1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại

102 1,9K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Tác giả Đinh Thị Hải Hồng
Người hướng dẫn ThS. Phan Trần Trung Dũng
Trường học Trường đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại khái quát những vấn đề cơ bản về lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại, thực trạng kiểm soát rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại hiện nay; giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển việc sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Hà Nội - 05/2010

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 3

1.1.Một số khái niệm 3

1.2.Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội 3

2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng 4

2.1.Một số khái niệm liên quan đến lãi suất 4

2.1.1.Khái niệm lãi suất 4

2.1.2 Phân loại lãi suất 5

2.2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng 6

2.2.1.Khái niệm rủi ro lãi suất 6

2.2.2 Các loại rủi ro lãi suất 7

2.2.2.1 Rủi ro kì hạn bất cân xứng 7

2.2.2.2.Rủi ro quyền chọn đi kèm 8

2.2.2.3.Rủi ro cơ bản 9

2.2.2.4.Rủi ro đường cong lãi suất thay đổi 9

3.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất 10

3.1.Giới thiệu về các công cụ chứng khoán phái sinh 10

3.1.1.Khái niệm về hợp đồng phái sinh 10

3.1.2.Các loại hợp đồng phái sinh cơ bản 11

3.1.2.1 Hợp đồng tương lai (Futures) 11

3.1.2.2.Hợp đồng kì hạn ( Forward ) 12

3.1.2.3 Hợp đồng quyền chọn ( option) 15

3.1.2.4 Hợp đồng hoán đổi ( swap ) 17

3.2.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ phái sinh 18

Trang 3

3.2.1.Khái niệm 18

3.2.2.Các nghiệp vụ 19

3.2.2.1.Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kì hạn 19

3.2.2.2 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai 22

3.2.2.3 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn 25

3.2.2.4 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi lãi suất 29

3.3.Phân tích ưu, nhược điểm của việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ chứng khoán phái sinh 32

3.3.1.Ưu điểm 32

3.3.2.Nhược điểm 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 35

1.Thực trạng kinh doanh của khối ngân hàng thương mại Việt Nam 35

1.1.Thực trạng chung của nền kinh tế vĩ mô 35

1.2.Thực trạng kinh doanh của khối ngân hàng 37

2.Vấn đề về rủi ro lãi suất tại các NHTM Việt Nam hiện nay 38

2.1 Vấn đề rủi ro lãi suất trong hoạt động của các NHTM Việt Nam 38

2.2.Thực trạng phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTM VN 40

3.Thực trạng phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ chứng khoán phái sinh tại các NHTM Việt Nam hiện nay 42

3.1.Nguồn luật trong nước điều chỉnh giao dịch phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ chứng khoán phái sinh 42

3.2.Thực trạng sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 45

3.2.1 Thực trạng chung 45

3.2.2.Tình hình cụ thể của việc ứng dụng từng loại hợp đồng phái sinh lãi suất tại các NHTM VN 49

3.2.2.1.Thực trạng sử dụng các hợp đồng tương lai lãi suất 49

3.2.2.2.Thực trạng sử dụng các hợp đồng kì hạn lãi suất 51

Trang 4

3.2.2.3.Thực trạng sử dụng các hợp đồng quyền chọn lãi suất 51

3.2.2.4.Thực trạng sử dụng các hợp đồng hoán đổi lãi suất 52

3.3.Đánh giá chung 55

3.3.1.Những kết quả đạt được của hệ thống NHTM Việt Nam trong việc sử dụng các CCPS để phòng ngừa rủi ro lãi suất trong thời gian qua 55

3.3.2.Việc sử dụng các CCPS hiện nay tại các NHTM chưa thực sự phát triển, còn nhiều mặt hạn chế 57

3.4.Phân tích những nguyên nhân của thực trạng trên 58

3.4.1.Nhóm nguyên nhân chính 58

3.4.1.1.Thiếu am hiểu về sản phẩm phái sinh 59

3.4.1.2.Thiếu nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro bằng sản phẩm phái sinh 63

3.4.1.3.Khung pháp lí chưa rõ ràng 63

3.4.2.Một số nguyên nhân khác 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO LẠI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 70

1 Kinh nghiệm về phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 70

1.1 Tổng quan chung về sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại một số nước trên thế giới 70

1.2 Kinh nghiệm từ một số quốc gia Châu Á 71

1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 73

2 Sự cần thiết của việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các CCPS tại các NHTM Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế 74

2.1.Quá trình tự do hoá tài chính và tác động đến hệ thống NHTM Việt Nam. 74

2.2.Tiềm năng của thị trường tài chính Việt Nam cho việc phát triển những công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất 76

2.3.Những thách thức đối với các Ngân hàng thương mại trong nước 79

Trang 5

2.3.1.Về cơ chế quản lí 79

2.3.2.Về trình độ công nghệ và năng lực tài chính 79

2.3.3.Về hiệu quả và chất lượng hoạt động 81

3 Một số giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm phái sinh nhằm quản trị RR LS tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 82

3.1.Giải pháp vĩ mô 82

3.1.1.Hoàn thiện môi trường pháp lí và môi trường chính sách 82

3.1.2.Thành lập Sở giao dịch cho các hợp đồng phái sinh 85

3.1.3.Hiện đại hoá hạ tầng thanh toán liên ngân hàng 86

3.2.Giải pháp vi mô 87

3.2.1 Chủ động giới thiệu quảng bá thông tin về các SPPS đến khách hàng 87

3.2.3.Kí kết thoả thuận khung với các ngân hàng nước ngoài 88

3.2.4 Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng về kinh doanh sản phẩm phái sinh 88

3.2.5.Tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 95

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

HDB : Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Hồ Chí Minh

NHTM CP : Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ

Danh mục bảng biểu

Bảng 1 Các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2009 36 Bảng 2 : Diễn biến các loại lãi suất do NHNN VN công bố từ năm 2004- 2008 39 Bảng 3 : Tỉ trọng doanh thu và lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh trong tổng doanh thu và lợi nhuận của các NHTM VN 46 Bảng 4.Các giao dịch hoán đổi lãi suất được thực hiện ở Việt Nam 53 Bảng 5 : Số tiền hoán đổi và chênh lệch lãi từ các hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo tại BIDV 55 Bảng 6: Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ quan tâm giữa nhóm DN có sử dụng SPPS và nhóm không có sử dụng SPPS 61 Bảng 7: Độ sâu tài chính ( M2/ GDP ) tại một số quốc gia trong khu vực 65 Bảng 8: Quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam so với một số ngân hàng khác trong khu vực 81

Biểu đồ

Biểu đồ 1 : Các nguyên nhân cản trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh 59 Biểu đồ 2: Mức độ quan tâm đến sản phẩm phái sinh trong tương lai – So sánh giữa nhóm sử dụng và nhóm không sử dụng 61 Biểu đồ 3 Doanh thu từ các hợp đồng phái sinh lãi suất 71

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vai trò của lãi suất ngân hàng rất

mờ nhạt, luôn được quyết định bởi yếu tố chủ quan.Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành công cụ lãi suất hết sức phù hợp với các mục tiêu ngắn, trung và dài hạn và theo lộ trình can thiệp bằng quy định mang tính chất hành chính đến kiểm soát lãi suất trực tiếp rồi đến cơ chế lãi suất thoả thuận như ngày nay là một bước ngoặt lớn trong việc điều hành chính sách tiền tệ , tác động đến thị trường tài chính tiền tệ

Với cơ chế tự do hoá lãi suất, lãi suất mới thực sự là giá cả của tiền tệ, được hình thành chủ yếu do quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Đối với các ngân hàng thương mại, lãi suất còn là công cụ cạnh tranh trên thị trường tiền tệ

Cũng với cơ chế tự do hoá lãi suất như hiện nay, các ngân hàng thương mại có thể

tự chủ trong định giá các sản phẩm ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên do sự biến động thường xuyên của lãi suất và cuộc chạy đua lãi suất ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng thương mại đang diễn ra hiện nay thì rủi ro lãi suất là điều không thể tránh khỏi Để cho ngân hàng ngày càng hoạt động chất lượng hiệu quả thì việc quản trị rủi ro lãi suất luôn là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại mà nó mang lại cho bản thân ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế xã hội.Vậy làm thế nào để các ngân hàng phòng ngừa rủi ro này?

Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất đó chính là sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất, các sản phẩm phái sinh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và ngày càng được ưa chuộng, tuy nhiên ở Việt Nam dường như các sản phẩm phái sinh còn rất mới mẻ và chỉ được một số ít các ngân hàng quan tâm sử dụng Các sản phẩm phái sinh lãi suất thông dụng như hợp đồng kì hạn lãi suất, hợp đồng tương lai lãi suất, hợp đồng quyền chọn lãi suất và hợp đồng hoán đổi lãi suất mới chỉ được một số ít các ngân hàng thương mại trong nước cung cấp ,

và đối tượng khách hàng còn rất khiêm tốn.Hầu hết các ngân hàng chưa biết tận

Trang 9

dụng những ưu thế của các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro cho khách hàng và cho chính bản thân ngân hàng mình.Bởi vì đây là một lĩnh vực mới, phức tạp nhạy cảm đòi hỏi phải am hiểu thực tiễn đồng thời phải có cơ sở lí luận vững chắc và phù hợp với các hoạt động quản trị khác của ngân hàng trong một thể thống nhất.Với mục đích tìm hiểu về thực trạng sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh

để phòng ngừa rủi ro lãi suất và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh việc ứng dụng các sản phẩm phái sinh tại các ngân hàng thương mại trong nước , góp phần hoàn thiện thị trường tài chính phái sinh nói chung ở Việt Nam

nên em quyết định chọn đề tài : “ Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ

chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI

RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

1.1.Một số khái niệm

Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành mọi lĩnh vực.Nó là một yếu tố khách quan nên con người không thể loại trừ hết được mà chỉ có thể cố gắng hạn chế những thiệt hại do chúng gây ra.Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro nhưng nhìn chung

có thể chia chúng làm 2 loại:

- Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại , mất mát , nguy hiểm hoặc những yếu tố liên quan đến khó khăn nguy hiểm hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

- Theo quan điểm trung hoà : rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi

ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực Rủi ro vừa mang đến những mất mát nguy hiểm nhưng cũng có thể đem lại cơ hội thời cơ.Nếu tích cực nghiên cứu , nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa , hạn chế những mặt tiêu cực và phát huy cơ hội tích cực do rủi ro mang đến

Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra

sẽ dẫn đến những tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ thêm một khoản chi phí để có thể hoàn tất một nghiệp vụ tài chính nhất định

1.2.Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội

Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro là việc phải đối mặt với khả năng tạo ra

thua lỗ, đủ lớn để đe doạ đến sức mạnh và năng lực của một định chế tài chính chính trong việc duy trì những hoạt động lõi của nó.Rủi ro có thể nảy sinh với TSC, TSN, TS ngoại bảng, thông qua việc tiến hành và xử lí các hoạt động giao dịch ( về

Trang 11

Rủi ro sẽ gây ra những tổn thất về tài sản cho ngân hàng : mất vốn khi cho vay, tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận kì vọng, giảm sút giá trị tài sản, nghiêm trọng hơn có thể khiến ngân hàng thua lỗ, phá sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng gửi tiền, khách hàng vay tiền… làm giảm niềm tin của dân chúng vào

hệ thống ngân hàng Từ đó có thể làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay

2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng

2.1.Một số khái niệm liên quan đến lãi suất

2.1.1.Khái niệm lãi suất

Lãi suất là một công cụ nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, là mối quan tâm của mọi người, mọi DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.Lãi suất ảnh hưởng đến các quyết định của cá nhân cũng như quyết định của

DN và hộ gia đình như liệu nên tiêu dùng hay tiết kiệm, nên mua một căn nhà, mua

cổ phiếu hay gửi tiết kiệm tại ngân hàng.Như vậy lãi suất là một biến số được theo dõi chặt chẽ nhất bởi vì mỗi một sự biến động của nó, dù nhỏ cũng gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cả nền kinh tế

Vậy lãi suất là gì?

Lãi suất là chi phí bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của quyền được sử dụng tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người

tiền mặt gây ra, là chi phí cơ hội cho việc nhận lại tiền muộn hơn và trì hoãn tiêu dùng trước mắt

2

Theo The Economics of Money, Banking and Financial Markets - Frederic S Mishkin, Columbia

University- Seventh Edition, p 61)

Trang 12

Trên thực tế, lãi suất còn là thước đo phản ánh rủi ro không trả được nợ của người vay.Thông thường lãi suất biểu thị bằng một tỉ lệ phần trăm của tổng số tiền vay tính trên một đơn vị thời gian là tháng hoặc năm

Cơ sở kinh tế của lãi suất là:

- Hiện tượng tạm thời thừa hay thiếu vốn tiền tệ trong luồng di chuyển tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá

- Vai trò trung gian của các ngân hàng trong việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ thông qua công cụ lãi suất

2.1.2 Phân loại lãi suất

+ Căn cứ vào nguồn sử dụng :

- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng.Lãi suất huy động thường căn cứ vào đối tượng huy động ( tiền hay vật đảm bảo có giá trị, nội tệ hay ngoại tệ, cá nhân hay các tổ chức kinh tế) và thời gian huy động

- Lãi suất cho vay : là lãi suất quy định tỉ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay.Theo nguyên tắc hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là kinh doanh tiền tệ, lãi suất cho vay bao giờ cũng phải lớn hơn lãi suất huy động để đảm bảo ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí bỏ ra và có lợi nhuận.Thông thường lãi suất cho vay và lãi suất huy động có mối quan hệ được xác định như sau :

Lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí + rủi ro tối thiểu + lợi nhuận

+ Căn cứ theo giá trị thực :

- Lãi suất danh nghĩa : Lãi suất danh nghĩa là lãi suất bằng tiền trên các tài sản bằng tiền

- Lãi suất thực : Lãi suất thực tế ( ir ) bằng lãi suất danh nghĩa ( in ) trừ đi lạm phát ( Π ),( ir = in - Π ), lãi suất thực tế phản ánh đúng chi phí thật của việc vay tiền và điều chỉnh cho đúng những thay đổi dự tính về mức

+ Căn cứ theo phương pháp tính lãi :

- Lãi suất đơn : là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu, không gộp vào số tiền vay ban đầu để tính lãi kì hạn kế tiếp

Trang 13

- Lãi suất ghép : là tỉ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền vay này có tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kì cho vay để tính lãi kì hạn kế tiếp

+ Căn cứ theo đồng tiền :

- Lãi suất nội tệ : là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ

- Lãi suất ngoại tệ : là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng ngoại tệ

+ Căn cứ theo độ dài thời gian:

Theo cách phân loại này, đối với cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao

- Lãi suất ngắn hạn : là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay dưới một năm

- Lãi suất trung hạn : là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay từ một đến năm năm

- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vay trên năm năm

2.2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng

Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như : rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỉ giá… và rủi ro lãi suất.Trong

đó rủi ro lãi suất là loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng

2.2.1.Khái niệm rủi ro lãi suất

Để huy động vốn từ DN và dân cư, ngân hàng phải trả lãi.Khi tài trợ ngân hàng thu lãi Như nhiều giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi, và chứng khoán thường xuyên biến động, có thể đem lại lợi nhuận cho ngân

hàng và ngược lại cũng có thể gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro lãi suất là loại rủi

Trang 14

ro đối với các khoản thu nhập và giá trị thị trường của danh mục đầu tư bắt nguồn

Rủi ro này xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất như sự không phù hợp của nguồn và tài sản hoặc các ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng …, dẫn đến những tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng

Chúng ta có thể tiếp cận với vấn đề rủi ro lãi suất từ hai giác độ khác nhau:

+ Từ khía cạnh “ giá trị sổ sách” ( book value ), rủi ro lãi suất được nhìn nhận thông qua các ảnh hưởng của nó đến khoản thu nhập được phản ánh trong sổ sách ngân hàng Khía cạnh này tập trung vào rủi ro đối với thu nhập trong ngắn hạn.Sự biến động của tỉ lệ lãi suất nhìn chung thường ảnh hưởng đến thu nhập được phản ánh trong sổ sách thông qua những thay đổi trong thu nhập lãi ròng của ngân hàng + Từ khía cạnh giá trị thị trường: (market value) thì rủi ro lãi suất được nhìn nhận thông qua các ảnh hưởng của nó đến giá trị thị trường của một danh mục đầu tư, bao gồm các tài sản có, tài sản nợ và các công cụ tài chính ngoại bảng có liên quan đến lãi suất ngân hàng.Giá trị kinh tế của những tài sản này bằng với giá trị hiện tại của những dòng tiền trong tương lai của chúng.bằng việc xác định giá những thay đổi trong giá trị hiện tại của những hợp đồng xuất phát từ nột sự thay đổi trong tỉ lệ lãi suất đã được tính đến, người ta có thể ước lượng được sự thay đổi về giá trị kinh

tế của ngân hàng Ngược lại với giá trị sổ sách ,khía cạnh giá trị thị trường tập trung vào rủi ro bắt nguồn từ việc định giá lại hay sự không cân xứng về kì hạn các loại tài sản trong dài hạn

2.2.2 Các loại rủi ro lãi suất

2.2.2.1 Rủi ro kì hạn bất cân xứng

Rủi ro kì hạn bất cân xứng hay còn gọi là rủi ro định giá lại.Rủi ro này bắt nguồn từ sự khác nhau về thời hạn lãi suất thay đổi và thời hạn của dòng tiền, xảy ra khi các tài sản có, tài sản nợ, các công cụ ngoại bảng của ngân hàng được định giá

3

Theo Interest rate risk - Comptroller’s handbook ( Narrative - June 1997, procedures- March 1998 ) , Office for comptroller of the Currency ( OCC ) , USA

Trang 15

hoặc đáo hạn.Đây là loại rủi ro lãi suất thường thấy nhất trong kinh doanh ngân hàng.Một số ngân hàng vẫn chấp nhận loại rủi ro này để cải thiện thu nhập, tuy nhiên , những nguồn thu nhập này thường bị ảnh hưởng trước sự tăng lên của tỉ lệ lãi suất kéo theo sự tăng lên của chi phí vay tiền.Người ta gọi những ngân hàng mà

kì hạn của các tài sản có được định giá lại dài hơn kì hạn của các tài sản nợ được định giá lại là : “ nhạy cảm với tài sản nợ”, bởi vì tài sản nợ của các ngân hàng này

sẽ được định giá lại nhanh hơn.Thu nhập của các ngân hàng nhạy cảm với các tài sản nợ thường tăng khi tỉ lệ lãi suất giảm và giảm khi tỉ lệ lãi suất tăng Ngược lại, các ngân hàng nhạy cảm với tài sản có sẽ hưởng lợi từ sự gia tăng tỷ lệ lãi suất và bị thiệt khi tỉ lệ lãi suất giảm Ví dụ như, ngân hàng huy động vốn có kì hạn 1 năm với mức lãi suất 11%/ năm, và đầu tư kì hạn 2 năm với mức lãi suất 12%/ năm Năm đầu tiên ,ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1%.Năm thứ 2 ,do lãi suất thị trường tăng lên, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn ở mức 13%/ năm, do

đó ngân hàng sẽ chịu lỗ 1%.Như vậy lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ để bù đắp

lỗ của năm thứ 2

Kết quả là, nếu ngân hàng duy trì TSC có kì hạn dài hơn so với TSN ( ngân hàng nhạy cảm với TSN ), thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ.Ngược lại nếu ngân hàng có TSN có kì hạn dài hơn tài sản có thì sẽ gặp phải rủi ro tái đầu tư.Rủi ro này còn có thể xảy ra trong trường hợp TSC hoặc TSN có lãi suất thả nổi.Nếu TSC có lãi suất cố định được tài trợ bằng TSN có lãi suất thả nổi, tỷ lệ lãi phải trả của TSN có thể tăng lên trong khi tỷ

lệ lãi có được từ TSC có thể vẫn không đổi

2.2.2.2.Rủi ro quyền chọn đi kèm

Một hợp đồng quyền chọn mang lại cho người nắm giữ quyền ( không phải nghĩa vụ ) mua hoặc bán một tài sản tại một mức giá xác định trong một khoảng thời gian nhất định.Trong đó, người bán hợp đồng quyền chọn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nếu người mua quyền chọn thực hiện hợp đồng.Người nắm giữ quyền chọn chỉ thực hiện hợp đồng khi họ có lợi Do vậy người nắm giữ quyền chọn phải đối mặt với rủi ro được giới hạn ( bằng với phí mua quyền chọn ) và

Trang 16

khoản lợi không giới hạn, với người bán thì ngược lại phải đối mặt với rủi ro không giới hạn và khoản lợi giới hạn ( phí quyền chọn )

2.2.2.3.Rủi ro cơ bản

Rủi ro này bắt nguồn từ sự thay đổi trong mối quan hệ về tỉ lệ lãi suất tại các thị trường tài chính khác nhau, xảy ra khi lãi suất thị trường của các công cụ tài chính được xác định trên các cơ sở khác nhau, hoặc lãi suất được sử dụng để định giá giá trị tài sản có và tài sản nợ thay đổi vào những thời điểm khác nhau, hoặc những hướng khác nhau

Ví dụ như , nếu ngân hàng cho vay với mức lãi suất cơ sở ( là mức lãi suất

mà các ngân hàng thường áp dụng cho những khách hàng tốt nhất Các ngân hàng

sẽ dựa trên lãi suất cơ bản để đặt ra các mức lãi suất điều chỉnh cho các sản phẩm tín dụng như thẻ tín dụng , cho vay mua xe, cho vay thế chấp nhà…), trong khi huy động với lãi suất LIBOR ( London Interbank offered Rate - là lãi suất mà các ngân hàng vay mượn tiền lẫn nhau trên thị trường tiền tệ lớn London.Đó là một chỉ số tài chính chuẩn được sử dụng tại các thị trường vốn ở Hoa Kì.Libor thường thấp hơn lãi suất cơ sở ).Như vậy ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro là biên độ giữa lãi suất cơ bản và Libor có thể thu hẹp.Trường hợp khác khi biên độ dao động giữa lãi suất trái phiếu kho bạc kì hạn 3 tháng và lãi suất libor kì hạn 3 tháng thay đổi , nó sẽ ảnh hưởng đến lãi ròng của ngân hàng thông qua sự thay đổi giữa biên độ lãi kiếm được

và phải trả của các công cụ tài chính được định giá lại.Nó cũng ảnh hưởng đến dòng tiền trong tương lai được dự đoán của các công cụ trên và do đó ảnh hưởng đến giá trị kinh tế ròng cơ sở của ngân hàng

2.2.2.4.Rủi ro đường cong lãi suất thay đổi

Đường cong lãi suất biểu thị mối quan hệ giữa lãi suất thị trường cho những chứng khoán có thu nhập cố định và thời gian đáo hạn của chứng khoán đó, trên một đồng tiền nhất định, của một khách hàng nhất định

Đường cong lãi suất (Yield Curve): Là đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa

những mức lợi suất được quan sát tại một thời điểm của các loại trái phiếu có nhiều

kỳ hạn khác nhau Đường cong lãi suất đi lên khi trái phiếu dài hạn có lợi suất cao hơn trái phiếu ngắn hạn (bình thường) Đường cong sẽ biến thành đường thẳng nếu

Trang 17

tất cả các mức lợi suất đều xấp xỉ ngang nhau (dấu hiệu kinh tế bất ổn) Đường cong đi xuống nếu lợi suất của trái phiếu ngắn hạn cao hơn trái phiếu dài hạn (dấu hiệu kinh tế trì trệ)

Trong điều kiện thị trường bình thường, các chứng khoán có kì hạn càng dài thì sẽ có lãi suất càng cao nhưng tốc độ tăng lãi suất không tăng tương ứng mà giảm dần, và các chứng khoán này sẽ nhạy cảm hơn với lạm phát cũng như những sự biến động trên thị trường, khi đó đường cong lãi suất sẽ dốc dần

Rủi ro đường cong lãi suất là rủi ro bắt nguồn từ sự khác nhau giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn.Thông thường, lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất dài hạn và các ngân hàng thường thu lợi nhuận từ việc cho vay các khoản ngắn hạn và huy động các khoản dài hạn.Tuy nhiên , trong các điều kiện kinh tế khác nhau, lãi suất ngắn hạn và dài hạn có thể thay đổi theo những chiều hướng khác nhau, ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí của ngân hàng Mối quan hệ giữa lãi suất và kì hạn thay đổi khi hình dáng của đường cong cho từng thị trường nhất định dốc, thoải, đảo chiều trong suốt một chu kì lãi suất.Sự khác nhau về đường cong lãi suất có thể làm tăng rủi ro cho ngân hàng bằng việc khuếch đại ảnh hưởng của việc bất cân xứng kì hạn

3.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất

3.1.Giới thiệu về các công cụ chứng khoán phái sinh

3.1.1.Khái niệm về hợp đồng phái sinh

Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất bao la,

mà cổ phiếu , trái phiếu chỉ là một vài trong vô số những công cụ đó.Còn những khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến mà chứng khoán phái sinh chính là

yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua

Từ : “ phái sinh ” bắt nguồn từ toán học và mang ý nghĩa là một biến số xuất phát từ một biến số khác.Hợp đồng phái sinh được gọi như vậy bởi bản thân chúng không

có giá trị Giá trị của chúng dựa trên giá trị của một tài sản nào đó, được gọi là hàng hoá cơ sở.Hàng hoá cơ sở ở đây có thể là các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu

Trang 18

dùng, chứng khoán, hay các chỉ số, ví dụ như : nông sản, kim loại, tiền tệ, cổ phiếu, lãi suất…

CCPS là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đă có như

cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận

Các hợp đồng phái sinh là những tài sản tài chính ngoại bảng, mặc dù chúng không được hạch toán trên bảng cân đối kế toán, nhưng những khoản lợi nhuận và thua lỗ

từ các hợp đồng phái sinh vẫn ảnh hưởng đến thu nhập ròng của các công ty.Các

hợp đồng phái sinh có 2 chức năng cơ bản đó là bảo hiểm phòng ngừa rủi ro và đầu

giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các CCPS vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps)

3.1.2.Các loại hợp đồng phái sinh cơ bản

3.1.2.1 Hợp đồng tương lai (Futures)

Là việc thoả thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó

Trong đó:

- Ngày trong tương lai là ngày giao hàng hay ngày thanh toán cuối cùng

- Giá được xác định ngay tại thời điểm kí kết hợp đồng được gọi là giá tương lai

- Còn giá hàng hoá đó vào ngày giao hàng là giá quyết toán

- Người tham gia hợp đồng với tư cách là người bán hàng có vị trí đoản ( short position), người tham gia hợp đồng với tư cách là người mua có vị trí trường ( long position) từ người bán sang người mua theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng nếu

Trang 19

đó là hợp đồng giao hàng, hoặc tiền sẽ được chuyển từ bên lỗ sang bên lãi nếu đó là

kiểu hợp đồng bù trừ tiền

Ví dụ: Vào đầu năm 2005, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua

100 tấn gạo với giá 2 USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2006 Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg và công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2006 là bao nhiêu chăng nữa

Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như lúa mì hay cà phê Các nhà đầu tư mua và bán các hợp đồng tương lai với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó Ví dụ, công ty sản xuất sô- cô- la Hershay đã bao tiêu nguồn cung cấp cacao trên thị trường với các hợp đồng tương lai để giới hạn rủi

ro nếu giá ca cao tăng lên Hợp đồng tương lai thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh Đến thập niên 80, các hợp đồng tương lai bắt đầu nở rộ và phố biến trong các giao dịch thương mại và bao gồm nhiều loại khác nhau, như Hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (index futures), Hợp đồng tương lai lãi suất (interest futures), Hợp đồng tương lai ngoại hối (currency futures), Hợp đồng tương lai nông sản (agricultural futures), Hợp đồng tương lai kim loại và khoáng sản (metal and mineral futures)

3.1.2.2.Hợp đồng kì hạn ( Forward )

Là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay

Đặc điểm:

- Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào: từ nông sản, tiền tệ cho tới các chứng khoán Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính cá nhân Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá

có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đă kí kết trong hợp đồng

Trang 20

Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường

- Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Và chỉ

có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài

ra, với mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác -Trong hợp đồng kì hạn ,hai bên bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng

lai là một loại hợp đồng kì hạn, song có những điểm khác biệt chủ yếu như sau:

Trang 21

2

Các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước

2

Được thanh toán qua trung tâm thanh toán bù trừ, các khoản lãi / lỗ được điều chỉnh hằng ngày theo yêu cầu.Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó Trên thực tế, và không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những

Trang 22

người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này

sẽ trả tiền cho những người thắng

Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái

phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai

Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn

- Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền

- Loại quyền (chọn mua hay chọn bán)

- Thời hạn của quyền

- Mức giá thực hiện theo quyền

Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn

- Giá giao ngay : là giá của hàng hoá cơ sở trong các hợp đồng giao ngay tại thời điểm kí kết hợp đồng.Giá này dùng để tham chiếu khi định giá hợp đồng quyền chọn

- Giá thực hiện : là mức giá cố định mà tại đó , người nắm giữ hợp đồng quyền chọn có thể mua/ bán hàng hoá cơ sở, không tính đến giá thị trường giao ngay tại thời điểm thực hiện hợp đồng

Trang 23

- Giá thị trường : là giá của hàng hoá cơ sở trên thị trường khi đến thời gian đáo hạn

- Phí quyền chọn : là phí để mua được một hợp đồng quyền chọn

- Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value) Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá trị nội tại bằng 0 Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội theo thời gian

Ứng dụng của quyền lựa chọn

- Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất

- Quyền chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận

Có hai loại quyền chọn là quyền chọn bán và quyền chọn mua

Đối với option mua, người mua option sẽ trả cho người bán quyền chọn một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua quyền chọn sẽ có quyền được mua (nhưng không bắt buộc phải mua) một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước tại thời điểm đã xác định trong tương lai Người bán quyền chọn nhận được tiền từ người mua quyền chọn nên họ có trách nhiệm phải bán một lượng chứng khoán nhất định theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một

Trang 24

ngày xác định trong tương lai (hoặc được thực hiện trước ngày đó) khi người mua quyền chọn muốn thực hiện cái quyền được mua

- Hợp đồng quyền chọn có thời hạn ngắn : 3,6,9 tháng

- Người nắm giữ hợp đồng có thể thực hiện hoặc không.Khi xảy ra rủi ro, thị trường không diễn biến đúng như dự đoán,người nắm giữ quyền chọn không thực hiện hợp đồng và chịu một khoản lỗ đã được xác định trước đó chính là phí quyền chọn

3.1.2.4 Hợp đồng hoán đổi ( swap )

Là thoả thuận giữa các bên để đi đến việc trao đổi lãi suất hoặc tiền tệ, thông thường là thanh toán tiền lãi dựa trên số vốn gốc ban đầu.Theo đó 2 bên sẽ tiến hành trao đổi lãi suất ( lãi suất cố định hoặc thả nổi ) của một đồng tiền sang lãi ( cố định hoặc thả nổi ) của một đồng tiền khác.Số tiền gốc trong giao dịch có thể hoán đổi vào đầu kì ( nếu có ), và / hoặc giảm dần, tăng dần trong kì và vào cuối kì theo tỉ giá giao ngay được thống nhất tại thời điểm ban đầu khi thực hiện giao dịch

Hợp đồng hoán đổi cũng là một CCPS dựa trên sự trao đổi và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực lãi suất và tiền tệ Nhiều công ty, ngân hàng muốn có hợp đồng hoán đổi để ấn định tỷ lệ lãi suất nhằm giảm thiểu sự bất ổn trong kinh doanh Ngoài ra, hợp đồng hoán đổi cũng rất hiệu quả trong việc huy động vốn

Đầu thập niên 90, Citi Bank, ngân hàng lớn nhất tại Mỹ đã mở rộng một số hoạt động đầu tư sang Nhật Bản nên cần một lượng tiền yên Nhật rất lớn trong một thời gian ngắn, trong khi vốn của Citibank lại không có đủ đồng yên Các chuyên gia nghiệp vụ ngân hàng của Citibank lập tức nghĩ ngay đến Chifon Bank của Nhật bản Citibank đã thoả thuận một hợp đồng hoán đổi với Chifon Bank, theo đó Citi Bank chuyển cho Chifon Bank một lượng USD nhất định, đổi lại Chifon Bank sẽ cung cấp đồng yên cho hoạt động đầu tư của Citibank tại Nhật bản Nhờ vậy mà chỉ trong vòng 24 tiếng, Citibank đã có đủ vốn cần thiết cho dự án đầu tư tại đây Như vậy, hợp đồng hoán đổi là một cam kết song phương, theo đó các nhà đầu tư sẽ trao cho nhau vào một ngày nhất định một số lượng nhất định đồng tiền của một quốc gia A

để lấy một số lượng nhất định đồng tiền của quốc gia B đã được quy đổi theo tỷ giá

Trang 25

ngoại tệ hiện tại trong một thời hạn xác định, với điều hứa hoàn lại vốn khi đến kỳ hạn

Năm loại hợp đồng hoán đổi thông dụng , nếu sắp xếp theo doanh số giao dịch là : hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng hoán đổi tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tín dụng, hợp đồng hoán đổi hàng hoá, và hợp đồng hoán đổi cổ phiếu.Trong việc phòng ngừa rủi ro lãi suất hợp đồng hoán đổi được sử dụng phổ biến nhất

Có thể nói, các CCPS đang ngày một phổ biến và được áp dụng nhiều hơn bao giờ hết đối với tất cả các hàng hoá chính trên thị trường chứng khoán, từ cổ phiếu, trái phiếu cho đến tiền tệ và hàng hoá như sắt, năng lượng, sản phẩm nông nghiệp… Sự phố biến của các CCPS trên thị trường xuất phát từ tính linh hoạt và mềm dẻo của nó so với các công cụ khác Lợi nhuận của những công cụ này được hình thành từ chính giá của những sản phẩm mà nó điều chỉnh Điều này giúp cho các ngân hàng, các nhà giao dịch hay nhà đầu tư có thể “đánh cược” vào sự biến động về giá cả mà bỏ qua những tranh cãi về giá trị thực tế của tài sản

Từ suy nghĩ như vậy, những ích lợi của các CCPS luôn được các nhà đầu tư khai thác triệt để nhằm tránh những khoản thua lỗ do sự biến động của giá cả Một cách giản đơn, với việc mua các CCPS, các nhà đầu tư đang đánh cược rằng thị trường sẽ biến động theo chiều hướng ngược lại mong muốn sinh lời của mình, từ

đó, với “một mũi tên trúng hai đích”, các nhà đầu từ vừa có được lợi nhuận nếu giá

cổ phiếu lên cao, vừa đảm bảo sẽ không thua lỗ trong trường hợp cổ phiếu mất giá

3.2.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ phái sinh

3.2.1.Khái niệm

Chúng ta đều biết, ngân hàng luôn phải đối mặt với các loại rủi ro lãi suất trong kinh doanh Mặc dù ngày nay, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại đã phát triển rất mạnh mẽ, nhưng thu nhập từ lãi các hoạt động truyền thống của ngân hàng là nhận gửi và cho vay vẫn chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng.Bởi vậy sự biến động của lãi suất dù nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn đến ngân hàng.Do đó các ngân hàng không thể xem nhẹ hoạt động phòng ngừa rủi

ro lãi suất của mình

Trang 26

Giả sử ngân hàng A gặp phải rủi ro kì hạn bất cân xứng, cơ cấu tài sản / nguồn vốn có nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất ( nguồn vốn bị định giá lại nhanh hơn tài sản ).Để khắc phục, ngân hàng có thể kéo dài kì hạn còn lại của nguồn vốn bằng cách đưa ra các sản phẩm tiền gửi với kì hạn dài hơn hoặc rút ngắn kì hạn còn lại của nguồn vốn bằng việc chỉ cho vay với kì hạn ngắn hơn trước hoặc cho vay với lãi suất thả nổi.Nhưng rõ ràng cách này rất tốn kém về tiền bạc lẫn thời gian.Trong thực tế, nhà quản trị ngân hàng sẽ lựa chọn sử dụng các CCPS thích hợp như hợp đồng kì hạn, tương lai, quyền chọn hay hoán đổi.Sử dụng chứng khoán phái sinh có thể giúp các ngân hàng phòng ngừa rủi ro lãi suất mà không nhất thiết phải cơ cấu lại bảng cân đối tài sản

Như vậy, phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các CCPS là việc ngân hàng sử

dụng các hợp đồng phái sinh để cố định giá trị của tài sản trước những thay đổi của lãi suất trên thị trường

Ngân hàng có thể sử dụng các hợp đồng phái sinh với rất nhiều loại tài sản

cơ sở khác nhau để phòng ngừa rủi ro lãi suất của mình, như : hợp đồng kì hạn trái phiếu, hợp đồng quyền chọn trái phiếu, hợp đồng kì hạn tiền gửi, hợp đồng kì hạn lãi suất, hợp đồng hoán đổi lãi suất…Trong đó, thị trường phái sinh lãi suất là thị trường có quy mô lớn nhất trên thế giới.CCPS lãi suất được hiểu là CCPS có tài sản

cơ sở là quyền trả hoặc nhận một khoản tiền ( thường là danh nghĩa ) với một mức lãi suất xác định.Các SPPS lãi suất có thể được dùng để : phòng ngừa rủi ro lãi suất, quản lí danh mục TSC, TSN; tận dụng lợi thế tương đối về vốn vay; vai trò quản lí rủi ro; vai trò xác định rủi ro lãi suất; phân tán rủi ro giữa các nhà đầu tư; phát triển thị trường tài chính

3.2.2.Các nghiệp vụ

3.2.2.1.Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kì hạn

Một trong những CCPS có thể dùng để phòng ngừa rủi ro lãi suất chính là hợp đồng kì hạn.Người ta có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với mỗi loại tài sản

cơ sở bằng các loại hợp đồng kì hạn đặc trưng khác nhau, là hợp đồng kì hạn trái phiếu, hợp đồng kì hạn tiền gửi( Forward-Forward deposit_ FFD ), hay hợp đồng kì hạn lãi suất ( Forward rate agreement_ FRA)…Trong đó hợp đồng kì hạn lãi suất

Trang 27

FRA là đại diện tiêu biểu nhất, được phát triển trước tiên và hiện nay do tính hiệu quả của nó, FRA vẫn được các tổ chức tài chính toàn cầu thường xuyên sử dụng

* Khái niệm :

FRA là một hợp đồng kì hạn mà theo đó các bên tham gia đồng ý thanh toán cho nhau bằng tiền mặt khoản chênh lệch lãi suất( không có giao nhận khoản tiền gốc) của một khoản vay ngắn hạn

* Cách thức tiến hành :

Theo đó hai bên sẽ đồng ý với nhau vào ngày hôm nay về việc trao đổi trong tương lai các dòng tiền phát sinh do chênh lệch trong việc trao đổi giữa lãi suất cố định và lãi suất thả nổi Một bên giao dịch sẽ nhận lãi suất cố định, được ấn định vào ngày kí kết hợp đồng, được gọi là lãi suất FRA; bên kia sẽ nhận lãi suất thả nổi, được gọi là lãi suất tham chiếu; vào một ngày được ấn định trong tương lai , gọi là ngày thanh toán hợp đồng, khoảng thời gian từ ngày kí kết đến ngày thanh toán hợp đồng chính là kì hạn của FRA; Libor và Euribor ( Euro interbank offered rate - lãi suất huy động trên thị trường liên ngân hàng của khu vực Euro) thường được sử dụng làm lãi suất thả nổi trong hợp đồng Vào ngày thanh toán hợp đồng, hai bên sẽ thanh toán cho nhau khoản chênh lệch theo công thức :

Khoản phải trả ( P ) = Giá trị danh nghĩa của khoản vốn gốc * ( lãi suất tham chiếu - lãi suất FRA ) * ( kì hạn FRA / 360 )

* Ví dụ :

Để thấy được tác dụng to lớn của hợp đồng kỳ hạn trong việc bảo đảm rủi ro lãi suất trực tiếp Giả dụ nhà quản trị Ngân hàng đang nắm giữ trên bảng cân đối tài sản 1 triệu USD các trái phiếu có kỳ hạn 10 năm Bình thường tài sản tại thời điểm t

= 0, các trái phiếu này có giá trị 97 USD trên 100 USD mệnh giá, tức là tổng giá trị trái phiếu là 970 000 USD Tại thời điểm t = 0 nhà quản trị nhận được tin dự báo rằng lãi suất dự tính sẽ tăng 2% từ mức 12,5428% lên 14,5428% trong thời hạn 3 tháng tới Với sự hiểu biết rằng, khi lãi suất thị trường tăng lên nghĩa là giá trị trái phiếu sẽ giảm xuống, nhà quản trị tiến hành tính toán thời lượng của trái phiếu có

kỳ hạn 10 năm chính xác là 6 năm Như vậy nhà quản trị có thể dự tính khoản lỗ vốn hay sự giảm giá trái phiếu (AP) theo phương trình thời lượng như sau:

Trang 28

AP : P = - D x AR : (1 + R)

Trong đó: AP : là khoản lỗ của trái phiếu

P : là thị giá của trái phiếu, tức là P = 970 000 USD

D : là thời lượng của trái phiếu, tức là D = 6 năm

AR : là mức thay đổi lãi suất dự tính, tức là AR = 0,02

ro xuống số 0, nhà quản trị có thể tiến hành thông qua các nghiệp vụ ngoại bảng bằng cách bán kỳ hạn 1 triệu % mệnh giá của các trái phiếu này với kỳ hạn là 3 tháng

Cái gì sẽ xảy ra nếu lãi suất thực sự tăng 2% sau thời gian 3 tháng? Đó là giá trái phiếu sẽ giảm 10,66% tương đương với một khoản lỗ vốn là 103427,32 USD Mặt khác sau khi lãi suất tăng 2%, nhà quản trị Ngân hàng có thể mua 1 triệu USD mệnh giá các trái phiếu có kỳ hạn 10 năm trên thị trường giao ngay với giá là 866,573 USD và giao số trái phiếu mua được này cho đối tác theo hợp đồng 1 triệu USD mệnh giá là 970 000 USD Do đó lợi nhuận thu được từ hợp đồng giao dịch

kỳ hạn là:

970 000 USD - 866 573 USD = 103 427 USD ( hay lợi nhuận thu được từ hợp đồng giao dịch kỳ hạn = giá trị hợp đồng kỳ hạn – giá trị của hợp đồng giao dịch tại thời điểm sau 3 tháng)

Do đó sự thua lỗ trên bảng cân đối tài sản (nội bảng) là 103 427 USD được

bù đắp đầy đủ bởi lợi nhuận thu được từ hợp đồng bán kỳ hạn (ngoại bảng) Như vậy rủi ro lãi suất đối với Ngân hàng được bảo đảm, tức bằng 0

Trang 29

3.2.2.2 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai lãi suất ( interest rate future ) cũng là một công cụ để phòng ngừa rủi ro lãi suất tương tự như hợp đồng kì hạn lãi suất

* Đặc điểm :

- Hợp đồng tương lai được giao dịch trên sàn giao dịch và có giá tỉ lệ nghịch với sự biến động của lãi suất, tức là giá trị của hợp đồng tương lai sẽ tăng khi lãi suất giảm và ngược lại

- Thị trường cho các hợp đồng tương lai lãi suất rất minh bạch và có tính thanh khoản cao và các bên tham gia hợp đồng, ở vị thế trường hay đoản, đều có thể thoát khỏi hợp đồng tương lai bằng việc tham gia một hợp đồng tương lai khác ở vị trí ngược lại

- Một ngân hàng có thể sử dụng hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro cho từng bộ phận tài sản ( có hoặc nợ ) một cách riêng biệt, ví dụ như khi ngân hàng dự tính lãi suất huy động vốn có thể tăng trong tương lai , để phòng ngừa rủi ro đó, ngân hàng có thể bán các hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở là các kì phiếu ngân hàng, việc phòng ngừa như vậy gọi là phòng vệ vi mô

Phòng vệ vi mô ( Microhedging ) là việc nhà quản trị xác định bộ phận tài

sản để bảo đảm rủi ro một cách riêng biệt và sử dụng những hợp đồng tương lai hay các hợp đồng phát sinh khác để bảo đảm rủi ro đối với từng tài sản đó

Ngân hàng cũng có thể tiến hành phòng vệ vĩ mô ( macrohedging ) bằng cách

sử dụng các hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro lãi suất do sự không cân xứng

về thời lượng của 2 vế của bảng cân đối tài sản

So với phòng vệ vi mô thì phòng vệ vĩ mô chỉ quan tâm đến toàn bộ danh mục tài sản có và toàn bộ danh mục tài sản nợ của bảng cân đối tài sản Do đó, nó cho phép tồn tại trạng thái ròng tài sản về mức độ nhạy cảm lãi suất, sự không cân xứng về thời lượng đối với từng bộ phận tài sản riêng lẻ

Do bản chất khác nhau giữa phòng vệ vi mô và phòng vệ vĩ mô cho nên có thể dẫn đến những chiến lược và kết quả hoàn toàn khác nhau giữa hai phương thức bảo đảm này

Trang 30

Lãi suất trên thị trường là r = 10%/năm, ngân hàng dự đoán trong 3 tháng tới , lãi suất sẽ tăng lên 11%/ năm , tức là Δr = 1%, như vậy nếu ngân hàng dự đoán chính xác thì số lỗ dự tính của ngân hàng sẽ được tính như sau :

Áp dụng công thức tính thời lượng của một danh mục tài sản có :

- Dự báo sự thay đổi trong giá trị thị trường của vốn tự có khi lãi suất thị

trường biến động thông qua mô hình khoảng cách thời lượng , được biểu diễn như

Trang 31

→ ΔF = F * [ - DF * dR

(1+R) ] ( 2 )

Trong đó

ΔF : là mức thay đổi về giá của hợp đồng tương lai

F : là giá trị ban đầu của hợp đồng tương lai

DF : là thời lượng của chứng khoán cơ sở

Giả sử ngân hàng thực hiện việc giao dịch trái phiếu chính phủ có kì hạn 10 năm, lãi suất coupon 12%/năm, mệnh giá $ 100, thì thời lượng của trái phiếu là Df = 6 năm

Áp dụng công thức tính thời lượng của Fred Macaulay có:

i = T

i = j=1

t j * C j (1+i) t j

Trong đó :

D : Thời lượng Macaulay

i : lãi suất định kì ( i = R/n , với R là lãi suất thị trường ( %/ năm )

n : số luồng tiền xảy ra trong một năm

Cj : dòng tiền thứ j

tj : thời gian xảy ra dòng tiền thứ j

T : tổng số dòng tiền ( kì hạn của trái phiếu M= T/n ( năm ) )

Áp dụng công thức ( 3 ) ta tính được thời lượng của trái phiếu là

i = 9

i = j=1

10 * 12(1+0,1)j + 10 *

112(1+0,1)10

DF =  = 6 năm

i = 9

i = j=1

12(1+0,1)j +

112(1+0,1)10 Như đã phân tích ở trên để phòng ngừa rủi ro lãi suất thì :

ΔE = ΔF = - 5, 45 triệu USD

Trang 32

Thay vào công thức ( 2 ), ta có :

F * [ -6 * 0,01

1,10 ] = - 5,45 → F = 99,91 triệu USD Như vậy, vào thời điểm hiện tại , ngân hàng phải tiến hành bán một hợp đồng tương lai với mức giá cố định là 100 triệu USD, ngày đáo hạn sau 1 tháng nữa

kể từ ngày kí kết hợp đồng, tài sản cơ sở là trái phiếu chính phủ có kì hạn 10 năm, lãi suất coupon là 12%/ năm, mệnh giá $ 100

Trên thực tế ngân hàng không thể thực hiện được một hợp đồng tương lai như vậy bởi với giá trị 100 triệu USD, thì số lượng trái phiếu trong hợp đồng rất lớn,

do đó ngân hàng sẽ tiến hành nhiều hợp đồng tương lai.Giả sử trên sở giao dịch niêm yết giá mua của một hợp đồng tương lai với tài sản cơ sở là 1000 trái phiếu nói trên là 120.000USD, vậy ngân hàng phải tiến hành bán:

99.910.000

120000 = 832,58 ~ 833 hợp đồng tương lai Như vậy từ thí dụ trên ta có thể thấy rằng , các hợp đồng tương lai lãi suất cho phép ngân hàng, hoặc nhà đầu tư tăng hoặc giảm độ nhạy cảm của danh mục đầu tư đối với những thay đổi về tỉ lệ lãi suất mà không cần phải thực sự mua bán trái phiếu.Bởi độ “ nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất ” chính là một cách nói khác của “ thời lượng ”, nên các hợp đồng tương lai lãi suất cũng được xem như một cách để điều chỉnh thời lượng hiệu quả của một danh mục đầu tư

3.2.2.3 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn

Các hợp đồng quyền chọn lãi suất ( Interest rate option ) cũng giống như hợp đồng kì hạn lãi suất ( FRA ) , nhưng thay vào việc nắm giữ FRA cam kết nhận một loại lãi suất và thanh toán lãi suất khác, thì hợp đồng quyền chọn lãi suất mang lại

cho người nắm giữ quyền nhận một loại lãi suất và thanh toán bằng một loại lãi suất

khác

Một hợp đồng quyền chọn mua lãi suất ( Interest rate call ) sẽ tất toán hết nếu lãi suất thị trường kết thúc ở mức cao hơn lãi suất đã thoả thuận.Người nắm giữ hợp đồng có quyền thanh toán lãi suất đã thoả thuận và nhận lãi suất thị trường, thông thường là Libor

Trang 33

Một quyền chọn bán lãi suất ( Interest rate put ) sẽ tất toán hết nếu lãi suất thị trường kết thúc ở mức thấp hơn lãi suất đã thoả thuận Người nắm giữ hợp đồng có quyền thanh toán lãi suất thị trường và nhận lãi suất đã thoả thuận Lãi suất thoả

thuận này cũng gọi là lãi suất sử dụng hay lãi suất thực hiện.Trong đó,“ tất toán" là

một sự kiện kết thúc một giao dịch, hợp đồng nào đó.Tương tự như các hợp đồng kì hạn lãi suất, các hợp đồng quyền chọn tất toán dựa trên cơ sở của sự chênh lệch giữa một loại lãi suất, thông thường là Libor và lãi suất thực hiện hay lãi suất sử dụng,và khoản tất toán đó được tính theo công thức :

Khoản phải trả ( P ) = Giá trị danh nghĩa khoản vốn gốc * ( lãi suất tham

chiếu - lãi suất thực hiện ) * ( thời hạn hợp đồng / 360 )

Đối với những Ngân hàng nhỏ thì chiến lược thích hợp là thực hiện quyền chọn mua hơn là quyền chọn bán Cả hai lý do để giải thích tại sao lại như vậy, đó là: Lý

do về kinh tế và lý do về qui chế Tuy nhiên, đối với những Ngân hàng lớn thì những giao dịch quyền chọn mua, quyền chọn bán đều là những giao dịch phổ biến

Lý do kinh tế giải thích tại sao các Ngân hàng nhỏ lại không chọn quyền bán: Đối với việc bán quyền chọn (bao gồm bán quyền chọn mua và bán quyền chọn bán) thì lợi nhuận tiềm năng thu được là bị giới hạn, nhưng khả năng phát sinh lỗ thì không có giới hạn Khi giá trái phiếu biến động mạnh làm cho chênh lệch giữa giá thị trường và giá giao dịch quyền chọn tăng lên dẫn đến thua lỗ Đối với những Ngân hàng duy trì các hợp đồng bán quyền chọn với khối lượng lớn sẽ đứng trước nguy cơ lỗ vốn nặng nề

Như chúng ta thấy, bằng cách bán quyền chọn mua Ngân hàng có thể bảo đảm được rủi ro lãi suất trong trường hợp lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng lên, nghĩa là giá trị trái phiếu trong danh mục đầu tư của Ngân hàng tăng lên đủ để bù đắp khoản lỗ từ hợp đồng bán quyền chọn mua Trong trường hợp ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng thì khoản lợi nhuận thu được từ hợp dồng bán quyền chọn mua (khoản phí thu được) có thể không đủ để bù đắp cho sự giảm giá của trái phiếu trong danh mục đầu tư của Ngân hàng Điều này là có thể, bởi vì lợi nhuận thu được tối đa

từ hợp đồng bán quyền chọn mua bị giới hạn bởi mức phí thu được C

Trang 34

Ngược lại, trường hợp bảo đảm rủi ro lãi suất bằng cách mua quyền chọn bán trái phiếu sẽ cung cấp cho nhà quản trị Ngân hàng phương án lựa chọn hấp dẫn hơn nhiều

Lý do quy chế hạn chế các hợp đồng quyền bán: Theo quan điểm của các nhà làm chính sách, thì các hợp đồng quyền bán mà đặc biệt là các hợp đồng không nhằm mục đích bảo đảm rủi ro tài sản (tức là hoạt động đầu cơ) thì rất rủi ro, bởi vì Ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lỗ vốn là không hạn chế Thật vậy, trong thời gian quá khứ các nhà làm chính sách đã cấm các Ngân hàng thực hiện các hợp đồng bán quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua trong một số lĩnh vực nhất định nhằm quản lý rủi ro đối với các Ngân hàng này Hiện nay ở úc các Ngân hàng thực hiện hợp đồng bán quyền chọn nhưng lại cấm các tổ chức tài chính khác như quỹ tín dụng, quỹ đầu tư…sử dụng giao dịch quyền chọn vào mục đích đàu cơ Tương tự, trong những trường hợp khi mà thị trường bộc lộ rủi ro cao thì các công ty bảo hiểm cũng bị cấm sử dụng các giao dịch quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn lãi suất có 3 dạng :

+ Quyền chọn chặn trên ( Caps ):

Là hợp đồng quyền chọn mua lãi suất cho phép bên vay xác định một mức lãi suất trần Vào ngày thực hiện hợp đồng, người mua Caps sẽ được thanh toán khoản chênh lệch giữa lãi suất thị trường với mức lãi suất trần đã được xác định từ người bán Caps.Thông thường, ngân hàng sẽ mua Caps khi ngân hàng dự tính phải chịu một khoản lỗ khi lãi suất thị trường tăng ( xảy ra khi tài sản có có lãi suất cố định trong khi tài sản nợ có lãi suất thả nổi)

+ Quyền chọn chặn dưới ( Floors) :

Là hợp đồng quyền chọn bán lãi suất cho phép bên cho vay xác định một mức lãi suất sàn.Nếu mức lãi suất thị trường giảm xuống dưới mức lãi suất sàn xác định trong quyền chọn, người bán Floors sẽ thanh toán khoản chênh lệch lãi suất cho người mua.Ngân hàng thường mua floors khi ngân hàng dự tính phải chịu một khoản lỗ khi lãi suất thị trường giảm ( Tức là ngân hàng có chi phí cố định đối với tài sản nợ và tài sản có có lãi suất thả nổi )

Trang 35

+ Quyền chọn chặn hai đầu ( Collars ):

Là việc kết hợp giữa việc mua một hợp đồng quyền chọn chặn trên với một hợp đồng quyền chọn chặn dưới, tạo ra khoảng dao động xác định trước của lãi suất ( trần - sàn ).Ngân hàng mua Collars khi tài sản của họ chịu rủi ro khi lãi suất biến động mạnh

* Ví dụ :

Một ngân hàng sẽ cung cấp một khoản vay trong 90 ngày tới cho khách hàng theo lãi suất Libor cộng với chênh lệch là 1,5 % Libor hiện tại là 9%/ năm, khoản tiền cho vay là 10.000.000 USD, thời hạn là 180 ngày và được hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại cuối thời hạn.Như vậy ngân hàng phải đối mặt với rủi ro, sau 90 ngày nữa, Libor trên thị trường giảm và ngân hàng sẽ phải cho vay với giá thấp hơn.Để phòng ngừa rủi ro lãi suất này, ngân hàng sẽ tìm một đối tác và tiến hành mua một hợp đồng quyền chọn bán lãi suất thời hạn 90 ngày, theo đó, ngân hàng sẽ nhận lãi suất thoả thuận là 9%/năm và thanh toán theo Libor tại thời điểm đáo hạn hợp đồng, phí

hợp đồng là 26500 USD

Sau 90 ngày sẽ có 2 trường hợp xảy ra :

- Nếu Libor ≥ 9%/năm, ngân hàng có quyền không thực hiện hợp đồng, svà

có thể cho vay với lãi suất Libor + 1,5 % như đã thoả thuận với khách hàng và khoản lỗ mà ngân hàng phải chịu được giới hạn bằng phí quyền chọn.Tại thời điểm hợp đồng đáo hạn, mức phí quyền chọn sẽ có giá trị là :

26500 * ( 1+ 0,105 * 90

360 ) = 27.195,625 USD

Do vào thời điểm hiện tại, nếu không phải trả phí quyền chọn là 26500, ngân hàng có thể cho vay khoản tiền này với mức lãi suất libor + 1,5 % = 9% + 1,5% = 10.05%/ năm

- Nếu Libor < 9%/năm , giả sử ở mức 7% /năm, ngân hàng sẽ nhận được một khoản tiền từ đối tác do chênh lệch lãi suất là:

10.000.000 * ( 0,09 - 0,07 ) * 90

360 = 100.000 USD Lúc này ngân hàng sẽ chỉ cho khách hàng vay được với mức lãi suất là

Trang 36

Các hợp đồng quyền chọn lãi suất vốn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi

ro lãi suất, tuy nhiên, cái khó của nghiệp vụ này là việc định giá hợp đồng quyền chọn, hay chính là việc xác định mức phí phải trả để có hợp đồng quyền chọn là bao nhiêu là phù hợp, để qua đó người nắm giữ hợp đồng có thể giới hạn rủi ro của mình.Hiện tại có rất nhiều mô hình để định giá quyền chọn, trong đó mô hình xuất hiện đầu tiên là mô hình Black-Scholes do hai nhà nghiên cứu Fischer Black và Myron Scholes tìm ra.Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, em xin chưa đề cập đến mô hình này

3.2.2.4 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi lãi suất

Hợp đồng hoán đổi lãi suất là một trong những công cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để phòng ngừa rủi ro lãi suất.Vậy hợp đồng hoán đổi lãi suất

là hợp đồng như thế nào?

* Khái niệm :

hai bên theo đó hai bên sẽ thực hiện trao đổi các dòng tiền lãi cho nhau , thông thường một bên sẽ nhận lãi suất cố định và bên còn lại nhận lãi suất thả nổi, tại những ngày xác định trước gọi là những ngày giá trị giao dịch, dựa trên khung thời gian và khoản tiền danh nghĩa đã được xác định trước

Trong đó:

- Khoản vốn gốc của một giao dịch hoán đổi lãi suất : là số tiền mà ngân hàng

và khách hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất thoả thuận làm cơ sở để tính toán số lãi phải trả, số lãi được nhận và số lãi ròng hoán đổi lãi suất

Trang 37

- Số lãi ròng từng kỳ của một hoán đổi lãi suất : là chênh lệch giữa số lãi nhận được và số lãi phải trả của từng kỳ thanh toán của hợp đồng hoán đổi lãi suất

- Kỳ thanh toán của hợp đồng hoán đổi lãi suất : là khoảng thời gian mà hợp

đồng hoán đổi lãi suất có hiệu lực đã được thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng, mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó, các bên thực hiện thanh toán cho nhau

- Trường hợp khách hàng dự báo lãi suất tăng

Khách hàng A đang phải trả nợ vay USD theo lãi suất thả nổi (Libor)

Do dự báo lãi suất tăng trong tương lai, Khách hàng A sẽ ký kết với ACB một hợp đồng hoán đổi lãi suất trong đó khách hàng A nhận lãi suất thả nổi và trả cho ACB lãi suất cố định (a%) Vào kỳ thanh toán lãi, khách hàng sẽ nhận lãi suất thả nổi (Libor) từ ACB để thanh toán cho người cho vay, đồng thời thanh toán lãi suất cố định (a%) cho ACB

Như vậy khách hàng A đã cố định được khoản trả lãi nợ vay của mình và hạn chế được rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường có xu hướng tăng cao

- Trường hợp khách hàng dự báo lãi suất giảm

Khách hàng B đang phải trả nợ vay USD theo lãi suất cố định (b%)

Trang 38

Do dự báo lãi suất giảm trong tương lai, Khách hàng B sẽ ký kết với ACB một hợp đồng hoán đổi lãi suất trong đó khách hàng B nhận lãi suất cố định (b%) và trả cho ACB lãi suất thả nổi (Libor) Vào kỳ thanh toán lãi, khách hàng sẽ nhận lãi suất cố định (b%) từ ACB để thanh toán cho người cho vay, đồng thời thanh toán lãi suất thả nổi (Libor, được khách hàng dự báo giảm) cho ACB Như vậy khách hàng B đã hạn chế được chi phí trả lãi nợ vay và thu được chênh lệch tiền lãi từ hợp

đồng này khi lãi suất thị trường có xu hướng giảm đi

Như vậy có nghĩa là hợp đồng hoán đổi lãi suất giúp các doanh nghiệp quản

lý được rủi ro về biến động lãi suất, trong khoảng thời gian từ 1 - 10 năm

Xét về bản chất, IRS thực chất là việc chuyển đổi lãi suất thả nổi sang lãi suất cố định và ngược lại trên cơ sở nhận định của các bên tham gia hợp đồng IRS

về xu hướng biến động của lãi suất trong tương lai.Nếu một bên đối tác nhận định trong thời gian hiệu lực của IRS, lãi suất thị trường sẽ tăng, bên đó muốn nhận lãi suất thả nổi Ngược lại, nếu nhận định lãi suất có xu hướng giảm, đối tác sẽ muốn nhận lãi suất cố định

* Lợi ích của các hợp đồng hoán đổi lãi suất :

Hoán đổi lãi suất là sản phẩm thường được sử dụng giữa các định chế tài chính hay giữa các ngân hàng với khách hàng của mình tại các thị trường tài chính quốc tế phát triển Sản phẩm mang lại lợi ích lớn cho các khách hàng doanh nghiệp

và các định chế tài chính có các tài sản và khoản phải trả trong trung hạn và dài hạn bởi nó giúp khách hàng cố định được khoản lãi suất thu được cũng như các chi phí lãi vay phải trả

Trang 39

Từ đó, hạn chế sự biến động bất lợi của lãi suất, tạo cho khách hàng sự lựa chọn đa dạng trong việc tính toán lại danh mục đầu tư của mình cũng như đảm bảo cho khách hàng có thể xác định được chi phí vốn hợp lý cho các khoản đầu tư dài hạn

Trong các hợp đồng IRS không có sự chuyển đổi vốn gốc

Ngoài hợp đồng IRS, thì một hợp đồng nữa cũng rất hay được sử dụng để phòng ngừa rủi ro lãi suất đó là hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo Hoán đổi lãi suất

giữa hai đồng tiền hay hoán đổi tiền tệ chéo ( Cross currency swap ) : là giao dịch

hoán đổi lãi suất ( thường có kì hạn dài trên một năm ) với việc trao đổi các dòng tiền trong tương lai bằng hai loại tiền tệ khác nhau giữa hai đối tác giao dịch.Trong giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo thường có việc trao đổi lãi ( theo lãi suất cố định hoặc thả nổi ) của một đồng tiền sang lãi suất ( cố định hoặc thả nổi ) của một đồng tiền khác Số tiền gốc trong giao dịch có thể được hoán đổi vào đầu kì ( nếu có ) và hoặc tăng/ hoặc giảm dần trong kì, và vào cuối kì theo tỉ giá ngoại hối giao ngay được thống nhất tại thời điểm ban đầu khi thực hiện giao dịch

3.3.Phân tích ƣu, nhƣợc điểm của việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ chứng khoán phái sinh

3.3.1.Ƣu điểm

Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính Đến nay, trên thị trường tài chính quốc tế nghiệp vụ tài chính phái sinh đã phát triển rất mạnh và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu Sở dĩ nó phát triển thành công như vậy,

là do :

+ Sử dụng nghiệp vụ này đem lại lợi ích cho 3 loại thành viên trên thị trường:

Người đầu tư, người đầu cơ, người cơ lợi

Người đầu tư phải đối diện với những rủi ro do biến động giá cả của các sản phẩm chính, họ phải sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏ rủi ro; đối với người đầu cơ lại muốn đánh cuộc trên những biến động giá cả của sản phẩm chính, họ dùng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt; đối với người cơ lợi ( thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro) bằng cách sử dụng chênh lệch giá giữa các thị

Trang 40

trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rất hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá

+ Do CCPS linh hoạt và mềm dẻo hơn so với các công cụ khác

Có thể nói CCPS đang ngày một phổ biến và được áp dụng nhiều hơn bao giờ hết đối với tất cả các hàng hoá chính trên thị trường từ cổ phiếu, trái phiếu, cho đến tiền tệ và hàng hoá như kim loại quý, năng lượng, sản phẩm nông nghiệp,… xuất phát

từ tính linh hoạt và mềm dẻo của nó so với các công cụ khác.Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn giảm rủi ro của mình chuyển rủi ro sang cho những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro, đó là những nhà đầu cơ Vì vậy thị trường này rất hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, nên họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn

+Do CCPS có nhiều lợi thế về hoạt động

Các lợi thế về hoạt động đó là: chi phí giao dịch thấp hơn, tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay do mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp và tỉ suất sinh lời cũng như rủi ro có thể kiểm soát hoặc điều chỉnh như mong muốn, các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn, nhà đầu tư có thể kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá hay lãi suất

+ Lợi ích phòng ngừa rủi ro tài chính trong trung dài hạn của SPPS lãi suất

Đối với các SPPS lãi suất, lợi ích đem lại từ các công cụ này còn là : giúp cho những người tham gia phòng ngừa biến động lãi suất và tỉ giá hiệu quả trong trung và dài hạn Rủi ro tài chính được phòng ngừa hay chi phí vốn được cố định sẽ giúp các DN dễ dàng tập trung hơn vào việc hoạch định chiến lược kinh doanh, giúp các ngân hàng, DN tái cơ cấu dòng tiền và cân đối nguồn tài sản nợ có, phù hợp với hoạt động kinh doanh

Trong một khảo sát của các nhà nghiên cứu kinh tế, thuộc ngân hàng dự trữ liên bang Chicago, Hoa Kì, về giá trị của việc sử dụng CCPS lãi suất để quản trị rủi

ro tại các ngân hàng của Mĩ, họ đã chỉ ra rằng : các ngân hàng có sử dụng CCPS lãi suất để quản trị rủi ro có danh mục các khoản vốn cho vay tăng trưởng nhanh hơn,

có thể huy động vốn với chi phí rẻ hơn, có cơ hội để phòng ngừa rủi ro đối với bảng cân đối tài sản và do đó rủi ro mất khả năng thanh toán cũng thấp hơn.Tuy các kết

Ngày đăng: 07/05/2014, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. NHNN VN - Thông tin tín dụng ( CIC ) , số 10 ( 1/2008 ), số 11 ( 2/2008 ), số 12 ( 3/2008 ), số 13 ( 4/2008 ), số 14 ( 5/2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin tín dụng ( CIC )
Năm: 2008
5. NHNN VN - Vụ chính sách tiền tệ , tham khảo Hội thảo khoa học : “ Sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các tổ chức tín dụng Việt Nam ”, ( ThS. Nguyễn Quang Minh, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam , 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: ThS. Nguyễn Quang Minh
Nhà XB: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Năm: 2007
6. NHNN VN - Vụ chính sách tiền tệ , tham khảo Hội thảo khoa học : “ Hợp đồng lãi suất kì hạn - Công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất ” ( ThS. Bùi Đức Minh , Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, 2007 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng lãi suất kì hạn - Công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất
Tác giả: ThS. Bùi Đức Minh
Nhà XB: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Năm: 2007
8. Giáo trình : “ Quản trị rủi ro tài chính ” - NXB Thống kê ( TS Nguyễn Thị Ngọc Trang ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê ( TS Nguyễn Thị Ngọc Trang )
9. Giáo trình : “ Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”- NXB Thống kê ( PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê ( PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến )
10. Giáo trình : “ Quản trị Ngân hàng thương mại ” - NXB Tài chính ( Peter S.Rose 2001 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng thương mại
Nhà XB: NXB Tài chính ( Peter S.Rose 2001 )
11. Luận văn Thạc sĩ kinh tế - Rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam - ( Mã Thị Nam Chi - Đại học KT TPHCM , 2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam
Tác giả: Mã Thị Nam Chi
Nhà XB: Đại học KT TPHCM
Năm: 2008
12. Học Viện Ngân hàng - Đề tài NCKH : “ Thực trạng tự do hoá lãi suất từ khi áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận ” ( Đỗ Lương Trường , 11/2007 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tự do hoá lãi suất từ khi áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận
13. Học viện Ngân hàng - Tham luận : “ Phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh tại các NHTM Việt Nam ” ( TS. Nguyễn Kim Anh 2007 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh tại các NHTM Việt Nam
Tác giả: TS. Nguyễn Kim Anh
Nhà XB: Học viện Ngân hàng
Năm: 2007
18. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ - Cuộc chạy đua lãi suất và những yếu tố tác động ( Nguyễn Thị Kim Anh , số 3+4/2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chạy đua lãi suất và những yếu tố tác động
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Nhà XB: Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ
Năm: 2008
21. Saga - Các rào cản trong việc sử dụng các sản phẩm phái sinh ( 06/2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saga - Các rào cản trong việc sử dụng các sản phẩm phái sinh
Năm: 2008
25. Các slide bài giảng của các thầy cô giáo trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội gồm :- Slide môn Quản trị rủi ro tài chinh - TS.Nguyễn Đình Thọ ( 2009 ) . - Slide môn Tài chính quốc tế - TS.Mai Thu Hiền ( 2009 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Slide môn Quản trị rủi ro tài chinh
Tác giả: TS.Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Năm: 2009
1. Daniels, Joseph P.and David D.Vanhoose - International Monetary Financial Economic - ISBN , Thomson South - Western ( 2005 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Monetary Financial Economic
Tác giả: Joseph P. Daniels, David D. Vanhoose
Nhà XB: Thomson South - Western
Năm: 2005
5. Columbia University - The Economics of Money ,Banking and Financial markets ( Federic S.Mishkin -7 th edition ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economics of Money, Banking and Financial Markets
Tác giả: Federic S. Mishkin
Nhà XB: Columbia University
15. Báo điện tử : vneconomy.vn/64780P0C6/cong-cu-phai-sinh-co-hoi-va-rui-ro.htm Link
2. NHNN VN - Quản lí rủi ro vận hành và khả năng áp dụng Basel 2 tại Việt Nam ( 21/01/2008 ) Khác
3. NHNN VN - Số 62/ 2006/ QĐ - NHNN - Ban hành quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất ( 29/12/2006 ) và Số 1133/2003/QĐ - NHNN ( 30/09/2003 ) Khác
4. NHNN VN - Vụ chính sách tiền tệ - Báo cáo diễn biến kinh tế- tài chính - ngân hàng năm 2008 Khác
7. NHNN VN - Vụ chính sách tiền tệ - Phòng chính sách tín dụng và lãi suất - Báo cáo thống kê hoạt động các công cụ phái sinh ( T4/2008 ) Khác
14. Báo Đầu tư chứng khoán - Bảo hiểm tỷ giá và lãi suất - Tại sao không ? ( 13/03/2008 ) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2009. - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 1. Các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2009 (Trang 43)
Bảng 2 : Diễn biến các loại lãi suất do NHNN VN công bố từ năm 2004- 2008 - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 2 Diễn biến các loại lãi suất do NHNN VN công bố từ năm 2004- 2008 (Trang 46)
Bảng 3 : Tỉ trọng doanh thu và lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh trong tổng - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 3 Tỉ trọng doanh thu và lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh trong tổng (Trang 53)
Bảng 4.Các giao dịch hoán đổi lãi suất đƣợc thực hiện ở Việt Nam. - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 4. Các giao dịch hoán đổi lãi suất đƣợc thực hiện ở Việt Nam (Trang 60)
Bảng 6: Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ quan tâm giữa nhóm DN - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 6 Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ quan tâm giữa nhóm DN (Trang 68)
Bảng 7: Độ sâu tài chính ( M2/ GDP ) tại một số quốc gia trong khu vực - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 7 Độ sâu tài chính ( M2/ GDP ) tại một số quốc gia trong khu vực (Trang 72)
Bảng 8: Quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam so với một số ngân hàng  khác trong khu vực - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
Bảng 8 Quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam so với một số ngân hàng khác trong khu vực (Trang 88)
Bảng Anh ( GBP )  2  6  6 - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
ng Anh ( GBP ) 2 6 6 (Trang 102)
Bảng Anh ( GBP )  12  25  42 - Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng Thương mại
ng Anh ( GBP ) 12 25 42 (Trang 102)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w