1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới

108 939 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Công Tác Bồi Thường Bảo Hiểm Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu Chuyên Chở Bằng Đường Biển Tại Văn Phòng Công Ty Pjico Hà Nội Giai Đoạn 2006-2008 Và Định Hướng Giai Đoạn Mới
Tác giả Phạm Thị Thu Hà
Người hướng dẫn TS. Trần Sĩ Lâm
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới khái quát về bồi thường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển. Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008. Định hướng nâng cao hiệu quả công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn tới.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

HƯỚNG GIAI ĐOẠN TỚI

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Hà

Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Sĩ Lâm

Trang 2

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới TS Trần Sĩ Lâm giảng viên Bộ môn Vận tải – Bảo hiểm, đã hướng dẫn em nhiệt tình trong thời gian thực hiện Khoá luận cùng sự giúp đỡ của anh Bùi Văn Thảo, Trưởng phòng Bảo hiểm hàng hoá; anh Nguyễn Viết Sơn, Phó Trưởng phòng Bảo hiểm hàng hoá và các anh chị khác trong Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội đã giúp đỡ

em về nguồn tài liệu, kinh nghiệm thực tiễn về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển và những đóng góp thiết thực về nội dung

để em có thể hoàn thành Khoá luận một cách tốt nhất

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 4

I BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 4

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 5

1.1.1 NGƯỜI BẢO HIỂM 5

1.1.2 NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM 5

1.1.3 ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM VÀ QUYỀN LỢI BẢO HIỂM 6

1.1.4 HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM 7

1.1.5 GIÁ TRỊ BẢO HIỂM, SỐ TIỀN BẢO HIỂM VÀ PHÍ BẢO HIỂM 9

1.1.6 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG 10

1.2 RỦI RO TRONG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 12

1.2.1 KHÁI NIỆM 12

1.2.2 PHÂN LOẠI RỦI RO 13

1.3 TỔN THẤT TRONG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 14

1.3.1 KHÁI NIỆM 14

1.3.2 PHÂN LOẠI TỔN THẤT 15

1.4 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 18

II GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 20

2.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH 20

2.1.1 KHÁI NIỆM 20

2.1.2 MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH 21

2.2 QUY TRÌNH THỰC HIỆN GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT HÀNG HOÁ 22

Trang 4

2.2.2 TIẾN HÀNH GIÁM ĐỊNH 23

2.2.3 LẬP CHỨNG THƯ GIÁM ĐỊNH 25

III BỒI THƯỜNG TỔN THẤT HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 26

3.1 KHIẾU NẠI ĐÒI BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 26

3.2 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC TRONG BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 28

3.2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 28

3.2.2 NGUYÊN TẮC TRONG BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 28

3.3 CÁCH TÍNH TOÁN BỒI THƯỜNG TỔN THẤT 30

3.3.1 TỔN THẤT BỘ PHẬN 30

3.3.2 TỔN THẤT TOÀN BỘ 32

3.3.3 CÁC CHI PHÍ ĐƯỢC BẢO HIỂM BỒI THƯỜNG 32

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 35

I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 35

1.1 GIỚI THIỆU VỀ VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI VÀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM ĐANG TRIỂN KHAI 35

1.1.1 GIỚI THIỆU VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI 35

1.1.2 CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHỦ YẾU ĐANG TRIỂN KHAI TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI 37

1.2 TÌNH HÌNH KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 41

II CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 44

2.1 HOẠT ĐỘNG BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 44

Trang 5

2.2 QUY TRÌNH GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT CỦA VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI 47 2.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG TỔN THẤT HÀNG HOÁ CỦA CÔNG TY 52

III ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2008 59

3.1 CÁC NHÂN TỐ KHÁCH QUAN TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG TẠI CÔNG TY 59

3.1.1 CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI 59 3.1.2 CÁC YẾU TỐ KHÓ KHĂN 61

3.2 NHỮNG ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU TRONG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY TRONG GIAI ĐOẠN

2006 – 2008 62

3.2.1 NHỮNG ĐIỂM MẠNH 63 3.2.2 NHỮNG ĐIỂM YẾU 66

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 71

I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 71

1.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM BẢO HIỂM CỦA PJICO TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 71 1.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 73 1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI 76

Trang 6

II GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VĂN

PHÒNG CÔNG TY PJICO HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỚI 78

2.1 ĐỐI VỚI PJICO 79

2.1.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA RỦI RO VÀ HẠN CHẾ TỔN THẤT 79

2.1.2 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT 81

2.1.3 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG 85

2.2 ĐỐI VỚI HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM 91

2.3 ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 93

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU & SƠ ĐỒ

Bảng 4 Các yếu tố tác động tới công tác bồi thường của PJICO 66

Sơ đồ 2 Quy trình giám định tổn thất hàng hoá tại PJICO 46

Sơ đồ 3 Quy trình bồi thường tổn thất hàng hoá tại PJICO 51

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, cùng với sự phát triển về khoa học

kỹ thuật đã giúp cho các quốc gia cải thiện năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và làm gia tăng lượng hàng hoá buôn bán giữa các quốc gia với nhau Bên cạnh đó là những khó khăn, rủi ro mà các chuyến hàng vận chuyển bằng đường biển phải đối mặt tăng lên cả về số lượng và mức độ thiệt hại Do đó, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) chuyên chở bằng đường biển ngày càng được quan tâm và phát triển Trong bảo hiểm công tác tính toán, phân bổ số tiền bồi thường cho các bên là rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các công

ty bảo hiểm và đối với cả khách hàng tham gia bảo hiểm, nhất là khi giải quyết bồi thường không chính xác, kịp thời thì sẽ gây hậu quả xấu cho các bên Ở Việt Nam hiện nay, công tác dự báo rủi ro, phòng ngừa và hạn chế tổn thất cho hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển còn yếu kém, chưa hiệu quả trong khi kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng Vì vậy nhu cầu nâng cao hiệu quả công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển ngày càng trở nên cấp thiết

Trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là một trong 4 công ty bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển, PJICO được đánh giá là Công ty hoạt động có hiệu quả nhất do tỷ lệ bồi thường thấp so với toàn thị trường Tuy nhiên, Công ty vẫn phải đối mặt với những khó khăn khi giải quyết bồi thường như xác định tổn thất được bồi thường không chính xác, hiện tượng trục lợi bảo hiểm, thời gian giải quyết bồi thường còn kéo

Trang 10

dài… nhất là trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty bảo hiểm cả trong và ngoài nước Vấn đề đặt ra cho Công ty trong thời gian tới

là làm thế nào để giải quyết được những khó khăn này, do đó em đã chọn đề tài

Khoá luận tốt nghiệp là: “Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá

xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO

Hà Nội giai đoạn 2006 – 2008 và định hướng giai đoạn tới”

2 Tình hình nghiên cứu trước đây

Trong các khoá luận trước đây cũng đã có một số bài nghiên cứu về bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại Công ty Bảo Việt hoặc Bảo Minh, tuy nhiên cho đến nay chưa có khoá luận nào nghiên cứu về công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại PJICO Do vậy, đề tài này hoàn toàn không trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu trước đây

3 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận được thực hiện nhằm các mục đích nghiên cứu sau:

 Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghiệp vụ giám định – bồi thường hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

 Phân tích, đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại PJICO giai đoạn 2006 – 2008

 Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại Công ty

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: công tác giám định bồi thường tổn thất hàng hoá

XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu: công tác giám định bồi thường bảo hiểm hàng hoá

XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội trong giai đoạn 2006 – 2008

5 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận được hoàn thành dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải; phương pháp so sánh; phương pháp hệ thống; phương pháp phân tích SWOT…

6 Kết cấu khoá luận

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Khoá luận được chia làm 3 chương với các nội dung sau:

 Chương I: Khái quát về bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

 Chương II: Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO Hà Nội giai đoạn

2006 – 2008

 Chương III: Định hướng nâng cao hiệu quả công tác bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển tại Văn phòng Công ty PJICO

Hà Nội giai đoạn tới

Và sau đây là toàn bộ bài Khoá luận của em

Trang 12

có sự xa cách về mặt địa lý, khác biệt về truyền thống, pháp luật, tập quán thương mại và chính sách kinh tế đối ngoại, khác biệt về ngôn ngữ, đồng thời thiếu hiểu biết và tin cậy lẫn nhau so với các đối tác trong nước Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên, kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi nước trong hành trình vận chuyển đều có thể gây ra những khó khăn không thể lường trước, đôi khi là bất khả kháng đối với các bên khi thực hiện hợp đồng như rủi ro về chính trị, rủi ro

về tiền tệ và tỷ giá trong thanh toán, rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hoá…

Hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế được thực hiện bởi nhiều hình thức vận tải khác nhau (đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không…), nhưng thực tế có trên 80% hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển Vì vậy, rủi ro hay xảy ra nhất trong vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu là rủi ro trong hành trình vận chuyển bằng đường biển và thường gây

ra những thiệt hại, mất mát to lớn cho các bên liên quan đến hành trình

Trang 13

Đối mặt với rủi ro, các thương nhân đã tìm ra biện pháp để hạn chế, ngăn ngừa hậu quả và nguyên nhân dẫn đến rủi ro, tổn thất, đó chính là bảo hiểm Do hình thức giao thương đầu tiên và phổ biến nhất là bằng đường biển nên bảo hiểm hàng hải nói chung, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển nói riêng cũng là loại hình bảo hiểm xuất hiện sớm và phát triển nhất cho đến ngày nay Bảo hiểm hàng hải có các loại: Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu và Bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển

Những phần sau sẽ đi sâu nghiên cứu về bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển vì đây là hình thức bảo hiểm lâu đời nhất và phát triển nhất trong kinh doanh bảo hiểm

1.1 Một số khái niệm và nguyên tắc áp dụng trong bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

1.1.1 Người bảo hiểm

Là người đứng ra nhận bảo hiểm cho các cá nhân hoặc tổ chức khi có yêu cầu; là người nhận trách nhiệm về rủi ro, được hưởng phí bảo hiểm và phải bồi thường tổn thất trong phạm vi bảo hiểm [12]

Các công ty bảo hiểm thường thực hiện rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm nội địa, tái bảo hiểm…) bên cạnh thực hiện các hoạt động kinh doanh khác Một

số các công ty bảo hiểm hiện nay như: Lloyd, Prudential, Bảo Việt, PJICO, PVI, Bảo Minh…

1.1.2 Người được bảo hiểm

Người được bảo hiểm là người có lợi ích bảo hiểm và là người bị thiệt hại khi rủi ro xảy ra và được người bảo hiểm bồi thường Người được bảo hiểm là người nộp phí bảo hiểm và có tên trong hợp đồng bảo hiểm [11]

Trang 14

Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển thì người mua bảo hiểm có thể là người bán hoặc người mua tuỳ theo điều kiện giao hàng là gì Ví dụ nếu bán hàng theo điều kiện FOB Incoterms 2000 thì người bán không có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá, người mua vì quyền lợi của mình sẽ tiến hành mua bảo hiểm; ngược lại, bán hàng theo điều kiện CIF Incoterms 2000 thì người bán có trách nhiệm mua bảo hiểm cho chuyến hàng

1.1.3 Đối tượng bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển chính là hàng hoá Theo định nghĩa trong Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005, Điều 225: “Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hoá, tiền cước vận chuyển hàng hoá, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính

của hàng hoá, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và

các khoản tiền được đảm bảo bằng tàu, hàng hoá hoặc tiền cước vận chuyển”

Cùng với sự phát triển của các ngành và hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia thì hàng hoá là đối tượng của bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển ngày càng gia tăng và rất đa dạng như hàng rời (ngô, than đá, khô đậu tượng…), hàng lỏng (dầu, hoá chất…), hàng siêu trường siêu trọng (máy móc, thiết bị…), hàng đóng trong container… Tuy nhiên không phải tất cả hàng hoá đều là đối tượng của bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển mà được phân thành hàng hoá nói chung và hàng hoá là đối tượng của bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương Chỉ có những hàng hoá nào được xác định rõ trong các hợp đồng

Trang 15

mua bán ngoại thương là đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển thì mới được xem là đối tượng của bảo hiểm hàng hoá, còn các tài sản khác được mang theo để phục vụ sinh hoạt cá nhân chứ không có mục đích thương mại (được gọi là hành lý) thì không thuộc phạm vi của đối tượng bảo hiểm hàng hoá

Ngoài quyền lợi bảo hiểm đối với hàng hoá, chủ hàng còn có quyền lợi bảo hiểm khác như lãi ước tính (theo tập quán thì chủ hàng có thể mua bảo hiểm cho phần lãi này với mức tối đa là 10% trị giá CIF của lô hàng), trị giá tăng thêm (được bảo hiểm riêng), thuế nhập khẩu

Khi xảy ra tổn thất người được bảo hiểm phải chứng minh là mình có quyền lợi bảo hiểm nằm trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm bị tổn thất Nếu không chứng minh được thì khiếu nại bồi thường sẽ bị từ chối Ngay cả khi trong đơn bảo hiểm có ghi là người được bảo hiểm không cần thiết phải chứng minh thì nhà bảo hiểm cũng có thể từ chối khiếu nại khi nhà bảo hiểm nghi ngờ người được bảo hiểm không có quyền lợi đó

1.1.4 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển là sự thoả thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những hư hỏng hoặc mất mát của hàng hoá hay trách nhiệm liên quan đến hàng hoá bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, còn người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm [11]

Loại hợp đồng này mang tính chất là một hợp đồng bồi thường, một hợp đồng tín nhiệm và có thể chuyển nhượng được

Có hai loại hợp đồng bảo hiểm chủ yếu:

Trang 16

Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến

hàng từ địa điểm này đến một địa điểm khác ghi trên hợp đồng bảo hiểm Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm vi một chuyến hàng Trên đó ghi rõ chi tiết về hàng hoá, sắp xếp, phương tiện vận chuyển, hành trình…

Hợp đồng bảo hiểm bao: là hợp đồng bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng

trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Hợp đồng bảo hiểm bao có thể đưa ra dự kiến tổng số tiền bảo hiểm hoặc ấn định thời hạn trong đó việc bảo hiểm hàng hoá sẽ được thực hiện có tính chất tự động, linh hoạt khi có chuyến hàng xuất khẩu hay nhập khẩu mặc dù chưa kịp khai báo và nếu vì một lý do nào

đó chưa kịp gửi giấy yêu cầu bảo hiểm mà hàng hoá đã bị tổn thất thì người bảo hiểm vẫn chịu trách nhiệm bồi thường

Trong hợp đồng bảo hiểm có điều khoản “từ kho đến kho” thể hiện thời hạn của hợp đồng bảo hiểm Theo đó, trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực

từ khi hàng hoá được bảo hiểm rời kho hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường Trách nhiệm của người bảo hiểm kết thúc tại một trong số các thời điểm sau tuỳ thuộc trường hợp nào xảy ra trước:

- Giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hoặc người khác có tên trong hợp đồng, hoặc

- Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng khác dù trước khi đến địa điểm nhận hàng ghi trong hợp đồng mà người được bảo hiểm đã chọn dùng làm nơi chia hay phân phối hàng, hoặc là nơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thường, hoặc

- Sau 60 ngày kể từ ngày hoàn thành việc dỡ hàng khỏi tàu biển hoặc

Trang 17

1.1.5 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm – V

Theo Điều 232, Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005: “Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá thị trường

ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có thể cả tiền lãi ước tính” Như vậy giá trị bảo hiểm chính là giá CIF của hàng hoá

Vậy: V = CIF + a%CIF (thường V=110%CIF, hay a = 10%CIF)

Trong đó: V: giá trị bảo hiểm

C: giá trị bản thân lô hàng I: phí bảo hiểm

F: cước phí vận chuyển

a =< 10%CIF Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường sử dụng công thức sau để xác định giá trị bảo hiểm:

Trong đó R là tỉ lệ phí bảo hiểm do công ty bảo hiểm đặt ra và tính theo phần trăm của giá trị bảo hiểm R cao hay thấp phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá, phương tiện vận chuyển hay điều kiện bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm – A

Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm Đó cũng là giới hạn trách nhiệm mà nhà

x (1 +a%)

1 – R

C + F

V =

Trang 18

Thường thì các công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm ngang giá trị hoặc là bảo hiểm dưới giá trị Nếu mà người được bảo hiểm mua bảo hiểm trên giá trị, khi tổn thất xảy ra thì người bảo hiểm vẫn chỉ bồi thường trong phạm vi

số tiền bảo hiểm Trong trường hợp bảo hiểm trùng thì trách nhiệm của các công

ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm

Phí bảo hiểm – I

Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã được thoả thuận gây nên

Phí bảo hiểm thường được tính toán dựa trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm và phải đảm bảo trang trải tiền bồi thường và có lãi

Công thức tính I: I = R A (nếu A<V) hay I = R V (nếu A=V) Khi xuất nhập khẩu theo điều kiện FOB hoặc CFR thì

Nếu xuất nhập khẩu theo điều kiện CIF hay CIP thì:

I = R 110%CIF (hoặc CIP) [11]

1.1.6 Một số nguyên tắc áp dụng

Nguyên tắc mua bảo hiểm trước

Theo nguyên tắc này, người mua bảo hiểm phải thoả thuận với công ty

bảo hiểm để mua bảo hiểm cho chuyến hàng với những điều kiện nhất định trước khi xảy ra tổn thất Nguyên tắc này dựa trên cơ sở nguyên tắc bảo hiểm một sự rủi ro chứ không bảo hiểm một sự chắc chắn, nghĩa là bảo hiểm một sự cố, tai

I = R CIF = R

1 - R

C + F

Trang 19

hoạ bất ngờ, ngẫu nhiên nằm ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm cho những rủi ro chắc chắn, đương nhiên xảy ra

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc này chỉ ra các bên liên quan tới hợp đồng bảo hiểm phải tuyệt đối thành thật, tin tưởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau Nếu bên nào vi phạm nguyên tắc này thì hợp đồng coi như vô hiệu Sự trung thực tuyệt đối thể

hiện ở những yếu tố sau:

- Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm cho người được bảo hiểm biết; không nhận bảo hiểm khi biết chuyến hàng đã đến nơi an toàn

- Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác tình trạng hàng hoá, phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về những rủi ro, mối đe doạ nguy hiểm làm gia tăng thêm rủi ro… mà mình biết hoặc đáng lẽ phải biết; không được mua bảo hiểm cho hàng hoá khi biết hàng đã bị tổn thất

Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm

Theo nguyên tắc này, người mua bảo hiểm nhất thiết phải có lợi ích bảo hiểm Lợi ích bảo hiểm là lợi ích, quyền lợi liên quan đến, gắn liền với hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Quyền lợi này

có thể đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển thì lợi ích bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất Nghĩa là khi đối tượng bảo hiểm gặp tổn thất thì người đó phải bị thiệt hại

về tài chính

Nguyên tắc bồi thường

Trang 20

Nguyên tắc này chỉ ra khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất thì người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị thế tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên

không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi

Nguyên tắc thế quyền

Theo nguyên tắc này, người bảo hiểm, sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm đi đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình Khi đó, người được bảo hiểm phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ, chứng từ… cần thiết cho người bảo hiểm [14]

1.2 Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

1.2.1 Khái niệm

Rủi ro hàng hải là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe doạ nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm Ví dụ như cháy, đắm tàu, hàng bị hư hỏng, chiến tranh, cướp biển, mất mát hàng hoá…

Sự tồn tại của rủi ro chính là cơ sở để bảo hiểm tồn tại Tuy nhiên, không phải mọi rủi ro đều được bảo hiểm mà rủi ro đó phải đáp ứng một số yêu cầu sau:

- Phải có khả năng xảy ra: đây là điều kiện quan trọng đầu tiên vì nếu rủi

ro không xảy ra, không gây hư hại, tổn thất cho hàng hoá thì không cần bảo hiểm Ví dụ như nếu hàng hoá là sắt thép thì không thể mua bảo hiểm cho hàng

dễ vỡ như đối với mặt hàng là kính được

- Phải có tính chất không xác định: tính không xác định thể hiện ở những

yếu tố như không xác định được rủi ro có xảy ra hay không, hoặc có thể xác định

Trang 21

được khả năng xảy ra rủi ro nhưng lại không biết nó sẽ xảy ra vào thời điểm nào, hoặc có thể xác định được thời điểm xảy ra rủi ro nhưng lại không xác định được mức độ tổn thất mà hàng hoá gặp phải Ví dụ như hao hụt về nhiên liệu của tàu chở hàng trong hành trình đi biển là yếu tố tất nhiên, không mang tính không xác định nên không được bảo hiểm

- Phải có tính chất có thể xảy ra trong tương lai: nghĩa là khi ký kết hợp

đồng bảo hiểm thì đối tượng bảo hiểm chưa gặp rủi ro Nếu rủi ro đối với hàng hoá đã xảy ra hoặc rủi ro đã bị huỷ bỏ thì hợp đồng không còn hiệu lực

- Phải có tính hợp pháp: công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường cho

những rủi ro không hợp pháp như buôn lậu, hành vi cố ý của thuyền trưởng hay thuyền viên gây thiệt hại hàng hoá

1.2.2 Phân loại rủi ro

Có rất nhiều loại rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tuỳ thuộc vào mỗi cách phân chia Sau đây là một số loại rủi ro chủ yếu:

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh

- Thiên tai (Act of God): là những hiện tượng tự nhiên mà con người

không chi phối được như biển động, bão tố, sóng thần, mưa đá, bùn trôi… Tuy nhiên để xác định các hiện tượng tự nhiên này có phải là thiên tai hay không cần phải dựa vào các tiêu chuẩn của các ngành chuyên môn khí tượng, thuỷ văn

- Tai hoạ của biển (Perils of the Sea): là những tai nạn xảy ra đối với tàu

ở ngoài biển như đâm va, mắc cạn, cháy nổ, tàu bị mất tích… Các rủi ro này còn được gọi là rủi ro chính

Trang 22

- Các tai nạn bất ngờ khác: là những tai hoạ ngẫu nhiên bên ngoài không

thuộc những tai hoạ của biển nói trên Tai nạn này có thể xảy ra trên biển, trên

bộ, trên sông, trong quá trình vận chuyển, bốc dỡ… như hàng bị cong, bẹp, mất trộm… (được gọi là rủi ro phụ)

- Rủi ro do các hiện tượng chính trị - xã hội hoặc do lỗi của người được

bảo hiểm gây ra như rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố…

- Rủi ro do bản chất hoặc tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm: như

nội tỳ, ẩn tỳ hoặc những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ

Căn cứ vào khía cạnh bảo hiểm

- Rủi ro thông thường được bảo hiểm: bao gồm cả rủi ro chính và rủi ro

phụ, thường được bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm A, B, C Theo các điều kiện bảo hiểm hiện hành thì có 6 điều kiện bảo hiểm chính là FPA, WA, AR, A,

B, C (ICC 1963, ICC 1982) Trong đó các rủi ro tàu bị mắc cạn, chìm đắm, đâm

va và rủi ro cháy nổ là các rủi ro được bảo hiểm trong tất cả các điều kiện bảo hiểm hàng hoá Các rủi ro vứt hàng xuống biển, tàu mất tích và rủi ro phụ chỉ được bảo hiểm trong các điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất như AR, A

- Rủi ro phải bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì

phải thoả thuận thêm, thoả thuận riêng chứ không được bồi thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc A, B, C, bao gồm các rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố

- Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro mà trong mọi trường hợp

người bảo hiểm không nhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp như buôn lậu, nội tỳ/ẩn tỳ của hàng hoá, hao hụt tự nhiên [14]

1.3 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

1.3.1 Khái niệm

Trang 23

Tổn thất là những thiệt hại, hư hỏng, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro gây ra Nếu rủi ro là mối đe dọa, là nguyên nhân gây ra tổn thất thì tổn thất chính là cái đã xảy ra rồi và là hậu quả của rủi ro Ví dụ như hàng bị giông tố cuốn trôi mất một phần; hàng bị ngấm nước dẫn đến bị thối, mốc; hàng bị đổ vỡ,

gỉ sét…

Tổn thất chính là điều gây nhiều lo lắng, quan ngại đối với các thương nhân khi thực hiện các chuyến hàng chuyên chở bằng đường biển Vì tổn thất có thể làm cho lợi nhuận của họ trong thương vụ làm ăn bị giảm thậm chí là mất trắng toàn bộ lô hàng đó Và do vậy các nhà xuất nhập khẩu đã tìm đến bảo hiểm

để nhằm giảm bớt thiệt hại khi có rủi ro xảy ra

1.3.2 Phân loại tổn thất

Cũng như rủi ro có rất nhiều loại khác nhau, tổn thất đối với hàng hoá chuyên chở bằng đường biển cũng đa dạng và phức tạp không kém Có nhiều tiêu chí để phân loại các tổn thất, dưới đây là hai cách phân chia phổ biến nhất:

Căn cứ vào mức độ của tổn thất:

- Tổn thất bộ phận (Partial Loss): là một phần của đối tượng bảo hiểm

theo hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại vế số lượng, trọng lượng, phẩm chất, giá trị Ví dụ như một lô hàng linh kiện điện điện tử có 50 kiện thì bị mất 5 kiện; lô hàng cùi dừa bị ẩm mốc mất một phần, cháy một phần…

- Tổn thất toàn bộ (Total Loss): là toàn bộ đối tượng của hợp đồng bảo

hiểm bị hư hỏng, thiệt hại, mất mát Có hai loại:

+ Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn đối tượng bảo hiểm theo một hợp

đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới bảo hiểm nữa hay là bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa Ví

dụ như tàu hàng bị mất tích, tàu chở cơm dừa bị đắm khiến cho hàng bị ẩm mốc,

Trang 24

thối không thể sử dụng được nữa… Trong trường hợp này người bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm

+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là tổn thất chưa đến mức tổn thất toàn bộ

nhưng dù có dùng biện pháp và chi phí hợp lý vẫn không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế, hoặc nếu có bỏ ra các chi phí để cứu giúp các hàng này thì các chi phí có thể lớn hơn giá trị hàng tại cảng đến Trong trường hợp này nếu cứ tiếp tục hợp đồng thì đều không có lợi cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm, vì chắc chắn là tổn thất toàn bộ thực tế sẽ xảy ra Do đó, theo tập quán và các quy tắc thì người được bảo hiểm trong tình huống này có quyền từ bỏ hàng

để được coi là tổn thất toàn bộ thực tế

Từ bỏ hàng là một hành động của người được bảo hiểm từ bỏ mọi quyền lợi liên quan đến hàng hoá cho người bảo hiểm trong trường hợp tổn thất toàn bộ ước tính để được bồi thường toàn bộ Khi từ bỏ hàng, người bảo hiểm chấp nhận thì quyền sở hữu về hàng sẽ được chuyển sang cho người bảo hiểm và người bảo hiểm phải bồi thường như đối với hàng bị tổn thất toàn bộ thực tế

Căn cứ vào tính chất của tổn thất:

- Tổn thất riêng (TTR): là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho riêng quyền lợi

của một vài chủ sở hữu đối với tài sản trong hành trình vận chuyển trên biển Đó

có thể là tổn thất bộ phận hay toàn bộ, có thế xảy ra ở bất kỳ đâu chứ không chỉ trên biển

- Tổn thất chung (TTC): là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến

hành một cách cố ý và hợp lý nhằm cứu tàu, cước phí và hàng hoá trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng

Tổn thất được xem là tổn thất chung khi nó phát sinh từ hành động tổn thất chung – hành động xảy ra vì an toàn chung của số đông quyền lợi có mặt

Trang 25

trên tàu và nó chính là sự hi sinh quyền lợi của số ít nhằm cứu vãn những tài sản còn lại trong tai nạn Một tổn thất chung có các đặc trưng như phải là hành động

tự nguyện, hữu ý của thuyền viên, thuyền trưởng trên tàu; sự hy sinh phải là đặc biệt, phi thường; sự hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất

cả các quyền lợi trong hành trình; tai hoạ phải thực sự xảy ra và nghiêm trọng; mất mát thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổn thất chung; xảy ra ở trên biển…

Tổn thất chung được chia làm hai bộ phận là hy sinh tổn thất chung và chi phí tổn thất chung

Hy sinh tổn thất chung: đó là sự hy sinh một phần tài sản để cứu những tài

sản còn lại Ví dụ như tàu bị mắc cạn phải vứt bớt hàng xuống biển để làm nhẹ tàu, tránh mắc cạn và phần hàng hoá bị vất xuống biển đó gọi là hy sinh tổn thất chung Các dạng hy sinh tổn thất chung thường gặp bao gồm: tàu bị mắc cạn, hàng hoá bị cháy, bị cướp biển truy đuổi…

Chi phí tổn thất chung: là những chi phí liên quan đến hành động tổn thất

chung như chi phí hoa tiêu, chi phí bốc dỡ lưu kho hàng hoá, chi phí thuê tàu lai dắt… Vậy chi phí tổn thất chung là chi phí cho người thứ ba trong việc cứu tàu, hàng và cước phí thoát nạn hoặc chi phí làm tiếp tục hành trình

Khi xảy ra tổn thất chung thì việc phân bổ tổn thất chung là một công việc hết sức quan trọng nhằm xác định mức độ thiệt hại, bồi thường cho các bên đã thực hiện hành động cứu vãn hành trình đồng thời xác định trách nhiệm của các bên có hàng và quyền lợi được cứu Phân bổ tổn thất chung có 5 Bước sau:

+ Bước 1: Xác định giá trị tổn thất chung

Giá trị TTC = Hy sinh TTC + Chi phí TTC

Trang 26

+ Bước 2: Xác định giá trị chịu phân bổ TTC: là giá trị của toàn bộ lô

hàng và tàu tại thời điểm xảy ra TTC Có 2 cách:

Cách 1 = Giá trị tàu và hàng khi rời bến – TTR của tài sản xảy ra trước TTC Cách 2 = Giá trị cứu được của tàu và hàng – Hy sinh TTC

+ Bước 3: Xác định tỷ lệ phân bổ TTC

+ Bước 4: Số tiền đóng góp TTC của các bên

+ Bước 5: Xác định kết quả tài chính

[14]

1.4 Vai trò của bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển

Hàng hoá xuất nhập khẩu chủ yếu là được chuyên chở bằng đường biển, lượng hàng cũng như giá trị của mỗi chuyến hàng thường là rất cao nên khi gặp rủi ro trong quá trình vận chuyển thì gây ra tổn thất và thiệt hại lớn đối với các bên có liên quan đến chuyến hàng đó (người nhập khẩu, người xuất khẩu, người bảo hiểm…) Vì vậy mua bảo hiểm là một biện pháp được sử dụng chủ yếu để giảm thiểu rủi ro và tổn thất

Qua thực tiễn của hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển, vai trò của nghiệp vụ này thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Góp phần bù đắp hậu quả do rủi ro gây ra, ổn định hoạt động sản

xuất kinh doanh của các bên

Giá trị chịu phân bổ TTC Giá trị TTC

x Tỷ lệ phân bổ TTC Giá trị chịu phân bổ

Chi phí TTC của từng bên –

Hy sinh TTC của từng bên

Trang 27

Trong hành trình vận chuyển, chuyến hàng có thể gặp rủi ro, gây ra tổn thất cho hàng hoá (thiếu hụt, mất mát về số lượng; giảm phẩm chất; giảm giá trị thương mại của lô hàng…), do đó ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh, đặc biệt

là lợi nhuận của các bên liên quan Nếu đã mua bảo hiểm cho chuyến hàng bị tổn thất đó, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường theo hợp đồng, do vậy các bên

có thể ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách nhanh chóng

Bảo hiểm còn có tác dụng hạn chế, đề phòng tổn thất

Trong quá trình giám định bồi thường, người bảo hiểm luôn thống kê, ghi chép lại những nguyên nhân, loại tổn thất và tìm ra các biện pháp phù hợp để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại đối với từng loại hàng hoá Do đó, công ty bảo hiểm có thể dự đoán và thông báo các rủi ro, thiên tai có thể gặp đối với một hành trình để các bên tham gia bảo hiểm biết và phòng tránh Bên cạnh đó, người được bảo hiểm và người chuyên chở cũng phải nâng cao trách nhiệm của mình trong việc bảo quản, chăm sóc hàng hoá trong hành trình và khi xảy ra tổn thất để đảm bảo sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm

Hai vai trò trên có thể nói là vai trò lớn nhất và quan trọng nhất của hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển Bên cạnh

đó dịch vụ kinh doanh bảo hiểm còn có một số vai trò khác như:

Bảo hiểm có khả năng tập trung vốn và tiến hành đầu tư vào các lĩnh

vực khác

Doanh thu của nhà bảo hiểm chủ yếu là từ các khoản phí bảo hiểm và chi phí là số tiền để thực hiện bồi thường cho các tổn thất được bảo hiểm Do có độ chênh về thời điểm thu phí bảo hiểm và thực hiện thanh toán bồi thường nên số tiền mà công ty bảo hiểm thu được trở thành nguồn vốn nhàn rỗi trong thời gian

Trang 28

đó và không phải tất cả các trường hợp mua bảo hiểm đều phải bồi thường nên nguồn vốn này được đem đầu tư vào các lĩnh vực khác

Góp phần tăng thu ngân sách nhà nước

Thông qua số thuế mà công ty nộp vào Ngân sách Nhà nước dựa trên lợi nhuận hàng năm của công ty, bảo hiểm trong nước còn góp phần tăng thu, giảm chi ngoại tệ - hạn chế thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia

II GIÁM ĐỊNH TỔN THẤT HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

Trong bảo hiểm hàng hoá, sản phẩm của bảo hiểm hàng hoá là vô hình, mang tính trừu tượng, thể hiện là giấy chứng nhận bảo hiểm trong đó có ghi nhận sự cam kết bồi thường của nhà bảo hiểm khi có tổn thất phát sinh Khi tổn thất xảy ra thì trách nhiệm của nhà bảo hiểm hay chính là “sản phẩm” của bảo hiểm mới thể hiện rõ thông qua nghiệp vụ giám định và bồi thường tổn thất hàng hoá Đây là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện chất lượng “sản phẩm” của dịch vụ bảo hiểm của công ty bảo hiểm, khi đó người tham gia bảo hiểm mới cảm nhận rõ ràng được sản phẩm mà mình đã mua của công ty bảo hiểm

Công tác giám định giúp nhà bảo hiểm và các bên liên quan xác định rõ được mức độ, nguyên nhân tổn thất, đồng thời góp phần làm hạn chế tổn thất phát sinh

2.1 Khái niệm và mục đích

2.1.1 Khái niệm

Giám định tổn thất hàng hoá là công việc quan trọng trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Trang 29

Giám định tổn thất hàng hoá là nghiệp vụ do chuyên viên giám định, người bảo hiểm hoặc công ty giám định do người bảo hiểm uỷ quyền nhằm đánh giá, phân tích, xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất, giảm giá trị thương mại của hàng hoá, lấy đó làm cơ sở cho việc tính toán, chi trả tiền bồi thường tổn thất [14]

Việc giám định được thực hiện khi hàng hoá bị hư hỏng, đổ vỡ, mất mát, giảm phẩm chất… khi đến cảng đến hoặc ở cảng dọc đường và do người được bảo hiểm yêu cầu Còn đối với các tổn thất do đắm tàu, mất tích thì không cần và cũng không thể tiến hành giám định

Những người thực hiện giám định hàng hoá tổn thất trong vận chuyển bằng đường biển được gọi là các giám định viên hàng hải Công việc của giám định viên hàng hải là ghi nhận một cách trung thực tình trạng của hàng hoá, đánh giá mức độ tổn thất, thiệt hại và tìm ra nguyên nhân chính xác gây ra tổn thất đó Bên cạnh đó, giám định viên phải đề xuất các biện pháp thích hợp để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, hạn chế tổn thất gia tăng và thông báo kịp thời tình hình cho người bảo hiểm và lập Biên bản giám định Giám định viên cũng có vai trò hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục để thực hiện việc khiếu nại đòi bồi thường

Kết quả của công tác giám định ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các bên liên quan trong việc thực hiện bồi thường, do đó việc giám định đòi hỏi phải được thực hiện một cách khách quan, nghiêm túc, nhanh chóng Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ giám định viên hàng hải phải có năng lực chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn, phải trung thực, công minh, làm việc có trách nhiệm, và phải có sự hợp tác tích cực giữa các bên có liên quan

2.1.2 Mục đích của công tác giám định

Trang 30

Công tác giám định được thực hiện khi hàng hoá bị tổn thất nhằm các mục đích sau:

- Giám định tổn thất hàng hoá nhằm xác định và chứng nhận loại tổn thất, mức độ tổn thất, nguyên nhân và thời gian tổn thất xảy ra đồng thời hỗ trợ cho khiếu nại bảo hiểm Ví dụ khi hàng đến cảng đến và phát hiện ra hàng bị ẩm, vón cục khi đó giám định viên cần tìm xem hàng bị ẩm là do nước biển tràn vào hay

do hệ thống thông hơi trên tàu kém, xác định xem có bao nhiêu bao kiện bị ẩm, vón cục và giá trị thương mại của hàng bị tổn thất đó bị giảm bao nhiêu…

- Trong quá trình thực hiện giám định, giám định viên đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế tổn thất gia tăng, tiến hành sửa chữa hàng hư hỏng và góp ý

về thị trường mà hàng bị tổn thất loại đó có thể tiêu thụ vì họ là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc này

- Đánh giá xem các chi phí sửa chữa, khắc phục tổn thất có đúng mức và hợp lý không nhằm ngăn chặn trường hợp trục lợi bảo hiểm như: khai tăng giá trị tổn thất, hợp lý hoá ngày sự kiện bảo hiểm xảy ra để được bồi thường…

Với những mục đích và vai trò trên có thể khẳng định một lần nữa là công tác giám định rất quan trọng trong hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển khi có tổn thất xảy ra

2.2 Quy trình thực hiện giám định tổn thất hàng hoá

Khi tổn thất xảy ra tại cảng đến hoặc bất kỳ cảng dọc đường nào thì người được bảo hiểm phải nhanh chóng gửi thông báo tình hình tổn thất tới công ty hoặc đại lý giải quyết khiếu nại của công ty bảo hiểm tại cảng đó Đồng thời chuẩn bị mọi giấy tờ, chứng từ cần thiết, bản yêu cầu giám định gửi tới đại lý giám định của cơ quan bảo hiểm ở đó để được giám định và đánh giá tổn thất đối

Trang 31

với hàng hoá Khi nhận được yêu cầu giám định của người được bảo hiểm, công việc của đại lý giám định tiến hành theo trình tự sau:

2.2.1 Chấp nhận yêu cầu giám định

Sau khi nhận được yêu cầu giám định của người được bảo hiểm, cơ quan giám định phải tiến hành kiểm tra xem có chấp nhận yêu cầu giám định không

căn cứ vào các yếu tố:

- Thời gian hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

- Hàng bị tổn thất có thuộc phạm vi của đối tượng bảo hiểm hay không

- Tổn thất là do rủi ro đã được bảo hiểm gây ra hay là rủi ro loại trừ Nếu kiểm tra thấy không phù hợp phải thông báo ngay cho người được bảo hiểm để họ có biện pháp xử lý khác Nếu đã phù hợp thì cần kiểm tra có đủ các giấy tờ, chứng từ theo quy định chưa, thông báo cho bên yêu cầu giám định

bổ sung hồ sơ cho đầy đủ và thông báo là chấp nhận giám định, gửi giám định viên đến để giám định

2.2.2 Tiến hành giám định

Phương pháp giám định

Căn cứ vào yêu cầu giám định, loại hàng hoá bị tổn thất, loại tổn thất… người bảo hiểm sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất Trong thực tế thường có 3 phương pháp giám định sau:

- Phương pháp giám định cảm quan: sử dụng các giác quan của con

người để kiểm đếm, ngửi mùi vị, nhìn tình trạng hàng hoá bị hoen gỉ, lây bẩn, ngấm nước, mối mọt để đánh giá mức độ giảm giá trị sử dụng hoặc giá trị thương mại của hàng hoá Yêu cầu giám định viên phải có kinh nghiệm lành nghề

Trang 32

- Phương pháp giám định điều tra chọn mẫu: áp dụng toán xác suất

thống kê bằng cách lấy một số ít hàng hoá có tính chất điển hình để xác định mức độ tổn thất và kết luận chung cho cả lô hàng Thường sử dụng cho lô hàng

có tổn thất đồng đều, khối lượng lớn và phải có sự thoả thuận nhất trí với người được bảo hiểm

- Phương pháp giám định đo lường tính toán: dùng máy móc, thiết bị đo

lường để kiểm tra khối lượng và chất lượng của hàng hoá Phương pháp này tốn kém và mất thời gian nhưng kết quả chính xác hơn

Tuỳ từng tổn thất mà áp dụng một hay kết hợp cả 3 phương pháp trên để

có kết quả chính xác và nhanh chóng nhất

Chuẩn bị giám định

Cơ quan giám định xác định thời gian, địa điểm và phương pháp giám định sao cho phù hợp nhất Sau đó tiến hành cử giám định viên hàng hải, có thể mời thêm các chuyên gia, cơ quan giám định khác và các bên liên quan (chủ hàng, chủ tàu, hải quan…) tham gia giám định trên nguyên tắc giám định đối tịch

Trình tự thực hiện giám định

Khi đến hiện trường nơi có hàng hoá bị tổn thất, giám định viên tiến hành như sau:

- Giám định hiện trường nơi xảy ra tổn thất: xem hiện trường có giữ

nguyên hay không, kiểm tra phương tiện vận chuyển, điều kiện hầm hàng, cách sắp xếp hàng hoá, trực tiếp tìm hiểu những người liên quan (chủ phương tiện, người áp tải, chủ hàng…) Hướng dẫn chủ hàng tiến hành các biện pháp để hạn chế tổn thất và làm dự kháng khiếu nại với bên thứ 3 có trách nhiệm

Trang 33

- Giám định bên ngoài kiện hàng: kiểm tra tên hàng, ký mã hiệu trên bao

bì xem có đúng, đủ theo quy định không; quy cách đóng gói bao bì, chất lượng bao bì có an toàn, phù hợp với hàng hoá và tính chất vận chuyển không

- Giám định bên trong hàng hoá: bao gồm giám định cách sắp xếp, chèn

lót hàng hoá trong kiện hàng hay hầm hàng, tính chất hàng hoá và các dấu vết biểu hiện hàng hoá bị mất, mốc, mối mọt, vật lạ bên trong

- Xác định mức độ và phân loại tổn thất: căn cứ vào phương pháp giám

định để xác định tổn thất về số lượng, khối lượng, phẩm chất, trang trí bên ngoài

và bao bì, xác định mức độ giảm giá trị thương mại của hàng hoá Phân loại xem tổn thất đó là tổn thất toàn bộ hay là bộ phận Từ đó tìm biện pháp xử lý hàng tổn thất để tránh thiệt hại tiếp theo Ngoài ra cần xác định các chi phí liên quan đến hàng hoá bị tổn thất như chi phí cứu vớt hàng, chỉnh lý, sửa chữa, đóng gói…

- Xác định nguyên nhân gây ra tổn thất: xác định người chịu trách nhiệm

gây ra tổn thất cho hàng hoá dựa trên các chứng cứ, thông tin thu được trong khi giám định Các kết luận này không được vội vã đưa ra một cách thiếu cơ sở khoa học mà phải chỉ rõ là do ai gây ra để phân chia trách nhiệm cho chính xác Ví dụ nếu hàng bị han gỉ thì có thể do một số nguyên nhân sau: do nước biển, nước mưa, nước ngọt, không khí ẩm, tàu bị hấp hơi, hàng hấp hơi…

2.2.3 Lập chứng thư giám định

Khi tiến hành giám định xong, giám định viên tiến hành lập biên bản báo cáo lại quá trình giám định, kết quả giám định, biên bản đó được gọi là chứng thư giám định hay là biên bản giám định

Chứng thư giám định là báo cáo chi tiết của giám định viên về kết quả của việc giám định hàng tổn thất Chứng thư giám định do công ty bảo hiểm hoặc đại

lý uỷ quyền của công ty bảo hiểm lập dưới sự chứng kiến của các bên liên quan

Trang 34

trách nhiệm của các bên liên quan được xác định Dựa vào đó, công ty bảo hiểm tiến hành bồi thường cho người được bảo hiểm và người được bảo hiểm lấy đó là căn cứ để thực hiện khiếu nại đòi bồi thường đối với công ty bảo hiểm

Nội dung của chứng thư giám định phải thể hiện tính trung thực, chính xác

rõ ràng, súc tích, thực tế và được sắp xếp theo trình tự thời gian Các kết luận trong chứng thư giám định phải cụ thể và có cơ sở khoa học và thường bao gồm các nội dung chủ yếu:

- Thông tin về thời gian, địa điểm tiến hành giám định; các bên tham gia giám định

- Mô tả hàng hoá, phương tiện vận chuyển bị tổn thất khi đến nơi giám định; những diễn biến xảy ra trước và sau sự cố

- Những hồ sơ tài liệu, chứng cớ thu thập được trong khi giám định

- Mô tả tình trạng hàng hoá vào thời điểm giám định

- Kết luận về mức độ tổn thất và nguyên nhân tổn thất

- Một số nhận định, đề xuất với chuyến hàng tiếp theo hoặc về việc tiến hành đòi người thứ ba

Cần chú ý là biên bản giám định này cần phải được gửi tới cơ quan khiếu nại của công ty bảo hiểm để tiến hành đòi bồi thường trong thời hạn khiếu nại cùng với các giấy tờ, chứng từ khác [18]

III BỒI THƯỜNG TỔN THẤT HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

3.1 Khiếu nại đòi bồi thường tổn thất

Khi tổn thất xảy ra đối với hàng hoá trong hành trình vận chuyển, người được bảo hiểm phải nhanh chóng thông báo ngay cho đại lý giải quyết khiếu nại nếu hư hỏng, mất mát đối với hàng hoá có thể được bồi thường Sau khi đã có

Trang 35

kết quả giám định, người bảo hiểm cần tiến hành khiếu nại để được bồi thường Thông thường hồ sơ khiếu nại bao gồm các chứng từ, giấy tờ khác nhau tuỳ thuộc vào loại tổn thất và người được bảo hiểm phải chứng minh bằng văn bản các yếu tố sau:

- Người khiếu nại có lợi ích bảo hiểm;

- Hàng hoá hư hỏng hoặc mất mát đã được bảo hiểm;

- Tổn thất thuộc một rủi ro đã được bảo hiểm;

- Hư hỏng hoặc mất mát xảy ra trong thời hiệu của bảo hiểm;

- Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm;

- Mức độ tổn thất đối với hàng hoá;

- Số tiền bồi thường;

- Đảm bảo người bảo hiểm có thể đòi người thứ ba bồi thường

Các chứng từ có trong hồ sơ khiếu nại bao gồm:

- Đơn bảo hiểm hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm;

- Vận đơn đường biển bản gốc và Hợp đồng thuê tàu (nếu có);

- Bản gốc hoặc bản sao Hoá đơn thương mại;

- Hoá đơn về các chi phí khác (nếu có);

- Giấy chứng nhận số lượng, trọng lượng;

- Biên bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC);

- Phiếu đóng gói (bản chính);

- Kháng nghị hàng hải hoặc Nhật ký hàng hải;

- Thư khiếu nại có ghi rõ số tiền yêu cầu bồi thường

Ngoài ra còn có thể có các giấy tờ sau: Biên bản giám định, Thư dự kháng, Biên bản dỡ hàng, Giấy chứng nhận hàng thiếu do đại lý tàu biển cấp, Văn bản tuyên bố tổn thất chung của Thuyền trưởng, Bản tính toán, phân bổ tổn

Trang 36

Để khiếu nại có hiệu lực thì phải chú ý đến thời hạn khiếu nại (2 năm kể

từ ngày có tổn thất hoặc phát hiện tổn thất); tuy nhiên bộ hồ sơ khiếu nại phải gửi đến cho Công ty bảo hiểm trong vòng 9 tháng để người bảo hiểm còn kịp thời khiếu nại các bên liên quan [11]

3.2 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc trong bồi thường tổn thất

3.2.1 Khái niệm và vai trò của bồi thường tổn thất

“Sản phẩm” cuối cùng của bảo hiểm chính là bồi thường, một công việc được tiến hành khi có tổn thất xảy ra đối với đối tượng được bảo hiểm Do đó có thể hiểu bồi thường là sự đền bù chính xác về tài chính đủ để khôi phục tình trạng tài chính ban đầu của người được bảo hiểm như trước khi xảy ra tổn thất

Qua thực tế có thể thấy bồi thường có vai trò rất lớn đối với người được bảo hiểm, người bảo hiểm và cả đối với nền kinh tế nói chung

- Đối với người được bảo hiểm: bồi thường góp phần giảm thiểu tổn thất

mà họ gặp phải, nhanh chóng khôi phục lại tình hình tài chính giúp họ tiếp tục sản xuất kinh doanh và hoạt động Có thể nhận thấy đây chính là mục đích chính của người được bảo hiểm khi tiến hành mua bảo hiểm

- Đối với người bảo hiểm: bồi thường thể hiện chất lượng sản phẩm, dịch

vụ của họ Nếu họ thực hiện bồi thường đúng, đầy đủ và nhanh chóng thì góp phần nâng cao uy tín cho dịch vụ của họ, nói cách khác chính là cho công ty bảo hiểm

- Đối với xã hội và nền kinh tế: bồi thường giúp cho hoạt động sản xuất

kinh doanh, buôn bán không bị gián đoạn

3.2.2 Nguyên tắc trong bồi thường tổn thất

Trang 37

Việc thực hiện bồi thường hàng hoá của các công ty bảo hiểm thường tuân theo các nguyên tắc sau:

Bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng hiện vật

Đồng tiền bồi thường là đồng tiền được các bên thoả thuận trong hợp đồng Trong trường hợp không có thoả thuận thì nộp phí bảo hiểm bằng loại tiền

tệ nào thì bồi thường bằng loại tiền đó

Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền

bảo hiểm

Tuy nhiên nếu số tiền bồi thường tổn thất cộng với các chi phí cứu hộ, chi phí đã bỏ ra để cứu vớt hàng hoá, chi phí đánh giá và bán lại hàng hoá, chi phí giám định thì dù có nhiều hơn số tiền bảo hiểm người bảo hiểm vẫn phải bồi thường

Khi thanh toán tiền bồi thường tổn thất chung, người bảo hiểm có thể

khấu trừ những khoản thu nhập mà người được bảo hiểm đã đòi được ở người thứ ba

Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng trong việc thanh toán tiền bồi thường tổn thất chung Tránh hiện tượng trục lợi trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, người được bảo hiểm vừa được bên thứ ba bồi thường vừa được người bảo hiểm bồi thường

Ngoài ra, trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá còn có nguyên tắc bồi thường dựa trên “mức miễn thường” Nghĩa là khi tổn thất xảy ra đạt và vượt mức miễn thường thì người bảo hiểm sẽ bồi thường Nếu tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường thì người tham gia bảo hiểm sẽ gánh chịu Mức miễn thường gồm

có hai loại:

Trang 38

- Miễn thường có khấu trừ: nếu tổn thất đạt và vượt mức miễn thường thì người bảo hiểm phải thanh toán

Số tiền bồi thường = Tổn thất thực tế - Mức miễn thường

- Mức miễn thường không có khấu trừ: nếu tổn thất đạt mức miễn thường thì bảo hiểm sẽ bồi thường

Số tiền bồi thường = Tổn thất thực tế

Tuỳ từng loại hàng hoá có mức miễn thường khác nhau phụ thuộc vào đặc tính và bản chất của hàng đó Ví dụ: mức miễn thường có khấu trừ đối với phân bón xác định trọng lượng bằng phương pháp đo mớn nước là 0,3%

3.3 Cách tính toán bồi thường tổn thất

Sau khi xác định được nguyên nhân, mức độ tổn thất và trách nhiệm thuộc

về người bảo hiểm - mặt định tính – thì công việc tiếp theo của người bảo hiểm

là xác định mức độ tổn thất và tính toán số tiền bồi thường của người bảo hiểm - mặt định lượng Đây là công việc rất quan trọng có tính chất quyết định đến mức

độ bù đắp của người bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hoá được bảo hiểm

3.3.1 Tổn thất bộ phận

Tổn thất chung

Cách tính toán phân bổ tổn thất chung đã được nêu ở phần trên và công việc này do Lý toán sư thực hiện Do vậy, công ty bảo hiểm trong trường hợp này không cần tính toán lại mà chỉ cần xem xét và kiểm tra lại kết quả của Lý toán sư Nếu không có gì trái ngược hoặc không hợp lý thì người bảo hiểm sẽ tiến hành bồi thường giá trị tổn thất chính là trị giá phải đóng góp của hàng hoá

đã được cứu theo tính toán của Lý toán sư

Tổn thất riêng

Trang 39

Nếu không thoả thuận được sự giảm giá, có thể tiến hành bán đấu giá hàng tổn thất để xác định sự khác nhau giữa giá hàng tốt và giá hàng bị tổn thất

- Trường hợp một phần hàng hoá bị tổn thất toàn bộ:

Giá trị tổn thất là một phần của số tiền bảo hiểm ghi trong đơn bảo hiểm:

- Trường hợp hàng hoá bị tổn thất được bán tại cảng dọc đường:

Khi hàng hoá bị tổn thất và theo tính toán thì nếu cứ tiếp tục chở hàng tới cảng đích thì không kinh tế và có thể gây hại cho các hàng hoá khác, thuyền trưởng có thể cho bán hàng tại cảng dọc đường theo yêu cầu của giám định viên

Trang 40

3.3.2 Tổn thất toàn bộ

Đối với tổn thất toàn bộ thực tế

Người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm (nếu mua bảo hiểm dưới giá trị)

Đối với tổn thất toàn bộ ước tính

- Trường hợp 1: Nếu người được bảo hiểm có thông báo từ bỏ hàng và

được người bảo hiểm chấp nhận thì sẽ được bồi thường như đối với tổn thất toàn

bộ thực tế

- Trường hợp 2: Nếu người được bảo hiểm không từ bỏ hàng hoặc từ bỏ

nhưng người bảo hiểm không chấp nhận thì bồi thường như tổn thất bộ phận

3.3.3 Các chi phí được bảo hiểm bồi thường

Trong quá trình cứu vớt hàng tổn thất, hạn chế thiệt hại thì người được bảo hiểm có thể phải bỏ ra một số chi phí và chi phí đó có thể được bồi thường Người giải quyết khiếu nại bồi thường phải bóc tách được các chi phí không được bồi thường với các chi phí được bồi thường Những chi phí được bồi thường phải là hậu quả trực tiếp của một rủi ro được bảo hiểm, bao gồm các chi phí như:

Ngày đăng: 07/05/2014, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2007), Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2006, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2007
2. Chính phủ (2003), QĐ 175/2003/QĐ-TTg về phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: QĐ 175/2003/QĐ-TTg về phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
7. Đỗ Hữu Vinh (2003), Bảo hiểm và Giám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm và Giám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2003
9. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2007), Cẩm nang bảo hiểm Phi nhân thọ, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bảo hiểm Phi nhân thọ
Tác giả: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2007
11. Hoàng Văn Châu (2006), Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, (trang 5 – 63), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Xã hội
Năm: 2006
12. Hồ Thuỷ Tiên (2007), Bảo hiểm hàng hải, Nhà xuất bản Tài chính, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm hàng hải
Tác giả: Hồ Thuỷ Tiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2007
13. Nguyễn Văn Định (2005), Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm, Nhà xuất bản Thống kê, (trang 423 – 485), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
14. Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Quốc hội ban hành (2000), Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Quốc hội ban hành
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
18. Trương Mộc Lâm (2002), Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hoá, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.II. Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hoá
Tác giả: Trương Mộc Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
3. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (2007), Bản cáo bạch Khác
4. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (2007), Quy trình giám định bảo hiểm hàng hoá QT.26.2 Khác
5. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (2007), Quy trình bồi thường bảo hiểm hàng hoá QT.26.3 Khác
6. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex, Báo cáo thường niên (2006, 2007, 2008) Khác
8. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2007), Báo cáo hoạt động Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam năm 2007 Khác
10. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2007), Thống kê bảo hiểm Phi nhân thọ năm 2007 Khác
16. Quốc hội ban hành (2005), Bộ luật Hàng hải Việt Nam Khác
17. Tạp chí Bảo hiểm – Tái bảo hiểm (Số 1 tháng 2/2008), Bảo hiểm hàng hoá 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PJICO - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PJICO (Trang 44)
Bảng 1: Doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm tại PJICO giai đoạn 2006 – 2008 - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Bảng 1 Doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm tại PJICO giai đoạn 2006 – 2008 (Trang 46)
Bảng 3: Tình hình bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK tại PJICO - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Bảng 3 Tình hình bồi thường bảo hiểm hàng hoá XNK tại PJICO (Trang 53)
Sơ đồ 2: Quy trình Giám định tổn thất hàng hoá tại PJICO - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Sơ đồ 2 Quy trình Giám định tổn thất hàng hoá tại PJICO (Trang 56)
Sơ đồ 3: Quy trình bồi thường tổn thất hàng hoá tại PJICO - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Sơ đồ 3 Quy trình bồi thường tổn thất hàng hoá tại PJICO (Trang 61)
Bảng 4: Các yếu tố tác động tới công tác bồi thường của PJICO - Đánh giá công tác bồi thường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển tại văn phòng công ty Pjico hà nội giai đoạn 2006-2008 và định hướng giai đoạn mới
Bảng 4 Các yếu tố tác động tới công tác bồi thường của PJICO (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w