1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam

99 750 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Tác giả Đinh Thị Ngọc Mai
Người hướng dẫn Cô Lê Minh Trâm
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam nhằm khái quát chung về bảo hiểm nông nghiệp. Hoạt động nông nghiệp bảo hiểm tại Mỹ. Kiến nghị đối với chính sách phát triển bảo hiểm nông nghiệp, định hướng phát triển bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Ngọc Mai Lớp : A13

Khóa : 45 Giáo viên hướng dẫn : Cô Lê Minh Trâm

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 4

I ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẨN THIẾT CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 4

II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI 8

III CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP PHỔ BIẾN 10

1 Bảo hiểm cây trồng 10

1.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 10

1.2 Giá trị bảo hiểm 12

1.3 Các chế độ bảo hiểm cây trồng 13

1.4 Phương pháp xác định phí bảo hiểm cây trồng 14

1.5 Giám định và bồi thường tổn thất 17

2 Bảo hiểm chăn nuôi 18

2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 18

2.2 Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm 19

2.3 Phương pháp xác định phí bảo hiểm chăn nuôi 20

2.4 Giám định và bồi thường tổn thất 22

IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN KHI THAM GIA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM 23

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ 25

I SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ 25

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ 26

1 Bảo hiểm cây trồng 26

1.1 Lịch sử phát triển của bảo hiểm cây trồng tại Mỹ 26

1.2 Các loại hình bảo hiểm cây trồng tại Mỹ 30

1.3 Hình thức công ty tham gia thị trường bảo hiểm cây trồng Mỹ 36

Trang 3

1.4 Hoạt động tái bảo hiểm cây trồng liên bang 39

1.5 NCIS – Hiệp hội bảo hiểm cây trồng Mỹ 42

2 Bảo hiểm chăn nuôi 42

2.1 Bảo hiểm “Phòng ngừa rủi ro chăn nuôi” (Livestock Risk Protection) 43

2.2 Bảo hiểm “Tỷ lệ lợi nhuận gộp cho gia súc” (Livestock Gross Margin) 45

III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ 48

1 Thành tựu đạt được 48

1.1 Thành tựu của bảo hiểm cây trồng 48

1.2 Thành tựu của bảo hiểm chăn nuôi 53

2 Hạn chế trong quá trình phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ 55

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 58

I THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 58

1 Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam 58

2 Tình hình triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam 59

3 Những kết quả đã đạt được 63

4 Những vấn đề còn tồn tại 64

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 66

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 69

1 Tăng cường vai trò của chính phủ 71

2 Tăng cường vai trò của các công ty bảo hiểm 73

3 Tăng cường nhận thức của người nông dân 75

4 Xây dựng khung chính sách cho phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam 76

Trang 4

4.1 Giai đoạn 1: Phát triển thị trường bảo hiểm chỉ số 76

4.2 Giai đoạn 2: Mở rộng thị trường bảo hiểm 82

4.3 Giai đoạn 3: Chuyên môn hóa thị trường bảo hiểm 84

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết

tắt

Protection Act

Luật bảo vệ rủi ro nông nghiệp

Corporation

Hội đồng bảo hiểm cây trồng

liên bang

insurance

Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa

Services

Hiệp hội bảo hiểm cây trồng Mỹ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng) trên thế giới 9

Bảng 2: Trách nhiệm của các công ty bảo hiểm cho khoản lỗ ròng 41

cuối cùng 41

Bảng 3: Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng cho thảm họa định danh tại Mỹ, 1999-2008 50

Bảng 4: Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng đa thảm họa tại Mỹ, 1999-2008 52

Bảng 5: Tổng kết tình hình kinh doanh bảo hiểm chăn nuôi tại Mỹ 54

(từ năm 2007- 25/2/2010) 54

Bảng 6: Tình hình triển khai bảo hiểm cây lúa của Bảo Việt 61

Bảng 7: Tình hình kinh doanh của Groupama 62

Biểu đồ: Quản lý rủi ro tương quan của danh mục bảo hiểm bằng cách phân phối tổn thất 82

Sơ đồ: Đặc trưng của nông hộ và kỳ vọng lâu dài cho thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam: Bảo hiểm chỉ số dễ tiếp cận nhất cho số đông các nông dân 86

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Sản xuất nông nghiệp luôn phải chịu rất nhiều rủi ro như thiên tai, dịch bệnh Thiên nhiên khắc nghiệt có thể khiến hàng ngàn hecta cây trồng bị mất trắng, đi kèm sau đó là những tổn thất tài chính nặng nề đối với người nông dân Đây chính là tiền đề cho việc phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp

Năm 1988 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp tại nước Phổ

Từ đó đến nay, bảo hiểm nông nghiệp đã và đang được áp dụng rộng khắp trên toàn thế giới với đa dạng các hình thức và tổng phí bảo hiểm ngày một tăng cao Đặc biệt, tại Mỹ bảo hiểm nông nghiệp đã trở thành công cụ bảo vệ đắc lực nhất đối với người nông dân Theo báo cáo tháng 2/2010 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tính đến cuối năm 2009, 80% diện tích đất nông nghiệp đã được bảo hiểm, tương đương với 265 triệu mẫu Anh, tổng số phí bảo hiểm chỉ tính riêng cho bảo hiểm cây trồng đa thảm họa đã đạt 8.94 tỷ USD, gấp 1.3 lần so với tổng phí bảo hiểm nông nghiệp toàn thế giới năm 2001 Tuy nhiên, những thành tựu nổi bật trong triển khai bảo hiểm nông nghiệp lại chỉ đạt được tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ với thị phần thị trường bảo hiểm nông nghiệp toàn cầu đạt 55% (bao gồm Mỹ và Canada), trong khi đó, con số này của các quốc gia Châu Á chỉ đạt 4% năm 2007 [Schuetz, FAO, 2007]

Đặc biệt, tại Việt Nam, một quốc gia có tới 60-70% dân số làm trong nông nghiệp, nhưng khái niệm bảo hiểm nông nghiệp vẫn còn khá xa lạ với người nông dân Sau gần 20 năm thực hiện thí điểm, thị trường bảo hiểm nông nghiệp vẫn còn là một mảnh đất trống Không tham gia bảo hiểm, người nông dân phải gánh chịu những hậu quả nặng nề khi rủi ro xảy ra, nhà nước phải chi ngân sách hỗ trợ cho nông dân bị thất bát, trong khi các công ty bảo hiểm lại bỏ sót một thị trường đầy tiềm năng

Trang 8

Điểm trái ngược giữa thành công của bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và

sự yếu kém của thị trường này tại Việt Nam là động lực để người viết chọn đề

tài “Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách

phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam” để viết khóa luận tốt nghiệp

của mình

Trong bài khóa luận này, người viết tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm nông nghiệp Mỹ trong khoảng thời gian từ khi bảo hiểm nông nghiệp ra đời cho đến năm 2009.Thông qua các phân tích

về thực trạng hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ, từ đó thấy được những yếu tố dẫn đến thành công của loại hình bảo hiểm này tại Mỹ, người viết cũng mạnh dạn đưa ra những kiến nghị đối với chính sách phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới

Xuyên suốt bài khóa luận, người viết đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp tổng hợp thống kê: tổng hợp từ các nguồn tài liệu hiện

có như các trang web trên internet (trang web của FAO, Bộ Nông nghiệp Mỹ…), sách, báo, tạp chí kinh tế và nông nghiệp

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu: lập bảng so sánh đối chiếu quá trình phát triển của các hình thức bảo hiểm nông nghiệp qua các năm, phân tích mô hình quản lý của Chính phủ Mỹ để rút ra những kiến nghị đối với chính sách phát triển bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam

Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận được chia thành ba chương:

Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm nông nghiệp

Chương II: Hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ

Chương III: Một số kiến nghị đối với chính sách phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam

Trang 9

Do những hạn chế về kiến thức chuyên môn và khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, khóa luận này còn nhiều thiết sót, em mong nhận được sự góp

ý của thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Lê Minh Trâm, người đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM

- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Dù ngày nay, khoa học kỹ thuật đã hết sức phát triển nhưng con người vẫn không thể chế ngự được thiên nhiên, đặc biệt

là những thảm họa lớn mang tính chất hủy diệt Bởi vậy, sản xuất nông nghiệp vẫn luôn bị đe dọa bởi điều kiện tự nhiên, thậm chí những tổn thất lớn luôn rình rập đối với người nông dân

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định Đó là các quy luật sinh trưởng, phát triển, diệt vong, đồng hóa, dị hóa, biến dị, di truyền Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Do vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp lớn hơn nhiều so với các ngành khác

- Chu kì sản xuất trong nông nghiệp thường kéo dài, chẳng hạn như cây lúa khoảng 4 tháng, cây cà phê khoảng 20 đến 30 năm; cây cao su trên 50 năm; thêm vào đó, thời gian lao động và thời gian sản xuất lại không trùng

Trang 11

nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soát; việc phòng ngừa và quản lý rủi ro rất khó thực hiện

- Trong sản xuất nông nghiệp, có hàng trăm, hàng nghìn loại cây trồng

và vật nuôi khác nhau, mỗi loại lại có nguy cơ gặp những rủi ro khác nhau, trong đó, có những rủi ro gây hậu quả nghiêm trọng, mang tính chất thảm họa Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người chăn nuôi và trồng trọt, đặc biệt khi muốn mở rộng quy mô sản xuất Họ không dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư bởi tài sản thế chấp vốn vay không có mà rủi ro lại luôn rình rập Các rủi ro thường gặp trong nông nghiệp bao gồm rất nhiều loại và

có thể gây ra tổn thất lớn, cụ thể bao gồm các loại rủi ro cơ bản sau đây:

Hạn hán: Hạn hán có tác động xấu kéo dài, thậm chí sang những mùa

vụ tiếp theo Hơn nữa, loại rủi ro này thường xảy ra trên diện rộng cộng với việc các cây trồng có thể bị dịch bệnh tấn công do thiếu nước tưới nên những tổn thất đối với người nông dân khi gặp phải hạn hạn kéo dài là rất lớn

Gió bão: Gió mạnh, bão lớn, áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện ở các nước có khí hậu nhiệt đới Hậu quả trực tiếp của gió bão là làm đổ và gãy các loại cây trồng và vật nuôi bị cuốn trôi

Lượng mưa quá lớn: Cây trồng cần nước tưới và phần lớn sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang phát triển dựa vào nước mưa Tuy nhiên, lượng mưa quá lớn có thể phá hủy vụ mùa và gây tác hại nghiêm trọng, đặc biệt với cây mới được gieo trồng Rủi ro này xảy ra trong hoặc trước khi thu hoạch cũng có thể khiến cả vụ mùa bị mất trắng, ví dụ như nho có thể bị nứt quả và không thể bán được ra thị trường

Lũ lụt: rủi ro này có thể xảy ra do mưa quá nhiều hoặc dài ngày khiến nước sông hồ tăng đột biến, khiến đê điều bị sạt lở, các công trình thủy lợi bị

hư hại, cây trồng và vật nuôi bị cuốn trôi…Đôi khi lũ lụt là một trong những kết quả của các cơn bão cấp độ lớn

Trang 12

Sương muối: mặc dù đây không phải là rủi ro phổ biến ở hầu hết các nước nhưng tại một số khu vực như Đông Âu và Trung Đông, nơi có địa hình thung lũng phổ biến thì sương muối có nguy cơ xảy ra thường xuyên, có tác hại đặc biệt tới rau và cây ăn quả Sương muối gây ra thiệt hại do việc làm lạnh thành phần nước của các tế bào thực vật, khiến cây, quả bị hư hại sau đó Sương muối là rủi ro có thể tác động đến một khu vực rộng lớn, gây tổn thất nghiêm trọng đối với người trồng trọt [Grant Thornton, 2009]

Mưa đá: mưa đá rất phổ biến tại các nước Âu, Mỹ, có thể khiến mùa màng bị mất trắng dù loại thiên tai này lại dễ dự đoán hơn cả và thường rất hạn chế về vùng thiệt hại, chỉ từ một vài mét vuông, đến vài trăm và hiếm khi lên đến một vài km Khi mưa đá xảy ra, người nông dân hầu như không có cách nào phòng vệ, thậm chí cơ quan nghiên cứu đã chứng minh việc dùng công nghệ hiện đại để phá vỡ các đám mây cũng không mấy hiệu quả

Tuyết: tuyết phủ dày có thể phá hủy tất cả các loại cây trồng, bao gồm cây ăn quả Các khu vực dễ bị tổn thương bởi loại thiên rai này bao gồm Trung Á, Đông Âu và các vùng Trung Đông [Grant Thornton, 2009]

 Hỏa hoạn: cháy là một trong những rủi ro phổ biến và dễ xảy ra trong nông nghiệp, có tính chất lan tỏa mạnh Cháy có thể do sự bất cẩn của con người hoặc do sét đánh Dù do nguyên nhân gì thì hỏa hoạn cũng là loại rủi ro hiếm hoi trong sản xuất nông nghiệp có thể được kiểm soát để giảm thiểu thiệt hại

Sâu bệnh và dịch bệnh: Đây là loại rủi ro diễn ra phổ biến nhất trong nông nghiệp và hậu quả của chúng đôi khi mang tính thảm họa Đối với cây trồng thường bị các loại sâu bệnh phá hoại như: sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, châu chấu…; còn đối với gia súc thường mắc các dịch bệnh như: bệnh kí sinh trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh suy dinh dưỡng…Sâu bệnh và dịch bệnh làm cho cây trồng, vật nuôi bị chết hàng loạt, năng suất thu hoạch giảm sút

Trang 13

Những đặc điểm trên cho thấy tính chất ổn định trong sản xuất nông nghiệp là rất thấp Thiên tai đã gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp ở hầu khắp các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển vốn có nền kinh tế dựa phần lớn vào nông nghiệp Những biện pháp truyền thống như trợ cấp của nhà nước để cứu trợ nông dân gặp thiên tai, giảm thuế nông nghiệp cho những nơi bị mất mùa vốn thường xuyên được sử dụng bởi tính nhanh chóng của nó nhưng các biện pháp đó lại tỏ ra bị động và kém hiệu quả

và là một gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước.Vì vậy, để phát huy tính chủ động của nông dân, giảm được chi phí bao cấp từ ngân sách biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp Không chỉ có vậy, bảo hiểm nông nghiệp ra đời còn có tác dụng rất lớn đến việc bảo vệ an toàn của các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định cuộc sống cho hàng triệu người dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả của các mặt hàng thiết yếu nhất như: lương thực, thực phẩm Bên cạnh đó, bảo hiểm nông nghiệp cũng giúp ổn định ngân sách nhà nước, ổn định đời sống xã hội và giữ vững anh ninh lương thực quốc gia

Như đã nói ở trên, bảo hiểm nông nghiệp ra đời có tác dụng rất lớn cho người nông dân và chính phủ các nước nhưng xét từ góc nhìn của một công ty bảo hiểm thì đây cũng là một thị trường đầy tiềm năng Mặc dù triển khai bảo hiểm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, song với đối tượng là hàng trăm loại cây trồng và vật nuôi khác nhau sẽ giúp các công ty bảo hiểm dễ dàng khai thác, hạn chế được sức ép của cạnh tranh Đồng thời, nó còn phát huy tối đa quy luật “số đông bù số ít” trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Như vậy, sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp là điều không thể phủ nhận, và suốt hàng trăm năm qua, bảo hiểm nông nghiệp đã hình thành và phát triển trên khắp thế giới như một công cụ bảo vệ đắc lực cho người nông dân

Trang 14

II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

TRÊN THẾ GIỚI

Trong hơn một thế kỉ qua, bảo hiểm cây trồng khi gặp rủi ro do mưa đá

và hỏa hoạn thường được thực hiện cho các trang trại ở một số nước phương Tây Thông thường những người đứng ra bảo hiểm được tổ chức trên cơ sở các hội hỗ trợ tại địa phương do chính những người nông dân tổ chức Sau này khái niệm bảo hiểm được truyền đến Bắc Mỹ và nhiều khu vực khác trên thế giới, thoạt đầu xuất phát từ hiểm họa mưa đá và một số hiểm họa khác và gần đây (trước năm 1945) là bảo hiểm cây trồng mọi rủi ro (MPCI)

Năm 1898 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp Nước Phổ đã tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm tương hỗ nhỏ Nhưng các công ty này không tồn tại và phát triển được trước các thảm họa lớn

Ở Mỹ, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số công ty bảo hiểm tư nhân tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cây trồng nhưng đều thất bại

vì thiếu thông tin, phí bảo hiểm quá thấp, địa bàn hẹp nên việc phân tán rủi ro

bị hạn chế…Năm 1933, cả Nhật Bản và Mỹ đều thực hiện chương trình bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng Chương trình này có hai đặc trưng cơ bản: Chính phủ tài trợ và do các công ty nhà nước đảm trách Nhờ đó, hoạt động bảo hiểm có thuận lợi Song, chiến tranh Thế giới thứ II đã ảnh hưởng đến chương trình này Từ năm 1949 đến nay, nhiều nước trên thế giới tiến hành bảo hiểm cây trồng theo hướng bảo hiểm mọi rủi ro hoặc một số loại rủi ro;

có nước bảo hiểm mọi rủi ro; có nước bảo hiểm một loại cây trồng; có nước bảo hiểm một loại cây trồng, có nước bảo hiểm nhiều loại cây khác nhau Hình thức bảo hiểm bao gồm: tự nguyện hoặc bắt buộc do công ty tư nhân hoặc công ty nhà nước tiến hành Tình hình bảo hiểm nông nghiệp ở một số nước trên thế giới được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Trang 15

Bảng 1: Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng) trên thế giới

TT Tên nước Năm

triển khai

Rủi ro bảo hiểm

Loại cây được bảo hiểm

Cơ quan tiến hành

Nguồn hình thành quỹ

BH

Hình thức

1 Jamaica 1946 Bão Cây chuối Chính phủ Bắt buộc

2 Canada 1917 Mưa đá Tất cả cây

đá

Mọi cây trồng

Lúa mạch, lúa mỳ

Chính phủ

Công ty tư nhân

Từ phí BH nông dân và

sự hỗ trợ của chính phủ Phí BH nông dân đóng góp

Hội BH tương hỗ có

sự giúp đỡ của chính quyền

Phí nông dân đóng góp và sự hỗ trợ của chính phủ

Bắt buộc với chủ nông lớn,

tự nguyện, với chủ nông nhỏ

5 Srilanca 1958 Mọi rủi ro Cây lúa Chính phủ Phí nông

dân đóng và tài trợ của chính phủ

Bắt buộc với cây lúa, tự nguyện với cây khác

6 Philippin 1978 Mọi rủi ro Ngô, lúa,

lạc, đậu tương, bông, hướng

1 dương

Công ty bảo hiểm nhà nước

Phí nông dân đóng góp

Bắt buộc với người vay tiền

(Nguồn: PGS – TS Nguyễn Văn Định (2005), Giáo trình Bảo Hiểm, NXB Thống Kê)

Trang 16

III CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP PHỔ BIẾN

1 Bảo hiểm cây trồng

Cây trồng rất đa dạng và phong phú về chủng loại Tùy theo quá trình sinh trưởng, mục đích sử dụng và biện pháp canh tác, có thể phân loại cây trồng theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm khi ký kết hợp đồng, giúp công tác tính phí bảo hiểm, đánh giá và quản lý rủi ro được dễ dàng thuận lợi, căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng, cây trồng được chia ra:

- Cây hàng năm: Là những loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng và cho sản phẩm trong vòng dưới 1 năm, gieo trồng mang tính thời vụ, mỗi loại cây thích ứng với một thời kỳ nhất định Trong mùa vụ, chi phí đầu tư gieo trồng không lớn, nhưng việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó

-Cây lâu năm: Là loại cây có chu kỳ sinh trưởng và cho sản phẩm từ 1 năm trở lên Cây lâu năm là một trong những loại tài sản cố định có giá trị ban đầu thường rất lớn so với các loại tài sản cố định khác trong nông nghiệp

-Vườn ươm (cây giống): Là loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, sản phẩm của chúng được coi là chi phí sản xuất cho những quá trình sản xuất tiếp theo, giá trị thường rất thấp, nhưng kỹ thuật đòi hỏi rất cao và rất nhạy cảm với thời tiết, khí hậu

Cách phân loại trên được sử dụng khi tiến hành lập phương án triển khai bảo hiểm cây trồng với các vấn đề cơ bản như đối tượng và phạm vi bảo hiểm; giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm; các chế độ bảo hiểm cây trồng; phương pháp xác định phí bảo hiểm cây trồng [Vũ Đình Thắng, 2006]

1.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

- Đối tượng bảo hiểm cây trồng có thể là bản thân cây trồng trong suốt

quá trình sinh trường và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại tùy theo mục đích trồng trọt Vì thế có thể chia ra:

Trang 17

+ Đối với cây hàng năm, đối tượng bảo hiểm là sản lượng thu hoạch + Đối với cây lâu năm, đối tượng bảo hiểm là giá trị của các loại cây đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây

+ Đối với vườn ươm, đối tượng bảo hiểm là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác

Nhưng do thời gian sinh trưởng khác nhau, cho nên mỗi loại đối tượng nêu trên có thời gian bảo hiểm khác nhau Thời gian bảo hiểm cây hàng năm thường tính từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản phẩm Còn cây lâu năm, thời gian bảo hiểm có thể kéo dài một năm, sau đó được tái tục qua các năm Thời gian bảo hiểm vườn ươm bắt đầu từ lúc gieo trồng đến khi cây đủ tuổi nhổ đi trồng nơi khác Đối với tất cả các loại cây trồng, đơn vị bảo hiểm thường là đơn vị diện tích tự nhiên để tính năng suất cây trồng như: ha, mẫu, sào… Tuy nhiên, đối với cây lâu năm, do giá trị lớn và chu kỳ sinh trưởng kéo dài cho nên còn có thể bảo hiểm đến từng cây hoặc lô cây

- Phạm vi bảo hiểm: trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây

trồng thường gặp rất nhiều rủi ro khác nhau (cùng một lúc có thể gặp một hoặc một số loại rủi ro gây thiệt hại)

Các hiện tượng gió bão, thường làm cho cây trồng bị đổ, bị gãy, khả năng thụ phấn của hoa kém, làm mất toàn bộ giá trị hoặc sản lượng, năng suất thu hoạch giảm Còn hiện tượng úng lụt, lũ thường làm cho cây bị chết hoặc chậm phát triển, đất đai bị rửa trôi, độ màu mỡ giảm, gieo trồng không kịp thời vụ, những hiện tượng này cũng gây hậu quả lớn và rất khó lường Hạn hán, gió lào thường làm cho cây bị khô héo, chậm phát triển, thậm chí bị chết Các rủi ro sâu bệnh lại làm cho cây bị nhiễm khuẩn, vàng lá, nấm mốc, từ đó dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, năng suất thấp… Khi triển khai bảo hiểm, các công ty thường tiến hành bảo hiểm một hay một số loại rủi ro nhất định, những rủi ro còn lại đặc biệt là những rủi ro mang tính chất kinh tế, xã hội sẽ

Trang 18

được giải quyết bằng các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước Thế nhưng,

về nguyên tắc những rủi ro được bảo hiểm phải đảm bảo các điều kiện sau:

+ Là hiện tượng bất ngờ mà con người chưa lường trước được hoặc hoàn toàn chưa khống chế và loại trừ được

+ Dù đã áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất những không có kết quả hoặc không thể tránh khỏi tốn thất

+ Là hiện tượng bất ngờ đối với nơi xảy ra, có cường độ phá hoại, hủy hoại lớn hơn hoặc xảy ra sớm hay muộn hơn bình thường hàng năm [Nguyễn Văn Định, 2005]

1.2 Giá trị bảo hiểm

Bảo hiểm cây trồng là loại hình bảo hiểm tài sản, vì thế để xác định được phí bảo hiểm và số tiền bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì phải xác định chính xác giá trị bảo hiểm (GTBH) GTBH cây trồng là giá trị của bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng cây trồng trên một đơn vị bảo hiểm

Cụ thế:

- Giá trị bảo hiểm vườn ươm cây được xác định bằng cách lấy giá cả của một cây nhân với số cây trên một đơn vị bảo hiểm, hoặc giá trị của 1 mét vuông cây giống nhân với số mét vuông trên một đơn vị bảo hiểm Giá cả cây giống hoặc 1 mét vuông cây giống được xác định căn cứ vào giá bán bình quân một số năm trước đó

- Giá trị bảo hiểm đối với cây hàng năm được xác định căn cứ vào sản lượng thu hoạch thực tế của từng loại cây trong một số năm trước đó và giá cả một đơn vị sản phẩm trong những năm đó Sở dĩ phải căn cứ vào một số năm

để xác định là vì sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện

tự nhiên, có năm được mùa, có năm mất mùa, cho nên sản lượng thu hoạch thực tế luôn luôn biến động Căn cứ vào một số năm để xác định nhằm loại trừ những nhân tố chủ quan như: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật,

Trang 19

vốn và lao động…, đồng thời còn làm cho xác suất mà thiên tai xuất hiện vừa

đủ rõ để xác định phí bảo hiểm Thông thường, số năm lựa chọn để xác định GTBH khoảng từ 3 đến 5 năm là tương đối phù hợp với thực tế

- Giá trị bảo hiểm cây lâu năm là giá trị của từng cây, từng lô cây hoặc từng đơn vị bảo hiểm Nhưng cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu của loại tài sản này được xác định tại thời điểm vườn cây đưa vào kinh doanh

Vì thế, GTBH chính là giá trị ban đầu của cây (hay vườn cây) đó trừ đi khấu hao cơ bản nếu có

1.3 Các chế độ bảo hiểm cây trồng

Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lượng sản phẩm và ngay

cả giá trị của bản thân cây trồng phụ thuộc rất lớn vào sự cố gắng chủ quan của người trồng trọt Vì thế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng một số chế

độ bảo hiểm sau đây:

- Chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ: Có nghĩa là khi tổn thất xảy

ra, người bảo hiểm chỉ bồi thường cho người trồng trọt theo một tỷ lệ nhất định so với toàn bộ giá trị tổn thất Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm Tỷ lệ được bồi thường do các bên thỏa thuận, nhưng tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào:

+ Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp

+ Trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng

+ Khả năng tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm

+ Trình độ dân trí và sự tiến bộ của xã hội

Thông thường ở nhiều nước, tỷ lệ được bồi thường trong khoảng từ 60% đến 80% so với giá trị tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm [Nguyễn Văn Định, 2005]

Chế độ bảo hiểm trên mức miễn thường: Có nghĩa là khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, các bên tham gia thỏa thuận với nhau về mức miễn thường

Trang 20

(mức không được bồi thường) Nếu tổn thất xảy ra dưới mức miễn thường, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường, mà người trồng trọt sẽ phải tự gánh chịu phần tổn thất đó Nếu tổn thất xảy ra lớn hơn mức miễn thường, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần vượt quá hoặc bồi thường toàn bộ tổn thất, tùy thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Chế độ này thường áp dụng cho cây hàng năm và mức miễn thường có thể bằng 10% đến 15% giá trị bảo hiểm [Nguyễn Văn Định, 2005] Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm:

+ Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người trồng trọt

+ Làm phí bảo hiểm giảm đi để phù hợp với khả năng tài chính của người trồng trọt

+ Đáp ứng được yêu cầu tổ chức và quản lý của các công ty bảo hiểm Mức miễn thường cao hay thấp cũng do các bên tham gia thỏa thuận để đáp ứng được những mục đích đặt ra ở trên [Nguyễn Văn Định, 2005]

1.4 Phương pháp xác định phí bảo hiểm cây trồng

Phí bảo hiểm cây trồng bao gồm: Phí bồi thường tổn thất (Phí thuần) và phần phụ phí Công thức tính phí:

và hạn chế tổn thất, phí dự trữ dự phòng, phí quản lý

Trang 21

Để xác định được tổng mức phí, điều quan trọng là phải xác định được mức phí thuần (f) Đối với vườn ươm và cây lâu năm, muốn xác định được mức phí thuần (f), trước hết phải căn cứ vào giá trị thực tế thu được hoặc giá trị ban đầu còn lại của vườn cây và trá trị tổn thất bình quân Sau đó, lấy số tiền bảo hiểm năm nghiệp vụ nhân với tỷ lệ phí bồi thường bình quân đã tính được

Nhưng đối với cây hàng năm, việc xác định phí bồi thường bình quân khá phức tạp, do tính chất mùa vụ và do tính bất ổn định của loại cây này cao hơn Chính vì vậy, để xác định được tỷ lệ phí bồi thường bình quân phải tính toán qua các bước:

Bước 1: Xác định sản lượng thu hoạch thực tế bình quân trên 1 dơn vị

diện tích bảo hiểm (thường căn cứ vào tài liệu thống kê 5 năm trước đó)

𝑾 = 𝒏𝒊=𝟏𝑸𝒊

𝑺𝒊

𝒏 𝒊=𝟏

Trong đó:

𝑊 – Sản lượng thu hoạch thực tế bình quân trên 1 đơn vị bảo hiểm (thực chất là năng suất bình quân)

Qi – Sản lượng thu hoạch thực tế năm thứ i

Si – Diện tích gieo trồng năm thứ i

i – Thứ tự các năm lấy số liệu tính toán

Bước 2: Xác định sản lượng tổn thất bình quân trên 1 đơn vị bảo hiểm

𝑸𝒕 = 𝒏 (𝑾 − 𝑾𝒕)𝑺𝒕

𝒕=𝟏

𝑺𝒊

𝒏 𝒊=𝟏

(với điều kiện Wt <𝑊 )

Trang 22

Trong đó:

t – năm có tổn thất

𝑄𝑡 – Sản lượng tổn thất bình quân tính trên 1 đơn vị sản phẩm

St – Diện tích gieo trồng năm t

Wt – Sản lượng thu hoạch thực tế năm t tính trên 1 đơn vị diện tích bảo hiểm

Bước 3: Xác định tỷ lệ phí bồi thường bình quân (tỷ lệ phí thuần) (𝑇 )

𝐧

Ở đây, Pi là giá cả thực tế 1 đơn vị sản phẩm năm thứ i

Như vậy, áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau, mức phí tính ra sẽ khác nhau Nhưng xét về khả năng tài chính và tâm lý của người trồng trọt thì

áp dụng chế độ bảo hiểm nào đơn giản, dễ hiểu và có mức phí thấp nhất, họ

dễ dàng tham gia bảo hiểm nhất [Nguyễn Văn Định, 2005]

Trang 23

1.5 Giám định và bồi thường tổn thất

Sau khi nhận được thông báo rủi ro tổn thất của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải cử ngay cán bộ hoặc nhân viên giám định đến hiện trường để giám định tổn thất Trước khi xuống hiện trường, cần tính toán

và dự kiến trước một số vấn đề như: Số lượng người giám định, các cơ quan cần mời tham gia giám định như: chính quyền địa phương, cơ quan bảo vệ thực vật Yêu cầu của công tác giám định là kiểm tra hiện trường nơi xảy ra tổn thất, nguyên nhân tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không, tính toán và xác định quy mô, mức độ tổn thất phải theo những phương pháp khoa học phù hợp với đối tượng bảo hiểm và tình hình thực tế Lập biên bản giám định tổn thất phải có đầy đủ các bên hữu quan tham gia và phải ký kết vào biên bản để xác nhận

Phương pháp xác định giá trị tổn thất được bồi thường phụ thuộc từng loại cây trồng Cụ thể như sau:

- Đối với cây hàng năm:

Giá trị tổn thất

được bồi thường =

Giá trị sản lượng tổn thất thực tế

Năm hoặc vụ có tổn thất là năm hoặc vụ có giá trị sản lượng thu hoạch thực tế thấp hơn GTBH Giá trị sản lượng tổn thất thực tế được xác định căn

cứ vào năng suất bình quân được bảo hiểm; năng suất thực tế thu hoạch, giá

cả 1 đơn vị sản phẩm tính bình quân và diện tích bị tổn thất của từng loại cây Giá trị tận thu bao gồm: Thân, lá, quả Giá trị tổn thất không được bồi thường, thường gặp phải khi áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau hoặc những tổn thất không thuộc phạm vi bảo hiểm

Trang 24

Trong nông nghiệp, tổn thất xảy ra trước khi thu hoạch là phổ biến Lúc

này, chưa thể xác định được giá trị tổn thất thực tế, mà chỉ là tổn thất ước

tính Để xác định được số tiền bồi thường phải chia ra các trường hợp:

Đối với những diện tích mất trắng trước khi cây trồng cho thu hoạch,

giá trị tổn thất là toàn bộ chi phí thực tế chi ra từ thời điểm gieo trồng đến thời

điểm xảy ra tổn thất Các khoản chi phí này thường bao gồm: Chi phí cây

giống, phân bón, vật tư, lao động

Đối với những diện tích chưa bị hủy hoại toàn bộ, có thể chăm sóc

tiếp vẫn cho thu hoạch sản phẩm, giá trị tổn thất tính theo tỷ lệ phần trăm tổn

thất so với toàn bộ chi phí đến thời điểm xảy ra tổn thất

- Đối với cây lâu năm:

Giá trị tổn

thất được bồi

thường

= Giá trị tổn thất thực tế _

tổn thất thực tế

x

Tỷ lệ khấu hao

x

Số tháng đã bảo hiểm /

12 tháng

Giá trị tổn thất thực tế được tính đến từng cây lâu năm hoặc diện tích

gieo trồng cây đó Chỉ có những cây, những diện tích bị chết hoặc gãy hẳn

mới được coi là tổn thất Tổn thất xảy ra vào tháng nào, tính khấu hao cả

tháng đó [Nguyễn Văn Định, 2005]

Khi tiến hành bồi thường, người bảo hiểm phải chú ý một số vấn đề

như: Tỷ lệ bồi thường, mức miễn thường, giá trị tận thu, chi phí đề phòng tổn

thất

2 Bảo hiểm chăn nuôi

2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

- Đối tượng bảo hiểm trong chăn nuôi là các sản phẩm chăn nuôi và

các loại vật nuôi Đối với vật nuôi là tài sản cố định thường được bảo hiểm

Trang 25

đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu động có thể bảo hiểm đến cả đàn Vật nuôi là tài sản lưu động là những vật nuôi được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn, quá trình thu sản phẩm gắn liền với quá trình giết mổ hoặc chuyển chúng sang làm chức năng tài sản cố định Thời hạn bảo hiểm của loại này bắt đầu từ khi con giống tách mẹ nuôi độc lập đến khi vật nuôi được xuất chuồng Vật nuôi là tài sản cố định thường có thời gian nuôi dưỡng lâu hơn, giá trị lớn và được chuyển dịch dần vào sản phẩm thu được qua các năm Thời hạn bảo hiểm loại này thường là 1 năm hoặc toàn bộ chu kỳ sản xuất Nếu thời hạn bảo hiểm là toàn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ được bắt đầu khi vật nuôi được chuyển thành chức năng tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất (khi đã khấu hao xong)

- Phạm vi bảo hiểm: Trong chăn nuôi cũng thường gặp nhiều rủi ro khác nhau gây tổn thất, có cả những rủi ro khách quan có cả nhũng rủi ro chủ quan như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, thí nghiệm v.v Tuy nhiên các rủi ro sau đây thường được bảo hiểm:

Thiên tai, bão, lũ, mưa đá, nóng, lạnh bất thường, khô cạn nguồn nước

Bệnh dịch, bao gồm cả bệnh truyền nhiễm, bệnh không truyền nhiễm

Buộc phải giết mổ để phòng trừ dịch bệnh lây lan Hoặc khi vật nuôi

bị ốm, bị tai nạn, bị thương tật không còn tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng được

Các rủi ro khác như: Động vật ăn thịt, hoặc phá hoại; đánh cắn lẫn nhau, tai nạn giao thông, hỏa hoạn [Ugo Pica et al.2010]

2.2 Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm

- Đối với súc vật vỗ béo và lấy thịt, GTBH thường là giá trị trọng lượng xuất chuồng bình quân một số năm trước đó (thông thường là 3 đến 5 năm) nhằm loại trừ những nhân tố ngẫu nhiên ảnh hưởng Đối với vật nuôi là

Trang 26

tài sản cố định, GTBH chính là giá trị ban đầu của tài sản cố định trừ đi khấu hao cơ bản (nếu có) Còn GTBH sản phẩm chăn nuôi như: Trứng, sữa v.v được xác định căn cứ vào giá trị sản lượng thực tế thu được bình quân một số năm trước đó (thường là 3 đến 5 năm)

- Cũng như trong trồng trọt, trong chăn nuôi khi tiến hành bảo hiểm cũng có thể áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, làm giảm phí bảo hiểm và phù hợp với tình hình tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm Chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ thường được áp dụng khi bảo hiểm cho súc vật vỗ béo và lấy thịt Chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ thường hay áp dụng khi bảo hiểm các sản phẩm chăn nuôi Còn chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ lại được áp dụng khi bảo hiểm cho từng đầu con trong một đàn gia súc tham gia bảo hiểm Những tổn thất làm chết ít, một vài con trong đàn lớn, giá trị thiệt hại nhỏ áp dụng chế độ bảo hiểm này sẽ giảm được thủ tục đòi bồi thường, giảm được phiền hà giữa các bên tham gia bảo hiểm [Nguyễn Văn Định, 2005]

2.3 Phương pháp xác định phí bảo hiểm chăn nuôi

Khi tiến hành bảo hiểm các sản phẩm chăn nuôi (sản phẩm tách rời bản thân con súc vật) như: trứng, sữa việc xác định phí bảo hiểm cũng tương tự như việc xác định phí bảo hiểm cây trồng hàng năm Ở đây, chỉ giới hạn trong phạm vi xác định phí bảo hiểm theo đầu con gia súc, gia cầm Phí bảo hiểm theo đầu con đối với từng loại súc vật được tính theo công thức:

P = f + d

Trong đó:

P – Phí bảo hiểm theo đầu con súc vật

f – Phí bồi thường thiệt hại (phí thuần)

d – Phụ phí

Trang 27

Phụ phí được xác định thông qua kinh nghiệm và tình hình thực tế phát sinh một số năm trước đó Loại phí này cũng được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng mức phí thu và còn được chia ra các loại phí sau đây để quản lý: Phí đề phòng hạn chế tổn thất (chi phí tiêm phòng, phòng dịch, chi phí chống sét, chống nóng v.v ); Phí dự trữ dự phòng; Phí quản lý Vấn đề cốt lõi ở đây là phải xác định được phí bồi thường thiệt hại (phí thuần) Phí bồi thường thiệt hại tính cho 1 đầu con gia súc, gia cầm được xác định theo công thức:

𝐧 𝐢=𝟏

𝐐𝐢

𝐧 𝐢=𝟏

𝐐𝐢

𝐧 𝐢=𝟏

Trong đó:

Ti - Trọng lượng bình quân 1 con vật nuôi trước khi bị chết, thải loại, tai nạn năm i thuộc phạm vi bảo hiểm

Trang 28

Pi - Giá cả bình quân 1 đơn vị sản phẩm vật nuôi trước khi bị thải loại, chết, tai nạn năm i thuộc phạm vi bảo hiểm

Trường hợp áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau, khi xác định phí bảo hiểm cần lưu ý:

Nếu áp dụng chế độ bảo hiểm bồi thường tỷ lệ mức phí thuần xác định như sau:

Nếu áp dụng chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ và không khấu trừ, khi xác định mức phí thuần phải căn cứ vào mức miễn thường để xác định số vật nuôi nào bị chết, thải loại thuộc trách nhiệm bồi thường Sau đó áp dụng công thức (1) để tính toán [Nguyễn Văn Định, 2005]

2.4 Giám định và bồi thường tổn thất

Ngay sau khi được thông báo về tình hình tổn thất của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải cử nhân viên hoặc người được ủy quyền đi giám định tổn thất Khi giám định phải kiểm tra kỹ hiện trường nơi xảy ra tổn thất, xác định nguyên nhân tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không Sau đó tính toán, xác định mức độ tổn thất, giá trị tổn thất, giá trị tận thu và lập biên bản giám định với sự chứng kiến của các bên liên quan Căn cứ vào biên bản giám định tổn thất, công ty bảo hiểm phải trả lời là chấp nhận hay từ chối bồi thường một phần hay toàn bộ tổn thất cho người tham gia bảo hiểm trong thời gian quy định theo như hợp đồng bảo hiểm đã ký

_

Giá trị tận thu (nếu có)

_

Giá trị khấu hao (nếu có)

_

Giá trị tổn thất không được bồi thường (nếu có)

Trang 29

Về nguyên tắc, bảo hiểm chỉ bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo

hiểm và trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực Mọi chi phí đề phòng hạn chế

tổn thất, chi phí giám định và xử lý vật nuôi sau khi chết không được trừ vào

số tiền bồi thường Nếu tổn thất do người thứ ba gây ra, bảo hiểm sẽ bồi

thường cho người được bảo hiểm, nhưng được thế quyền người được bảo

hiểm đòi người thứ ba bồi thường tổn thất thuộc trách nhiểm của họ Nếu có

sự chậm trễ trong việc trả tiển bồi thường thì công ty bảo hiểm phải chịu cả

tiền lãi đối với số tiển trả chậm theo mức lãi suất “nợ quá hạn” do ngân hàng

Vật nuôi bị chết do lỗi của người chăn nuôi [Nguyễn Văn Định, 2005]

IV TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN KHI THAM GIA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

Trong mỗi hợp đồng bảo hiểm cây trồng cũng như vật nuôi, đều phải

quy định về trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm Cũng

như các loại hợp đồng bảo hiểm khác, hợp đồng bảo hiểm trong nông nghiệp

thông thường có hai bên tham gia, đó là người tham gia bảo hiểm và công ty

bảo hiểm

Người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm gieo trồng, nuôi dưỡng

và chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi Xây dựng

nội quy, kế hoạch phòng trừ xâu bệnh, dịch bệnh, phòng chống thiên tai

Khi thiên tai, tai nạn rủi ro xảy ra phải kịp thời phòng chống để hạn chế tổn

Trang 30

thất và phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm còn phải thực hiện đầy đủ những thủ tục giấy tờ có tính chất pháp lý như: ký vào biên bản giám định và xác nhận lỗi do bên thứ ba Đồng thời, phải phối hợp với người bảo hiểm và những đơn vị liên quan để có phương án tối ưu đề phòng và hạn chế tổn thất và phải nộp phí bảo hiểm đầy

đủ, đúng hạn

Công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường kịp thời, đầy đủ cho người tham gia bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm Phải chi phí kịp thời, thỏa đáng cho công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, khắc phục thiên tai, sâu bệnh và dịch bệnh Khi nhận được thông báo tổn thất phải

cử ngay nhân viên giám định hoặc người có thẩm quyền đến hiện trường làm thủ tục giám định Nếu chấp nhận hay từ chối bồi thường cũng phải thông báo

và giải thích ngay để người tham gia bảo hiểm biết Nếu quá hạn, không thông báo thì coi như họ đã chấp nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại Còn quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm cũng giống như những hợp đồng bảo hiểm tài sản thông thường khác [Nguyễn Văn Định, 2005]

Tóm lại chương 1 đã nêu lên những những lý thuyết cơ bản về bảo hiểm nông nghiệp Đó là sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp đối với tất cả các nước có sản xuất nông nghiệp trên thế giới, điều này xuất phát từ tính bất

ổn và tiềm ẩn rủi ro của sản xuất nông nghiệp Lịch sử ra đời, phát triển của bảo hiểm nông nghiệp cùng các loại hình bảo hiểm nông nghiệp phổ biến cũng được giới thiệu súc tích trong chương này Chương 2 sẽ trình bày thực trạng hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ - một nước có ngành bảo hiểm nông nghiệp phát triển mạnh trên thế giới

Trang 31

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

TẠI MỸ

I SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ

Có thể nói, bảo hiểm nông nghiệp giúp người nông dân Mỹ giành vị trí đứng đầu thế giới về sản xuất nông nghiệp, luôn giữ được sức cạnh tranh mạnh mẽ và khả năng cải tiến không ngừng Họ có thể yên tâm khi biết rằng những khoản đền bù tài chính luôn túc trực khi có sự cố không may xảy ra và vòng quay sản xuất vẫn sẽ được duy trì đều đặn

Nền kinh tế năng động hiện nay yêu cầu người nông dân phải sản xuất nhiều sản phẩm hơn và đạt được năng suất cao hơn trước kia Nhu cầu về lương thực, thực phẩm chất dinh dưỡng ngày càng tăng không chỉ tại Mỹ mà còn trên khắp thế giới Bên cạnh yếu tố công nghệ được đổi mới không ngừng, khả năng tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng thì một chương trình bảo hiểm nông nghiệp liên bang năng động chính là chiếc chìa khóa mở ra những thành công to lớn của ngành nông nghiệp Mỹ

Bảo hiểm nông nghiệp được coi là trụ cột của mạng lưới an toàn liên bang cho nông dân và chủ trang trại Mỹ Ngoài việc giảm rủi ro và bảo vệ khoản đầu tư của người nông dân, bảo hiểm nông nghiệp cho phép nông dân vay tiền để mở rộng và cải thiện công việc kinh doanh bằng cách cung cấp sự đảm bảo cho người cho vay về khả năng trả nợ của người nông dân Bảo hiểm cũng hỗ trợ người nông dân tiếp thị sản phẩm của mình ra thị trường để tận dụng cơ hội thị trường

Hiện nay, mạng lưới bảo vệ liên bang cho người nông dân Mỹ có rất nhiều chương trình như thanh toán trực tiếp, hỗ trợ thiên tai và các chương trình được thiết kế để hỗ trợ các loại cây trồng đặc biệt cùng các sáng kiến ưu việt Tuy nhiên, không một chương trình nào có được tác động to lớn như bảo hiểm nông nghiệp Đại đa số nông dân hiện nay đều tin cậy vào bảo hiểm

Trang 32

nông nghiệp trong quá trình sản xuất bởi họ nhận ra những giá trị nó mang lại

Bảo hiểm nông nghiệp đã trở thành một công cụ kinh doanh thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp của Mỹ Làm việc trong ngành mà chỉ một thảm họa có thể quét sạch lợi nhuận của nhiều năm hoạt động, hầu hết nông dân sẽ không nghĩ về việc sản xuất, nuôi trồng mà không có một số hình thức bảo hiểm nông nghiệp

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI

MỸ

1 Bảo hiểm cây trồng

1.1 Lịch sử phát triển của bảo hiểm cây trồng tại Mỹ

Bảo hiểm cây trồng cho rủi ro mưa đá hay còn gọi là bảo hiểm cây trồng cho thảm họa định danh là hình thức đầu tiên của bảo hiểm cây trồng tại

Mỹ, xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 và đã trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ trong ngành bảo hiểm kể từ những năm 1920 Các hãng bảo hiểm cũng đã cố gắng để phát triển một loại hình bảo hiểm cây trồng khác là bảo hiểm cây trồng đa thảm họa Tuy nhiên, nỗ lực đó đã thất bại do hãng bảo hiểm không

có đủ dữ liệu để thiết lập một mức phí đủ để đền bù cho các loại thiệt hại nghiêm trọng,thường xảy ra trên diện rộng và trong thời gian kéo dài ví dụ như hạn hán

Năm 1933, thời điểm Đại khủng hoảng kinh tế Mỹ lên đến đỉnh cao, Quốc hội đã thông qua điều luật mới nhằm bảo vệ các trang trại gia đình Điều luật này hạn chế sản xuất nông nghiệp trong nước với kỳ vọng mức giá cho sản phẩm nông nghiệp sẽ tăng, song song, nhà nước cũng cung cấp các khoản trợ cấp cho người nông dân để bù đắp cho thu nhập bị mất từ những diện tích đất để trống Những thay đổi trên đều nhằm khôi phục lại mức sống cho người nông dân bằng với thời kỷ trước Thế chiến thứ nhất Năm năm sau

Trang 33

đó, vào năm 1938 sau khi Tòa án tối cao Hoa Kỳ thừa nhận những điều luật bảo vệ nông dân trước đó là trái với Hiến pháp, một điều luật khác lại được ban hành với mục đích tương tự Trong đó cho phép Bộ trưởng Nông nghiệp thiết lập hạn ngạch cho các cây lương thực và sản phẩm xuất khẩu, đồng thời chi trả trợ cấp bằng tiền mặt cho đất trồng để bảo tồn các loại cây trồng Mặc

dù những sửa đổi được thực thi chậm nhưng không phải là đến tận những năm

1990, quốc hội mới bắt đầu đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về tính đúng đắn của đạo luật bảo vệ người nông dân khỏi sức mạnh thị trường, đặc biệt các nông trại gia đình được hưởng lợi ích trực tiếp từ chương trình bảo vệ này lại chỉ sản xuất một phần nhỏ trong tổng sản lượng nông nghiệp của Mỹ

Trong cùng năm 1938, điều luật về hỗ trợ giá được thông qua, Quốc hội đã phê chuẩn Đạo Luật Bảo hiểm Cây trồng Liên bang, từ đó tạo ra các chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang đầu tiên Được sự hậu thuẫn của

Bộ Tài chính Hoa Kỳ với các nguồn lực dồi dào, các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng chương trình bảo hiểm liên bang sẽ tránh được những vấn đề

mà trước đó đã cản trở sự hình thành của ngành bảo hiểm cây trồng đa thảm họa Tuy nhiên, thành công đã đến không dễ dàng khi chi phí bỏ ra cho chương trình bảo hiểm rất cao nhưng sự tham gia của nông dân thì quá ít ỏi khiến khả năng tích lũy để chi trả cho những thiệt hại lớn là rất thấp Bên cạnh đó, ngân sách Chính phủ hỗ trợ cho nông dân dưới nhiều dạng chương trình ngày một tăng khiến nông dân không mấy nhiệt tình để mua bảo hiểm cây trồng Những nguyên nhân trên đã giải thích cho sự trì trệ của chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang trong nhiều thập kỷ

Năm 1980, thất vọng trước những thất bại liên tiếp của chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang lúc đó, Quốc hội đã thông qua đạo luật về bảo hiểm với những chương trình được thiết kế để trở thành công cụ ưu việt giúp nông dân chống chọi với thiên tai thảm khốc Mục tiêu của luật mới là để thu

Trang 34

hút sự tham gia của người nông dân với chương trình đủ nhiều để các chương trình hỗ trợ thiên tai của Chính phủ có thể được bãi bỏ Các nhà hoạch định chính sách muốn nâng cao mức độ hiệu quả của chương trình bằng cách hợp tác với khu vực tư nhân để bán bảo hiểm, đưa ra các dịch vụ và chịu một số rủi ro cung cấp bảo hiểm (trước đó bảo hiểm cây trồng chỉ được cung cấp bởi

Bộ Nông nghiệp Mỹ); và tạo ra một chương trình thống kê, quản lý hiệu quả nhằm giảm bớt gánh nặng chi trả của liên bang trong khi vẫn giữ phí bảo hiểm ở mức phải chăng thông qua các khoản trợ cấp [Rob Goeres, 2003]

Khu vực tư nhân sẽ được tham gia vào thị trường bảo hiểm cây trồng theo hai cách: bán bảo hiểm trực tiếp hoặc tái bảo hiểm Được sự cung cấp tài chính từ Chính phủ liên bang, các công ty bán hợp đồng bảo hiểm cây trồng nhưng không phải chịu bất kì trách nhiệm pháp lý nào (điều này sau đó đã được loại bỏ vào năm 1994) Dù có những nỗ lực cải cách rất lớn nhưng một thập kỷ sau đó, chương trình bảo hiểm cây trồng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề

Cải cách theo định hướng thị trường: Luật cải cách bảo hiểm cây trồng

liên bang năm 1994 được thông qua tại thời điểm chi phí của tất cả các chương trình nông nghiệp đang được giám sát chặt chẽ hơn nhằm cân đối ngân sách liên bang Hiểu được rằng vấn đề ngân sách sẽ không thể được giải quyết hiệu quả nếu không có những thay đổi mang tính đột phá, Quốc hội đã quyết định kết hợp bảo hiểm cây trồng và hỗ trợ thiên tai vào một chương trình, triệt để cơ cấu lại hệ thống bảo vệ cho ngành nông nghiệp

Các nhà lập pháp đã có cách tiếp cận theo nhiều hướng Đầu tiên, nếu các khoản hỗ trợ giải quyết thiên tai đã được giảm bớt đáng kể hoặc bãi bỏ, nông dân sẽ cần một số biện pháp bảo đảm kinh tế Một điều khoản quan trọng của đạo luật đã được đưa ra, đó là điều khoản về bảo hiểm “CAT” - bảo hiểm thảm họa Tất cả nông dân khi có các loại cây trồng trong danh sách được bảo hiểm sẽ có thể mua bảo hiểm CAT với khoản phí rất nhỏ trên danh

Trang 35

nghĩa, về cơ bản là miễn phí Đối với cây trồng không thuộc chương trình bảo hiểm có thể được chuyển sang một chương trình hỗ trợ thiên tai đặc biệt, mức

độ đền bù xấp xỉ với bảo hiểm CAT nhưng áp dụng với những tổn thất trên diện rộng

Thứ hai, để tăng cường động lực cho người trồng trọt đầu tư vào một chương trình bảo hiểm cây trồng đa thảm họa toàn diện, Chính phủ liên bang

sẽ trợ cấp phí bảo hiểm cho các loại bảo hiểm bổ sung khác

Thứ ba, tình trạng "khẩn cấp" được quy định trong pháp luật trước đó

về cho phép vay mượn ngân sách bất thường để trả tiền cứu trợ thiên tai, sẽ bị bãi bỏ Bất kỳ sự hỗ trợ thiên tai nào sẽ được coi là một phần của ngân sách

và do đó không thể được chấp nhận nếu không có một sự bù đắp lại bằng việc giảm chi tiêu cho các chương trình khác

Thứ tư, tất cả các chương trình nông nghiệp, bao gồm cả bảo hiểm cây trồng, sẽ được xử lý bởi một cơ quan duy nhất để cải thiện dịch vụ và nâng cấp hoạt động điều phối Hội đồng bảo hiểm Cây trồng Liên bang (FCIC) sẽ quản lý các chương trình bảo hiểm cây trồng, thiết lập các điều khoản bảo hiểm và điều kiện, thiết lập mức giá và tạo việc thanh toán bồi thường thông qua Cơ quan Quản lý rủi ro (RMA) Đối với chương trình hỗ trợ thiên tai cho những cây trồng không thuộc điện được bảo hiểm vẫn thuộc quản lý của Bộ nông nghiệp, mức giá và chính sách dịch vụ sẽ được chuyển cho khu vực tư nhân phụ trách Chương trình hỗ trợ giá mới đã cho phép nông dân bán hoa màu cho Chính phủ liên bang với một mức giá cố định khi giá thị trường giảm xuống dưới mức giá mục tiêu của chính phủ Đến thời điểm đó, các chương trình trợ cấp đã sắp chấm dứt

Năm 1996, Đạo luật chuyển giao thị trường nông nghiệp đã nhấn mạnh

sự cần thiết của việc bảo vệ doanh thu của người nông dân – sản lượng và giá

cả Quy định trong dự luật thiết lập chương trình thí điểm khác nhau nhằm đối

Trang 36

phó mức giá dao động cũng như sự biến thiên của sản lượng bằng cách sử dụng hệ thống giá cả hàng hóa của Sàn giao dịch Chicago (CBOT) Ngoài ra, chính CBOT đã phát triển một sản phẩm bảo hiểm cây trồng sản lượng mới cho phép người nông dân ký kết hợp đồng bảo hiểm thu nhập được dễ dàng,

tự do hơn với những điều khoản ưu đãi Các sản phẩm bảo hiểm được thiết kế dựa trên năng suất lịch sử của từng nông hộ riêng lẻ, hoặc trong một số trường hợp là theo sản lượng của các địa hạt khác nhau, năng suất trung bình của tiểu bang…

Năm 2000, Quốc hội phê chuẩn Luật bảo vệ rủi ro nông nghiệp (ARPA) Đạo luật này đã giúp người nông dân có thể dễ dàng hơn trong việc mua các loại bảo hiểm cây trồng đa thảm họa, bao gồm bảo hiểm thu nhập, bằng cách tăng hỗ trợ của chính phủ

Các biện pháp này cũng đề cập vấn đề của những người nông dân có sản lượng thấp hơn sản lượng trung bình trong lịch sử sản xuất của mình sau nhiều năm thiên tai Khi những vụ mùa thất bát liên tiếp xảy ra thì khoản thanh toán bảo hiểm mà người nông dân phải chi trả sẽ được giảm do công tác bồi thường cho sản lượng thấp dựa trên ghi chép sản lượng thực tế Ngoài ra, luật còn tập trung vào việc loại bỏ hiện tượng lừa đảo và lạm dụng chương trình; chương trình thí điểm mở rộng sang bảo hiểm cho vật nuôi và các hoạt động quản lý rủi ro ở nhiều lĩnh vực khác Nông dân với một hồ sơ tốt có thể nhận được khoản chiết khấu dựa trên tiền đóng bảo hiểm [Steven C Harms, 1999]

1.2 Các loại hình bảo hiểm cây trồng tại Mỹ

1.2.1 Bảo hiểm thiệt hại do mưa đá (Bảo hiểm cây trồng cho thảm họa định danh)

Bảo hiểm thiệt hại do mưa đá được cung cấp bởi cả khu vực tư nhân và theo các chính sách liên bang trợ cấp bảo hiểm đa thảm họa Nông dân có thể

Trang 37

chọn để mua bảo hiểm thiệt hại do mưa đá theo hợp đồng đa thảm họa, để được giảm phí bảo hiểm, hoặc phòng ngừa cho những rủi ro khác

Tên gọi bảo hiểm cây trồng do thiệt hại mưa đá được dùng phổ biến bởi mưa đá là rủi ro đầu tiên được bảo hiểm bởi chương trình bảo hiểm này Sau nhiều năm, chính sách bảo hiểm đã mở rộng tới một số loại rủi ro khác như cháy, sét… bởi tính chất ngẫu nhiên giống như mưa đá, thậm chí còn có bảo hiểm cho chi phí tái gieo trồng khi mưa đá phá hủy mùa màng vào đầu vụ Do

đó, một tên gọi khác cũng được dùng cho loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cây trồng cho thảm họa định danh Khi vụ mùa bị phá hủy được tái gieo trồng, nông dân cũng nhận được bồi thường cho sản lượng dự kiến bị sụt giảm do ngày canh tác bị chậm lại Hầu hết các hãng bảo hiểm cung cấp chính sách bảo hiểm cho các loại hạt chủ yếu và cây lương thực nhưng đối với loại cây đặc sản và cây trồng rau có sự hạn chế hơn

Người nông dân có thể ký hợp đồng bảo hiểm ở bất kì giai đoạn nào trong suốt mùa gieo trồng kể từ khi 50% của mùa vụ lên cây tốt cho đến ngày thu hoạch dự kiến, miễn là cây trồng chưa bị hư hại do mưa đá [H Douglas Jose, 2001] Để tránh việc người trồng trọt theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết và chờ cho đến khi một cơn bão với nguy cơ mưa đá lớn xảy ra mới mua bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ chỉ có hiệu lực kể từ một phút sau nửa đêm ngày thứ hai sau ngày ký hợp đồng Nông dân có thể mua bảo hiểm cho tất cả các loại cây trồng, trong đó họ có lợi ích tài chính và thuộc danh sách được bảo hiểm, hoặc chỉ một phần diện tích trồng trọt

Số tiền bảo hiểm (được áp dụng trên cơ sở diện tích mẫu) được giới hạn tới giá trị dự kiến của mùa vụ, bao gồm cả lợi nhuận dự đoán Số tiền bảo hiểm là giá thu hoạch mỗi giạ (hoặc pound) dự báo cho cây trồng tại thời điểm hợp đồng bảo hiểm được bán Phí bảo hiểm khác nhau tùy theo tính nhạy cảm của mùa vụ đối với thiệt hại mưa đá và địa điểm của mùa vụ Kể từ

Trang 38

khi mưa đá thiệt hại đã được theo dõi trong hơn 40 năm, nhiều vùng đã được thống kê có nguy cơ xảy ra mưa đá cao hơn những nơi khác

Sau khi thiệt hại được báo cáo, chuyên viên giám định sẽ ước tính tỷ lệ phần trăm sản lượng bị giảm do mưa đá gây nên bằng cách lấy mẫu và đôi khi đếm con số thực các cây trồng bị hư hại trong một khu vực đại diện Việc tính toán thiệt hại phải cân nhắc đến thực tế là giá trị kỳ vọng của cây trồng tại thời điểm xảy ra thiệt hại có thể cao hơn mức giá dự báo tại thời điểm hợp đồng được ký Tuy nhiên, tiền bồi thường hoặc “giá trị tiền mặt” không thể vượt quá giới hạn bảo hiểm gốc hoặc lợi ích tài chính của bên mua bảo hiểm cho vụ mùa đó Trong trường hợp có khả năng cho một vụ mùa bội thu, người nông dân có thể tăng bảo hiểm giữa mùa [Rober Dismukes & Keith H.Coble, 2007]

1.2.2 Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa

Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa được sử dụng bảo vệ nông dân khỏi năng suất thấp và chất lượng cây trồng giảm do thời tiết xấu (bao gồm cả mưa đá) và thiệt hại không thể tránh khỏi do côn trùng và dịch bệnh Mặc dù bảo hiểm đa thảm họa có mặt tại hầu khắp nước Mỹ với danh sách hơn 100 loại cây trồng nhưng vẫn có những loại cây trồng không được bảo hiểm tại một số tiểu bang hay một vài quận trong một bang Cây trồng thuộc trường hợp này

sẽ được áp dụng bảo vệ có hạn chế với chương trình hỗ trợ thiên tai cho cây trồng không thuộc diện được bảo hiểm

Một nông dân mua bảo hiểm cây trồng đa thảm họa có một số lựa chọn Đầu tiên phải kể đến bảo hiểm CAT với mức bảo hiểm thấp nhất, trả cho 55% giá của một vụ mùa bị tổn thất trên 50% Để khuyến khích việc bảo toàn tốt tài sản, giảm thanh toán vượt mức và ngăn chặn gian lận, các khoản thanh toán có thể được giảm đến 50% ở những nơi nông dân thiếu ghi chép chứng nhận năng suất lịch sử, thay vào đó phải sử dụng ghi chép năng suất thực tế

Trang 39

(APH) [R.A.J.Roberts, 2005] Chính quyền liên bang hỗ trợ cho toàn bộ chi phí của bảo hiểm CAT Nông dân chỉ phải trả lệ phí hành chính [Website Hiệp hội bảo hiểm cây trồng Mỹ] Ngoài ra, nông dân có thể mua bảo hiểm bổ sung, theo một chương trình “mua thêm” được thiết kế để khuyến khích mua các mức bảo hiểm đầy đủ hơn với số tiền bảo hiểm lớn hơn

Theo chương trình “mua thêm”, Chính phủ liên bang trợ cấp một phần phí bảo hiểm Hiện nay, phần trợ cấp này giảm khi số tiền bảo hiểm tăng lên Tuy nhiên, dù sự chia sẻ phí bảo hiểm của Chính phủ giảm dần khi phạm vi bảo hiểm mở rộng thì tổng số tiền trợ cấp mà người nông dân nhận được vẫn tăng lên Ngoài ra, chương trình cũng cung cấp những chính sách bảo hiểm bổ sung phức tạp hơn để bảo vệ những người nông dân trong một vài trường hợp đặc biệt như khi họ ký hợp đồng cung cấp toàn bộ sản lượng cho các nhà máy chế biến thực phẩm trước thu hoạch hoặc dùng sản phẩm cây trồng để nuôi gia súc và do đó người nông dân buộc phải đảm bảo khả năng thay thế các loại cây trồng bị mất (nếu thiên tai xảy ra) với giá thị trường Bên cạnh đó, còn có các chương trình bổ sung để tăng số tiền thanh toán thiệt hại và gia tăng các khoản thanh toán trong các tình huống có tính chất thảm họa

Người nông dân sản xuất một số loại cây trồng đặc biệt cũng được ưu tiên lựa chọn loại bảo hiểm đa thảm họa khác có chi phí thấp hơn mang tên bảo hiểm cây trồng “nhóm nguy cơ” Điểm khác biệt cơ bản của loại bảo hiểm này là việc tính toán số tiền bảo hiểm dựa trên năng suất trung bình của

cả khu vực thay vì theo từng nông hộ và được thiết kế thích hợp cho hộ nông dân có sản lượng theo xu hướng năng suất trung bình của cả vùng Bên mua bảo hiểm sẽ tự động nhận được một khoản thanh toán bảo hiểm trong bất kỳ năm nào có sản lượng trung bình của vùng giảm xuống dưới mức năng suất đảm bảo (được tính toán và quy định theo từng vùng) [Trung tâm cơ sở dữ liệu về bảo hiểm cây trồng Mỹ]

Trang 40

1.2.3 Sự khác nhau giữa bảo hiểm thảm họa định danh và bảo hiểm đa thảm họa

Có một vài sự khác biệt chính giữa hai chương trình bảo thiểm cây trồng đa thảm họa và bảo hiểm cây trồng đơn rủi ro Trước hết, người nông dân mua bảo hiểm đa thảm họa có nhiều lựa chọn mức độ bảo hiểm với nhiều

"đơn vị" khác thay vì chỉ tính bằng mẫu Anh, ví dụ như một dặm vuông (tương đương 2,589 988 11 km2

) Sự khác biệt này biểu hiện rõ nhất khi tổn thất xảy ra, bởi trong chương trình bảo hiểm đa thảm họa số tiền đền bù thiệt hại (sản lượng giảm) được tính bình quân theo một đơn vị trên cả diện tích

trồng trọt thay vì chỉ tính cho diện tích mẫu đất có tổn thất được bảo hiểm

Thứ hai, một nông dân không thể đột nhiên quyết định mua bảo hiểm

đa thảm họa Không giống như bảo hiểm cây trồng cho thảm họa định danh, bảo hiểm đa thảm họa phải được mua trước một ngày nhất định do Chính phủ liên bang đặt ra, ngày này thay đổi theo từng bang và vụ mùa Thời hạn đăng

ký này thường được ấn định vào đầu mùa trồng trọt trước khi dự báo thời tiết dài hạn có thể ảnh hường đến quyết định mua bảo hiểm của người nông dân Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực ngay khi vụ mùa được gieo trồng Phạm vi bảo hiểm không thể được bổ sung trong suốt vụ mùa

Ngoài ra, bảo hiểm cây trồng đơn thảm họa thường có hiệu lực từ đồng tiền đầu tiên của tổn thất (dù chiết khấu cũng được tính đến) Trong khi đó, bảo hiểm đa thảm họa bao gồm giá trị một khoản chiết khấu, bảo hiểm lên đến 100% giá dự kiến của thị trường nhưng không bao giờ đến 100% sản lượng [Trung tâm cơ sở dữ liệu về bảo hiểm cây trồng Mỹ]

1.2.4 Bảo hiểm doanh thu cho cây trồng

Nông dân đối mặt với ba rủi ro chính: giá cây trồng thấp, chất lượng kém và năng suất thấp Theo chương trình bảo hiểm cây trồng đa thảm họa, nông dân được đền bù cho thiệt hại về sản lượng cây trồng Giá thị trường

Ngày đăng: 07/05/2014, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Định, 2005, “Bảo hiểm trong nông nghiệp”, trong Giáo trình bảo hiểm, 1 st edn, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội, p. 331- 360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2005
2. Vũ Đình Thắng, 2006, “Nhập môn kinh tế nông nghiệp”, trong Giáo trình kinh tế nông nghiệp”, 1 st edn, nhà xuất bản Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, p. 21-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Vũ Đình Thắng
Nhà XB: nhà xuất bản Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
3. Steven C. Harms, 1999, “History of crop insurance in the United States”, Rain and Hail L.L.C, vol.10, no.2, p. 35-51.Báo, tạp chí, tài liệu chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: History of crop insurance in the United States”, "Rain and Hail L.L.C", vol.10, no.2, p. 35-51
4. “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” số 175/2003/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010
5. Đào Văn Dũng, 2006, “Phát triển bảo hiểm nông nghiệp dựa trên phương pháp chỉ số ở Việt Nam thông qua kết nối với các tổ chức tài chính”, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 11, tháng 10, p.35 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bảo hiểm nông nghiệp dựa trên phương pháp chỉ số ở Việt Nam thông qua kết nối với các tổ chức tài chính
Tác giả: Đào Văn Dũng
Nhà XB: Tạp chí kinh tế và phát triển
Năm: 2006
6. Phạm Bảo Dương, 2007, “Bảo hiểm nông nghiêp ở Nhật Bản và một vài gợi ý chính sách đối với Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế - Dự báo, số 31, tháng 3, p.58 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiêp ở Nhật Bản và một vài gợi ý chính sách đối với Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế - Dự báo
7. Đinh Xuân Hạ, 2005, “Bảo hiểm nông nghiệp – sản phẩm khó xài”, Tạp chí Tài chính, số 10, tháng 3, p.40 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp – sản phẩm khó xài”, "Tạp chí Tài chính
8. Nam Kinh, 2006, “Bảo hiểm nông nghiệp: Khai phá mảnh đất cằn”, Tạp chí Tài chính và Ngân hàng, số 12, tháng 3, p.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp: Khai phá mảnh đất cằn”, "Tạp chí Tài chính và Ngân hàng
9. Hải Phương, 2006, “Cần có biện pháp cho bảo hiểm nông nghiệp”, Tạp chí Thương mại, số 9, tháng 5, p.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có biện pháp cho bảo hiểm nông nghiệp”, "Tạp chí Thương mại
10. Viện Chính sách và Chiến lƣợc PTNNNT, Bộ NN&amp;PTNT, tháng 11/2009, “Tầm nhìn chính sách bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam”, Tài liệu tham khảo chính sách, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nhìn chính sách bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam”, "Tài liệu tham khảo chính sách
11. Bruce A. Babcock, Fall 2009, “Examining the Health of the U.S Crop Insurance Industry”, Iowa Ag Review, vol.15, no.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Examining the Health of the U.S Crop Insurance Industry
Tác giả: Bruce A. Babcock
Nhà XB: Iowa Ag Review
Năm: 2009
12. Dennis A. Shields, April 2009, “Federal Crop Insurance: Background and Issues”, Congressional Research Service Report for Congress (R40532) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Federal Crop Insurance: Background and Issues”, "Congressional Research Service Report for Congress
13. European Commission Agricultural Directorate – General , 01/2001, “Working document Risk Management Tools for EU Agricultural with a special focus on insurance” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working document Risk Management Tools for EU Agricultural with a special focus on insurance
14. Federal Crop Insurance Corp, 2010, “Summary of Bussiness Report As of 01-25-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Summary of Bussiness Report As of 01-25-2010
Tác giả: Federal Crop Insurance Corp
Năm: 2010
15. Frank Schnapp, Keith Collins, Mike Sieben &amp; Thomas P. Zachrias, August 2009, “2008 – A year in review”, National Crop Insurance Services, p.8-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008 – A year in review
Tác giả: Frank Schnapp, Keith Collins, Mike Sieben, Thomas P. Zachrias
Nhà XB: National Crop Insurance Services
Năm: 2009
16. Government Accountability Office, September 2007, “Crop Insurance – Action needed to reduce program’s vulanerability to Fraud, Waste, and Abuse”, GAO’s report to the Chairman, Committee on Homeland Security and Governmental Affairs, U.S Senate Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crop Insurance – Action needed to reduce program’s vulanerability to Fraud, Waste, and Abuse”
17. Grant Thornton, October 2009, “Federal Crop Insurance Program - Profitability and effectiveness analysis”, National Crop Insurance Services, p.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Federal Crop Insurance Program - Profitability and effectiveness analysis
Tác giả: Grant Thornton
Nhà XB: National Crop Insurance Services
Năm: 2009
18. H. Douglas Jose, 2001, “The impact of the Agricultural Risk Protection Act of 2000 on Crop Insurance Programs”, Cornhusker Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of the Agricultural Risk Protection Act of 2000 on Crop Insurance Programs”
19. Ian Macandrew, John Nash &amp; the Vietnam Insurance Corporation, August 1999, “Design Assistance and Operational Advice for an Agricultural Insurance Programme in the Socialist Republic of Vietnam”, Consultant’s Report for project number TCP/VIE/7822 (A) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Design Assistance and Operational Advice for an Agricultural Insurance Programme in the Socialist Republic of Vietnam
Tác giả: Ian Macandrew, John Nash
Nhà XB: Consultant’s Report for project number TCP/VIE/7822 (A)
Năm: 1999
20. Jake Rinehart, 4/2008, “Proposed changes to Federal Crop Insurance Program and The Chanllenge of Servicing Crop Insurance Policies”, American Agri-Bussiness Insurance Company ARMtech Insurance Services Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proposed changes to Federal Crop Insurance Program and The Chanllenge of Servicing Crop Insurance Policies
Tác giả: Jake Rinehart
Nhà XB: American Agri-Bussiness Insurance Company
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng) trên thế giới - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 1 Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng) trên thế giới (Trang 15)
Bảng 2: Trách nhiệm của các công ty bảo hiểm cho khoản lỗ ròng - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 2 Trách nhiệm của các công ty bảo hiểm cho khoản lỗ ròng (Trang 47)
Bảng 3: Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng cho thảm - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 3 Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng cho thảm (Trang 56)
Bảng 4: Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng đa thảm - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 4 Tổng hợp tình hình phát triển bảo hiểm cây trồng đa thảm (Trang 58)
Bảng 6: Tình hình triển khai bảo hiểm cây lúa của Bảo Việt - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 6 Tình hình triển khai bảo hiểm cây lúa của Bảo Việt (Trang 67)
Bảng 7: Tình hình kinh doanh của Groupama - Bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ và một số kiến nghị đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam
Bảng 7 Tình hình kinh doanh của Groupama (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w