản nước có công ty mẹ và một hệ thống các công ty
Trang 21
19
chi nhánh thuộc sở hữu công ty mẹ hoặc hỗn hợp với công ty nước chủ nhà
“Công ty mẹ” có vai trò là trung tâm phối hợp hoạt động của các công ty chi
nhánh dưới sự kiểm soát của nó, định hướng sự phát triển cho các công ty
này và theo dõi thường xuyên kết quả hoạt động của nó
Nhìn chung, Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia được hình thành và vận
hành theo nhiều cơ chế khác nhau, song dù hình thức nào thì mối quan hệ
giữa công ty mẹ và các công ty chi nhánh là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
chủ yếu về tài chính, công nghệ, kĩ thuật Các thành viên trong Tập đoàn kinh
tế xuyên quốc gia đều là các công ty độc lập có tư cách pháp nhân, có lợi ích
riêng, liên kết với nhau nhằm đáp ứng một cách linh hoạt trước sự phát triển
của sản xuất kinh doanh Các công ty chi nhánh ở nước ngoài dù tồn tại dưới
hình thức này, hình thức khác, sở hữu 100% vốn nước ngoài, hỗn hợp, hay
góp vốn cổ phần, thì các chi nhánh đó thực chất là những bộ phận của một tổ
hợp, quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về
những nhà tư bản nước có “Công ty mẹ”
1.4 Điều kiện và con đường hình thành các TĐKT
Là tổ hợp quy mô lớn, TĐKT là kết quả của tích tụ tập trung sản xuất
và các liên kết giữa các pháp nhân Vì vậy TĐKT được hình thành và phát
triển trong những điều kiện nhất định
Một là, điều kiện khách quan:
Trình độ xã hội hoá sản xuất: Lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ
nhất định đòi hỏi các quan hệ sản xuất phải được xã hội hoá Xã hội hoá sản
xuất một mặt phản ánh sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ
của lực lượng sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để mỗi doanh nghiệp đa dạng
hoá sở hữu, mở rộng phạm vi và lĩnh vực kinh doanh, tăng cường hợp tác
dưới nhiều hình thức Sản xuất được xã hội hoá mạnh mẽ thúc đẩy cạnh tranh
ngày càng gay gắt Cạnh tranh có tác động trở lại, làm cho xã hội hoá sản xuất
đạt trình độ cao hơn Với các điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp cần tạo lập các
liên kết kinh tế, nâng cao năng lực từng bước đáp ứng yêu cầu về vốn, về tập
trung sản xuất, về thị trường , đồng thời đòi hỏi lựa chọn hình thức tổ chức
phù hợp, từ đó thúc đẩy hình thành các TĐKT
Trang 22
20
Liên kết kinh tế: Liên kết kinh tế là quá trình vận động khách quan, tuỳ
thuộc vào trình độ, phạm vi của phân công lao động, chuyên môn hoá sản
xuất, vào sự phát triển các quan hệ kinh tế của mỗi doanh nghiệp, vào lợi ích
của các bên tham gia Có thể nói, TĐKT thực chất là tổ hợp của các liên kết
kinh tế và tính chất, trình độ, cấp độ của các liên kết phản ánh trình độ các
quan hệ sản xuất Mỗi cấp độ liên kết thường có mô hình kinh doanh tương
ứng Như vậy, các liên kết kinh tế là tiền đề để hình thành các TĐKT, các
TĐKT ra đời thúc đẩy các liên kết kinh tế phát triển lên trình độ, cấp độ và
các hình thức biểu hiện cao hơn
Trình độ phát triển của kinh tế thị trường: Nền kinh tế thị trường phải
đạt đến một trình độ nhất định, các quy luật cơ bản của thị trường như cung
cầu, cạnh tranh, giá cả phải được tôn trọng, các nguồn lực được phân bổ tối
ưu dựa trên nguyên tắc thị trường, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt của thị
trường trong nước, có sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường trong nước và thị
trường quốc tế, từng bước hoàn thiện và đồng bộ hoá các loại thị trường,
trước hết là những thị trường chủ yếu như vốn, lao động, khoa học công nghệ,
bất động sản Thị trường phát triển đến một mức độ nhất định vừa là điều
kiện hình thành các TĐKT vừa là yếu tố tiền đề để chúng từng bước hoàn
thiện và phát triển
Hai là, điều kiện từ bản thân các doanh nghiệp:
Với con đường phát triển truyền thống, các doanh nghiệp cần đạt đến
trình độ nhất định về vốn, thị phần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý Khi
đã đạt đến trình độ cần thiết, điều kiện cần thiết để hình thành các TĐKT là
việc thiết lập các liên kết giữa công ty mẹ với doanh nghiệp thành viên Quá
trình thiết lập liên kết bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo
những nguyên tắc nhất định như tự nguyện, cùng có lợi, Đối với các quốc
gia lựa chọn con đường hình thành TĐKT với sự can thiệp mạnh của chính
phủ, các điều kiện bên trong của mỗi tập đoàn cần được tính toán kỹ lưỡng
bao gồm quy mô vốn của công ty mẹ và cả của tập đoàn: trình độ tích tụ tập
trung sản xuất của đối tượng lựa chọn, tính chặt chẽ trong các liên kết, số
lượng công ty con, tư cách pháp nhân của các công ty con Ngoài ra các điều
kiện về năng lực bộ máy quản lý, trình độ quản lý, lĩnh vực kinh doanh mũi
Trang 23
21
nhọn, trình độ khoa học công nghệ cũng là những nội dung quan trọng cần
phải xem xét khi hình thành TĐKT
Ba là, điều kiện về phía chính phủ:
Chính phủ phải đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ môi và môi
trường chính trị - xã hội nhằm tạo lập nền tảng cần thiết cho các TĐKT ra đời
và hoạt động Bên cạnh đó, chính phủ cần ban hành các quy định và chính
sách liên quan đến hình thành và phát triển các tập đoàn trong từng giai đoạn
khác nhau Ngoài ra, lựa chọn cơ chế quản lý phù hợp vừa đảm bảo thực hiện
chức năng quản lý của chủ thể, vừa thúc đẩy các tập đoàn phát triển cũng là
điều kiện cần thiết cho mô hình này ra đời và hoạt động Đối với các quốc gia
lựa chọn con đường hình thành TĐKT trên cơ sở tái cơ cấu khu vực doanh
nghiệp nhà nước, lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn sẽ xây dựng cần được
lựa chọn kỹ lưỡng, phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia, phát huy được
lợi thế của ngành, phù hợp với nguyên tắc và thông lệ quốc tế
Với những điều kiện nhất định, khi xuất hiện một doanh nghiệp hạt
nhân với vai trò công ty mẹ và các doanh nghiệp xung quanh nó có mối quan
hệ dưới nhiều hình thức thì TĐKT ra đời Khi công ty mẹ duy trì được các
mối quan hệ với các doanh nghiệp bao quanh nó bằng các hình thức góp vốn,
liên kết, hợp đồng nghĩa là tập đoàn đang tồn tại Khi công ty mẹ chấm dứt
các quan hệ nêu trên, trong tổ hợp không xuất hiện công ty mẹ khác thì đồng
nghĩa với việc phá sản hay giải thể của các tập đoàn
Như vậy, TĐKT là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, đáp
ứng sự phát triển của kinh tế thế giới Sự hình thành các TĐKT là kết quả của
quá trình tích tụ và tập trung vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất Đây là cách
thức mà hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới hiện nay ở các nước phát triển
đã trải qua Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào tích tụ, tập trung vốn sẽ rất ít cơ hội
cho các doanh nghiệp và các quốc gia đang phát triển, do đó, ngoài cách thức
truyền thống, việc chính phủ tổ chức những doanh nghiệp quy mô lớn, nắm
giữ những lĩnh vực trọng yếu được nhiều quốc gia lựa chọn nhằm rút ngắn
thời gian hình thành các TĐKT có năng lực cạnh tranh, quy mô vốn lớn,
phạm vi hoạt động rộng Có thể khái quát 2 con đường chủ yếu hình thành các
TĐKT:
Trang 24
22
- TĐKT được hình thành bằng con đường truyền thống: Thông qua tích
tụ, tập trung vốn, lĩnh vực hoạt động, tăng vốn, mở rộng phạm vi từng bước
chiếm lĩnh thị trường Nhu cầu liên kết trên nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo
lợi ích của mỗi doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh hoặc yêu cầu đầu tư lớn
mà bản thân mỗi thành viên đơn lẻ không đủ năng lực thực hiện cũng là nhân
tố thúc đẩy TĐKT ra đời Nhìn chung TĐKT được hình thành theo con đường
truyền thống bằng cách thức sau:
bán cổ phần cho một công ty mới thành lập (thường gọi là công ty nắm vốn)
Công ty này sau khi đã thanh toán cho các doanh nghiệp đã bán cổ phần cho
mình, trở thành công ty nắm giữ phần vốn của từng doanh nghiệp, tham gia
điều hành đối với mỗi doanh nghiệp ở mức độ khác nhau Công ty nắm vốn
trở thành công ty mẹ, các công ty bán vốn trở thành công ty con, việc góp
vốn, trả tiền thực hiện trên văn bản, do các chủ nhân của các công ty con
quyết định với nhau
(2) Một doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực mạnh về vốn công
nghệ, thực hiện đầu tư vốn để thành lập các công ty con nhằm chiếm lĩnh thị
trường, cử người vào các công ty con để tham gia điều hành theo số vốn của
mình Cách thức này còn được gọi là chia tách hoặc là chia nhỏ công ty
(3) Các cổ đông đầu tư thành lập công ty mẹ ban đầu, công ty mẹ
này tiếp tục đầu tư các công ty con
Trong các cách thức hình thành các TĐKT nêu trên, các biện pháp như
hợp nhất, sáp nhập, thôn tính, mua lại nhằm tăng quy mô, mở rộng ngành
nghề, tăng năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường mới được cả CTM và
các CTC thực hiện đem lại lợi ích cho các bên tham gia
- TĐKT được hình thành trên cơ sở đầu tư của Chính phủ: Chính phủ
đầu tư vốn và thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, hoạt động
trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền Nhà nước Sau một quá trình
hoạt động, Chính phủ cơ cấu lại khu vực này và mô hình TĐKT là một trong
những lựa chọn Cách thức này cần có giai đoạn chuyển tiếp cần thiết, từ việc
đa dạng hóa sở hữu, tạo lập các mối liên kết đầu tư, tổ chức lại theo mô hình
mới đến cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy các TĐKT hình thành và phát triển
Trang 25
23
TĐKT được hình thành bằng con đường truyền thống tỏ ra ưu việt hơn
bởi sự ra đời của chúng phù hợp với các quy luật của thị trường Tuy nhiên
các quốc gia đang phát triển không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc can
thiệp sâu của Chính phủ cả về vốn và cơ chế, chính sách Bởi lẽ nếu lựa chọn
con đường truyền thống sẽ mất thời gian dài và khả năng thành công thấp Tất
nhiên, Nhà nước đầu tư vốn, giữ vai trò chủ sở hữu và đứng ra thành lập các
TĐKT nhưng không thay thế chức năng của thị trường mà chỉ tạo lập những
điều kiện ban đầu nhằm đạt mục tiêu ngắn hạn hơn với sự phát triển tuần tự
Sự thành công của các TĐKT không phụ thuộc vào việc chúng được hình
thành bằng cách nào bởi lịch sử cho thấy rất nhiều TĐKT hình thành bằng
con đường truyền thống đã phá sản và không ít TĐKT hình thành bằng đầu tư
của Chính phủ đạt được những thành công Như vậy mỗi quốc gia với điều
kiện đặc thù cần lựa chọn con đường, bước đi phù hợp với quy luật thị trường
Đối với các quốc gia có nền kinh tế thị trường mới phát triển như Việt Nam,
việc thành lập các TĐKT là một yêu cầu từ thực tiễn, nhằm thực hiện hàng
loạt các mục tiêu đề ra Vấn đề không phải là có hay không hình thành các tập
đoàn này mà số lượng là bao nhiêu, lĩnh vực nào quan trong hơn cần xác định
bước đi tiếp theo và việc tạo lập điều kiện, môi trường trong chúng
Sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết đối với các TĐKT thuộc sở hữu
Nhà nước Mặc dù tập đoàn là sản phẩm của quá trình hợp tác và cạnh tranh
Tuy nhiên với vai trò chủ sở hữu, Nhà nước cần tìm kiếm các biện pháp quản
lý hữu hiệu Nói cách khác Nhà nước phải dùng những biện pháp cụ thể để
bảo toàn và phát triển phần vốn của mình đã đầu tư nhằm thực hiện các mục
tiêu đề ra Như vậy vấn đề không phải Nhà nước có nên can thiệp vào các
TĐKT thuộc Nhà nước hay không mà ở chỗ Nhà nước can thiệp thế nào? Giai
đoạn, lĩnh vực nào? Đó chính là vấn đề khó có câu trả lời dứt khoát mà phải
tùy thuộc vào từng thời kỳ
1.5 Vai trò của các tập đoàn kinh tế
Với quyền lực kinh tế và quyền lực phi kinh tế, các TĐKT đang chi
phối sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung cũng như kinh tế mỗi quốc
gia Có thể khái quát vai trò của chúng trên một số nội dung sau:
Trang 26
24
- TĐKT tạo nên sức mạnh kinh tế của quốc gia Vai trò của TĐKT
không chỉ thể hiện ở tỷ trọng đóng góp trong GDP hay số thuế nộp vào ngân
sách mà còn thể hiện thông qua những sản phẩm đặc trưng Rất khó thống kê
hết những phiên bản hệ điều hành windows của tập đoàn phần mềm Microsoft
nhưng khi nói đến hãng này người ta nhớ đến nước Mỹ Tương tự như vậy
khi nói đến Nhật Bản là nói đến ngành công nghiệp điện lạnh, ôtô; nhắc đến
Phần Lan là nói đến tập đoàn Nokia; Hàn Quốc là Samsung, Huyndai Những
sản phẩm đặc trưng, những tập đoàn lớn đã góp phần không nhỏ trong việc
gia tăng thương hiệu quốc gia, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin phát
triển như hiện nay Sự lớn mạnh của TĐKT góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế quốc gia thông qua các hiệu ứng và tác động lan toả, thúc đẩy tiến bộ công
nghệ, tạo nhiều việc làm mới, đóng góp ngày càng tăng vào GDP và ngân
sách Ngược lại, sự đổ vỡ của tập đoàn, nhất là những tập đoàn mạnh có thể
gây nên khủng hoảng kinh tế, thậm chí còn tác động làm mất ổn định chính trị
của quốc gia đó và ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu
- Hình thành và phát triển các TĐKT cho phép huy động một nguồn lực
tổng hợp thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Với quy mô lớn, trình độ quản lý
hiện đại, các TĐKT phát huy được lợi thế về quy mô, thống nhất phương
hướng phát triển, tiết kiệm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, phát huy được
thương hiệu chung của cả tập đoàn, qua đó làm tăng sức mạnh chung của cả
tập đoàn cũng như mỗi công ty thành viên Ngoài việc khai thác lợi thế so
sánh trong nước để thúc đẩy phát triển, các TĐKT còn chống lại sự thâm nhập
ồ ạt của các tập đoàn nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá
nền kinh tế thế giới
- Đối với các quốc gia đang phát triển, các nước đang tiến hành công
nghiệp hoá, TĐKT có vai trò quan trọng trong chiến lược bảo vệ sản xuất
trong nước Trong bối cảnh toàn cầu hoá và những cam kết tự do thương mại,
hình thành các TĐKT lớn là giải pháp quan trọng để bảo vệ sản xuất trong
nước khi mà các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh với các TĐKT
lớn nước ngoài ở một số quốc gia, sự hỗ trợ của Nhà nước cùng với chiến
lược phát triển đúng đắn đã hình thành những TĐKT mạnh và từng bước
chiếm lĩnh thị trường quốc tế, các chaebol Hàn Quốc là một ví dụ
Trang 27
25
- Mô hình TĐKT cho phép huy động vốn từ các công ty độc lập, một
mặt tạo nên sức mạnh tổng hợp, mặt khác khắc phục những hạn chế về quy
mô vốn của các công ty riêng lẻ Nguồn vốn của TĐKT thường được tập
trung tại công ty tài chính sẽ tạo thuận lợi trong việc thực hiện chiến lược phát
triển chung, đầu tư vào những dự án hiệu quả nhất nhằm đem lại lợi nhuận tối
đa Với phương thức quản lý vốn hiện đại, TĐKT dễ dàng huy động vốn để
thực hiện chiến lược đầu tư, đồng thời cũng nhanh chóng rủt vốn ở các dự án
đầu tư không hiệu quả Bên cạnh đó, mô hình TĐKT còn tạo mối quan hệ
chặt chẽ giữa các công ty thành viên thông qua những hình thức liên kết đa
dạng, đầu tư vốn hay hợp tác sản xuất, qua đó phát huy hiệu quả hoạt động
của mỗi công ty cũng như trong toàn tập đoàn
- TĐKT còn thể hiện vai trò quan trọng trong nghiên cứu, triển khai
ứng dụng những thành tựu khoa học, chuyển hoá những kết quả nghiên cứu
thành hàng hoá Chỉ những TĐKT có tiềm lực tài chính mạnh, đội ngũ cán bộ
khoa học hùng hậu và trang thiết bị hiện đại mới có thể đầu tư nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng và nhanh chóng đưa những kết quả nghiên cứu đó
vào sản xuất trên một quy mô rộng lớn Nhìn vào sự phát triển của sản phẩm
điện thoại di động hoặc máy tính sẽ thấy, nếu không phải là các tập đoàn hùng
mạnh như Microsoft hay Nokia, Samsung thì rất khó có thể liên tục đưa ra
các sản phẩm mới với những ứng dụng và tiện ích luôn được cải tiến, phục vụ
ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng
Trên bình diện quốc tế, các TĐKT có tác động to lớn thúc đẩy phát
triển kinh tế thế giới nói chung cũng như kinh tế của các quốc gia nói riêng ở
góc độ này, vai trò của các TĐKT biểu hiện:
- Thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế Trong giai
đoạn hiện nay, các TĐKT trở thành lực lượng quan trọng trong hầu hết các
tiến trình kinh tế, trong các mối quan hệ song phương và đa phương Có thể
dễ dàng nhận diện vai trò của TĐKT trong chính sách ngoại giao của các
quốc gia cũng như trong các quan hệ đối ngoại, quan hệ kinh tế của mỗi quốc
gia Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một ví dụ
sinh động về vai trò của các TĐKT Mỹ đối với chính sách đối ngoại của quốc
gia này Nếu không có sức ép của các TĐKT, Trung Quốc không thể nhận
Trang 28
26
được sự ủng hộ của các Nghị sĩ Thượng viện và Hạ viện và thời gian gia nhập
WTO một cách nhanh chóng như đã từng diễn ra Cuộc chiến Irắc là một ví
dụ tương tự, có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến này, nhưng nhìn
từ góc độ kinh tế, nguyên nhân sâu xa là lợi ích của các tập đoàn dầu mỏ, nhất
là các tập đoàn của Mỹ Đối với Việt Nam, từ khi thực hiện đường lối đổi
mới, những nỗ lực ngoại giao đã nhanh chóng mở rộng quan hệ kinh tế của
nước ta với nhiều nước trên thế giới Nhìn từ góc độ vai trò của TĐKT có thể
thấy, quá trình bình thường hoá quan hệ với Mỹ và mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế với các quốc gia châu Âu có sự tác động lớn của các TĐKT mà trước
hết là các tập đoàn đang đầu tư, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó có
thể khẳng định vai trò của TĐKT ảnh hưởng rất lớn đến chính sách của các
quốc gia, có thể thúc đẩy tiến trình hợp tác, có thể làm mất ổn định chính trị,
thậm chí xảy ra chiến tranh Nhìn một cách tổng thể, TĐKT đã góp phần giữ
gìn ổn định và hoà bình trên phạm vi toàn thế giới mà trước hết là những nơi
có sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia, bên cạnh đó, các TĐKT còn
tăng cường các quan hệ kinh tế, gắn bó chặt chẽ hơn giữa các quốc gia, khu
vực , thúc đẩy tiến trình khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế
- Thúc đẩy thương mại quốc tế Một trong những vai trò nổi bật của các
TĐKT là thúc đẩy thương mại quốc tế Với năng lực sản xuất rất lớn, thị
trường nội địa không còn phù hợp với quy mô sản xuất nên những thị trường
mới luôn được các TĐKT chú ý khai thác Bên cạnh đó, trao đổi thương mại
nội bộ giữa các thành viên trong tập đoàn ở những khu vực khác nhau trên thế
giới cũng tạo ra giá trị thương mại rất lớn Ngoài ra, mở rộng và phát triển chi
nhánh ở nước ngoài của các TĐKT thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) đã góp phần to lớn thúc đẩy xuất khẩu của các nước nhận FDI, nhất là
đối với các nước đang phát triển Ơ Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI luôn cao hơn các doanh nghiệp
nội địa đã cho thấy rõ vai trò này của các TĐKT
- Tăng cường đầu tư nước ngoài Với nhu cầu mở rộng thị trường, các
TĐKT tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất
Chính việc tăng cường đầu tư ra nước ngoài đã thúc đẩy các quốc gia tiếp
nhận nguồn vốn này, nhất là với các quốc gia đang phát triển nâng cao năng
Trang 29
27
lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, thực hiện CNH,
HĐH đất nước Cũng với quá trình này, các TĐKT đã thúc đẩy tiến trình tự
do hoá đầu tư và từng bước gỡ bỏ những cản trở về đầu tư
- Đào tạo nguồn nhân lực và tạo việc làm Các TĐKT tác động đến đào
tạo nguồn nhân lực thông qua các dự án đầu tư hoặc tạo ra những cơ hội cho
người lao động Thông qua các dự án đầu tư, các TĐKT cần đào tạo lực lượng
lao động tại chỗ nhằm phục vụ cho chính dự án đó, ngoài ra, cơ hội cho người
lao động (cơ hội thu nhập cao, cơ hội có việc làm phù hợp) đã thúc đẩy lực
lượng lao động không ngừng hoàn thiện về trình độ, kỹ năng qua đó gián
tiếp góp phần đào tạo lực lượng lao động Đối với các nước đang phát triển,
tác động của các TĐKT có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển lực lượng lao
động, nhất là đội ngũ lao động kỹ thuật và cán bộ quản lý Về chất lượng đào
tạo, thông thường các TĐKT đào tạo thông qua thực tiễn hoạt động và môi
trường làm việc hiện đại nên thường có chất lượng tốt hơn Ngoài ra, các
TĐKT còn tài trợ cho các chương trình đào tạo nghề, phát triển kỹ năng hay
trình độ quản lý Khoản tài chính khá lớn của quỹ Ford hay Toyota tài trợ cho
các chương trình đào tạo ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy rõ điều này
- Chuyển giao công nghệ Nhằm đảm bảo vai trò và vị thế trên thị
trường thế giới, các TĐKT thực hiện nhiều chiến lược, trong đó có chiến lược
chuyển giao công nghệ, một mặt nhằm duy trì ảnh hưởng của chính các tập
đoàn trên phạm vị toàn cầu, mặt khác chúng đã tác động mạnh đến các nước
tiếp nhận công nghệ, nhất là đối với các nước đang phát triển Chính những
biện pháp chuyển giao và trình độ công nghệ chuyển giao đã đẩy nhanh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến,
phương pháp quản lý hiện đại đối với các quốc gia tiếp nhận công nghệ, từng
bước nâng mặt bằng công nghệ trên phạm vi toàn cầu
1.6 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế
1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Tập đoàn kinh tế Trung Quốc (thường gọi là tập đoàn doanh nghiệp -
TĐDN) theo quan điểm của Trung Quốc, là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức
nhiều cấp, nó đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền
sản xuất lớn xã hội hoá DN nòng cốt của Tập đoàn là thực thể kinh tế có tư
Trang 30
28
cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối
với kết quả kinh doanh Bằng các hình thức nắm giữ cổ phần khống chế, tham
gia cổ phần, hiệp tác; DN nòng cốt gắn bó với một loạt DN (có tư cách pháp
nhân độc lập) ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và liên kết lỏng lẻo Nói ngắn
gọn, TĐDN là một khối liên kết bằng quan hệ về tài sản, quan hệ hiệp tác
Như vậy, quan điểm của các nhà lãnh đạo và các DN Trung Quốc về
Tập đoàn kinh tế là nhất quán và tương đối đồng nhất với quan điểm chung
trên thế giới Tuy nhiên, do tính đặc thù của Trung Quốc nên sự hình thành và
phát triển của chúng cũng có những nét đặc trưng khá điển hình
*Đặc thù hình thành và mô hình tồn tại
Từ cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã xây dựng thử
nghiệm các tổ chức Tập đoàn xí nghiệp, các liên hiệp xí nghiệp theo kiểu trust
như Công ty nhóm Trung Quốc Song do cuộc “cách mạng văn hoá” nên đã
ngừng lại Hội nghị toàn thể lần thứ ba BCHTƯ Đảng khoá XI đã mở ra giai
đoạn mới cho sự phát triển mô hình Tập đoàn Đầu những năm 80 của thế kỷ
này, hàng loạt TĐDN ra đời Sau năm 1987, liên tiếp có 15 TĐDN được đưa
vào kế hoạch Nhà nước, được Nhà nước tạo điều kiện để phát triển nhanh
hơn, có quyền tự chủ kinh doanh nhiều hơn Sau đó, 17 TĐDN được Ngân
hàng nhân dân Trung Quốc cho phép lập công ty tài vụ, đây là một thuận lợi
lớn để tăng năng lực huy động vốn trong toàn bộ Tập đoàn Với sự giúp đỡ,
chỉ đạo của Nhà nước, các TĐDN ở Trung Quốc được thành lập ở khắp nơi
Các TĐKT của Trung Quốc tồn tại chủ yếu trên cơ sở các hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là TĐKT tổng hợp nhiều cấp: Đây là loại TĐDN
nắm trong tay nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, thương mại, tài chính,
dịch vụ và lấy vốn làm nút liên kết chủ yếu Chúng được tổ chức thành 4 cấp,
thực hiện nhất thể hoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập, xoá bỏ tư
cách pháp nhân của các DN cũ “lập ra TĐDN trong đó công ty có tư cách
pháp nhân làm nòng cốt (tức là công ty mẹ) bằng cách nắm giữ cổ phần
khống chế, thầu khoán, thuê các DN có liên quan, DN nòng cốt sẽ nắm quyền
lãnh đạo đối với các DN này trong việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, vật
lực, sản xuất, cung ứng, tiêu thụ biến chúng thành những DN ở cấp dưới trực
tiếp (tức là công ty con) của Tập đoàn Các DN này vẫn bảo lưu tư cách pháp
Trang 31
29
nhân của chúng, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độc
lập tương đối Bằng cách tham dự cổ phần, DN cấp nòng cốt biến những DN
có tư cách pháp nhân này thành các DN ở cấp nửa trực tiếp (tức là công ty
cháu) của Tập đoàn; thông qua việc ký kết hợp đồng với những DN có quan
hệ tương đối chặt chẽ về nghiệp vụ DN ở cấp nòng cốt xây dựng quan hệ hiệp
tác tương đối ổn định với các DN này, biến chúng thành các DN ở cấp lỏng
lẻo (tức là công ty chắt) của Tập đoàn”
Tóm lại, loại TĐDN này phần nhiều là các tổ chức liên hiệp giữa các
pháp nhân DN, bản thân Tập đoàn không phải là tổ chức pháp nhân Nó giúp
điều chỉnh kết cấu tổ chức DN, bổ sung lợi thế cho nhau, sử dụng hiệu quả,
hợp lý các yếu tố sản xuất, kinh doanh đa dạng, cùng có lợi
- Hình thức thứ hai là Tập đoàn theo mô hình liên kết dây truyền: loại
này chủ yếu là tổ chức liên hiệp lỏng lẻo, lấy sản xuất làm nút liên kết Chúng
thường lấy một DN lớn làm nòng cốt của Tập đoàn, lấy sản phẩm nổi tiếng
độc đáo của Tập đoàn này làm đặc trưng, áp dụng hình thức chuyên môn hoá,
hiệp tác sản xuất kinh doanh thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
- Hình thức thứ ba là Tập đoàn phối hợp đồng bộ: loại tập đoàn này lấy
hợp đồng nhận thầu công trình làm nút liên kết Chúng hình thành chủ yếu
dựa vào một số DN công nghiệp lớn, đơn vị nghiên cứu, thiết kế, lấy việc liên
doanh nhận thầu đồng bộ hạng mục công trình lớn làm hình thức chủ yếu
Dưới sự lãnh đạo của hội đồng giám đốc, DN đầu đàn loại lớn tổ chức thành
công ty liên doanh thống nhất, mạnh, lập ra các đơn vị thành viên có tư cách
pháp nhân nhằm đạt được mục tiêu và lợi ích chung
- Hình thức thứ tư là Tập đoàn hoà nhập nghiên cứu khoa học với sản
xuất kinh doanh, lấy liên kết phát triển kỹ thuật mới làm nút liên kết Loại tập
đoàn này lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc xí
nghiệp công nghiệp lớn làm chủ thể, bổ sung cho nhau lợi thế khoa học - kỹ
thuật và vốn nhằm phát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có
giá trị cao, nâng cao năng lực cạnh tranh
- Hình thức thứ năm là Tập đoàn liên kết mạng lưới cùng ngành: Đây là
hình thức biến tướng của những liên hiệp các xí nghiệp đặc biệt lớn có cùng
ngành nghề
Trang 32
30
- Hình thức thứ sáu là Tập đoàn theo mô hình cổ phần (loại TĐDN được
thành lập theo mô hình cổ phần): loại TĐDN này lấy công ty của Nhà nước có
thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm DN nòng cốt Toàn bộ Tập
đoàn lấy tài sản dưới hình thức cổ phần làm nút liên kết, hình thành thể liên hợp
các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức cổ phần
*Đặc điểm về cơ cấu tổ chức
- Đặc điểm đầu tiên và nổi bật nhất thể hiện ở chỗ các TĐDN là những
cụm DN có mối quan hệ chặt chẽ đan xen giữa các đơn vị thành viên trong đó
lấy chế độ công hữu về tư liệu sản xuất làm chủ thể
- Đặc điểm thứ hai là các TĐDN chủ yếu được tổ chức trên cơ sở tự
nguyện, cùng có lợi, cùng phát triển
- Đặc điểm thứ ba là mục đích của việc thành lập TĐDN của Nhà nước -
của các đơn vị thành viên - và của công nhân, viên chức về cơ bản là thống nhất
với nhau Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của chế độ XHCN ở Trung Quốc
*Đánh giá vai trò của các DNNN Trung Quốc
Tựu chung lại, có thể khẳng định: ở Trung Quốc các TĐDN được tổ
chức theo hai cách chủ yếu: một là dựa vào các điều kiện khách quan, các DN
tự tập hợp với nhau để thành lập Tập đoàn; hai là Nhà nước đứng ra thành lập
các TĐDN mang tính ép buộc hướng tới các mục tiêu mà Chính phủ đề ra
Mặc dù tính cưỡng chế là tối thiểu nhưng cách thành lập tập đoàn theo
phương thức thứ nhất được nhiều DN ủng hộ và nó đang được triển khai rộng
rãi ở Trung Quốc
Trong điều kiện hiện nay, các TĐDN Trung Quốc hình thành chủ yếu
trên cơ sở lấy vốn làm đầu mối liên kết, hoạt động theo mô hình công ty mẹ -
công ty con Với thực lực kinh tế khá mạnh, các TĐDN Trung Quốc ra đời
còn với tính cách là sản phẩm của cạnh tranh thị trường và là kết quả của quá
trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trung Quốc, theo hướng xuyên khu vực,
xuyên ngành nghề và xuyên quốc gia hoá các hoạt động kinh tế
Cùng với xu thế cải cách, mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới, sự phát
triển không ngừng của nền kinh tế thị trường thì những yêu cầu về khả năng
cạnh tranh của các DN là rất lớn Các TĐDN Trung Quốc có hình thức liên
kết phong phú, nội dung tác nghiệp đa dạng, với ưu thế là thị trường nội địa
Trang 33
31
hết sức rộng lớn để phát triển và thử nghiệm các mô hình quản lý, tổ chức,
nâng cao khả năng cạnh tranh trước khi mở rộng sang phạm vi xuyên quốc
gia Đó là một lợi thế rất lớn của các TĐDN Trung Quốc
1.6.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Sự thăng trầm của nền kinh tế Nhật Bản và quá trình trở thành cường
quốc kinh tế gắn bó chặt chẽ với những thăng trầm của các TĐKT Những
chính sách, chương trình kinh tế ngay từ thời Minh Trị đã đặt nền móng cho
sự hình thành các TĐKT Với văn hoá đặc trưng, truyền thống gia đình, huyết
thống mang màu sắc Samurai - tận tụy, trung thành và chọn lọc các tinh hoa
phương Tây, mô hình TĐKT Nhật Bản được xây dựng trên truyền thống quốc
gia kết hợp với tư duy hiện đại Trong giai đoạn đầu, các TĐKT Nhật Bản
(được gọi là Zaibatsu) hoạt động trong một vài lĩnh vực mũi nhọn và không
ngừng mở rộng cả phạm vi, lĩnh vực hoạt động thông qua các khoản đầu tư
lớn với những tập đoàn nổi danh như Mitsubishi, Mitsui, Sumimoto
Chiến tranh thế giới thứ hai là điều kiện tốt để các Zaibatsu mở rộng
quy mô, thế lực thông qua những chính sách của Chính phủ Chiến tranh thế
giới thứ hai kết thúc cũng là thời kỳ quy mô của các tập đoàn tăng lên nhanh
chóng Chỉ tính riêng 4 tập đoàn lớn nhất trong giai đoạn này đã kiểm soát
50% hoạt động trong lĩnh vực tài chính, 32% trong lĩnh vực công nghiệp nặng
và 11% trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhận thức rõ vai trò độc tôn trong
một số lĩnh vực quan trọng, Chính phủ Nhật Bản thực hiện các biện pháp
giảm thiểu ảnh hưởng của các tập đoàn và tiến hành giải thể chúng Chính sự
giải thể này đã tạo ra những động lực từ bên trong cho sự phát triển kinh tế
Nhật bởi một mặt, việc giải thể các tập đoàn đã tạo ra đội ngũ doanh nhân
chuyên nghiệp, mặt khác, tạo ra môi trường cạnh tranh khá gay gắt với rất
nhiều chủ thể tham gia (thay vị trí độc tôn, độc quyền như trước đây)
Chiến tranh Triều Tiên là bối cảnh quốc tế thuận lợi cho các tập đoàn
được thành lập bởi sự giải thể các Zaibatsu phát triển Kể từ cuối thập niên 50
của thế kỷ XX, hàng loạt các vụ sáp nhập của các công ty có quy mô nhỏ
nhằm hình thành những công ty lớn hơn trên cơ sở những chính sách bảo trợ
và khuyến khích của Chính phủ là tiền đề hình thành các tập đoàn có quy mô
hoạt động trên toàn cầu sau này Nhìn nhận lại quá trình hình thành, phát triển
Trang 34
32
các TĐKT Nhật Bản có thể nhận thấy sự kết hợp hài hoà giữa tính hiện đại
của nền công nghiệp phương Tây với tính truyền thống, văn hoá bản địa Mối
quan hệ trong cơ cấu tổ chức, quản lý theo kiểu gia đình truyền thống cũng
dần được hiện đại hoá bằng việc mở rộng ra bên ngoài, tạo mối quan hệ nội
bộ bền chặt trong công ty thông qua việc bán cổ phần Như vậy, các nhân viên
sẽ trở thành bộ phận của công ty dưới hình thức cổ đông (đồng sở hữu) Cùng
với quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới và các tập đoàn của các quốc
gia phương Tây, các TĐKT cũng diễn ra quá trình sáp nhập, hợp nhất, thôn
tính nhau theo quy luật thị trường Quá trình đó đã điều chỉnh hoạt động của
các tập đoàn Nhật Bản phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế thế giới, thích
ứng tốt hơn với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Quá trình thích ứng
diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, từ sản xuất đến phân phối, quản lý trong đó
nét đặc trưng nhất có thể kể đến là đa dạng hoá sản phẩm Năm 1983, Nhật
Bản có 16 tập đoàn độc lập và tất cả đều sản xuất đa sản phẩm Ngày nay, tất
cả các tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản đều đa dạng hoá ngành, lĩnh vực sản
xuất với hệ thống sản phẩm rất phong phú
Quá trình quốc tế hoá hoạt động của các tập đoàn Nhật Bản được thực
hiện theo phương thức cắm nhánh, liên kết, hợp nhất và chuyển giao công
nghệ Khu vực Châu á - Thái Bình Dương, Châu Âu, Bắc Mỹ được các tập
đoàn Nhật Bản ưu tiên đầu tư trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX
và kéo dài đến nay Hiện nay, chiến lược quốc tế hoá của các công ty Nhật
Bản được thực hiện theo các hình thức như liên kết, góp vốn, hợp đồng
nghiên cứu, tiêu thụ sản phẩm hay chuyển giao công nghệ; mở rộng theo hình
thức cổ phần hay cùng góp vốn để hình thành các cơ sở sản xuất kinh doanh
mới
Để có những tập đoàn như hiện nay, Nhật Bản đã có chiến lược phát
triển mô hình này trên cơ sở phối hợp giữa chiến lược của các tập đoàn và
chính sách của Chính phủ, trong đó các tập đoàn đóng vai trò chủ động và
Chính phủ hỗ trợ Mặc dù mỗi tập đoàn có chiến lược tổng thể và các chiến
lược cụ thể khác nhau nhưng thường bao gồm: (1) Chiến lược đa dạng hoá
trong cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh; (2) Chiến lược nhất thể hoá quốc
tế thông qua việc xây dựng chi nhánh trên toàn cầu và liên kết chặt chẽ giữa
Trang 35
33
các chi nhánh; (3) Chiến lược trọng điểm hoá và tập đoàn hoá, đẩy mạnh quan
hệ mậu dịch trong nội bộ tập đoàn; (4) Chiến lược chiếm lĩnh, khai thác thị
trường thông qua hoạt động khoa học công nghệ
Mô hình các TĐKT Nhật Bản có nhiều biến động cùng với những
thăng trầm của lịch sử Hiện nay, bên cạnh mô hình theo kiểu Zaibatsu truyền
thống, Nhật Bản còn tồn tại một số mô hình tập đoàn với những mối liên kết,
các quan hệ nội bộ có nhiều điểm khác biệt
- Tập đoàn với mô hình truyền thống kiểu Zaibatsu: Mô hình này được
xây dựng với trụ cột là CTM do một hoặc một số gia đình nắm cổ phần chi
phối Thông thường, CTM là những công ty nắm giữ tài chính hoặc công ty
thương mại với quy mô lớn, các CTC hoạt động như những vệ tinh xung
quanh CTM Đặc điểm của mô hình này thể hiện: (1) CTM và các CTC có
mối liên kết khá mật thiết, trao đổi thông tin, chiến lược, kế hoạch kinh doanh
thông qua HĐQT; (2) Các ngân hàng lớn đóng vai trò trung tâm của các giao
dịch tài chính, đầu tư vốn và can thiệp vào cơ cấu tổ chức, hoạt động cảu các
CTC qua tỷ lệ vốn góp; (3) Các CTC đầu tư vào nhau (đầu tư ngang) nên tạo
ra những mối liên kết chặt chẽ; (4) Quan hệ thương mại giữa các CTC mặc dù
được chú trọng và được điều phối bởi các công ty thương mại nhưng phải trên
cơ sở tự nguyện và cùng có lợi Với mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp
thành viên sẽ lựa chọn đối tác phù hợp với mục tiêu của mình, do đó xuất hiện
tình trạng cạnh tranh nội bộ trong tập đoàn
- Tập đoàn theo mô hình liên kết lỏng lẻo: Đây là mô hình có cơ cấu tổ
chức không ổn định và liên kết giữa CTM - CTC và các CTC với nhau khá
lỏng lẻo Sự hình thành tập đoàn dựa trên một công ty có quy mô lớn, chi phối
một lĩnh vực nào đó, quá trình phát triển thúc đẩy những mối quan hệ thương
mại, đầu tư khác nhau và tập đoàn được hình thành Đặc điểm của mô hình
này như sau: (1) Các doanh nghiệp thành viên hoạt động khá độc lập với
CTM Trong mỗi công ty thành viên cũng có thể bao gồm nhiều CTC có mối
quan hệ với nhau thông qua các hoạt động đầu tư, kinh doanh; (2) Các công ty
thành viên trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thường được tổ
chức theo khu vực; (3) Lãnh đạo tập đoàn thường do cá nhân hoặc gia đình có
thế lực nắm giữ, vừa với tư cách chủ sở hữu, vừa tổ chức quản lý
Trang 36
34
- Tập đoàn theo mô hình đa trung tâm: Đây là mô hình không có tổ
chức đầu mối Mỗi công ty thành viên có thể trở thành một trung tâm nhằm
thu hút đầu tư, mở rộng quan hệ Các phòng ban chức năng tổ chức quản lý
điều hành chung nhưng trong những trường hợp cụ thể cũng có thể trở thành
một trung tâm hay một doanh nghiệp độc lập Bộ máy quản lý chung không
can thiệp vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các thành viên mà chỉ tập
trung xử lý các vấn đề về tài chính, thương hiệu và nghiên cứu triển khai Đây
là mô hình nhằm đáp ững những thay đổi nhanh chóng của thị trường hiện
nay với những yêu cầu ra quyết định nhanh đối với các cơ hội kinh doanh
- Tập đoàn theo kiểu mạng lưới: Mô hình này được tổ chức không có
trung tâm chính thức Các doanh nghiệp thành viên có mối quan hệ thông qua
vốn, thông tin, thị trường hay hợp tác nghiên cứu Vai trò điều phối chung có
thể do một doanh nghiệp quy mô lớn trong tập đoàn đảm nhận nhưng phải
dựa trên quan hệ lợi ích của các bên tham gia Nhìn chung, vai trò điều phối
được giao cho trung tâm thông tin Trung tâm này có nhiệm vụ thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin kịp thời nhằm đảm bảo lợi ích cho mỗi thành viên cũng
như toàn tập đoàn
Sự phân định các mô hình chỉ mang tính tương đối bởi các hình thức có
thể đan xen, thay đổi trong quá trình hoạt động, thậm chí trong một tập đoàn
có thể tồn tại cả bốn hình thức tổ chức nêu trên ở mức độ khác nhau Hơn
nữa, trên thực tế, các tập đoàn luôn thay đổi tổ chức, chức năng của mỗi bộ
phận cho phù hợp với tình hình thực tiễn
1.6.3 Bài học đối với Việt Nam
Qua kinh nghiệm hình thành và phát triển các TĐKT ở Trung Quốc và
Nhật Bản có thể rút ra một số bài học đối với Việt Nam là:
- Thứ nhất, Nhà nước có vai trò quan trọng thông qua việc tạo lập tiền
đề, điều kiện thúc đẩy hình thành, phát triển các TĐKT Mặc dù các TĐKT
được hình thành và phát triển như một tất yếu trong nền kinh tế thị trường, tuy
nhiên, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thông qua cơ chế, chính sách
và những biện pháp hỗ trợ cần thiết sẽ rất khó hình thành những tập đoàn
mạnh, quy mô lớn Đối với các quốc gia đang phát triển, sự can thiệp của Nhà
nước càng có ý nghĩa khi mà hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã hình
Trang 37
35
thành những tập đoàn lớn, có quy mô toàn cầu, sức cạnh tranh cao Sự thành
công của các tập đoàn ở Trung quốc và Nhật Bản khẳng định tầm quan trọng
của Chính phủ trong việc hỗ trợ, tạo lập môi trường, điều kiện cho các tập
đoàn phát triển Tuy nhiên, Nhà nước can thiệp đến đâu và bằng những biện
pháp nào cũng cần tính toán kỹ lưỡng bởi nếu các biện pháp hỗ trợ không phù
hợp, sự bảo trợ thái quá có thể tạo ra những doanh nghiệp độc quyền hoặc ỷ
lại, trông chờ vào Nhà nước, làm suy yếu chính những tập đoàn này
- Thứ hai, hình thành, phát triển các TĐKT dựa trên những quy luật và
nguyên tắc thị trường Mặc dù sự hỗ trợ của Nhà nước rất cần thiết nhưng các
TĐKT không thể phát triển nếu được thành lập thuần tuý bằng mệnh lệnh
hành chính hay ý kiến chủ quan của giới lãnh đạo Ngay cả khi Chính phủ
quyết định thành lập các TĐKT thì cũng cần làm rõ nhu cầu nội tại cũng như
sự vận động và phát triển tất yếu của mỗi tập đoàn, đồng thời các tập đoàn
này phải hoạt động theo nguyên tắc và quy luật thị trường
- Thứ ba, lựa chọn mô hình cho các tập đoàn Không có mô hình đúng
áp dụng cho mọi quốc gia, do đó mô hình tập đoàn cần căn cứ vào điều kiện
đặc thù, hiện trạng phát triển, các yếu tố tác động như văn hoá, tâm lý, truyền
thông và xuất phát từ tín hiệu thị trường Thị trường sẽ “chỉ dẫn” mô hình
cũng như cách thức tổ chức, quản lý, sản xuất, kinh doanh phù hợp với mỗi
tập đoàn Nhà nước cần có những định hướng nhưng không phải là mệnh lệnh
nhằm phát huy tối đa thế mạnh của mỗi tập đoàn, phù hợp với định hướng
phát triển quốc gia
- Thứ tư, khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền Kinh
nghiệm của một số quốc gia cho thấy cạnh tranh là yếu tố đảm bảo sự thành
công cho mỗi doanh nghiệp thành viên cũng như cả tập đoàn Sự phát triển
của mỗi tập đoàn đến một mức độ nào đó hình thành độc quyền với nhiều
biểu hiện khác nhau và lúc này cần đến sự can thiệp của Chính phủ Kiểm
soát độc quyền một mặt thúc đẩy cạnh tranh, mặt khác tạo cơ hội cho những
doanh nghiệp mới, có cơ hội tham gia thị trường Bên cạnh đó, Chính phủ chú
trọng kiểm soát các tập đoàn có lợi thế hay độc quyền tự nhiên, hạn chế
những tác hại do độc quyền gây ra và những thua thiệt khi tham gia thị trường
quốc tế
Trang 38
36
- Thứ năm, quy mô, số lượng và năng lực quản lý Bài học từ Trung
Quốc cho thấy, xây dựng kế hoạch nhằm xác định số lượng, quy mô của các
tập đoàn có ý nghĩa định hướng nhiều hơn là mục tiêu phải đạt Ngoài những
hỗ trợ của Nhà nước, số lượng và quy mô của TĐKT phụ thuộc vào hiện
trạng của những doanh nghiệp có quy mô lớn và thực lực của nền kinh tế
- Thứ sáu, tái cơ cấu khu vực kinh tế thuộc SHNN Cùng với các biện
pháp đa dạng hoá sở hữu, tư nhân hoá, xây dựng các TĐKT là biện pháp ưu
tiên đối với các quốc gia tiến hành tái cơ cấu khu vực kinh tế thuộc SHNN
nhưng Nhà nước cần nắm giữa một số ngành, lĩnh vực chủ chốt Biện pháp
này một mặt đảm bảo sự kiểm soát nhất định của Nhà nước đối với một số
lĩnh vực quan trọng, mặt khác tạo bước đệm cần thiết để lành mạnh hoá tình
hình tài chính, nâng cao năng lực quản lý và trình độ nguồn nhân lực để
chúng từng bước lớn mạnh, phù hợp với sự phát triển cùa kinh tế thị trường
Như vậy, hình thành và phát triển các TĐKT phải xuất phát từ những
điều kiện hiện tại cũng như đặc thù của mỗi nền kinh tế Bài học kinh nghiệm
của một số quốc gia có ý nghĩa nhất định và cho những gợi ý trong việc hình
thành và phát triển TĐKT ở Việt Nam Cũng như các thực thể kinh doanh
khác, mô hình TĐKT sẽ phát triển trong những điều kiện nhất định và chúng
từng bước hoàn thiện nhằm thích ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất Vì vậy, phát triển các TĐKT không phải là chỉ tiêu, cũng
không phải là phong trào mà cần căn cứ vào hiện trạng nền kinh tế và thực lực
mỗi doanh nghiệp
Trang 39
37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Sự cần thiết và tất yếu hình thành Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập ngày càng
sâu rộng vào kinh tế quốc tế được xem là mục tiêu hàng đầu của nước ta trong
giai đoạn hiện nay Với mục tiêu đó, Việt Nam không những cần phải nâng
cao tốc độ tăng trưởng, mở rộng kinh tế đối ngoại mà còn cần chủ động tạo ra
và phát huy những lợi thế so sánh để đi tắt, đón đầu mới có thể tạo ra những
bước đột phá về kinh tế, tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu
vực và quốc tế Thực tiễn khách quan này đặt ra yêu cầu cần sớm hình thành
những tập đoàn kinh tế mạnh trong một số lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế
với những lý do sau:
Thứ nhất, hội nhập và hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan đòi hỏi
việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhỏ bé, phân tán thành những
doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh cũng như đủ mạnh để có thể trở
thành đối tác với doanh nghiệp nước ngoài là chủ trương hết sức đúng đắn
của Đảng và Nhà nước Chỉ có những doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào,
trình độ quản lý hiện đại, tiềm năng mạnh thì mới đủ khả năng cạnh tranh
với doanh nghiệp nước ngoài Trong khi doanh nghiệp ở Việt Nam có thể đạt
được những điều kiện trên là rất ít, chỉ có các tổng công ty Nhà nước và các
TĐKT mới có khả năng hội tụ những yếu tố này
Thứ hai, Việt Nam chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là chấp nhận tính cạnh tranh như là một tất
yếu khách quan Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dẫn tới quá trình tích tụ và
tập trung vốn vào sản xuất và từ đó dẫn đến hình thành các doanh nghiệp lớn
Hơn nữa, việc hình thành tập đoàn kinh tế từ những tổng công ty Nhà nước là
một tất yếu cho xu thế phát triển các tập đoàn kinh tế hiện nay
Thứ ba, các tổng công ty Nhà nước phần lớn hoạt động kém hiệu quả
hoặc đạt hiệu quả thấp vì cơ chế hoạt động của hình thức tổng công ty gây ra
(như quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, mập mờ trong chế độ sở hữu )
Trang 40
38
Với việc chuyển từ hình thức tổng công ty thành tập đoàn kinh tế sẽ giúp cho
các tổng công ty giảm bớt và loại trừ dần dần những yếu kém đã tồn tại trong
một thời gian dài
Từ ba yếu tố nêu trên có thể khẳng định rằng muốn xây dựng một nền
kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa mang lại hiệu quả kinh tế
cao thì tất yếu phải hình thành nên các tập đoàn kinh tế mạnh trong các lĩnh
vực trọng yếu vì các tập đoàn kinh tế chính là biểu tượng cho sự phát triển
của doanh nghiệp Việt Nam
2.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thí
điểm hình thành các tập đoàn kinh tế
Ngày 20/12/1978 đánh dấu sự ra của các Liên hiệp xí nghiệp (LHXN)
bằng Nghị định 302/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Đây được xem như
bước đi ban đầu cụ thể hóa ý tưởng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và
phát triển mô hình sản xuất kinh doanh quy mô lớn Ra đời trong bối cảnh
lịch sử sau khi mới thống nhất đất nước và cơ chế quản lý tập trung, bao cấp,
LHXN thực hiện đồng thời hai chức năng là kinh doanh và quản lý Nhà nước
với mục tiêu đảm bảo thực hiện các kế hoạch được giao và cân đối cơ cấu sản
xuất theo ngành, mặt hàng
Sau một thời gian hoạt động các LHXN đã có những đóng góp nhất
định trong việc nâng cao năng lực sản xuất, cân đối cơ cấu hàng hóa, đảm bảo
các kế hoạch được giao, đáp ứng phần nào nhu cầu tiêu dùng trong nước và
một số mặt hàng tham gia xuất khẩu và quan trọng hơn bước đầu hình thành
tư duy quản lý kinh doanh quy mô lớn và tác phong lao động công nghiệp
Tuy nhiên, qua quá trình phát triển, các LHXN dần bộc lộ những hạn chế ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của hình thức kinh doanh này
Trước hết, các LHXN được hình thành bằng cách tập hợp các doanh nghiệp
quốc doanh hoạt động trong cùng một lĩnh vực như dệt, may, lương
thực thiếu cơ sở kinh tế để chúng gắn bó chặt chẽ Trong bối cảnh thông tin
liên lạc chưa phát triển, tư duy và biện pháp quản lý còn nhiều hạn chế, sản
xuất theo kế hoạch định sẵn, mô hình LHXN với các xí nghiệp trên toàn quốc
đã vượt quá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo Bên cạnh đó, việc
thành lập ít nhiều mang tính phong trào của các bộ, ngành, địa phương một