Khóa luận tốt nghiệp: Những đặc điểm chính của thị trường phân phối bán lẻ ở Việt Nam kể từ sau 1/1/2009 nêu những vấn đề chung về bán lẻ và giới thiệu thị trường bán lẻ ở Việt Nam. Những đặc điểm chính của thị trường bán lẻ ở Việt Nam từ sau 1/1/2009. Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sỹ Bùi Liên Hà và các thầy cô giáo khác đã tận tình hướng dẫn rất chi tiết em trong suốt thời gian em làm luận văn Đồng thời, em cũng xin cảm ơn bố mẹ và gia đình luôn ở bên động viên
để em có thể hoàn thành tốt luận văn Cuối cùng, xin cảm ơn các bạn của em đã cùng em hào hứng học tập, thi cử và nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN LẺ VÀ GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM 4
I)Khái niệm, đặc điểm và chức năng 4
1)Khái niệm bán lẻ, thị trường bán lẻ 4
1.1) Khái niệm bán lẻ 4
1.2) Khái niệm thị trường bán lẻ 5
2)Vị trí của bán lẻ 5
3) Đặc điểm của bán lẻ 6
4) Chức năng của bán lẻ 7
II) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 8
1) Doanh thu và tốc độ tăng trưởng 8
2) Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ 10
2.1) Các nhà phân phối bán lẻ trong nước 11
2.2) Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 15
2.3) Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước 16
3) Hàng hóa lưu thông trên thị trường 17
4) Các hệ thống phân phối bán lẻ 18
4.1) Kênh phân phối bán lẻ truyền thống 19
4.2) Kênh phân phối bán lẻ hiện đại 20
5) Sự cần thiết phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam 22
Trang 4CHƯƠNG II: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ Ở VIỆT NAM KỂ TỪ SAU 1/1/2009 23
I) Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ 23
II) Thị trường bán lẻ ở Việt Nam kể từ sau 1/1/2009 25
1) Mức độ hấp dẫn và mức độ tăng trưởng 25
1.1)Mức độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam 25
2) Mức độ tăng trưởng 30
2.1) Mức độ tăng trưởng 30
2.2) Nguyên nhân mức tăng trưởng giảm 31
2.1) Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường nội địa 33
2.2) Nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ gia nhập thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới 37
3) Các doanh nghiệp bán lẻ nội địa 38
3.1) Chiến lược mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ mạng lưới bán lẻ 38
3.2) Chiến lược cửa hàng tiện ích 41
3.3) Hướng tới thị trường nông thôn 43
4) Mặt bằng kinh doanh 45
5) Xu hướng tiêu dùng 47
III) Đánh giá những tác động của việc mở cửa cho doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài tham gia thị trường bán lẻ Việt Nam 51
1) Tác động tích cực 51
1.1) Đối với người tiêu dùng 51
1.2) Các doanh nghiệp bán lẻ nội địa 55
Trang 51.3) Đối với các nhà cung cấp và nhà sản xuất 56
2) Tác động tiêu cực 57
2.1) Đe dọa sự tồn tại của kênh phân phối bán lẻ truyền thống 57
2.2) Giành thị phần của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa 58
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 61
I) Quan điểm, mục tiêu phát triển thị trường bán lẻ 61
1) Quan điểm phát triển 61
2) Mục tiêu phát triển 62
2.1) Các chỉ tiêu tăng trưởng 62
2.2) Mục tiêu biểu hiện 63
2) Phương hướng phát triển 64
II) Một số giải pháp 65
Về phía Chính phủ 65
1) Về phía các doanh nghiệp bán lẻ nội địa 71
2.1) Đào tạo nhân viên, nâng cao trình độ nhân lực 71
2.2) Áp dụng công nghệ phù hợp vào quản lý, điều hành doanh nghiệp 72
2.3) Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng 74
2.4) Mở rộng về thị trường nông thôn 76
2.5) Tạo liên minh, liên kết phát huy vai trò của các lực lượng và hiệp hội bán lẻ 77
2.6) Liên kết với các nhà bán lẻ và nhà sản xuất 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối 5 Bảng 2: Mười thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Thế giới 2008 9 Bảng 3: Mười thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Thế giới 2009 26 Biểu đồ 1: Mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng bán lẻ
và tốc độ tăng giá tiêu dùng từ năm 1993 tới 2008 31
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BTA : Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
GRDI : Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (Global Retail
Development Index)
TNS : công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài
Một quá trình đang xảy ra, nhanh chóng, và không thể kiểm soát được Đó là toàn cầu hóa Khái niệm toàn cầu hoá đã đi vào tư duy và ngôn ngữ của nhân loại như một xu thế tất yếu, không còn xa lạ, xu thế chủ đạo trong đời sống của các quốc gia, dân tộc Gia nhập thị trường toàn cầu, nếu chúng ta không theo kịp rất có thể bị tụt hậu; nhưng chắc chắn nếu không mở cửa thị trường thì tụt hậu là điều không tránh khỏi Đó là một phần lý do Việt Nam gia nhập WTO
Gia nhập tổ chức thương mại thế giới chúng ta sẽ có được những thời cơ và cả thách thức đan xen Một trong những cơ hội đó là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Với nền kinh tế mở cửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã từng bước mở rộng quan hệ thương mại với các nước khu vực ASEAN và trên thế giới Trong mối quan hệ thương mại này, nước ta với lợi thế là nguồn nhân lực dồi dào,
có trình độ tay nghề cao, chiếm ưu thế trong gia công sản phẩm xuất khẩu Khi tham gia WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với khoảng
150 thành viên, và vị thế thị trường ngang nhau với tất cả các quốc gia đó Hàng hóa có thể thâm nhập thị trường khổng lồ này mà không gặp bất cứ trở ngại nào, miễn là không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký, đủ sức cạnh tranh với hàng hóa cùng loại và hàng hóa thay thế Tuy nhiên, cơ hội được mở rộng thị trường cũng đồng nghĩa với việc các nhà phân phối nước ngoài có thể vào thị trường nước
ta dễ dàng hơn Là một nước có dân số trên 85 triệu người, Việt Nam được đánh giá
là thị trường đầy tiềm năng đối với ngành bán lẻ Đặc biệt kể từ 1/1/2009, nước ta
đã hoàn toàn mở cửa các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài tham gia hoàn toàn tự do Thị trường bán lẻ đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, có sự tham gia của mọi thành phần kinh tế Vì vậy, mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà đầu tư 100% vốn nước ngoài sẽ thay đổi diện mạo của thị trường nội địa như thế nào là một vấn đề đáng quan tâm Chính sách mở cửa sẽ có ảnh hưởng gì tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước? Ai được? Ai mất? Các doanh nghiệp của nước ta có đủ sức chống chọi với cơn sóng này?
Trang 9Nhận thấy đây là một đề tài cấp thiết mang tính thời sự hiện nay, người viết
mạnh dạn chọn đề tài “Những đặc điểm chính của thị trường phân phối bán lẻ
Việt Nam kể từ 1/1/2009” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2) Mục tiêu nghiên cứu
Để giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và sâu sắc về những biến đổi của thị trường bán lẻ Việt Nam kể từ sau khi hoàn toàn mở cửa đối với các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài, khóa luận tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng mở cửa thị trường bán lẻ tại Việt Nam, đặc biệt kể từ 1/1/2009; Từ đó đưa ra các đặc điểm chính gồm những điều đã làm được và những tồn tại
- Đưa ra những giải pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ tại Việt Nam trong bối cảnh mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa trước sự tấn công của các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia
3) Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tiễn mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ Việt Nam với những thời cơ và thách thức đối với kênh bán lẻ hiện đại và kênh bán
lẻ truyền thống khi các doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài gia nhập, trong
đó, chủ yếu đi sâu về các kênh bán lẻ hiện đại
4) Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu thị trường bán lẻ Việt Nam với những tác động đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước trong bối cảnh mở cửa hoàn toàn cho các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài xâm nhập từ ngày 1/1/2009
5) Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu dựa trên các phân tích, đánh giá định lượng và định tính thông qua một số phương pháp tổng hợp – phân tích, biểu đồ để làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận nhằm giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra
6) Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Trang 10Chương I: Những vấn đề chung về bán lẻ và giới thiệu thị trường bán lẻ Việt
Trang 11CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN LẺ VÀ GIỚI
THIỆU THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
I)Khái niệm, đặc điểm và chức năng
1)Khái niệm bán lẻ, thị trường bán lẻ
1.1) Khái niệm bán lẻ
Hiện nay trên thế giới tồn tại khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó
có thể kể đến một vài định nghĩa được thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi như sau:
Trong cuốn “ Quản trị Marketing”, Philip Kotler đã định nghĩa: “Bán lẻ là
mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại”1
Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng hóa cho cá nhân hoặc hộ gia đình để tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định qua các dịch vụ liên quan
Theo khoản 8, Điều 13 Nghị định 23/2007/NĐ- Chính phủ ngày 12/2/2007 quy định chị tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
Còn trong giáo trình Marketing lý thuyết của Đại học Ngoại Thương lại đưa ra khái niệm: Hoạt động bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá nhân, phi thương mại
Như vậy, ta có thể hiểu nói chung bán lẻ là hoạt động kinh doanh trong đó nhà
bán lẻ mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi
1
Philip Kotler (2003), “Quản trị Marketing” NXB Thống Kê, tr.314
Trang 12chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng (bằng cách trực tiếp hay gián tiếp ở tại cửa hàng, ngoài phố hay tại nhà riêng…) nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình
1.2) Khái niệm thị trường bán lẻ
Từ cách hiểu về bán lẻ như trên, ta có thể rút ra định nghĩa thị trường bán lẻ như sau:
Thị trường bán lẻ là nơi diễn ra sự trao đổi giữa người mua và người bán để
trao đổi hàng hóa Trong đó, người bán có thể là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà bán sỉ hoặc nhà bán lẻ; người mua là người tiêu dùng cuối cùng; hàng hóa được mua với mục đích tiêu dùng, chứ không phải nhằm mục tiêu thương mại
2)Vị trí của bán lẻ
Vị trí của bán lẻ trong ngành phân phối dịch vụ:
Theo phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ phân phối được chia thành 5 tiểu
ngành, bán lẻ là một trong 5 tiểu ngành đó 5 phân ngành gồm: dịch vụ đại lý hoa
hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ cấp phép và các dịch vụ khác
Tuy nhiên, theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số MTN.GNS/W/120 được xây dựng trong vòng đàm phán Urugoay được hầu hết các thành viên WTO sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng lộ trình cam kết, thì bán lẻ là một trong 4 nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối
Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối
(Nguồn : Bảng phân ngành dịch vụ của WTO)
Khi hàng hóa được sản xuất ra sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối, và bán lẻ luôn nằm ở vị trí cuối cùng của kênh phân phối đó Nói cách khác nhà bán lẻ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Như vậy,
Trang 13nhà bán lẻ sẽ tiếp nhận hàng từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà bán sỉ rồi chuyển tới người tiêu dùng Nhà bán lẻ là mắt xích cung cấp trong chuỗi giá trị Vai trò của nbán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi chính ngay tại điểm bán lẻ, người tiêu dùng
có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, thị hiếu của người tiêu dùng, có thể thực hiện một số hoạt động có tác động lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng; đồng thời người bán lẻ cũng chính là người nắm bắt được sát thực những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng
3) Đặc điểm của bán lẻ
Hoạt động bán lẻ mang 1 số đặc điểm cơ bản sau:
Một là hàng hóa được mua để tiêu dùng chứ không phải để kinh doanh hay
cho bất kỳ mục đích thương mại nào Người mua hàng đồng thời là người tiêu dùng cung cấp Hàng hóa sau khi được trao đổi mua bán sẽ không còn cơ hội quay trở lại thị trường Đây là đặc điểm cơ bản nhất của bán lẻ, nói lên bản chất của bán lẻ
Hai là người bán thường cung cấp hàng hóa đa dạng chủng loại, mẫu mã:
Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể với những mức giá từ thấp tới cao, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa tăng cường hiệu quả kinh doanh trong từng kỳ Thậm chí trong các cửa hàng chuyên doanh, tùy theo chủng loại sản phẩm nhà sản xuất còn đa dạng hóa thành nhiều mặt hàng có kích cỡ chất lượng màu sắc, kiểu dáng… khác nhau để khách hàng được đáp ứng nhu cầu tốt nhất, hài lòng nhất Vì vậy, khách hàng có thể đi một địa điểm
mà mua được đầy đủ hàng hóa mình cần
Ba là khách hàng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng: Dù người
bán lẻ có ít nhiều tác động tới hành vi mua hàng của khách hàng thì họ vẫn có khả năng tài chính, có động cơ mua hàng cụ thể và có quyết định mua tương đối độc lập Vì vậy, để duy trì sự tăng trưởng bền vững, trong quá trình tiếp xúc, người bán hàng phải nhạy cảm với nhu cầu và xây dựng mối quan hệ lâu dài với họ
Bốn là nhiều hình thức và cạnh tranh rất mạnh mẽ: thị trường bán lẻ là nơi
cung cấp những hàng hóa tiêu dùng cần thiết thậm chí là thiết yếu cho toàn bộ người tiêu dùng ở mọi nơi của cả quốc gia nên nhu cầu rất cao và vững, ổn định Vì
Trang 14thế, thật không ngạc nhiên khi những nhà cung cấp đua nhau mọc lên, tiến hành kinh doanh theo nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, đa dạng và linh hoạt Bán lẻ còn tập trung theo các khu vực chuyên doanh về một số loại hàng hóa giống nhau hoặc tương tự, các gian hàng lớn nhỏ nằm cạnh nhau Vì vậy cạnh tranh trong thị trường bán lẻ diễn ra rất gay gắt giữa các công ty thương mại, giữa các cửa hàng với nhau Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp và có được lâu dài hay không phụ thuộc lớn vào chiến lược kinh doanh, khả năng nhanh nhạy của người bán hàng
Thứ nhất, bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng:
Người sản xuất chuyên sâu vào hoạt động sản xuất làm tăng năng suất và khó có thể công ty nào cũng bao quát được toàn bộ mạng lưới người tiêu dùng Trong khi đó, không chỉ đóng vai trò là người trung gian chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng mà các nhà bán lẻ còn có cơ hội tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên nhất với người tiêu dùng nên họ có thể thu thập dễ dàng các thông tin về nhu cầu, thị hiếu thói quen mua sắm của khách hàng Đây là những thông tin hết sức quan trọng và cần thiết cho nhà sản xuất để có thể nắm bắt những phản hồi của khách hàng kịp thời cải tiến sản phẩm, dịch vụ cho phù hợp với nhu cầu thị trường phát triển các sản phẩm có lợi thế, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
Thứ hai, ngược lại trong quá trình bán, nhà bán lẻ có trách nhiệm cung cấp
thông tin, giải đáp các thắc mắc về hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng Đồng thời họ còn đóng vai trò là người truyền tải thông điệp quảng cáo hay các thông tin khuyến nghị của nhà sản xuất đến với người tiêu dùng Do vậy có thể nói người bán lẻ chính là người trực tiếp thực hiện công việc tạo dựng và duy trì mối quan hệ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng
Trang 15Thứ ba, hoàn thiện hàng hóa, kích thích tiêu dùng: nhà bán lẻ có thể làm cho
hàng hóa đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người mua, sắp xếp hàng hóa hợp thẩm mỹ thu hút, định hướng tương đối thị hiếu của người tiêu dùng Tại các cửa hàng bán lẻ như siêu thị, số lượng mặt hàng có thể lên tới hàng chục nghìn loại từ hàng trăm các nhà sản xuất khác nhau giúp người tiêu dùng được lựa chọn một danh mục sản phẩm đa dạng về kiểu dáng, chất lượng, giá cả Bên cạnh đó, dù các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hay nhà bán buôn nhưng do đặc thù ngành bán lẻ, họ vẫn tiến hành sơ chế, đóng gói, bảo quản để đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và hình thức phù hợp nhất
Thứ tư, lưu trữ sẵn hàng hóa: Nhà bán lẻ có thể lưu trữ hàng hóa, làm cho
hàng hóa lúc nào cũng sẵn có mỗi khi người tiêu dùng đến Người bán lẻ thông thường không chỉ dự trữ một vài mặt hàng với số lượng lớn, ngược lại có xu hướng trữ nhiều mặt hàng với khối lượng nhỏ trong một thời gian Nhờ vậy, khách hàng luôn được đáp ứng kịp thời hễ có nhu cầu Ngoài ra, một số hoạt động sản xuất có tính tiêu thụ, còn tiêu dùng lại diễn ra quay năm Hưởng lợi từ chức năng của nhà bán lẻ, khách hàng không phải cất giữ nhiều sản phẩm trong nhà mà chỉ cần mua đủ hàng sử dụng lúc đó
Thứ năm, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ: Với đời sống ngày càng đi lên, công
nghệ thông tin phát triển tạo điều kiện cho nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng dễ dàng hơn khi mua và sử dụng sản phẩm bằng các biện pháp như cho người mua trả chậm, trả góp, mời sử dụng thử, tư vấn và sẵn sàng cung cấp thêm thông tin về sản phẩm Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng thông thường, nhiều nhà bán lẻ còn sẵn sàng phát hành thẻ tín dụng của riêng mình, cung cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định để có thể mua hàng trước và trả tiền sau
II) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1) Doanh thu và tốc độ tăng trưởng
Mức độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam nhìn chung tăng nhanh trong vòng một số năm trở lại đây đặc biệt kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO Nếu năm
Trang 162007, như hãng tư vấn Mỹ A.T.Kearney công bố báo cáo thường niên về chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI – Global Retail Development Index), Việt Nam chỉ xếp thứ 4 trong số những thị trường bán lẻ tiềm năng nhất Thế giới thì năm 2008 Việt Nam đã chiếm ngôi vị trí số 1 của Ấn Độ trở thành điểm đến hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Bảng 2: Mười thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Thế giới 2008
Xếp hạng Quốc gia Mức độ rủi ro quốc gia Độ hấp dẫn thị trường
Độ bão hòa thị trường
Áp lực thời gian Điểm GRDI Thay đổi so
(Nguồn: A.T Kearney Global Retail Development Index, 2008)
Việc chiếm ngôi của Ấn Độ trong bảng danh sách mới này được một số hãng tin quốc tế bình luận là rất ấn tượng , bởi Ấn Độ từng là quốc gia ba năm liên tiếp đứng đầu danh sách Chỉ số Phát triển bán lẻ toàn cầu Ấn Độ cũng là chủ sở hữu của một thị trường bán lẻ có quy mô tới 510 tỷ $
Các chuyên gia của A.T.Kearney ước tính quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam
2008 vào khoảng 20 tỷ $ Song theo số liệu công bố trong nước, doanh số bán lẻ
Trang 172008 tăng 20,5% so với 2007, đạt mức 975.000 tỷ đồng tương đương 54,3 tỷ $ Mức lưu chuyển hàng hóa trong giai đoạn 2006 -2008 ước tính đạt 25%/năm
A.T.Kearney cũng đưa ra một số thống kê cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam đang có nhiều lợi thế, khi người tiêu dùng tại đây thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á với 79 triệu người, ở tuổi dưới 65 và mức tiêu thụ đã tăng 75% trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007 Trong năm 2007, người Việt Nam đã chi gần 45 tỷ $ cho mua sắm và tiêu dùng Trong khi đó 5 nhà bán lẻ hàng đầu ở Việt Nam hiện chỉ có dưới 3% thị phần [24]
Cùng với một số dân đông thứ 13 thế giới, có thể nói Việt Nam có tiềm năng khá lớn đối với ngành bán lẻ Đồng thời, hiện hệ thống bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam
đã phát triển tương đối mạnh về số lượng và quy mô, với sự hiện diện của hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hàng chục nghìn doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH , hàng chục nghìn hợp tác xã cùng hàng triệu
hộ kinh doanh lớn nhỏ, đã phần nào thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, tác động tích cực tới quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
2) Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ
Trong thời gian qua đã có sự tham gia đáng kể của các chủ thể sản xuất và kinh doanh vào hệ thống phân phối bán lẻ Với mục tiêu tăng trưởng bình quân GDP thời kỳ 2001-2010 là 7-7.5%/năm thì quy mô về tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ của thị trường trong nước vào năm 2010 dự kiến sẽ vượt mức
10000 tỷ đồng Chắc chắn với một thị trường bán lẻ tiềm năng như nước ta, trong thời gian tới sẽ có sự gia tăng lớn các chủ thể kinh tế vào hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
Nếu như trước đây nền thương mại chủ yếu là do nhà nước độc quyền thì giờ đây đã chuyển sang một nền kinh tế tư nhân, sự xuất hiện các nhà đầu tư có vốn nước ngoài và quá trình CP hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành thương mại biến đổi sâu sắc Xét trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nền kinh tế: tỷ trọng kinh tế nước ngoài liên tục giảm xuống và hiện còn chiếm tỷ lệ thấp (năm 2007 là 10,2%) Kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao (năm 2007 là 85,9%) Trong đó, kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng
Trang 18không đáng kể (0,7%) Kinh tế cá thể chủ yếu là chợ và các cửa hàng nhỏ lẻ vẫn còn chiếm tỷ trọng khá lớn (56,1%)[6] , đây chính là thị phần sẽ có nhiều thay đổi trong thời gian tới bởi cả nền kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều muốn “thu phục” kinh tế tư nhân mới hình thành từ 15 năm nay, đặc biệt phát triển trong 7, 8 năm trở lại đây, nhưng hiện đã chiếm tới 29,1%, phần lớn các siêu thị , các trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện ích đều do khu vực này quản lý hoặc liên kết với hợp tác xã hay cá thể để hình thành.
Riêng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện còn chiếm tỷ trọng thấp (2,6% năm 2009[6]) nhưng chắc chắn sẽ tăng mạnh trong vài ba năm tới tới Thị phần vào năm 2010 của khu vực này cũng chỉ chưa tới 5%, do đây là giai đoạn các nhà đầu tư vẫn đang tiến hành nghiên cứu, thăm dò thị hiếu, lựa chọn địa điểm đầu
tư Sau đó thị phần của khu vực này sẽ bắt đầu tăng nhanh từ 2010: 4 tháng đầu năm
2010 khu vực kinh tế trong nước (bao gồm khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế ngoài nhà nước) chiếm khoảng 97% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 3%[5] Tỷ trọng này đến năm 2020 tương ứng là 80% và 20%
Dưới đây ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về các nhóm đối tượng chính tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam
2.1) Các nhà phân phối bán lẻ trong nước
Các nhà phân phối bán lẻ trong nước gồm có các chợ đã được hình thành một cách tự nhiên trong đời sống dân cư và các doanh nghiệp phân phối bán lẻ cần đăng
ký giấy phép kinh doanh
*) Chợ truyền thống:
Hệ thống chợ Việt Nam có thể được hình thành từ lâu đời hoặc quy mô rất to hoặc chỉ đơn giản cung cấp lương thực thiết yếu hàng ngày Ta có thể kể tới tên của một số chợ nổi tiếng như sau:
Chợ Bến Thành: rất đỗi quen thuộc với người dân Việt và du khách quốc tế
khi đến tham quan du lịch TP.HCM, là một trung tâm buôn bán lớn không chỉ của TP.HCM mà còn của các tỉnh phía Nam Hiện nay, chợ Bến Thành gồm có những quầy sạp được thiết kế như sau: Quầy ăn, quầy bán vải sợi dành cho tư nhân, bách hóa, mỹ phẩm, quầy bán hàng vải hợp doanh, hàng bánh kẹo quốc doanh, quầy
Trang 19hàng bán trái cây cao cấp, các quấy trái cây và hàng khô, quầy guốc dép và dụng cụ gia đình, quầy hoa tươi, quầy cá, thịt gà, quầy thịt heo, gà, bò, giò, chả, quầy gà vịt sống
Chợ Đồng Xuân: Nằm cạnh ga đầu cầu Long Biên, lại ở ngay sát sông Hồng,
chợ Ðồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hoá bốn phương dồn về đây cũng như từ đây toả đi các nơi Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đủ tất cả các mặt hàng phục vụ đời sống và sản xuất đồng thời nó là chợ bán buôn lớn nhất miền Bắc Ngày nay chợ Ðồng Xuân được xây dựng lại với qui mô lớn hơn gồm 3 tầng khang trang, rộng rãi nhưng vẫn giữ lại một phần kiến trúc mặt tiền của chợ cũ
*)Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước:
Đây đa phần là các công ty, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực phân phối,
có trình độ chuyên nghiệp và mạng lưới phân phối bán lẻ rộng khắp trên nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Có thể kể ra một vài doanh nghiệp tiêu biểu:
Liên hiệp HTX Thương mại và Dịch vụ TP.HCM (Sài Gòn Co.op): được
thành lập từ năm 1988, đến nay Saigon Co.op đã có khoảng 40 siêu thị tại TP HCM
và các tỉnh lân cận với thị thương hiệu quen thuộc Co.op Mart Mạng lưới Co.op dự kiến sẽ được đưa lên con số 50 siêu thị trong năm nay và 100 siêu thị vào năm
hoàn toàn thị trường bán lẻ Năm 2008, Saigon Co.op đạt tổng doanh thu là 6.350 tỉ đồng, trong đó doanh thu từ chuỗi siêu thị Co.op Mart là 6,167 tỉ đồng, chiếm 97,1% tổng doanh số của Saigon Co.op Trong năm 2009, tổng doanh số của Saigon Co.op là hơn 8.571 tỉ đồng, tăng 34,9%, trong đó hoạt động thương mại bán lẻ thuộc hệ thống siêu thị Co.opMart đạt 8.307 tỉ đồng (chiếm 96,9%) Trong năm nay
2010, Saigon Co.op đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu là 11.500 tỉ đồng, tăng trên 34% so với năm trước, trong đó tổng doanh số chuỗi Co.opMart là 11.200 tỉ đồng, tăng gần 35%[8]
Trang 20khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, có thể nói Satra là một trong những tập đoàn mạnh nhất ở khu vực phía Nam Việt Nam về lĩnh vực thương mại
và phân phối bán lẻ Với mục tiêu mở rộng hệ thống phân phối sỉ và lẻ khắp cả nước, Satra đã đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm như Khu thương mại Bình Điền, chợ cửa khẩu Mộc Bài, chợ trái cây Quốc Gia Tiền Giang Ngày 27/9/2008, Satra khai trương siêu thị Satra Bầu Cát ở quận Tân Bình, TP.HCM, mở đầu cho kế hoạch phát triển thương hiệu Satramart
Công ty Siêu thị Hà Nội ( tiền thân là công ty Bách Hóa Số 5 Nam Bộ) trực
thuộc tổng công ty thương mại Hà Nội với chuỗi hơn 50 siêu thị và nhiều cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh mang tiếng Hapromart tại Hà Nội và các tỉnh thành phía Bắc, dưới hình thức sở hữu 100% vốn của tổng công ty, liên doanh hoặc CP, nhượng quyền thương hiệu Hiện tại, Công ty Siêu thị Hà Nội kinh doanh đa dạng với nhiều lĩnh vực như: kinh doanh bán lẻ, bán buôn, cho thuê mặt bằng, gian hàng, văn phòng, kinh doanh các dịch vụ thương mại, ăn uống, thẩm mỹ Trong lĩnh vực bán lẻ, Hapromart có diện tích kinh doanh lên tới 9.424 m2 Với đội ngũ hơn 1.500 cán bộ, công nhân viên Hapromart sẵn sàng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng vào tất cả các ngày trong tuần Vốn đầu tư trung bình của mỗi siêu thị vào khoảng
10 tỷ đồng, doanh thu mỗi năm tăng từ 20-30%, lợi nhuận tăng xấp xỉ 15% Mục tiêu của Hapro là năm 2010 sẽ có 5 đại siêu thị, 70 siêu thị, 800 cửa hiệu tiện ích mang thương hiệu Hapromart trên toàn quốc
Công ty CP Tập đoàn Phú Thái (Phú Thái Group): được thành lập năm 1993,
đến nay công ty đã trở thành một mô hình kinh doanh và phân phối hàng tiêu dùng hàng đầu tại Việt Nam Với 2000 nhân viên, Phú Thái đã xây dựng được mạng lưới phân phối với hơn 50.000 đại lý gồm các nhà phân phối phụ, đại lý bán buôn, bán
lẻ, siêu thị và hơn 5000 khách hàng trực tiếp gồm các nhà hàng, khách sạn, cơ quan, người tiêu dùng Công ty có gần 30 đơn vị trực thuộc gồm các công ty thành viên, trung tâm phân phối và kho vận trên toàn quốc Với định hướng chiến lược đúng đắn, Phú Thái đã đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 40%
Tập đoàn dệt may Việt Nam với hệ thống siêu thị Vinatex mart: là hệ thống
siêu thị trải rộng trên cả nước Hệ thống siêu thị Vinatex Mart có nhiệm vụ chính là
Trang 21cung cấp và quảng bá các sản phẩm thời trang hàng đầu của các đơn vị dệt may Việt Nam Bên cạnh đó, nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, hệ thống siêu thị Vinatex Mart cũng đã mở rộng các mặt hàng kinh doanh, với việc phát triển hệ thống siêu thị tổng hợp bao gồm: hàng dệt may, hoá phẩm, thực phẩm, đồ dùng gia đình… Tính tới thời điểm cuối năm 2008, Vinatex đã phát triển được 54 điểm bán hàng có mặt trên 23 tỉnh thành trong nước, kinh doanh 50.000 mặt hàng do 800 nhà cung ứng gồm 5 ngành hàng chính là dệt may, thực phẩm, hóa phẩm, hàng gia dụng, đồ lưu niệm và đồ chơi trẻ em Với tốc độ tăng trưởng bình quân 60%/năm, năm 2010, hệ thống siêu thị Vinatex mart dự tính sẽ phát triển mạng lưới bán lẻ với
80 cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại và sẽ có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, phấn đấu đưa Vinatex nằm trong Top 3 của hệ thống bán lẻ Việt Nam
Công ty CP xuất nhập khẩu INTIMEX (Intimex Hochiminh) tiền thân là Chi
nhánh Công ty Xuất Nhập Khẩu Intimex tại TP.HCM, được thành lập vào tháng 9 năm 1995 Từ chỗ chỉ là một chi nhánh nhỏ nhưng sau hơn một thập niên xây dựng
và phát triển, Intimex Hochiminh đã có sự trưởng thành vượt bậc với chuỗi 8 siêu thị mang tên INTIMEX Intimex Hochiminh đang phát triển nhanh hệ thống phân phối, bán buôn, bán lẻ, các trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ và tiện ích tại các tỉnh thành phía Nam cũng như trên cả nước với số vốn đầu tư hàng trăm tỉ đồng Ngoài ra, còn phải kể tới Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ An Phong với chuỗi 5 siêu thị mang tên MAXIMARK, công ty TNHH Thương mại và Dịch
vụ Đông Hưng với chuỗi 10 siêu thị CITIMARK, công ty CP Nhất Nam với chuỗi
mà thường không tham gia vào hoạt động sản xuất như nhiều doanh nghiệp nhà
Trang 22nước Đây cũng là một trong những đặc điểm khá đặc thù của Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống phân phối nói riêng và hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa nói chung Tuy nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối trong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý kinh doanh, trình độ đội ngũ cán bộ… so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng hoạt động trong lĩnh vực này
2.2) Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Việt Nam là một thị trường bán lẻ giàu tiềm năng, có tốc đọ tăng trưởng cao, sức mua lớn với hơn 86 triệu dân Chính vì vậy, trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đã tăng cường đầu tư xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại nhằm khai thác thị trường Việt Nam, trong đó phải kể đến: Pakson (Malaysia), Big C (tập đoàn Casino, Pháp), hệ thống Metro của tập đoàn Metro Cash&Carry (Đức); Dairy Farm (Hồng Kông), Lotte Mart (tập đoàn Lotte, Hàn Quốc)… Các tập đoàn này đều đang kinh doanh khá thành công tại Việt Nam, góp phần không nhỏ hình thành nên một thị trường bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong nước đa dạng, phong phú và có tính cạnh tranh cao
Big C Việt Nam khai trương đại siêu thị đầu tiên tại Đồng Nai năm 1998 Hiện
nay, các cửa hàng Big C hiện diện ở hầu hết các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Biên Hòa, TP.HCM Big C là thương hiệu của tập đoàn Casino, một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Âu với hơn 9.000 cửa hàng tại Việt Nam, Thái Lan, Ac-hen-ti-na, U-ru-guay, Vê-nê-zuê-la, Bra-xin, Cô-lôm-bi-a, Ấn Độ Dương, Hà Lan, Pháp…, sử dụng trên 190.000 nhân viên
Bên cạnh Big C, Metro Cash & Carry cũng là một trong những tập đoàn phân
phối bán buôn và bán lẻ lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư lên đến 120 triệu
$ Tính tới năm 2008, hiện đã có 8 trung tâm bán buôn tại Việt Nam, Metro Cash & Carry đang ấp ủ mở thêm 4 trung tâm nữa tại Hà Nội TP.HCM, Nha Trang và Đồng Nai Ước tính chỉ trong một vài năm tới, tất cả các trung tâm của Metro ở Việt Nam đều sẽ mang lại lợi nhuận Ở các siêu thị Metro Cash & Carry cung cấp phong phú hơn 7000 mặt hàng thực phẩm và hơn 800 mặt hàng phi thực phẩm, trong đó có
Trang 23khoảng 90% hàng hóa được sản xuất trong nước Đồng thời đây cũng là một hệ thống phân phối hàng hóa triển vọng của Việt Nam ra thị trường thế giới
Ngoài ra, ngày 18/12/2008, siêu thị đầu tiên của tập đoàn Lotte tại Việt Nam
mang thương hiệu LotteMart đã được khai trương tại quận 7, khu Nam Sài Gòn, TP.HCM Đây cũng là trung tâm thương mại đầu tiên ở nước ngoài đầu tiên Lotteở Trung Quốc (8 cơ sở) hay Indonesia (19 cơ sở) đều được sang nhượng lại từ tập đoàn Macro Tổng giám đốc Lotte Việt Nam Lee Sang Woo cho rằng, LotteMart Nam Sài Gòn với tổng đầu tư 75 triệu $ là trung tâm thương mại lớn nhất Việt Nam Siêu thị được xây dựng trên khuôn viên diện tích 3,1 ha gồm 3 tầng với tổng diện tích sàn xây dựng là 33.389 m2
Trong đó, một nửa diện tích là dùng để kinh doanh gồm 6.099 m2
mặt bằng cho thuê và 9.772 m2 là khu vực siêu thị bán lẻ của LotteMart Gần 10% hàng hóa tại đây được nhập khẩu từ Hàn Quốc, còn lại chủ yếu
là hàng nội địa Lottecũng đang hướng đến việc tự sản xuất hàng nội địa Lotte cũng đang hướng đến việc tư sản xuất hàng tại Việt Nam để xuất khẩu Điểm khác biệt của LotteMart là trung tâm thương mại phức hợp này có cả dịch vụ mua sắm và giải trí, bao gồm rạp chiếu phim hiện đại khu bowling, khu vui chơi trẻ em, thẩm mỹ viện, dịch vụ du lịch, ngân hàng cùng với khu vực shophân phốiing của 36 công ty Nhìn chung, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài có nhiều lợi thế nổi trội so với các doanh nghiệp trong nước về năng lực tài chính, công nghệ, áp dụng các phương thức kinh doanh mới và đặc biệt là kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản trị kinh doanh Hầu hết đây đều là những tập đoàn lớn của Thế giới có bề dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này và đã thiết lập được một mạng lưới kinh doanh có tính chất toàn cầu Vì vậy, sự có mặt của các tập đoàn này một mặt tạo nên áp lực lớn về cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước nhưng cũng là cơ hội tốt để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh, phát triển đa dạng và tiếp cận được trình độ hiện đại của Thế giới
2.3) Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước
Đây vẫn đang là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt Nam, hàng năm đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP cả nước Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Việt Nam có gần 3 triệu hộ
Trang 24kinh doanh cá thể, tạo công ăn việc làm cho hơn 5 triệu lao động phổ thông Không những thế, các hộ kinh doanh cá thể này còn là mạng lưới rộng lớn nhất, phát triển tận về các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn mà các doanh nghiệp bán lẻ không thể đáp ứng được Do đó, đây là một kênh quan trọng trong hệ thống phân phối và lưu thông hàng hóa, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương
Tuy nhiên, đặc điểm chung của các đối tác này là hoạt động kinh doanh mang nặng tính tự phát, thiếu kiến thức và kỹ năng để chống đỡ những rủi ro, biến động
có thể xảy ra trên thị trường và hầu hết đây là những lao động phổ thông, gần như không qua bất kỳ trường lớp, khóa đào tạo nào về kỹ năng kinh doanh Hơn nữa, thông thường ở Việt Nam những hộ kinh doanh cá thể kiểu này lại thường là đối tượng tạo ra thu nhập chính cho gia đình.Chính vì vậy, những tác động dù nhỏ tới khu vực này cũng có thể dẫn tới ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của nhiều người khác
là thành viên trong gia đình họ
3) Hàng hóa lưu thông trên thị trường
Các loại hàng hóa tham gia lưu thông trên thị trường bán lẻ trong nước cũng ngày càng đa dạng, phong phú cả về chủng loại và cấp độ sản phẩm Bên cạnh
những hàng hóa sản xuất trong nước, cùng với quá trình mở cửa thị trường trong những năm gần đây, rất dễ để nhận ra rằng ngày càng có nhiều loại hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, đã
và đang tạo nên một thị trường bán lẻ nội địa đa dạng và nhiều màu sắc Hơn ai hết, người tiêu dùng là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ điều này, bởi lẽ các hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài hầu hết là của các thương hiệu uy tín, chất lượng cao, mẫu mã đẹp
Một hiện tượng dễ thấy ở thị trường Việt Nam hiện nay là hàng hóa được sản xuất tại Trung Quốc từ đồ dùng đơn giản hàng ngày như đôi dép cho tới hàng sang
trọng đắt tiền như laptop Đối với nhiều người, đây không phải là hiện tượng lạ vì chúng ta giáp với Trung Quốc – công xưởng của Thế giới, nơi có thể sản xuất ra những mặt hàng giá rẻ bất ngờ và phần lớn dân ta rất ưa chuộng hàng giá rẻ
Và một điều khó có thể tránh được là hàng trên thị trường có một tỷ lệ không nhỏ là hàng giả Hàng giả, hàng nhái khá phổ biến ở nhiều mặt hàng, từ những mặt
Trang 25hàng thông thường, như mỹ phẩm, quần áo, hàng hiệu túi xách, xi măng…, những mặt hàng liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người, như thuốc tân dược, rượu, một số thực phẩm…, đến những mặt hàng có tính kỹ thuật, những mặt hàng cao cấp, có giá trị lớn, như phụ tùng xe máy, đầu VCD, DịCH VụD…, rồi cổ phiếu, tiền… Và đến cả "tem chống hàng giả" cũng bị làm nhái, làm giả! Thời gian xuất hiện hàng giả, hàng nhái bây giờ cũng nhanh hơn nhiều; nếu trước đây, sau khi doanh nghiệp cho ra đời sản phẩm mới phải trên nửa năm sau mới có hàng giả, hàng nhái, thì nay có khi chỉ khoảng nửa tháng hàng giả, hàng nhái đã xuất hiện ngoài thị trường Theo đánh giá sơ bộ, tỷ lệ hàng giả tại thị trường hiện chiếm khoảng 8% đối với dược phẩm, 25% đối với rượu mạnh…
4) Các hệ thống phân phối bán lẻ
Theo số liệu của Grocery Report - The Nielsen 2008, cả nước hiện có khoảng 500.000 điểm bán lẻ ở tất cả các loại hình.Có thể chia thị trường bán lẻ Việt Nam ra làm 2 kênh khác nhau dựa vào phương thức hoạt động và kinh doanh: kênh phân phối bán lẻ truyền thống và kênh phân phối bán lẻ hiện đại
Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cho rằng, dù sự chênh lệch giữa kênh bán lẻ hiện đại
và truyền thống vẫn còn rất lớn, khó cân bằng nhanh trong thời gian tới Nhưng hiện nay người tiêu dùng đã quan tâm hơn đến hệ thống siêu thị và các cửa hàng tiện ích Bởi nếu như trong năm 2007 có 66% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua sắm tại siêu thị, thì cuối 2008 con số này đã lên tới 96% Tần suất mua sắm tại cửa hàng tiện ích, siêu thị cũng ngày càng tăng, từ 2 lần/tháng trong giai đoạn 2005 – 2007, lên 3 lần/tháng trong năm 2008, và nâng lên 4 – 5/tháng trong năm 2009 [9]
Cuộc cạnh tranh liên tục giữa các kênh bán lẻ hiện đại - truyền thống, nhất là
sự tham gia của các nhà bán lẻ nước ngoài đã mang lại luồng gió mới làm thay đổi
về chất và diện mạo của ngành bán lẻ nước ta Với nhiều kênh bán lẻ mới, người tiêu dùng có thêm các lựa chọn mua sắm hơn nên đã tạo áp lực buộc kênh bán lẻ truyền thống đang dần thay đổi về chất lượng phục vụ
Xu hướng phát triển chủ đạo của hệ thống bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới
là hệ thống truyền thống được duy trì, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, hệ thống phân phối hiện đại ngày càng lớn mạnh và phát triển
Trang 264.1) Kênh phân phối bán lẻ truyền thống
Các phương thức bán lẻ truyền thống đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước trong đời sống người Việt và hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống phân phối của Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của thị trường bán lẻ Theo số liệu của Bộ Thương mại tại Hội nghị phát triển thương mại trong nước và thực thi cam kết với WTO khu vực miền Nam được tổ chức tại TP HCM vào ngày 02/05/20007, thì hàng hóa đến tay người tiêu dùng vẫn chủ yếu qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và các cửa hàng bán lẻ độc lập ( khoảng 44%) Hàng bán qua hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện ích… mới chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng
Theo một cuộc khảo sát gần đây của công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen, thành viên của tập đoàn Nielsen tại Mỹ (công bố ngày 27/10/2008), thì kênh phân phối truyền thống vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người Việt khi kênh này chiếm tới 68% tổng doanh số mặt hàng thực phẩm trên thị trường ; dự kiến năm 2009 và 2010, thị phần bán lẻ của kênh thương mại này vẫn chiếm ưu thế với 80% và 76% Trong khi đó lương thực, thức ăn tươi sống hiện chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu của người Việt hàng tháng Đây là
lý do vì sao người tiêu dùng vẫn đi chợ hàng ngày và chỉ tới siêu thị khoảng 2 lần/tuần
Nhược điểm của kênh phân phối truyền thống là các quan hệ buôn bán diễn ra không liên tục, thiếu tính ổn định, khó có thể kiểm soát được Trước đây, bất kể ở đâu có dân cư sinh sống thì ở đó sẽ hình thành nên các chợ cóc, chợ tạm để phục vụ nhu cầu của người dân Hiện nay mạng lưới các chợ được phân bố rộng khắp trên cả nước với tổng số gần 10.000 chợ, trong đó có khoảng 6790 chợ ở nông thôn và
3210 chợ ở khu vực thành thị, đã và đang xây dựng hơn 150[7]
chợ đầu mối buôn bán nông sản cấp địa phương (đa số các tỉnh và thành phố đều đã có ít nhất 1 chợ đầu mối) Tuy nhiên đa số các chợ có quy mô nhỏ với diện tích bình quân mỗi điểm bán hàng ở chợ thành thị là 11,7m2; ở nông thôn là 12,5m2 Các chợ này hầu hết hình thành tự phát, không ít chợ lấn chiếm lòng đường, vỉa hè gây mất trật tự xã hội Chợ chủ yếu phục vị nhu cầu thực phẩm, nhu yếu phẩm hàng ngày của người
Trang 27dân trong khu vực, đa phần dưới dạng lều lán tạm bợ, ước tính chỉ có khoảng 11,6%
số chợ trên toàn quốc được xây dựng kiên cố Ngoài ra, hàng hóa ở chợ phần lớn không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn sản phẩm,
số lượng bán hàng lại hạn chế, mang tính bình dân… Do đó khách hàng của các chợ truyền thống kiểu này chủ yếu tập trung vào người có thu nhập bậc trung đến thấp Chính bởi những mặt còn tồn tại kể trên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
và sự thay đổi của tập quán tiêu dùng xã hội, trong thời gian tới chắc chắn sẽ diễn ra một sự chuyển dịch tỷ trọng giữa các kênh phân phối Theo đó, kênh phân phối hiện đại sẽ dần dần chiếm ưu thế hơn so với kênh phân phối truyền thống Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các kênh phân phối truyền thống sẽ bị mất hoàn toàn ưu thế Thời gian gần đây, tại nhiều tỉnh, thành phố, các chợ đã bắt đầu tự đổi mới mình bằng cách sắp xếp, bố trí lại các gian hàng cho khoa học, thông thoáng hơn
Có thể khẳng định rằng, dù ở thời đại nào thì kênh phân phối truyền thống vẫn luôn đóng vai trò không thể thiếu của nó, tồn tại trong lòng người dân, tồn tại trong tất cả ngõ xóm, các khu tập thể, các dãy phố, như một nét văn hóa không thể thiếu của người Việt
4.2) Kênh phân phối bán lẻ hiện đại
Bên cạnh kênh bán lẻ truyền thống, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, kênh bán lẻ hiện đại cũng ngày càng được mở rộng và trở nên phổ biến Người tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu trở nên quen thuộc với các loại máy hình mua sắm hiện đại như các cửa hàng tiện ích, các siêu thị hay trung tâm thương mại Thay vì đi chợ, họ vào siêu thị để thư giãn, để thỏa cái thú vui mua sắm, ngắm nhìn hàng hóa được sắp đặt vuông hàng thẳng lối, giá cả được niêm yết rõ ràng, không mặc cả, không to tiếng, văn minh và sạch sẽ Khuyến mại được trưng bày công khai, chất lượng hàng hóa được kiểm nghiệm chặt chẽ… Có thể nói kênh phân phối hiện đại đã thuyết phục được ngay cả những người tiêu dùng khó tính nhất và ngày càng chiếm ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống
Nếu như trước đây, phương thức bán lẻ hiện đại rất ít, chỉ đạt khoảng 3% (năm 2001) trong hệ thống phân phối thì đên năm 2007 đã lên tới 14% và chiếm khoảng 20% (số liệu từ Grocery Report) Theo nhận định của Công ty nghiêm cứu thị
Trang 28trường AC Nielsen, đến năm 2010 phương thức này sẽ chiếm lĩnh 24% trong thị trường phân phối, riêng tại TP HCM và Hà Nội việc người dân tới các trung tâm, siêu thị, chuỗi cửa hàng,… đê mua sắm sẽ chiếm tới 37% trong vài ba năm nữa Cũng theo Nielson, doanh thu của kênh phân phối hiện đại đã tăng trưởng 47% trong năm 2007 so với mức 10% trong năm 2006 Sự tăng trưởng nhanh chóng này
là do sự bùng nổ của các siêu thị, trugn tâm thương mại và chuỗi cửa hàng trên toàn quốc
Cách đây hơn 13 năm, siêu thị quốc doanh đầu tiên của Việt Nam ra đời (tháng 11/1995) Đến cuối năm 2007, cả nước có khoảng 70 trung tâm thương mại, gần 400 siêu thị các loại, 2000 cửa hàng tiện ích… chiếm hơn 10% tổng mức bán lẻ
và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội Dự kiến đến năm 2010, số siêu thị sẽ tăng lên 700 – 750, trung tâm thương mại tăng lên 150 và số cửa hàng tiện ích sẽ lên đến hàng chục ngàn Trên thị trường, bên cạnh các thương hiệu nổi tiếng như Phú Thái, Hapro, Satra, Saigon Co.op còn có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Metro, BigC, Parkson…
Riêng ở TP HCM từ 14 siêu thị năm 2005, đến cuối năm 2008 đã có 60 siêu thị, hiện nay đã trên 150 siêu thị và trung tâm thương mại Doanh thu của các siêu thị cũng liên tục tăng Co.op mart có doanh thu tăng từ 35% đến gần 50% mỗi năm Hầu hết các siêu thị đang kinh doanh trên địa bàn thành phố như Vinatexmart, Citimart, Maximart, Big C… cũng đều đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ 30% trở lên
Cùng với việc nhiều siêu thị ra đời, lượng khách đến mua hàng tại các siêu thị cũng tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, góp phần tăng trưởng đáng kể cho kênh phân phối hiện đại này Nghiên cứu thị trường bán lẻ Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà – chủ tịch hội đồng quản trị Saigon Co.op cho biết: có đến hơn 50% số hộ gia đình ở thành thị đã đi mua sắm ở các kênh phân phối hiện đại hàng tháng, trong đó 30% đi mua ở siêu thị, 12% ở siêu thị bán sỉ, 8% ở trung tâm thương mại, 2% ở siêu thị nhỏ[14]
Chi tiêu trong kênh bán lẻ hiện đại cũng gia tăng nhanh chóng (trung bình đạt 17%/năm) Còn theo kết quả điều tra của ng tiêu cho các mặt hàng tiêu dùng nhanh tại các kênh phân phối hiện đại ở Việt Nam cũng tăng
Trang 29gấp đôi Cụ thể trong năm 2003 là 777.000đ/người/năm, tăng lên 1.796.000/người/năm trong năm 2008
Các nghiên cứu về hành vi, tâm lý tiêu dùng cũng đã chỉ ra nhu cầu mua sắm ở các kênh bán lẻ hiện đại vẫn đang tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, nhất là ở các vùng đô thị như TP HCM, Hà Nội, Đà Nẵng… Dân số các thành phố gia tăng một cách nhanh chóng, càng thể hiện nhu cầu trao đổi, mua bán, đặc biệt là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Vì vậy, cơ hội cho các cửa hàng tiện ích, siêu thị kinh doanh là rất lớn
5) Sự cần thiết phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam
Như trên chúng ta đã thấy thị trường phân phối bán lẻ có một vai trò không thể thiếu trong đời sống người dân của bất kỳ quốc gia nào Thị trường phân phối bán
lẻ nuôi sống cả một nền kinh tế, và góp phần làm cho khâu sản xuất được trơn tru
Vì vậy, phát triển thị trường bán lẻ là cần thiết, và càng bức thiết hơn ở Việt Nam hiện nay
Được đánh giá là một thị trường hấp dẫn, được nhiều đại gia bán lẻ nước ngoài hướng tới, sau khi hoàn thành các cam kết gia nhập WTO, sẽ có khả năng làn sóng đầu tư nước ngoài ồ ạt vào thị trường bán lẻ Việt Nam Điều đó làm cho thị trường bán lẻ càng thêm sôi động với một hệ thống siêu thị hiện đại tồn tại bên kênh phân phối truyền thống, chất lượng phục vụ nâng cao, phong phú các chủng loại hàng hóa và người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn Tuy nhiên, các nhà bán lẻ nội địa lại đứng trước khả năng bị áp đảo, thậm chí “mất đất làm ăn” ngay chính trên sân nhà nếu không đủ khả năng chống đỡ Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm sao phát triển thị trường bán lẻ bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài đồng thời cân bằng với việc hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa phát triển
Thực tế diễn biến ra sao, nhà đầu tư nước ngoài đã thâm nhập thị trường bán lẻ Việt Nam như thế nào, doanh nghiệp nội địa đã chuẩn bị ra sao, chính phủ nên có các chính sách gì thúc đẩy và bảo hộ thị trường trong nước, sẽ được khóa luận trình bày trong các phần tiếp theo
Trang 30CHƯƠNG II: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ Ở VIỆT NAM KỂ TỪ SAU 1/1/2009
I) Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ
Trải qua hơn 10 năm với hàng chục các phiên đàm phán song phương và đa phương, đến ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Việc gia nhập WTO đem lại rất nhiều cơ hội cho Việt Nam mà một trong những cơ hội và cũng là thách thức lớn nhất là việc Việt Nam phải thực hiện các cam kết WTO về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ
Thị trường phân phồi bán lẻ đầy tiềm năng của Việt Nam có sức thu hút rất lớn đối với các doanh nghiệp và các tập đoàn bán lẻ nước ngoài Vì vậy, trong quá trình đàm phán gia nhập, nhiều thành viên WTO đã đưa ra yêu cầu rất cao, đề nghị
ta phải mở cửa thị trường dịch vụ phân phối và coi đây là điều kiện tiên quyết để chấp nhận cho Việt Nam gia nhập WTO Do trước đó Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) nên ta đã đồng ý đàm phán với các thành viên WTO để dành cho các thành viên này đối xử như ta đã dành cho Hoa Kỳ Cam kết của Việt Nam trong WTO đối với dịch vụ phân phối được thiết kế trên cơ sở của BTA Ví dụ, tương tự như BTA, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón… ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm
Tuy nhiên, các thành viên WTO chỉ coi BTA là khởi điểm để đàm phán nên cam kết của Việt Nam trong WTO có nhiều thay đổi so với BTA Cụ thể như sau: Theo phân loại của WTO, dịch vụ phân phối được chia làm 4 phân ngành gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, và dịch vụ nhượng quyền thương mại Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO đối với các phân ngành này là:
Trang 31Theo phân loại của WTO, Việt Nam cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối
sau khi gia nhập, bao gồm: (i) dịch vụ đại lý hoa hồng; (ii) dịch vụ bán buôn; (iii)
dịch vụ bán lẻ; (iv) dịch vụ nhượng quyền thương mại
Các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép trước khi Việt Nam gia nhập WTO (kể cả các doanh nghiệp, siêu thị 100% vốn nước ngoài) sẽ tiếp tục được hoạt động với các điều kiện như đã quy định trong giấy phép Còn các doanh nghiệp thành lập sau khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ phải tuân thủ các cam kết của Việt Nam trong WTO đối với dịch vụ phân phối
Về hình thức hoạt động: ngay sau khi gia nhập WTO, ta cam kết cho phép
các nhà phân phối nước ngoài được thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam để cung cấp dịch vụ phân phối, nhưng tỷ lệ góp vốn phía nước ngoài không được vượt quá 49% vốn góp sẽ được bãi bỏ, nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn chỉ được thành lập công ty dưới hình thức góp vốn liên doanh Kể từ ngày 01/01/2009, Việt Nam cho phép thành lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
Về diện mặt hàng: Việt Nam cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất
cả các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau:
Danh mục hàng hóa loại trừ vĩnh viễn: là những mặt hàng mà nhà đầu tư nước
ngoài sẽ không bao giờ được quyền tham gia phân phối trên lãnh thổ Việt Nam như: lúa, gạo, đường, thuốc lá, xì gà, dầu thô và dầu qua chế biến, dược phẩm, thuốc nổ, sách – báo – tạp chí, kim loại quý và đá quý, vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu
Danh mục hàng hóa loại trừ có thời hạn: nhà đầu tư nước ngoài được quyền
phân phối theo lộ trình mà Việt Nam đã cam kết Từ 01/01/2009 là máy kéo, phương tiện cơ giớ, ô tô con và xe máy Từ 01/01/2010 là rượu, xi măng, clinke, phân bón, sắt thép, giấy, lốp xe (trừ lốp máy bay), thiết bị nghe nhìn
Về cơ sở bán lẻ: theo quy định tại Phụ lục số 01 Quyết định số
10/2007/QĐ-BTM: “Quyền phân phối của nhà đầu tư nước ngoài với quyền được lập cơ sở bán
lẻ thứ nhất.”
Trang 32Tuy nhiên, cũng theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam vẫn có thể hạn chế khả năng mở thêm điểm bán lẻ của các doanh nghiệp nước ngoài thông qua việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) Kiểm tra nhu cầu kinh tế có thể hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình hình thực tế để xem xét có cấp phép cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục mở cơ sở thứ nhất hay không Việc kiểm tra nhu cầu kinh tế, cấp phép sẽ dựa trên các tiêu chí khách quan, bao gồm số lượng các nhà cung cấp dịch vụ (các cơ sở bán lẻ) đang hiện diện trong một số khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý
Chính sách mở cửa thị trường bán lẻ như vậy là cần thiết và hợp lý Từ đó, Nhà nước và toàn bộ các doanh nghiệp cần phải thực hiện nghiêm túc, triển khai đúng quy định, minh bạch thì mới phát huy hết tác dụng của chính sách
II) Thị trường bán lẻ ở Việt Nam kể từ sau 1/1/2009
1) Mức độ hấp dẫn và mức độ tăng trưởng
1.1)Mức độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam
Hòa chung vào tình hình kinh tế thế giới u ám, mức độ hấp dẫn của thị trường
bán lẻ Việt Nam giảm sút trong năm 2009 Năm 2008, thị trường bán lẻ nước ta
“qua mặt” cả ba “người khổng lồ” Ấn Độ, Nga và Trung Quốc để chiếm “ngôi hậu” trong “làng bán lẻ” thế giới Tuy nhiên, năm 2009 đã có nhiều thay đổi, chúng ta không thể giữ vững duy trì ổn định được vị thế đó.Theo kết quả nghiên cứu lựa chọn xếp hạng 30 nền kinh tế có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới được tập đoàn tư vấn A.T Kearney công bố, với “chỉ số phát triển bán lẻ chung năm 2009” (The 2009 A.T Kearney Global Retail Development Index, viết tắt là GRDI) chỉ đạt 55 điểm, thị trường bán lẻ Việt Nam rơi năm bậc xuống vị trí thứ sáu
Trang 33Điểm GRD
( Nguồn: The 2009 A.T Kearney Global Retail Development Index)
Cần lưu ý rằng, đây là bước rơi mạnh, bởi trong bảng xếp hạng của tổ chức này trong suốt sáu năm qua, chỉ mới có ba quốc gia là Slovenia, Croatia, Ukraine và
Ai Cập là bị đẩy khỏi “tốp 5”, và nhất là khi đã lọt được vào “tốp 3” rồi, thì cả ba
“người khổng lồ” Ấn Độ, Nga và Trung Quốc đều “cố thủ” rất chắc chắn
Mặc dù vậy, điều an ủi là, trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, GRDI của tất cả các quốc gia đều rơi và khoảng cách giữa thị trường bán lẻ của nước ta với “tốp 5”, đặc biệt là với cả ba quốc gia đứng ngay sát trên chỉ duy nhất “một bước chân”
Cụ thể là, thay vì cao ngất ngưởng ở mức 88 – 100 điểm những năm trước đây, GRDI của Ấn Độ chiếm “ngôi hậu” năm nay chỉ là đạt 68 điểm, về nhì là Nga cũng chỉ đạt 60 điểm, còn ba quốc gia đứng liền kề trên chúng ta là Arập Saudi, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất và cả Trung Quốc đều chỉ đạt 56 điểm, tức là chỉ hơn thị trường bán lẻ của nước ta vỏn vẹn 1 điểm
Vậy nguồn cơn dẫn đến “thảm hoạ” rơi tự do ở đây là gì?
Trang 34Trước hết, GRDI là chỉ số do tập đoàn tư vấn A.T Kearney xây dựng dựa theo thang điểm 100 Trong đó, thị trường nào có điểm số càng cao có nghĩa là độ hấp dẫn và triển vọng phát triển của thị trường đó càng lớn Trong đó, các tiêu chí hình thành GRDI được chia thành bốn nhóm lớn, đều có trọng số giống nhau là 25% và đều được đánh giá theo thang điểm 100, gồm:
Một là mức độ rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh (Country and business risk), trong đó 0 điểm là rủi ro cao và 100 điểm là rủi ro thấp;
Hai là độ hấp dẫn của thị trường (Market athị trườngractiveness), trong đó 0 điểm là độ hấp dẫn thấp và 100 điểm là độ hấp dẫn cao;
Ba là độ bão hoà của thị trường (Market saturation), trong đó 0 điểm là bão hoà và 100 điểm là không bão hoà;
Bốn là áp lực thời gian (Time pressure), trong đó 0 điểm là không có áp lực về thời gian và 100 điểm là cần khẩn trương thâm nhập thị trường
Theo cách đánh giá này, ở tiêu chí mức độ rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh của thị trường bán lẻ nước ta, sau bốn năm cho dù còn chậm, nhưng vẫn có tiến bộ, thì năm nay đã rơi tự do Đó là, theo A T Kearney, nếu như mức độ rủi ro quốc gia
và rủi ro kinh doanh năm 2004 là 52 điểm; năm 2005 nhích lên 54 điểm; năm 2006 tụt xuống còn 43 điểm; còn hai năm 2007 – 2008 đều đạt 57 điểm, thì hiện nay rơi
tự do xuống chỉ còn 34 điểm, tức là đã không chỉ giảm mất 40,35% số điểm đã đạt được, mà còn đang ở mức “đáy”
Không những vậy, ở tiêu chí độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ nước ta, tình hình thực sự còn tồi tệ hơn nữa Bởi lẽ, sau “những bập bõm ban đầu”, chúng ta đã
có tiến bộ đáng kể trong hai năm 2007 – 2008, nhưng hiện đã rơi tự do thảm hại không những chỉ so với những gì chúng ta đã đạt được, mà còn ở mức “đáy” so với
cả 30 quốc gia có tên trong bảng xếp hạng của A.T Kearney
Cụ thể, ở tiêu chí này, nếu như thị trường bán lẻ của nước ta năm 2004 đạt 29 điểm, năm 2005 và 2006 tụt xuống chỉ còn 24 điểm, còn hai năm 2007 – 2008 cùng đạt 34 điểm, thì hiện nay rơi tự do xuống chỉ còn 16 điểm, tức là đã “đánh rơi” mất hơn một nửa số điểm đã đạt được và chỉ bằng gần 60% số điểm của quốc gia thấp
Trang 35nhất trong 29 quốc gia khác có trong danh sách 30 quốc gia này của A.T Kearney năm nay
Mặc dù vậy, ở cả hai tiêu chí còn lại, thị trường bán lẻ của nước ta cũng phần nào có được “sự an ủi” Đó là, ở tiêu chí độ bão hoà của thị trường, theo đánh giá của A.T Kearney, thay vì 67 điểm năm 2008, với 74 điểm, độ bão hoà của thị trường bán lẻ nước ta đã “loãng hơn”, tức là nhu cầu tăng tiêu dùng hiện nay đã lớn hơn năm 2008 và gần trở lại mức của năm 2007 Đặc biệt, ở tiêu chí áp lực thời gian, với 97 điểm, tăng 7 điểm so với năm 2008, còn so với năm 2004 thì tăng tới
31 điểm và gần “chạm trần”, thị trường bán lẻ nước ta đang có “sức mời gọi” các nhà đầu tư nhanh chóng tham gia kinh doanh lớn nhất
Mặt khác, với những đặc điểm riêng vốn có, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn
đầy tiềm năng, thu hút các nhà đầu tư Tuy trong bối cảnh suy giảm kinh tế đang
khiến cho dòng đầu tư toàn cầu cũng như vào Việt Nam có nguy cơ sụt giảm, Giám đốc điều hành công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu (TNS) Ralf Matthaes nhận
định đây là thời điểm tốt để các nhà bán lẻ nước ngoài vào thị trường nước ta
Trong năm 2009, kinh tế nước ta đã dần phục hồi thoát khỏi giai đoạn khó khăn nhất và đạt được mức tăng trưởng 5,3% cao hơn chỉ tiêu đã đặt ra Chính sách kích thích kinh tế là một lý do đưa Việt Nam ra khỏi "đáy" và tăng trưởng ổn định Trong năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng 15,3% so với 2008 và bằng 42,8% GDP Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước tăng 40,5%, trong đó vốn từ ngân sách chiếm 21,8% tổng vốn, tăng 6,8% so với kế hoạch năm Vốn đầu tư ngoài nhà nước năm 2009 tăng 13,9% trong khi khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 5,8% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực
tế cả năm ước đạt 1197,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% Nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng đạt 11% so với 2008 Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 6,52%, thấp hơn mức 7%[16]
đặt ra trong kế hoạch trước đó.Theo ông Kevin Snowball, Giám đốc điều hành công ty PXP Vietnam Asset Management, con số GDP của Việt Nam trong năm 2009, dù thấp hơn năm trước đó, vẫn cho thấy Việt Nam đang phục hồi nhanh trong bối cảnh suy thoái toàn cầu
Trang 36Bên cạnh đó, phát biểu tại diễn đàn kinh tế tại Davos - Thụy sĩ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 sẽ đạt 7% Những dấu hiệu hồi phục đã rõ ràng từ đầu năm Thủ tướng cũng cho rằng mức tăng trưởng kinh tế nước ta sẽ quay về mức 7 đến 8% trong các năm 2011 và 2012 và tin tưởng nước ta hoàn tòan có khả năng duy trì mức lạm phát trong năm nay ở mức dưới 7%.Ngoài ra, ông Mattaes cũng khẳng định rằng ở Việt Nam người dân vẫn đang tiêu dùng nhiều hơn so với năm 2008 Những gì chúng tôi thấy là sức mua trong những năm qua tăng đều khoảng 20%, như vậy nếu năm 2009 tiêu dùng có giảm 7% thì so với 2 năm trước vẫn tăng trưởng Giám đốc điều hành TNS đưa ra
số liệu nghiên cứu cho thấy hiện nay người tiêu dùng giàu có chiếm hơn 30% tổng
số cư dân thành thị Việt Nam Cách đây 10 năm, khi TNS bắt đầu nghiên cứu thị trường Việt Nam, con số này chỉ là dưới 5% và Việt Nam không chịu ảnh hưởng trầm trọng từ khủng hoảng tài chính thế giới như các quốc gia khác
Trong một nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường RNCOS (Ấn Độ), thị trường bán lẻ Việt Nam tuy có quy mô nhỏ so với thị trường các nước phát triển ở châu Á, song ngày càng chứng tỏ một nền tảng vững chắc bằng tốc độ tăng trưởng doanh số bán lẻ nhanh chóng Thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất nhiều cơ hội phát triển, nếu so sánh với các thị trường bán lẻ trong khu vực, vốn đã bão hòa Hiện thị phần của loại hình thương mại hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại…) chiếm trên 30% trên thị trường bán lẻ tại Malaysia, Singapore, Philippines, trong khi tại Việt Nam, theo ông Tuyển, tỉ lệ này chỉ mới 19,4% Nhà phân phối nhiều sản phẩm thời trang và mỹ phẩm cao cấp tại Việt Nam (như Guess, Calvin Klein, Swarovski…) cho rằng, Việt Nam đang thất thoát lớn do không khai thác hết tiềm năng của kênh bán lẻ cao cấp “Dòng ngoại hối từ kênh mua sắm của Việt Nam đang chảy vào hai thị trường lớn trong khu vực là Malaysia và Singapore Mỗi năm,
có khoảng 30.000 du khách Việt Nam sang Singapore vào mùa du lịch mua sắm; đó
là chưa kể đến 10.000 du học sinh đang học tập tại quốc gia này Trung bình mỗi năm chúng ta mất 7 tỉ $ từ lượng khách hàng này[20]
Trang 37
2) Mức độ tăng trưởng
2.1) Mức độ tăng trưởng
Số liệu thống kê của bộ Công thương, sau một năm tiếp tục lộ trình mở cửa, thị trường bán lẻ Việt Nam đã vượt qua suy thoái với con số ấn tượng Doanh số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt gần 1.200 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2008 Nếu loại trừ yếu tố giá, tăng trưởng vẫn đạt gần 12% Tuy giảm so với năm 2008, nhưng trong bối cảnh chung mức tăng này vẫn rất ngoạn mục và đáng khích lệ Trên đà khởi sắc của thị trường tiêu dùng nội địa, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ được nhận định sẽ còn tiếp tục tăng trên 20% trong năm 2010, ước đạt 1.440 nghìn tỷ đồng Dựa vào triển vọng này, công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu RNCOS (Mỹ) cũng dự báo thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ đạt doanh số 85
tỷ $ vào năm 2012
Trong khi đó, mức tăng trưởng tại thị trường bán lẻ Ấn Độ là 30%, đưa doanh
số lên 400 tỷ $ Đặt trong tương quan so với một nước có số dân hơn 1 tỷ người như
Ấn Độ thì con số tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam với dân số chỉ hơn 85 triệu người thì không phải là nhỏ
Tại diễn đàn "Thị trường phân phối bán lẻ Việt Nam: Tiềm năng - Hợp tác - Phát triển" do bộ Công thương phối hợp với hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam tổ chức ngày 22/1/2010 tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế và đại diện nhiều doanh nghiệp đều khẳng định: “Các nhà bán lẻ trên thế giới đều đang đối mặt với những quyết định khó khăn Tuy nhiên, cơ hội tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn rất lớn và tiếp tục phát triển mạnh trong năm 2010, mở ra nhiều cơ hội cho các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.”
Đồng quan điểm đó, theo ông Richard Leech, giám đốc công ty CB Richard Ellis Việt Nam, mặc dù bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, song năm vừa qua thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn xuất hiện nhiều thương hiệu quốc tế mới như Naf Naf, Morgan de Toi, Mexx, Aldo, Hard Rock Café, Debenhams Điều này cho thấy chắc chắn trong năm 2010 sẽ có thêm nhiều nhà bán lẻ cao cấp nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam
Trang 382.2) Nguyên nhân mức tăng trưởng giảm
Có nhiều yếu tố dẫn tới mức tăng trưởng của thị trường bán lẻ năm 2009 giảm xuống còn khoảng 18% Trước ta, chúng ta xem xét thực chất mức tăng trưởng năm
2008 ảnh hưởng lớn bởi việc giá tiêu dùng bị khuếch đại
Biểu đồ 1: Mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng bán lẻ
và tốc độ tăng giá tiêu dùng từ năm 1993 tới 2008
(Tổng hợp từ nguồn tài liệu: “Võ Hồng Dũng (Giám đốc VCCI Cần Thơ), Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng từ 1976 tới 2008”; và “Báo Doanh Nghiệp tháng 5/2009, Thị trường bán lẻ Việt Nam: dự báo quá lạc quan?”)
Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,18% năm 2008 cũng đã có thể coi là thành công do chúng ta đã bắt đầu phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế trăm năm mới có một lần hiện nay, nhưng đây cũng chính là năm mà kinh tế nước ta đã rơi tự
do không kém năm 1998 bao xa Điều này có nghĩa là, trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảm mạnh như vậy, tốc độ tăng thu nhập của quảng đại các tầng lớp dân cư đương nhiên cũng tăng chậm lại tương ứng, cho nên việc tốc độ tăng của thị trường bán lẻ rơi tự do như những năm cuối thập kỷ trước là hợp quy luật, còn việc tăng kỷ lục 31% năm 2008 là rất không bình thường Rõ ràng, trong khi thu nhập tăng chậm lại rất đáng kể, tốc độ chi tiêu dùng hằng ngày lại tăng đột biến thì chỉ có thể là do rất đông đảo người tiêu dùng đã bị buộc phải “dốc hầu bao” cho
Trang 39chuyện “miếng cơm manh áo”, cho nên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức mua xã hội trong năm nay.
Đó là, nếu như ở thời điểm giữa năm 2007, trong khi tốc độ tăng của thị trường bán lẻ tính theo giá thực tế là 22,9%, còn loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn đạt 15%, thì ở thời điểm giữa năm 2008, cặp số liệu này bị biến dạng quá mạnh thành 30% và 8%, còn chỉ tính chung cả năm 2008 là 31% và 6,5%
Những điều nói trên cho thấy rằng, tốc độ tăng kỷ lục của thị trường bán lẻ năm 2008 chủ yếu là do giá tiêu dùng “khuếch đại” lên, còn tốc độ tăng thực tế thì
bị “co lại” Điều này có nghĩa là, để tăng mua một khối lượng hàng hoá hạn chế như vậy, những người tiêu dùng đã phải “dốc hầu bao” quá nhiều
Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, cho dù điều đó không ảnh hưởng nhiều đến “túi tiền” của một bộ phận nhỏ dân cư có thu nhập cao trong xã hội, nhưng đối với bộ phận dân cư có thu nhập thấp, thậm chí có thu nhập trung bình, thì sức mua chắc chắn bị ảnh hưởng nghiêm trọng Điều này có nghĩa là, những “di chứng” mà lạm phát cao và kinh tế tăng trưởng thấp năm 2008 để lại cho thị trường bán lẻ khá nặng nề
Theo những lôgíc nói trên, có lẽ đã có đầy đủ căn cứ đáng tin cậy để cho rằng, tốc độ tăng bán lẻ năm 2009 tụt dốc mạnh
Thứ nhất, với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, đương nhiên thị trường trong
nước không có nền tảng tốt để tăng trưởng mạnh Trước hết, trong điều kiện cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ở thời điểm hiện tại, khả năng nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng 6,5% như mục tiêu đã gần như không thể Điều này đồng nghĩa với tốc độ tăng thu nhập của quảng đại các tầng lớp dân cư sẽ tiếp tục bị chậm lại, công ăn việc làm trở nên khó khăn, cho nên sức mua của thị trường xã hội cũng sẽ tăng chậm lại, và do vậy, tốc độ tăng của thị trường bán lẻ đương nhiên cũng sẽ chậm lại Bài học “chạm đáy” năm 1999 nói trên cũng
có thể giúp chúng ta dễ dàng hình dung triển vọng rất không sáng sủa này
Thứ hai, trong điều kiện hội đủ những yếu tố để chuyển trạng thái từ sốt nóng
năm 2008 sang sốt lạnh trong năm nay và trạng thái này đồng nghĩa với yếu tố quan trọng nhất khiến thị trường bán lẻ bị “khuếch đại” lên kỷ lục như năm 2008 biến
Trang 40mất, cho nên tốc độ tăng của nó rơi tự do gần như là chắc chắn Trước hết, như dự báo gần đây nhất của IMF cho thấy, thay vì ước tăng bình quân 27,48% năm 2008, dầu mỏ thế giới năm nay sẽ “đại hạ giá” kỷ lục 48,5%, còn nguyên liệu phi dầu mỏ cũng “đại hạ giá” 29,1%, cho nên giá nguyên liệu nói chung sẽ giảm khoảng 43% Đối với một nền kinh tế mà riêng “rổ hàng hoá nguyên liệu nhập khẩu” đã lên tới khoảng 60% như nước ta, thay vì “nhập khẩu sốt nóng giá cả thế giới” trên quy mô rất lớn trước đây, chúng ta sẽ chuyển sang “nhập khẩu sốt lạnh giá cả thế giới” cũng trên quy mô tương tự Do vậy, ngược lại với tác dụng gia nhiệt thị trường trong nước ngày càng mạnh năm năm gần đây, đây sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng khiến thị trường trong nước của chúng ta năm nay sẽ phải hạ nhiệt theo giá thế giới
Thứ ba, cả hai yếu tố tác động nói trên sẽ cộng hưởng với tình trạng “cháy túi”
của một bộ phận không nhỏ dân cư trong năm 2008 chắc chắn sẽ làm cho tâm lý
“thắt lưng buộc bụng” trong năm nay mạnh thêm Trước hết, như dự báo của IMF cho thấy, thay vì ước tăng bình quân 27,48% năm 2008, dầu mỏ thế giới năm nay sẽ
“đại hạ giá” kỷ lục 48,5%, còn nguyên liệu phi dầu mỏ cũng “đại hạ giá” 29,1%, cho nên giá nguyên liệu nói chung sẽ giảm khoảng 43% Đối với một nền kinh tế
mà riêng “rổ hàng hoá nguyên liệu nhập khẩu” đã lên tới khoảng 60% như nước ta, thay vì “nhập khẩu sốt nóng giá cả thế giới” trên quy mô rất lớn trước đây, chúng ta
sẽ chuyển sang “nhập khẩu sốt lạnh giá cả thế giới” cũng trên quy mô tương tự
Do vậy, ngược lại với tác dụng gia nhiệt thị trường trong nước ngày càng mạnh năm năm gần đây, đây sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng khiến thị trường trong nước của chúng ta năm nay sẽ phải hạ nhiệt theo giá thế giới
II.2) Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường bán lẻ
2.1) Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường nội địa
Chúng ta kỳ vọng rằng thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ trở nên sôi động sau thời điểm 1/1/2009 khi mà quyết định các nhà bán lẻ nước ngoài có thể đầu tư 100% vốn vào thị trường nội địa có hiệu lực Tuy nhiên, thực tế lại đìu hiu hoàn toàn khác xa với ý kiến đó Như các phần trên đã nói ta có thể hiểu được do yếu tố khách quan
dư âm của khủng khoảng kinh tế thế giới, do những nội tại của thị trường nội địa