Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006 Viện Tài nguyên và Môi trường biển Viện Khoa học và Công ng
Trang 1Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006 nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
Cơ quan chủ trì:
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Chuyên đề
đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ
miền Trung việt nam
6527-1
12/9/2007
Trang 2Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006 nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
CN Đặng Hoài Nhơn
Chuyên đề
đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ
miền Trung việt nam
Chủ trì thực hiện
TS Nguyễn Hữu Cử
Hải Phòng, 2006
Trang 3đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ
miền Trung việt nam
Trang 4Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) iv
Mục lục
Trang
2 Các hoạt động kinh tế - xã hội khai thác tiềm năng đầm phá 5
3.1 Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 9
4 Định hướng quản lý môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 19
Trang 5Mở đầu
Đầm phá ven bờ (coastal lagoon) phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau, chiếm khoảng 13% chiều dài bờ biển (Nichols and Allen, 1981) ở Việt Nam, có mặt 12 đầm phá tiêu biểu phân bố ở ven bờ miền Trung trong khoảng từ vĩ độ 11o bắc (Ninh Thuận) tới vĩ độ 16o bắc (Thừa Thiên Huế) với mật độ 57 km chiều dài bờ biển miền Trung có 1 đầm phá và bờ đầm phá chiếm khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam
Hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc nhóm các lagun ven
bờ vĩ độ thấp, nhiệt đới nóng ẩm (nội chí tuyến bắc), khác nhau về kiểu loại (gần kín, kín từng phần, đóng kín), về kích thước (từ nhỏ - diện tích mặt nước dưới
10 km2, tới lớn - diện tích trên 50 km2, thậm chí trên 200 km2 và thuộc loại lớn của thế giới như hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai), về đặc trưng khối nước (từ
lợ - nhạt tới lợ - mặn, thậm chí siêu mặn), v.v Tương tự các loại hình thuỷ vực ven bờ khác (như các vùng cửa sông và vũng, vịnh), đầm phá ven bờ là các địa
hệ - hệ sinh thái, nơi tập trung chủ yếu tiềm năng tài nguyên của vùng bờ biển Gắn liền với lịch sử quần cư của cộng đồng ven bờ, tài nguyên đầm phá đã được khai thác và sử dụng từ lâu đời nhưng nghiên cứu về tài nguyên và môi trường
đầm phá mới chỉ trong thời gian hơn 20 năm nay và mức độ điều tra, nghiên cứu rất khác nhau giữa các đầm phá do phụ thuộc vào tiềm năng đầm phá và nhu cầu
địa phương Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) được coi là
điển hình cả về kiểu loại, quy mô, tiềm năng tài nguyên và các vấn đề môi trường, cũng như mức độ cao về điều tra, nghiên cứu
Trong quá trình khai thác và sử dụng đầm phá chưa hợp lý, các vấn đề về tài nguyên và môi trường đã tất yếu nảy sinh - tiềm năng tài nguyên và chất lượng môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam đã suy giảm do tác động của con người thông qua hành động phát triển kinh tế - xã hội khu vực cũng như tác
động của các quá trình tự nhiên sinh tai biến; nỗ lực quản lý, bảo vệ tài nguyên
và môi trường lâu nay to lớn nhưng chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn, đặc biệt trước sức ép phát triển kinh tế - xã hội đang gia tăng theo quy hoạch tới năm
2010 và tầm nhìn tới năm 2020 với các dự án đang lần lượt trở thành hiện thực
Do đó, định hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam trên cơ sở đánh giá tiềm năng tài nguyên, chất lượng và động thái môi trường là đòi hỏi bức xúc nhằm thúc đẩy bảo vệ tài nguyên và môi trường bắt kịp nhịp độ phát
triển kinh tế - xã hội khu vực ngày càng cao
Trang 6Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 2
1 Đánh giá tiềm năng tài nguyên đầm phá
1.1 Tài nguyên phi sinh vật
Tài nguyên nói chung được phân loại theo nhiều cách khác nhau - theo hợp phần lãnh thổ (tài nguyên đất, nước, rừng, biển, v.v.), theo nguồn gốc (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn), theo giá trị sử dụng (sử dụng trực tiếp, gián tiếp, không sử dụng), theo tính chất tồn tại (tài nguyên tái tạo, không tái tạo), v.v., nhưng phân loại theo nguồn gốc được sử dụng rộng rãi để kiểm kê, đánh giá tiềm năng tài nguyên và được sử dụng trong báo cáo này
Theo nguồn gốc, tài nguyên được chia thành tài nguyên thiên nhiên (do các quá trình tự nhiên tạo ra) và tài nguyên nhân văn (human resources - do con người tạo ra, và không được đề cập tới trong báo cáo này) Tài nguyên thiên nhiên (natural resources) được nhóm thành tài nguyên phi sinh vật (abiotic/non - living resources) và tài nguyên sinh vật (biotic/living resources)
Tài nguyên phi sinh vật hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam rất
đa dạng và có tiềm năng to lớn nhưng chưa thể đánh giá chi tiết do mức độ điều tra hạn chế Tuy nhiên, chúng được đánh giá sơ bộ như sau:
(1) Giá trị to lớn về tự nhiên học của một hệ tự nhiên cấu thành vùng bờ biển, cụ thể là các giá trị địa chất học, địa mạo học, hệ sinh thái của một lgun ven bờ, điển hình là đầm Lăng Cô với giá trị bảo tồn di tích lịch sử tự nhiên
(2) Khu vực đầm phá là nơi sinh cư, đồng thời cung cấp các điều kiện sinh cư thuận lợi cho cộng đồng dân cư vùng bờ biển, mà nhiều nơi quân cư tập trung thành tiểu đô thị làng nghề, điển hình là thuỷ sản, du lịch
Đây là một trong những dạng tài nguyên quý ở vùng bờ biển vốn có
điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và nghèo kiệt tài nguyên
(3) Khoáng sản liên quan tới đầm phá không lớn, thường có sa khoáng (titan, zircon) và cát xây dựng ở đê cát chắn nhưng tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội lớn hơn nhiều, trong đó có tiềm năng phát triển cảng - giao thông thủy, thủy sản và du lịch
1.2 Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật của hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam có giá trị lớn nhất là tồn tại hệ sinh thái lagun ven bờ có năng suất sinh học cao và tiềm năng nguồn lợi lớn ở vùng bờ biển nghèo kiệt, cung cấp các sản phẩm sinh học cho cộng đồng hình thành nghề thủy sản đầm phá, duy trì sự sống của thế giới sinh vật đa dạng và phong phú với các nguồn gốc khu hệ nước mặn, nước ngọt và nhóm thích nghi nước lợ rộng muối, kể cả chim nước di cư (boreal migrant) trú đông Tuy mức độ điều tra còn thấp và khác nhau giữa các đầm phá,
Trang 7nhưng những số liệu dưới đây cũng đủ ghi nhận đa dạng sinh học cao và tiềm năng nguồn lợi lớn ở một số đầm phá tiêu biểu
1.2.1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
- Thành phần khu hệ
Cho tới nay, có 815 loài sinh vật đã được ghi nhận ở hệ đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai, gồm thực vật phù du (221 loài), thực vật nhỏ sống đáy (54), rong tảo (46), cỏ nước nhạt (11), cỏ biển (7), thực vật ngập mặn (7), thực vật thuỷ sinh bậc cao (24), động vật phù du (66), giun nhiều tơ (11), giáp xác (46), thân mềm (19), cá (230) và chim (73)
- Tiềm năng nguồn lợi
Trước năm 1975, sản lượng đánh bắt thủy sản có thể đạt 4 500 tấn mỗi năm nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 2 000 - 2 500 tấn/năm, kèm theo khoảng 1 500 tấn cỏ nước Thay vì sản lượng đánh bắt tự nhiên giảm, nghề nuôi hiện nay rất phát triển với diện tích nuôi đạt tới 3 105 ha, trong đó diện tích nuôi tôm đạt tới
2 827 ha (năm 2004)
1.2.2 Đầm Lăng Cô
- Thành phần khu hệ
Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn Như Hải và nnk (2004), đầm Lăng Cô
có 146 loài thực vật phù du thuộc các ngành tảo Lam, tảo Hai roi, tảo Silic, tảo Xương cá và tảo Ebritidea Theo kết quả đánh giá (khảo sát và kiểm kê) của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (1998), khu vực vịnh Chân Mây - đầm Lăng Cô có 702 loài được ghi nhận, gồm thực vật phù du (194 loài), rong tảo (51), cỏ biển (7), thực vật ngập mặn (25), động vật phù du (78), da gai (1), tay cuộn (1), giáp xác (22), thân mềm (39), san hô (95) và cá (188)
- Tiềm năng nguồn lợi
Đánh bắt thủy sản tự nhiên có giá trị kinh tế thấp hơn nuôi thủy sản Theo
đánh giá của UBND thị trấn Lăng Cô năm 2003, sản lượng thủy sản khai thác trong đầm đạt 127 tấn, nuôi tôm (29 ha): 80 tấn, nuôi cá Mú (70 lồng): 7 tấn, nuôi Vẹm xanh: 18 tấn, nuôi Hàu (30 000 cọc và 2 000 lốp xe hơi): 13 tấn, ốc Hương: 2 tấn
1.2.3 Đầm Trà ổ
- Thành phần khu hệ
Kết quả thống kê năm 2000 (Đặng Trung Thuận và nnk) cho thấy đầm Trà
ổ có 85 loài thực vật phù du, 31 loài thực vật lớn, 38 loài động vật phù du, 19 loài động vật đáy và 67 loài cá, trong đó có 26 loài cá kinh tế và nổi tiếng là cá Chình và cá Chép
Trang 8Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 4
- Tiềm năng nguồn lợi
Rong trong đầm Trà ổ được đánh giá vào khoảng 25 000 - 40 000 tấn tươi, sản lượng thủy sản được khai thác hàng năm vào khoảng 1 000 tấn Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích nuôi thủy sản trong đầm đạt tới 200 - 250 ha
- Tiềm năng nguồn lợi
Sản lượng thủy sản đánh bắt tự nhiên vào khoảng 300 - 500 tấn/năm, gồm tôm, cua, ghẹ (30 - 35 tấn), cá Cơm (40 - 70), cá Mai (30 - 40), cá Măng (40 - 50), cá Đối (40 - 60), cá Dìa (10 - 30), cá tạp (80 - 150) và các loại khác (30 - 50) Riêng cá, trữ lượng tiềm năng được đánh giá vào khoảng 1 300 - 1 500 tấn
và trữ lượng có khả năng khai thác vào khoảng 600 - 700 tấn
1.2.5 Đầm Thị Nại
- Thành phần khu hệ
Theo kiểm kê của Bùi Hồng Long và nnk (2005), đầm Thị Nại có 707 loài, gồm thực vật phù du (185 loài), rong và thực vật thuỷ sinh bậc cao (136), động vật phù (64), động vật đáy (181 loài, trong đó có 100 loài Thân mềm) và Giáp xác (16)
- Tiềm năng nguồn lợi
Sản lượng tôm (của 3 loài chủ yếu) hiện nay đạt 65 - 70 tấn/năm Trữ lượng
tự nhiên của cá được đánh giá vào khoảng 4 000 - 5 000 tấn và trữ lượng có khả năng khai thác vào khoảng 1 200 - 1 500 tấn
1.2.6 Đầm Cù Mông
- Thành phần khu hệ
Do mức độ điều tra còn thấp, thành phần khu hệ sinh vật khu vực đầm Cù Mông - vụng Xuân Đài còn ít được biết tới, gồm cá (45 loài), rong (28), thân mềm (21), giáp xác (35) và da gai (7), cỏ biển (7), mang tính chất khu hệ biển
điển hình do ít ảnh hưởng của nước ngọt
- Tiềm năng nguồn lợi
Trước đây, ngư trường tôm (chủ yếu là tôm Dăm Đỏ) bắc Sông Cầu được khai thác với sản lượng 200 - 250 tấn/năm, nhưng nay chỉ còn 100 - 150 tấn/năm Sinh vật đáy có giá trị kinh tế trong đầm Cù Mông - vụng Xuân Đài
được khai thác vào khoảng 15 - 20 tấn/năm Riêng sản lượng cá được đánh giá vào khoảng 60 - 90 tấn/năm ở đầm Cù Mông và 40 - 60 tấn ở vụng Xuân Đài
Trang 91.2.7 Đầm Ô Loan
- Thành phần khu hệ
Mức độ điều tra hiện nay ghi nhận có 356 loài, gồm thực vật phù du (100 loài), rong và thực vật thủy sinh bậc cao (33), động vật phù du (58), động vật đáy (70) và cá (71)
- Tiềm năng nguồn lợi
Sản lượng thủy sản (chủ yếu là cá) khai thác tự nhiên hiện nay được đánh giá vào khoảng 100 - 200 tấn/năm Diện tích nuôi thả tự nhiên khoảng 100 - 150
ha, nuôi lồng, bè, đăng sáo trên diện tích khoảng 150 - 200 ha, nuôi đầm có đê bao khoảng 400 - 500 ha
1.2.8 Đầm Thủy Triều
- Thành phần khu hệ
Chưa có số liệu thống kê đầy đủ về thành phần khu hệ sinh vật đầm Thủy Triều - vịnh Cam Ranh ngoài thực vật phù du (112 loài), động vật phù du (91 loài), cỏ biển (3 loài), tôm (16 loài) và cua, ghẹ (4 loài), chủ yếu gồm các loài sinh vật biển
- Tiềm năng nguồn lợi
Trước đây, thực vật ngập mặn ở đây tạo thành rừng, rộng chừng 100 ha nhưng nay chỉ còn khoảng 20 ha Nguồn lợi rong ở đây rất lớn, ước tính rong Mơ
có thể khai thác tới 50 000 tấn/năm, rong Đông: 700 tấn, rong Xà lách: 200 tấn
và các rong khác: 40 tấn Nuôi thủy sản phát triển nhanh chóng, tới năm 2001 đã
có 5 560 lồng trên diện tích 76 ha Theo quy hoạch tới năm 2010, sẽ có tới 7 200 lồng trên diện tích 740 ha
1.2.9 Đầm Nại
Thành phần khu hệ sinh vật của đầm Nại mới chỉ ghi nhận được có 309 loài, gồm thực vật phù du (125 loài), rong và thực vật thủy sinh bậc cao (36),
động vật phù du (25), động vật đáy (81) và cá (42)
Trang 10Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 6
2 các hoạt động kinh tế - x∙ hội khai thác tiềm năng đầm phá
2.1 Quần cư ven biển đầm phá
Liên quan tới 12 đầm phá có 15 huyện/thị (trong đó có 13 huyện, 1 thị xã
và 1 thành phố thuộc tỉnh) với tổng diện tích đất tự nhiên 7 438,3 km2 và dân số
trung bình (tính tới tháng 4/1999) 2 200 300 người, chiếm 18,49% tổng diện tích
và 29,67% tổng dân số của 7 tỉnh ven biển (Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận (bảng 1) Ven bờ
đầm phá là các điểm quần cư tập trung nhờ có các điều kiện sinh cư thuận lợi,
nhiều nơi quần cư tập trung thành tiểu đô thị (tiểu đô thị nghề cá, tiểu đô thị du
lịch) cấp thị trấn, thậm chí cấp thị xã (thị xã Cam Ranh) và thành phố thuộc tỉnh
(thành phố Quy Nhơn của tỉnh Bình Định) Thật vậy, đầm phá chỉ có tổng diện
tích mặt nước trung bình (436,9 km2) chiếm 1,08% diện tích nhưng thu hút
29,76% dân số của 7 tỉnh ven biển có liên quan Các điều kiện sinh cư thuận lợi
cho cộng đồng dân cư ven bờ đầm phá chủ yếu là tiềm năng phát triển thủy sản
đầm phá (nuôi trồng, đánh bắt tự nhiên), là cơ sở hậu cần nghề cá (neo trú an
toàn, cung ứng, sửa chữa phương tiện, chế biến và bao tiêu sản phẩm) cho nghề
khai thác biển khơi, tiềm năng phát triển cảng và giao thông thủy, phát triển du
lịch, tiện nghi môi trường được ưu đãi ở vùng bờ biển có điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt và nghèo kiệt tài nguyên
Việt Nam không phải ngoại lệ của thực tế rằng phân bố dân cư ở quốc gia
có biển đồng thời chịu sức hút của biển khi đánh giá đúng tiềm năng phát triển
kinh tế - xã hội vùng bờ biển và sức hút đô thị, đặc biệt là đô thị ven biển Đô thị
ven biển không hẳn do quy định mà nên, mà do quần cư tập trung của cộng đồng
ven biển khai thác tiềm năng phát triển cảng - hàng hải, du lịch và nghề cá, vốn
tập trung chủ yếu ở các thủy vực ven biển, trong đó có đầm phá
2.2 Phát triển kinh tế
2.2.1 Cơ cấu kinh tế vùng bờ biển so với cả nước
Vùng bờ biển Việt Nam bao gồm 28 tỉnh/thành phố với tổng số 126
huyện/thị và 8 huyện đảo ven bờ Trong thời gian 1995 - 2005, tốc độ tăng GDP
trung bình đạt 9,87%, cao hơn đáng kể so với trung bình cả nước (7%), cao nhất
trong đó thuộc các ngành công nghiệp (13,85%), xây dựng (12,12%), giao thông
vận tải - bưu điện (11,4%) Đóng góp GDP vào tổng GDP của cả nước cũng tăng
đáng kể từ 29,58% vào năm 1995 tới 35,43% vào năm 2003, trong đó, công
nghiệp - xây dựng có 15,49%, dịch vụ có 13,14% và nông - lâm - thủy sản có
6,81% Trong phần đóng góp trên, hoạt động kinh tế liên quan tới đầm phá cũng
giữ vị trí nhất định thông qua thu nhập của hoạt động cảng - giao thông, nghề cá
và du lịch
Trang 11Bảng 1 Dân số và diện tích đất tự nhiên các tỉnh, huyện
có liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam
15 huyện, thị 7 438,3 2 200 300
2.2.2 Phát triển kinh tế liên quan tới hệ thống đầm phá
- Phát triển cảng - giao thông thủy
Trang 12Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 8
ở tất cả các đầm phá đều có bến thuyền lớn nhỏ, cơ sở sửa chữa duy tu phương tiện, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa giao lưu hàng ngày giữa các điểm dân cư ven bờ đầm phá, và nhu cầu neo trú, hậu cần cho đội tầu thuyền khai thác biển Tuy nhiên, cảng trong đầm phá có tầm địa phương hoặc khu vực tương đối hiếm do hạn chế tiềm năng phát triển Hiện chỉ có một
số ít cảng trong đầm phá như cảng Tân Mỹ ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, cảng Kỳ Hà ở đầm Trường Giang và cảng Thị Nại ở đầm Thị Nại, và một số cảng liên quan trực tiếp tới đầm phá qua cửa (bảng 2)
ở vùng cửa Thuận An của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có khu cảng Tân Mỹ, gồm cảng xăng dầu và cảng tổng hợp Mặc dù quy mô và công suất cảng hạn chế, nhưng có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực
tế đầm phá” với tư cách một lĩnh vực nhờ tiềm năng to lớn của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đặc biệt là tiềm năng phát triển thủy sản
ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, hiện có 33 xã thuộc 5 huyện liên quan trực tiếp và khai thác đầm phá với 3 105,5 ha diện tích nuôi (14,37% tổng diện tích đầm phá) Đặc biệt, ở đây có dân thủy cư sống bằng các nghề khác nhau trên mặt nước không cố định nhưng chủ yếu là nghề khai thác thủy sản tự nhiên của đầm phá Sau khi nỗ lực của Nhà nước cho định cư 2008 hộ với 10 922 khẩu
ở 39 điểm khác nhau trên đầm phá, hiện còn 1 036 hộ với 5 227 khẩu (trong đó
có 2 345 lao động) quần cư ở 33 điểm khác nhau Nghề nuôi tôm trong đầm phá
ở Thừa Thiên Huế (kể cả đầm Lăng Cô) phát triển nhanh, diện tích nuôi liên tục tăng từ năm 1996 (882 ha), năm 2000 (1 850 ha) tới năm 2004 (2 827 ha), chuyển đổi cơ bản phương thức nuôi từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, từ nuôi trong đầm có đê bao sang đầm sáo, đồng thời, đa dạng hóa đối tượng nuôi và xuất hiện nuôi lồng bè như ở đầm Lăng Cô
Đầm Trà ổ liên quan tới 4 xã (Mỹ Đức, Mỹ Chân, Mỹ Thắng và Mỹ Lợi) thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định), với sản lượng thủy sản khai thác hiện nay vào khoảng 1 000 tấn/năm Theo quy hoạch, diện tích nuôi sẽ đạt tới 200 - 250
Trang 13năng được đánh giá vào khoảng 1 300 - 1 500 tấn và trữ lượng có khả năng khai
thác vào 600 - 700 tấn
Đầm Thị Nại liên quan tới các xã Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Sơn và
Phước Thuận thuộc huyện Tuy Phước, các phường Đống Đa, Hải Cảng, Nhơn
Hải và Nhơn Hội thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Thủy sản là ngành
kinh tế quan trọng bên cạnh phát triển công nghiệp ở Nhơn Hội, giao thông -
cảng ở phường Hải Cảng Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích nuôi thuỷ sản
trong đầm Thị Nại lên tới 1 500 ha cùng với việc bảo tồn đa dạng sinh học hệ
sinh thái rừng ngập mặn ở quy mô 300 ha Trữ lượng cá tự nhiên ở đầm Thị Nại
được đánh giá vào khoảng 4 000 - 5 000 tấn, trữ lượng có khả năng khai thác vào
khoảng 1 200 - 1 500 tấn
Đầm Ô Loan liên quan tới các xã An Ninh Đông, An Cư, An Hiệp, An Hòa
và An Hải thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Sản lượng khai thác tự nhiên các
đối tượng tôm, cá, cua, ghẹ, nhưng chủ yếu là cá, vào khoảng 100 - 200 tấn/năm
Nuôi thuỷ sản cũng phát triển với các đối tượng ưa mặn - lợ như sò Huyết, sò
Lông, Hàu, tôm Sú, v.v Diện tích nuôi thả tự nhiên khoảng 100 - 150 ha, nuôi
lồng, bè, đăng, sáo khoảng 150 - 200 ha, nuôi đầm có đê bao khoảng 400 - 500
ha Giá trị kinh tế từ 1 000 m2 đầm hoặc 50 m2 lồng, sáo đạt 6 000 000 -
17 000 000 đ/năm
Đầm Thủy Triều kéo dài tới 17,5 km dọc bờ biển, có liên quan tới các xã
Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Thành Bắc, các phường
Cam Nghĩa, Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam - thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh
Khánh Hòa Nghề thủy sản ở đây rất phát triển Cho tới năm 2001, số hộ nuôi
tôm Hùm thực phẩm (tính cả phần ngoài cửa thuộc vịnh Cam Ranh) đạt tới 2 079
hộ với 5 560 lồng trên diện tích 76 ha Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích
nuôi lên tới 740 ha và 7 200 lồng nuôi
- Phát triển du lịch
Các địa phương ven biển đều tận dụng tiềm năng phát triển du lịch biển ở
quy mô khác nhau liên quan chủ yếu tới vũng - vịnh và đầm phá Các trung tâm
du lịch biển lớn thường nằm bên bờ vịnh và thuộc thành phố như ở Hạ Long, Cát
Bà (Hải Phòng), Cửa Lò, Đà Nẵng, Nha Trang, v.v Liên kết với các trung tâm
này là các điểm du lịch (resort) nằm rải rác bên bờ vịnh, đê cát của đầm phá,
điền hình là điểm du lịch Thuận An ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, điểm
du lịch Lăng Cô ở đầm Lăng Cô, điểm du lịch Sa Huỳnh ở đầm Nước Mặn, điểm
du lịch Quy Nhơn liên quan tới đầm Thị Nại, điểm du lịch Chí Thạnh liên quan
tới đầm Ô Loan, tương tự, điểm du lịch Cam Ranh - đầm Thuỷ Triều, điểm du
lịch Ninh Chữ - Đầm Nại
Trang 14Bảng 2 Hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam
hoạt
động
Cỡ tầu vào cảng
hợp
Cảng chuyên dùng
Công suất (triệu Tấn)
Cỡ tầu (DWT)
Công suất (triệu Tấn)
Cỡ tầu (DWT)
(Cục Hàng hải Việt Nam, 2003)
Trang 153 đánh giá Chất lượng môi trường đầm phá
3.1 Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam
Tài nguyên và môi trường đầm phá tồn tại trong một thể thống nhất và tài nguyên đầm phá biến đổi theo động thái môi trường do tác động của cả quá trình
tự nhiên và tác động của con người, đặc biệt khi nhận thức mới về tài nguyên cho phép khả năng khai thác tài nguyên đa lợi ích sử dụng cho phát triển đa ngành Sau nhiều năm nghiên cứu về đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam ở mức độ chi tiết khác nhau giữa các đầm phá, có thể rút ra từ các công trình nghiên cứu một số nhận xét sau:
(1) - Chất lượng môi trường tự nhiên và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của
hệ thống đầm phá đã suy giảm và nhu cầu phục hồi chức năng môi trường
đầm phá và từ lưu vực thông qua hệ thống sông
(3) - Sức ép của các hoạt động kinh tế - xã hội tới tài nguyên và môi trường
đầm phá có xu hướng gia tăng, đặc biệt khi các dự án phát triển có liên quan đang lần lượt trở thành hiện thực theo quy hoạch tới năm 2010 và
2020
(4) - Hiểu biết về đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam cho tới nay còn ở mức độ thấp, thấp hơn nhiều so với chính vai trò kinh tế - xã hội khu vực của nó
(5) - Những nỗ lực bảo vệ tài nguyên và môi trường đầm phá của Nhà nước
và địa phương liên quan lâu nay là rất lớn nhưng chưa đem lại kết quả như mong muốn, một phần do hiểu biết về đầm phá thấp hơn mức độ cần thiết
và phần khác do tính chất phức tạp của vấn đề, điển hình là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
3.2 Chất lượng môi trường đầm phá
3.2.1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
3.2.1.1 Thủy hóa và chất lượng nước
Sự biến đổi tính chất thủy hóa và chất lượng nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có tác động của con người
Trang 16Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 12
phá, và tác động của các quá trình tự nhiên gây biến đổi cấu trúc hình thái, đặc
biệt là biến động cửa đầm phá dưới dạng dịch chuyển cửa, mở thêm cửa mới, lấp
và mở cửa luân chuyển có tính chu kỳ (cửa Tư Hiền, cửa Lộc Bình) Sự thay đổi
các yếu tố thủy hóa theo mùa và tính phân tầng của khối nước là thuộc tính tự
nhiên nhưng sự thay đổi trong một khoảng thời gian đủ dài có thể theo dõi được
do các nguyên nhân nói trên đã phản ánh động thái môi trường đầm phá Trong
khoảng thời gian 1993 - 2004, tính chất thủy hóa khối nước thay đổi liên quan
tới sự kiện lấp cửa Tư Hiền và mở cửa Lộc Bình vào tháng 12 năm 1994, mở cửa
Hòa Duân, cửa Tư Hiền và lấp cửa Lộc Bình vào tháng 11 năm 1999 Cửa Hòa
Duân không tồn tại lâu, có thể lấy mốc sự kiện cửa Tư Hiền để so sánh và thấy
rằng độ muối khối nước đầm phá suy giảm (desalting) trong thời gian 1993 -
2004 mặc dù cửa Tư Hiền mở lại (bảng 3)
Kết quả khảo sát vào tháng 6/2004 ghi nhận sự chênh lệch lớn về độ đục
của nước tầng mặt giữa phần bắc của phá Tam Giang (27 - 81 mg/l) và phần còn
lại của hệ đầm phá (3 - 10 mg/l) trong khi nồng độ oxy hoà tan (DO) trong nước
tương đối cao và ít chênh lệch (5,6 - 7,6 mg/l) Kết quả khảo sát năm 2004 cũng
ghi nhận sự gia tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng (bảng 4) có lẽ liên quan tới
sự gia tăng chất thải hữu cơ từ các vùng xung quanh đầm phá, dẫn đến sự gia
tăng nhu cầu oxy hóa học (COD) và oxy sinh hóa (BOD5) và giảm oxy hoà tan
(DO) (bảng 5)
Bảng 3 Sự thay đổi độ muối (‰) của nước tầng mặt hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004
Trước khi lấp cửa Tư
Mùa khô
(3/1993)
Mùa mưa (11/1993)
Mùa mưa (11/1995)
Trang 17Bảng 4 Sự thay đổi hàm lượng (àg/l) các chất dinh dưỡng Nitrit (NO
-2 ), photphat (PO 4 3- ) và Silic (SiO 3 2- ) trong nước tầng mặt của hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004
Trước khi lấp cửa Tư Hiền
dưỡng
Mùa khô
(3/1993)
Mùa mưa (11/1993)
Mùa mưa (11/1995)
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai năm 1998 và 2004
Khu vực Yếu tố Kết quả tổng hợp
Trang 18Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,
đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006
Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 14
Nồng độ dầu trong nước tầng mặt của hệ đầm phá cũng gia tăng có thể do
hoạt động của tầu thuyền vận tải và các điểm cung ứng nhiên liệu và sửa chữa
phương tiện ở ven bờ đầm phá Nồng độ dầu đạt tới 0,38 mg/l so với 0,23 mg/l
trước đây ở đầm Cầu Hai, 0,29 mg/l so với 0,2 mg/l trước đây ở phá Tam Giang
và tới 0,53 mg/l so với 0,20 mg/l trước đây ở đầm Thủy Tú
Trước đây (11/1995), kim loại nặng trong nước cũng được xác định ở một
số điểm hạn chế (cửa sông Hương, Tân Mỹ) với nồng độ thấp của đồng (1,6 - 2,8 àg/l), chì (3,6 - 4,1 àg/l), cadmi (1,3 - 3,6 àg/l), kẽm (0,2 - 0,5 àg/l) và
thủy ngân (< 0,1 àg/l) Kết quả khảo sát và phân tích vào năm 2004 cũng xác
nhận sự gia tăng nồng độ kim loại nặng trong nước đầm phá như đồng (5,75 - 12,21 àg/l), chì (5,76 - 17,38 àg/l), cadmi (0,80 - 4,91 àg/l), kẽm (5,75 - 17,73 àg/l), arsen (3,54 - 8,37 àg/l) và thủy ngân (0,07 - 1,32 àg/l)
Nồng độ này chưa đạt tới mức độ cảnh báo nhưng cần lưu ý về sự gia tăng nồng
độ của tất cả các kim loại nặng Ngược lại, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật rất
thấp (tổng dư lượng trong khoảng 0,0173 - 0,0452 àg/l) so với trước đây tổng dư
lượng của 6 hợp chất trong khoảng 0,0041 - 0,1584 àg/l (thấp hơn tiêu chuẩn cho
phép 60 - 100 lần) Kết quả khảo sát và phân tích năm 2004 cũng ghi nhận nồng
độ cyanua đạt 5,36 àg/l ở phía bắc phá Tam Giang, 4,44 àg/l ở cửa sông Hương,
1,59 àg/l ở đầm Thủy Tú và 4,18 àg/l ở đầm Cầu Hai
3.2.1.2 Tích tụ chất gây bẩn trong trầm tích
- Kim loại nặng
Trong đợt khảo sát tháng 12 năm 2002, tổng số 20 mẫu trầm tích tầng mặt
đại diện cho 4 khu vực của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã được thu và
phân tích tại Viện Khoa học biển Bologna (Hội đồng quốc gia Nghiên cứu khoa
học Italia) Khu vực I gồm các trạm thuộc phá Tam Giang, khu vực II - vùng cửa
sông Hương, khu vực III - đầm Thủy Tú và khu vực IV - đầm Cầu Hai Kết quả
xác định nồng độ kim loại nặng được trình bày trong bảng 6
Bảng 6 Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô)
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (12/2002)
Khu vực Kim loại nặng
Trang 19Theo hướng dẫn của NOAA, hầu hết các giá trị trên thấp hơn mức ảnh hưởng thấp (effect range low (ERL)) trừ arsen có nồng độ cao hơn ERL (tức dưới mức ảnh hưởng trung bình - effect range median (ERM) Theo tiêu chuẩn môi trường của Canada, tương tự, nồng độ arsen cao hơn mức TEL nhưng thấp hơn PEL
Nồng độ cadmi và kẽm cao ở phá Tam Giang, bạc, arsen, đồng và niken ở khu vực cửa sông Hương, kẽm ở đầm Thủy Tú, crom và chì có giá trị cao nhất ở
đầm Cầu Hai Kết quả phân tích 6 kim loại nặng phổ biến (tại Trung tâm Phân tích thí nghiệm địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản) trong mẫu trầm tích thu vào tháng 6 năm 2004 cũng xác nhận xu thế này với đồng, chì, kẽm và arsen
Phân bố theo độ sâu của 10 kim loại nặng trong cột khoan giữa đầm Cầu Hai cho thấy nồng độ của V, Cr, Ni, Cu, Zn, Ag, Pb nhỏ nhất ở khoảng độ sâu
12 - 14 cm, As, Cd và U nhỏ nhất ở khoảng độ sâu 40 cm
- Polychlorinated biphenyl
Polychlorinated biphenyl (PCB) trong trầm tích tầng mặt có nồng độ cao nhất ở giữa đầm Cầu Hai (24,5 àg/kg), ở phía bắc phá Tam Giang (18,1 - 22,9 àg/kg) và phía bắc đầm Thủy Tú (10,2 àg/kg) nơi gần đầm Sam Giá trị này tương tự với kết quả phân tích của D.D Nhan et al, 1999 ở ven bờ Bắc Việt Nam nhưng thấp hơn kết quả phân tích của Iwata et al, 1994 ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và nhiều khu vực khác ở Châu á nhưng cao hơn ở khu vực kế cận đầm phá (Phú Đa, 0,65 ng/g trong đồng lúa)
Tương tự với các mẫu trầm tích tầng mặt, PCBs trong trầm tích lõi khoan cũng đặc trưng bởi nồng độ cao nhất của 3CB trong số các hợp chất đồng đẳng,
và giảm dần tới 6CB Phân bố PCBs trong 2 lõi khoan ở phía bắc phá Tam Giang
và trung tâm đầm Cầu Hai cho thấy nồng độ PCBs giảm dần tới độ sâu 9 cm ở
đầm Cầu Hai và 21 cm ở phá Tam Giang, sau đó có dao động ít nhiều và ổn định tới độ sâu 40 - 50 cm, và hoạt tính phóng xạ của 210Pb biến thiên tương tự trong cột mẫu
đầm Cầu Hai đạt 0,1 cm/năm và tốc độ lắng đọng không ổn định ở vùng cửa sông Hương Trước đây, khi sử dụng phương pháp khối lượng - thể tích, tốc độ lắng đọng trầm tích của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được đánh giá vào khoảng 0,21 cm/năm
- Dioxin và Furan
Các hợp chất polychlorinated dibenzo - p - dioxin (PCDD) và dibenzofuran