1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)

38 656 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung Việt Nam
Tác giả Cơ quan chủ trì: Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Cử, Thư ký: CN. Đặng Hoài Nhơn
Trường học Viện Tài nguyên và Môi trường biển - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Địa lý môi trường và tài nguyên biển
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 466,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006 Viện Tài nguyên và Môi trường biển Viện Khoa học và Công ng

Trang 1

Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006 nghiên cứu động thái môi trường

đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý

Cơ quan chủ trì:

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Chuyên đề

đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ

miền Trung việt nam

6527-1

12/9/2007

Trang 2

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ

Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006 nghiên cứu động thái môi trường

đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý

CN Đặng Hoài Nhơn

Chuyên đề

đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ

miền Trung việt nam

Chủ trì thực hiện

TS Nguyễn Hữu Cử

Hải Phòng, 2006

Trang 3

đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ

miền Trung việt nam

Trang 4

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) iv

Mục lục

Trang

2 Các hoạt động kinh tế - xã hội khai thác tiềm năng đầm phá 5

3.1 Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 9

4 Định hướng quản lý môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 19

Trang 5

Mở đầu

Đầm phá ven bờ (coastal lagoon) phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau, chiếm khoảng 13% chiều dài bờ biển (Nichols and Allen, 1981) ở Việt Nam, có mặt 12 đầm phá tiêu biểu phân bố ở ven bờ miền Trung trong khoảng từ vĩ độ 11o bắc (Ninh Thuận) tới vĩ độ 16o bắc (Thừa Thiên Huế) với mật độ 57 km chiều dài bờ biển miền Trung có 1 đầm phá và bờ đầm phá chiếm khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam

Hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc nhóm các lagun ven

bờ vĩ độ thấp, nhiệt đới nóng ẩm (nội chí tuyến bắc), khác nhau về kiểu loại (gần kín, kín từng phần, đóng kín), về kích thước (từ nhỏ - diện tích mặt nước dưới

10 km2, tới lớn - diện tích trên 50 km2, thậm chí trên 200 km2 và thuộc loại lớn của thế giới như hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai), về đặc trưng khối nước (từ

lợ - nhạt tới lợ - mặn, thậm chí siêu mặn), v.v Tương tự các loại hình thuỷ vực ven bờ khác (như các vùng cửa sông và vũng, vịnh), đầm phá ven bờ là các địa

hệ - hệ sinh thái, nơi tập trung chủ yếu tiềm năng tài nguyên của vùng bờ biển Gắn liền với lịch sử quần cư của cộng đồng ven bờ, tài nguyên đầm phá đã được khai thác và sử dụng từ lâu đời nhưng nghiên cứu về tài nguyên và môi trường

đầm phá mới chỉ trong thời gian hơn 20 năm nay và mức độ điều tra, nghiên cứu rất khác nhau giữa các đầm phá do phụ thuộc vào tiềm năng đầm phá và nhu cầu

địa phương Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) được coi là

điển hình cả về kiểu loại, quy mô, tiềm năng tài nguyên và các vấn đề môi trường, cũng như mức độ cao về điều tra, nghiên cứu

Trong quá trình khai thác và sử dụng đầm phá chưa hợp lý, các vấn đề về tài nguyên và môi trường đã tất yếu nảy sinh - tiềm năng tài nguyên và chất lượng môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam đã suy giảm do tác động của con người thông qua hành động phát triển kinh tế - xã hội khu vực cũng như tác

động của các quá trình tự nhiên sinh tai biến; nỗ lực quản lý, bảo vệ tài nguyên

và môi trường lâu nay to lớn nhưng chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn, đặc biệt trước sức ép phát triển kinh tế - xã hội đang gia tăng theo quy hoạch tới năm

2010 và tầm nhìn tới năm 2020 với các dự án đang lần lượt trở thành hiện thực

Do đó, định hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam trên cơ sở đánh giá tiềm năng tài nguyên, chất lượng và động thái môi trường là đòi hỏi bức xúc nhằm thúc đẩy bảo vệ tài nguyên và môi trường bắt kịp nhịp độ phát

triển kinh tế - xã hội khu vực ngày càng cao

Trang 6

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 2

1 Đánh giá tiềm năng tài nguyên đầm phá

1.1 Tài nguyên phi sinh vật

Tài nguyên nói chung được phân loại theo nhiều cách khác nhau - theo hợp phần lãnh thổ (tài nguyên đất, nước, rừng, biển, v.v.), theo nguồn gốc (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn), theo giá trị sử dụng (sử dụng trực tiếp, gián tiếp, không sử dụng), theo tính chất tồn tại (tài nguyên tái tạo, không tái tạo), v.v., nhưng phân loại theo nguồn gốc được sử dụng rộng rãi để kiểm kê, đánh giá tiềm năng tài nguyên và được sử dụng trong báo cáo này

Theo nguồn gốc, tài nguyên được chia thành tài nguyên thiên nhiên (do các quá trình tự nhiên tạo ra) và tài nguyên nhân văn (human resources - do con người tạo ra, và không được đề cập tới trong báo cáo này) Tài nguyên thiên nhiên (natural resources) được nhóm thành tài nguyên phi sinh vật (abiotic/non - living resources) và tài nguyên sinh vật (biotic/living resources)

Tài nguyên phi sinh vật hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam rất

đa dạng và có tiềm năng to lớn nhưng chưa thể đánh giá chi tiết do mức độ điều tra hạn chế Tuy nhiên, chúng được đánh giá sơ bộ như sau:

(1) Giá trị to lớn về tự nhiên học của một hệ tự nhiên cấu thành vùng bờ biển, cụ thể là các giá trị địa chất học, địa mạo học, hệ sinh thái của một lgun ven bờ, điển hình là đầm Lăng Cô với giá trị bảo tồn di tích lịch sử tự nhiên

(2) Khu vực đầm phá là nơi sinh cư, đồng thời cung cấp các điều kiện sinh cư thuận lợi cho cộng đồng dân cư vùng bờ biển, mà nhiều nơi quân cư tập trung thành tiểu đô thị làng nghề, điển hình là thuỷ sản, du lịch

Đây là một trong những dạng tài nguyên quý ở vùng bờ biển vốn có

điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và nghèo kiệt tài nguyên

(3) Khoáng sản liên quan tới đầm phá không lớn, thường có sa khoáng (titan, zircon) và cát xây dựng ở đê cát chắn nhưng tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội lớn hơn nhiều, trong đó có tiềm năng phát triển cảng - giao thông thủy, thủy sản và du lịch

1.2 Tài nguyên sinh vật

Tài nguyên sinh vật của hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam có giá trị lớn nhất là tồn tại hệ sinh thái lagun ven bờ có năng suất sinh học cao và tiềm năng nguồn lợi lớn ở vùng bờ biển nghèo kiệt, cung cấp các sản phẩm sinh học cho cộng đồng hình thành nghề thủy sản đầm phá, duy trì sự sống của thế giới sinh vật đa dạng và phong phú với các nguồn gốc khu hệ nước mặn, nước ngọt và nhóm thích nghi nước lợ rộng muối, kể cả chim nước di cư (boreal migrant) trú đông Tuy mức độ điều tra còn thấp và khác nhau giữa các đầm phá,

Trang 7

nhưng những số liệu dưới đây cũng đủ ghi nhận đa dạng sinh học cao và tiềm năng nguồn lợi lớn ở một số đầm phá tiêu biểu

1.2.1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

- Thành phần khu hệ

Cho tới nay, có 815 loài sinh vật đã được ghi nhận ở hệ đầm phá Tam Giang

- Cầu Hai, gồm thực vật phù du (221 loài), thực vật nhỏ sống đáy (54), rong tảo (46), cỏ nước nhạt (11), cỏ biển (7), thực vật ngập mặn (7), thực vật thuỷ sinh bậc cao (24), động vật phù du (66), giun nhiều tơ (11), giáp xác (46), thân mềm (19), cá (230) và chim (73)

- Tiềm năng nguồn lợi

Trước năm 1975, sản lượng đánh bắt thủy sản có thể đạt 4 500 tấn mỗi năm nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 2 000 - 2 500 tấn/năm, kèm theo khoảng 1 500 tấn cỏ nước Thay vì sản lượng đánh bắt tự nhiên giảm, nghề nuôi hiện nay rất phát triển với diện tích nuôi đạt tới 3 105 ha, trong đó diện tích nuôi tôm đạt tới

2 827 ha (năm 2004)

1.2.2 Đầm Lăng Cô

- Thành phần khu hệ

Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn Như Hải và nnk (2004), đầm Lăng Cô

có 146 loài thực vật phù du thuộc các ngành tảo Lam, tảo Hai roi, tảo Silic, tảo Xương cá và tảo Ebritidea Theo kết quả đánh giá (khảo sát và kiểm kê) của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (1998), khu vực vịnh Chân Mây - đầm Lăng Cô có 702 loài được ghi nhận, gồm thực vật phù du (194 loài), rong tảo (51), cỏ biển (7), thực vật ngập mặn (25), động vật phù du (78), da gai (1), tay cuộn (1), giáp xác (22), thân mềm (39), san hô (95) và cá (188)

- Tiềm năng nguồn lợi

Đánh bắt thủy sản tự nhiên có giá trị kinh tế thấp hơn nuôi thủy sản Theo

đánh giá của UBND thị trấn Lăng Cô năm 2003, sản lượng thủy sản khai thác trong đầm đạt 127 tấn, nuôi tôm (29 ha): 80 tấn, nuôi cá Mú (70 lồng): 7 tấn, nuôi Vẹm xanh: 18 tấn, nuôi Hàu (30 000 cọc và 2 000 lốp xe hơi): 13 tấn, ốc Hương: 2 tấn

1.2.3 Đầm Trà ổ

- Thành phần khu hệ

Kết quả thống kê năm 2000 (Đặng Trung Thuận và nnk) cho thấy đầm Trà

ổ có 85 loài thực vật phù du, 31 loài thực vật lớn, 38 loài động vật phù du, 19 loài động vật đáy và 67 loài cá, trong đó có 26 loài cá kinh tế và nổi tiếng là cá Chình và cá Chép

Trang 8

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 4

- Tiềm năng nguồn lợi

Rong trong đầm Trà ổ được đánh giá vào khoảng 25 000 - 40 000 tấn tươi, sản lượng thủy sản được khai thác hàng năm vào khoảng 1 000 tấn Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích nuôi thủy sản trong đầm đạt tới 200 - 250 ha

- Tiềm năng nguồn lợi

Sản lượng thủy sản đánh bắt tự nhiên vào khoảng 300 - 500 tấn/năm, gồm tôm, cua, ghẹ (30 - 35 tấn), cá Cơm (40 - 70), cá Mai (30 - 40), cá Măng (40 - 50), cá Đối (40 - 60), cá Dìa (10 - 30), cá tạp (80 - 150) và các loại khác (30 - 50) Riêng cá, trữ lượng tiềm năng được đánh giá vào khoảng 1 300 - 1 500 tấn

và trữ lượng có khả năng khai thác vào khoảng 600 - 700 tấn

1.2.5 Đầm Thị Nại

- Thành phần khu hệ

Theo kiểm kê của Bùi Hồng Long và nnk (2005), đầm Thị Nại có 707 loài, gồm thực vật phù du (185 loài), rong và thực vật thuỷ sinh bậc cao (136), động vật phù (64), động vật đáy (181 loài, trong đó có 100 loài Thân mềm) và Giáp xác (16)

- Tiềm năng nguồn lợi

Sản lượng tôm (của 3 loài chủ yếu) hiện nay đạt 65 - 70 tấn/năm Trữ lượng

tự nhiên của cá được đánh giá vào khoảng 4 000 - 5 000 tấn và trữ lượng có khả năng khai thác vào khoảng 1 200 - 1 500 tấn

1.2.6 Đầm Cù Mông

- Thành phần khu hệ

Do mức độ điều tra còn thấp, thành phần khu hệ sinh vật khu vực đầm Cù Mông - vụng Xuân Đài còn ít được biết tới, gồm cá (45 loài), rong (28), thân mềm (21), giáp xác (35) và da gai (7), cỏ biển (7), mang tính chất khu hệ biển

điển hình do ít ảnh hưởng của nước ngọt

- Tiềm năng nguồn lợi

Trước đây, ngư trường tôm (chủ yếu là tôm Dăm Đỏ) bắc Sông Cầu được khai thác với sản lượng 200 - 250 tấn/năm, nhưng nay chỉ còn 100 - 150 tấn/năm Sinh vật đáy có giá trị kinh tế trong đầm Cù Mông - vụng Xuân Đài

được khai thác vào khoảng 15 - 20 tấn/năm Riêng sản lượng cá được đánh giá vào khoảng 60 - 90 tấn/năm ở đầm Cù Mông và 40 - 60 tấn ở vụng Xuân Đài

Trang 9

1.2.7 Đầm Ô Loan

- Thành phần khu hệ

Mức độ điều tra hiện nay ghi nhận có 356 loài, gồm thực vật phù du (100 loài), rong và thực vật thủy sinh bậc cao (33), động vật phù du (58), động vật đáy (70) và cá (71)

- Tiềm năng nguồn lợi

Sản lượng thủy sản (chủ yếu là cá) khai thác tự nhiên hiện nay được đánh giá vào khoảng 100 - 200 tấn/năm Diện tích nuôi thả tự nhiên khoảng 100 - 150

ha, nuôi lồng, bè, đăng sáo trên diện tích khoảng 150 - 200 ha, nuôi đầm có đê bao khoảng 400 - 500 ha

1.2.8 Đầm Thủy Triều

- Thành phần khu hệ

Chưa có số liệu thống kê đầy đủ về thành phần khu hệ sinh vật đầm Thủy Triều - vịnh Cam Ranh ngoài thực vật phù du (112 loài), động vật phù du (91 loài), cỏ biển (3 loài), tôm (16 loài) và cua, ghẹ (4 loài), chủ yếu gồm các loài sinh vật biển

- Tiềm năng nguồn lợi

Trước đây, thực vật ngập mặn ở đây tạo thành rừng, rộng chừng 100 ha nhưng nay chỉ còn khoảng 20 ha Nguồn lợi rong ở đây rất lớn, ước tính rong Mơ

có thể khai thác tới 50 000 tấn/năm, rong Đông: 700 tấn, rong Xà lách: 200 tấn

và các rong khác: 40 tấn Nuôi thủy sản phát triển nhanh chóng, tới năm 2001 đã

có 5 560 lồng trên diện tích 76 ha Theo quy hoạch tới năm 2010, sẽ có tới 7 200 lồng trên diện tích 740 ha

1.2.9 Đầm Nại

Thành phần khu hệ sinh vật của đầm Nại mới chỉ ghi nhận được có 309 loài, gồm thực vật phù du (125 loài), rong và thực vật thủy sinh bậc cao (36),

động vật phù du (25), động vật đáy (81) và cá (42)

Trang 10

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 6

2 các hoạt động kinh tế - x∙ hội khai thác tiềm năng đầm phá

2.1 Quần cư ven biển đầm phá

Liên quan tới 12 đầm phá có 15 huyện/thị (trong đó có 13 huyện, 1 thị xã

và 1 thành phố thuộc tỉnh) với tổng diện tích đất tự nhiên 7 438,3 km2 và dân số

trung bình (tính tới tháng 4/1999) 2 200 300 người, chiếm 18,49% tổng diện tích

và 29,67% tổng dân số của 7 tỉnh ven biển (Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,

Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận (bảng 1) Ven bờ

đầm phá là các điểm quần cư tập trung nhờ có các điều kiện sinh cư thuận lợi,

nhiều nơi quần cư tập trung thành tiểu đô thị (tiểu đô thị nghề cá, tiểu đô thị du

lịch) cấp thị trấn, thậm chí cấp thị xã (thị xã Cam Ranh) và thành phố thuộc tỉnh

(thành phố Quy Nhơn của tỉnh Bình Định) Thật vậy, đầm phá chỉ có tổng diện

tích mặt nước trung bình (436,9 km2) chiếm 1,08% diện tích nhưng thu hút

29,76% dân số của 7 tỉnh ven biển có liên quan Các điều kiện sinh cư thuận lợi

cho cộng đồng dân cư ven bờ đầm phá chủ yếu là tiềm năng phát triển thủy sản

đầm phá (nuôi trồng, đánh bắt tự nhiên), là cơ sở hậu cần nghề cá (neo trú an

toàn, cung ứng, sửa chữa phương tiện, chế biến và bao tiêu sản phẩm) cho nghề

khai thác biển khơi, tiềm năng phát triển cảng và giao thông thủy, phát triển du

lịch, tiện nghi môi trường được ưu đãi ở vùng bờ biển có điều kiện tự nhiên khắc

nghiệt và nghèo kiệt tài nguyên

Việt Nam không phải ngoại lệ của thực tế rằng phân bố dân cư ở quốc gia

có biển đồng thời chịu sức hút của biển khi đánh giá đúng tiềm năng phát triển

kinh tế - xã hội vùng bờ biển và sức hút đô thị, đặc biệt là đô thị ven biển Đô thị

ven biển không hẳn do quy định mà nên, mà do quần cư tập trung của cộng đồng

ven biển khai thác tiềm năng phát triển cảng - hàng hải, du lịch và nghề cá, vốn

tập trung chủ yếu ở các thủy vực ven biển, trong đó có đầm phá

2.2 Phát triển kinh tế

2.2.1 Cơ cấu kinh tế vùng bờ biển so với cả nước

Vùng bờ biển Việt Nam bao gồm 28 tỉnh/thành phố với tổng số 126

huyện/thị và 8 huyện đảo ven bờ Trong thời gian 1995 - 2005, tốc độ tăng GDP

trung bình đạt 9,87%, cao hơn đáng kể so với trung bình cả nước (7%), cao nhất

trong đó thuộc các ngành công nghiệp (13,85%), xây dựng (12,12%), giao thông

vận tải - bưu điện (11,4%) Đóng góp GDP vào tổng GDP của cả nước cũng tăng

đáng kể từ 29,58% vào năm 1995 tới 35,43% vào năm 2003, trong đó, công

nghiệp - xây dựng có 15,49%, dịch vụ có 13,14% và nông - lâm - thủy sản có

6,81% Trong phần đóng góp trên, hoạt động kinh tế liên quan tới đầm phá cũng

giữ vị trí nhất định thông qua thu nhập của hoạt động cảng - giao thông, nghề cá

và du lịch

Trang 11

Bảng 1 Dân số và diện tích đất tự nhiên các tỉnh, huyện

có liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam

15 huyện, thị 7 438,3 2 200 300

2.2.2 Phát triển kinh tế liên quan tới hệ thống đầm phá

- Phát triển cảng - giao thông thủy

Trang 12

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 8

ở tất cả các đầm phá đều có bến thuyền lớn nhỏ, cơ sở sửa chữa duy tu phương tiện, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa giao lưu hàng ngày giữa các điểm dân cư ven bờ đầm phá, và nhu cầu neo trú, hậu cần cho đội tầu thuyền khai thác biển Tuy nhiên, cảng trong đầm phá có tầm địa phương hoặc khu vực tương đối hiếm do hạn chế tiềm năng phát triển Hiện chỉ có một

số ít cảng trong đầm phá như cảng Tân Mỹ ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, cảng Kỳ Hà ở đầm Trường Giang và cảng Thị Nại ở đầm Thị Nại, và một số cảng liên quan trực tiếp tới đầm phá qua cửa (bảng 2)

ở vùng cửa Thuận An của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có khu cảng Tân Mỹ, gồm cảng xăng dầu và cảng tổng hợp Mặc dù quy mô và công suất cảng hạn chế, nhưng có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực

tế đầm phá” với tư cách một lĩnh vực nhờ tiềm năng to lớn của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đặc biệt là tiềm năng phát triển thủy sản

ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, hiện có 33 xã thuộc 5 huyện liên quan trực tiếp và khai thác đầm phá với 3 105,5 ha diện tích nuôi (14,37% tổng diện tích đầm phá) Đặc biệt, ở đây có dân thủy cư sống bằng các nghề khác nhau trên mặt nước không cố định nhưng chủ yếu là nghề khai thác thủy sản tự nhiên của đầm phá Sau khi nỗ lực của Nhà nước cho định cư 2008 hộ với 10 922 khẩu

ở 39 điểm khác nhau trên đầm phá, hiện còn 1 036 hộ với 5 227 khẩu (trong đó

có 2 345 lao động) quần cư ở 33 điểm khác nhau Nghề nuôi tôm trong đầm phá

ở Thừa Thiên Huế (kể cả đầm Lăng Cô) phát triển nhanh, diện tích nuôi liên tục tăng từ năm 1996 (882 ha), năm 2000 (1 850 ha) tới năm 2004 (2 827 ha), chuyển đổi cơ bản phương thức nuôi từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, từ nuôi trong đầm có đê bao sang đầm sáo, đồng thời, đa dạng hóa đối tượng nuôi và xuất hiện nuôi lồng bè như ở đầm Lăng Cô

Đầm Trà ổ liên quan tới 4 xã (Mỹ Đức, Mỹ Chân, Mỹ Thắng và Mỹ Lợi) thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định), với sản lượng thủy sản khai thác hiện nay vào khoảng 1 000 tấn/năm Theo quy hoạch, diện tích nuôi sẽ đạt tới 200 - 250

Trang 13

năng được đánh giá vào khoảng 1 300 - 1 500 tấn và trữ lượng có khả năng khai

thác vào 600 - 700 tấn

Đầm Thị Nại liên quan tới các xã Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Sơn và

Phước Thuận thuộc huyện Tuy Phước, các phường Đống Đa, Hải Cảng, Nhơn

Hải và Nhơn Hội thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Thủy sản là ngành

kinh tế quan trọng bên cạnh phát triển công nghiệp ở Nhơn Hội, giao thông -

cảng ở phường Hải Cảng Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích nuôi thuỷ sản

trong đầm Thị Nại lên tới 1 500 ha cùng với việc bảo tồn đa dạng sinh học hệ

sinh thái rừng ngập mặn ở quy mô 300 ha Trữ lượng cá tự nhiên ở đầm Thị Nại

được đánh giá vào khoảng 4 000 - 5 000 tấn, trữ lượng có khả năng khai thác vào

khoảng 1 200 - 1 500 tấn

Đầm Ô Loan liên quan tới các xã An Ninh Đông, An Cư, An Hiệp, An Hòa

và An Hải thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Sản lượng khai thác tự nhiên các

đối tượng tôm, cá, cua, ghẹ, nhưng chủ yếu là cá, vào khoảng 100 - 200 tấn/năm

Nuôi thuỷ sản cũng phát triển với các đối tượng ưa mặn - lợ như sò Huyết, sò

Lông, Hàu, tôm Sú, v.v Diện tích nuôi thả tự nhiên khoảng 100 - 150 ha, nuôi

lồng, bè, đăng, sáo khoảng 150 - 200 ha, nuôi đầm có đê bao khoảng 400 - 500

ha Giá trị kinh tế từ 1 000 m2 đầm hoặc 50 m2 lồng, sáo đạt 6 000 000 -

17 000 000 đ/năm

Đầm Thủy Triều kéo dài tới 17,5 km dọc bờ biển, có liên quan tới các xã

Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Thành Bắc, các phường

Cam Nghĩa, Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam - thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh

Khánh Hòa Nghề thủy sản ở đây rất phát triển Cho tới năm 2001, số hộ nuôi

tôm Hùm thực phẩm (tính cả phần ngoài cửa thuộc vịnh Cam Ranh) đạt tới 2 079

hộ với 5 560 lồng trên diện tích 76 ha Theo quy hoạch tới năm 2010, diện tích

nuôi lên tới 740 ha và 7 200 lồng nuôi

- Phát triển du lịch

Các địa phương ven biển đều tận dụng tiềm năng phát triển du lịch biển ở

quy mô khác nhau liên quan chủ yếu tới vũng - vịnh và đầm phá Các trung tâm

du lịch biển lớn thường nằm bên bờ vịnh và thuộc thành phố như ở Hạ Long, Cát

Bà (Hải Phòng), Cửa Lò, Đà Nẵng, Nha Trang, v.v Liên kết với các trung tâm

này là các điểm du lịch (resort) nằm rải rác bên bờ vịnh, đê cát của đầm phá,

điền hình là điểm du lịch Thuận An ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, điểm

du lịch Lăng Cô ở đầm Lăng Cô, điểm du lịch Sa Huỳnh ở đầm Nước Mặn, điểm

du lịch Quy Nhơn liên quan tới đầm Thị Nại, điểm du lịch Chí Thạnh liên quan

tới đầm Ô Loan, tương tự, điểm du lịch Cam Ranh - đầm Thuỷ Triều, điểm du

lịch Ninh Chữ - Đầm Nại

Trang 14

Bảng 2 Hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam

hoạt

động

Cỡ tầu vào cảng

hợp

Cảng chuyên dùng

Công suất (triệu Tấn)

Cỡ tầu (DWT)

Công suất (triệu Tấn)

Cỡ tầu (DWT)

(Cục Hàng hải Việt Nam, 2003)

Trang 15

3 đánh giá Chất lượng môi trường đầm phá

3.1 Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam

Tài nguyên và môi trường đầm phá tồn tại trong một thể thống nhất và tài nguyên đầm phá biến đổi theo động thái môi trường do tác động của cả quá trình

tự nhiên và tác động của con người, đặc biệt khi nhận thức mới về tài nguyên cho phép khả năng khai thác tài nguyên đa lợi ích sử dụng cho phát triển đa ngành Sau nhiều năm nghiên cứu về đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam ở mức độ chi tiết khác nhau giữa các đầm phá, có thể rút ra từ các công trình nghiên cứu một số nhận xét sau:

(1) - Chất lượng môi trường tự nhiên và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của

hệ thống đầm phá đã suy giảm và nhu cầu phục hồi chức năng môi trường

đầm phá và từ lưu vực thông qua hệ thống sông

(3) - Sức ép của các hoạt động kinh tế - xã hội tới tài nguyên và môi trường

đầm phá có xu hướng gia tăng, đặc biệt khi các dự án phát triển có liên quan đang lần lượt trở thành hiện thực theo quy hoạch tới năm 2010 và

2020

(4) - Hiểu biết về đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam cho tới nay còn ở mức độ thấp, thấp hơn nhiều so với chính vai trò kinh tế - xã hội khu vực của nó

(5) - Những nỗ lực bảo vệ tài nguyên và môi trường đầm phá của Nhà nước

và địa phương liên quan lâu nay là rất lớn nhưng chưa đem lại kết quả như mong muốn, một phần do hiểu biết về đầm phá thấp hơn mức độ cần thiết

và phần khác do tính chất phức tạp của vấn đề, điển hình là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

3.2 Chất lượng môi trường đầm phá

3.2.1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

3.2.1.1 Thủy hóa và chất lượng nước

Sự biến đổi tính chất thủy hóa và chất lượng nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có tác động của con người

Trang 16

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 12

phá, và tác động của các quá trình tự nhiên gây biến đổi cấu trúc hình thái, đặc

biệt là biến động cửa đầm phá dưới dạng dịch chuyển cửa, mở thêm cửa mới, lấp

và mở cửa luân chuyển có tính chu kỳ (cửa Tư Hiền, cửa Lộc Bình) Sự thay đổi

các yếu tố thủy hóa theo mùa và tính phân tầng của khối nước là thuộc tính tự

nhiên nhưng sự thay đổi trong một khoảng thời gian đủ dài có thể theo dõi được

do các nguyên nhân nói trên đã phản ánh động thái môi trường đầm phá Trong

khoảng thời gian 1993 - 2004, tính chất thủy hóa khối nước thay đổi liên quan

tới sự kiện lấp cửa Tư Hiền và mở cửa Lộc Bình vào tháng 12 năm 1994, mở cửa

Hòa Duân, cửa Tư Hiền và lấp cửa Lộc Bình vào tháng 11 năm 1999 Cửa Hòa

Duân không tồn tại lâu, có thể lấy mốc sự kiện cửa Tư Hiền để so sánh và thấy

rằng độ muối khối nước đầm phá suy giảm (desalting) trong thời gian 1993 -

2004 mặc dù cửa Tư Hiền mở lại (bảng 3)

Kết quả khảo sát vào tháng 6/2004 ghi nhận sự chênh lệch lớn về độ đục

của nước tầng mặt giữa phần bắc của phá Tam Giang (27 - 81 mg/l) và phần còn

lại của hệ đầm phá (3 - 10 mg/l) trong khi nồng độ oxy hoà tan (DO) trong nước

tương đối cao và ít chênh lệch (5,6 - 7,6 mg/l) Kết quả khảo sát năm 2004 cũng

ghi nhận sự gia tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng (bảng 4) có lẽ liên quan tới

sự gia tăng chất thải hữu cơ từ các vùng xung quanh đầm phá, dẫn đến sự gia

tăng nhu cầu oxy hóa học (COD) và oxy sinh hóa (BOD5) và giảm oxy hoà tan

(DO) (bảng 5)

Bảng 3 Sự thay đổi độ muối (‰) của nước tầng mặt hệ đầm phá

Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004

Trước khi lấp cửa Tư

Mùa khô

(3/1993)

Mùa mưa (11/1993)

Mùa mưa (11/1995)

Trang 17

Bảng 4 Sự thay đổi hàm lượng (àg/l) các chất dinh dưỡng Nitrit (NO

-2 ), photphat (PO 4 3- ) và Silic (SiO 3 2- ) trong nước tầng mặt của hệ đầm phá

Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004

Trước khi lấp cửa Tư Hiền

dưỡng

Mùa khô

(3/1993)

Mùa mưa (11/1993)

Mùa mưa (11/1995)

hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai năm 1998 và 2004

Khu vực Yếu tố Kết quả tổng hợp

Trang 18

Dự án 14EE5 Chuyên đề Đánh giá tổng quan tài nguyên và môi trường,

đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 2006

Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) 14

Nồng độ dầu trong nước tầng mặt của hệ đầm phá cũng gia tăng có thể do

hoạt động của tầu thuyền vận tải và các điểm cung ứng nhiên liệu và sửa chữa

phương tiện ở ven bờ đầm phá Nồng độ dầu đạt tới 0,38 mg/l so với 0,23 mg/l

trước đây ở đầm Cầu Hai, 0,29 mg/l so với 0,2 mg/l trước đây ở phá Tam Giang

và tới 0,53 mg/l so với 0,20 mg/l trước đây ở đầm Thủy Tú

Trước đây (11/1995), kim loại nặng trong nước cũng được xác định ở một

số điểm hạn chế (cửa sông Hương, Tân Mỹ) với nồng độ thấp của đồng (1,6 - 2,8 àg/l), chì (3,6 - 4,1 àg/l), cadmi (1,3 - 3,6 àg/l), kẽm (0,2 - 0,5 àg/l)

thủy ngân (< 0,1 àg/l) Kết quả khảo sát và phân tích vào năm 2004 cũng xác

nhận sự gia tăng nồng độ kim loại nặng trong nước đầm phá như đồng (5,75 - 12,21 àg/l), chì (5,76 - 17,38 àg/l), cadmi (0,80 - 4,91 àg/l), kẽm (5,75 - 17,73 àg/l), arsen (3,54 - 8,37 àg/l) và thủy ngân (0,07 - 1,32 àg/l)

Nồng độ này chưa đạt tới mức độ cảnh báo nhưng cần lưu ý về sự gia tăng nồng

độ của tất cả các kim loại nặng Ngược lại, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật rất

thấp (tổng dư lượng trong khoảng 0,0173 - 0,0452 àg/l) so với trước đây tổng dư

lượng của 6 hợp chất trong khoảng 0,0041 - 0,1584 àg/l (thấp hơn tiêu chuẩn cho

phép 60 - 100 lần) Kết quả khảo sát và phân tích năm 2004 cũng ghi nhận nồng

độ cyanua đạt 5,36 àg/l ở phía bắc phá Tam Giang, 4,44 àg/l ở cửa sông Hương,

1,59 àg/l ở đầm Thủy Tú và 4,18 àg/l ở đầm Cầu Hai

3.2.1.2 Tích tụ chất gây bẩn trong trầm tích

- Kim loại nặng

Trong đợt khảo sát tháng 12 năm 2002, tổng số 20 mẫu trầm tích tầng mặt

đại diện cho 4 khu vực của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã được thu và

phân tích tại Viện Khoa học biển Bologna (Hội đồng quốc gia Nghiên cứu khoa

học Italia) Khu vực I gồm các trạm thuộc phá Tam Giang, khu vực II - vùng cửa

sông Hương, khu vực III - đầm Thủy Tú và khu vực IV - đầm Cầu Hai Kết quả

xác định nồng độ kim loại nặng được trình bày trong bảng 6

Bảng 6 Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô)

hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (12/2002)

Khu vực Kim loại nặng

Trang 19

Theo hướng dẫn của NOAA, hầu hết các giá trị trên thấp hơn mức ảnh hưởng thấp (effect range low (ERL)) trừ arsen có nồng độ cao hơn ERL (tức dưới mức ảnh hưởng trung bình - effect range median (ERM) Theo tiêu chuẩn môi trường của Canada, tương tự, nồng độ arsen cao hơn mức TEL nhưng thấp hơn PEL

Nồng độ cadmi và kẽm cao ở phá Tam Giang, bạc, arsen, đồng và niken ở khu vực cửa sông Hương, kẽm ở đầm Thủy Tú, crom và chì có giá trị cao nhất ở

đầm Cầu Hai Kết quả phân tích 6 kim loại nặng phổ biến (tại Trung tâm Phân tích thí nghiệm địa chất, Cục Địa chất và Khoáng sản) trong mẫu trầm tích thu vào tháng 6 năm 2004 cũng xác nhận xu thế này với đồng, chì, kẽm và arsen

Phân bố theo độ sâu của 10 kim loại nặng trong cột khoan giữa đầm Cầu Hai cho thấy nồng độ của V, Cr, Ni, Cu, Zn, Ag, Pb nhỏ nhất ở khoảng độ sâu

12 - 14 cm, As, Cd và U nhỏ nhất ở khoảng độ sâu 40 cm

- Polychlorinated biphenyl

Polychlorinated biphenyl (PCB) trong trầm tích tầng mặt có nồng độ cao nhất ở giữa đầm Cầu Hai (24,5 àg/kg), ở phía bắc phá Tam Giang (18,1 - 22,9 àg/kg) và phía bắc đầm Thủy Tú (10,2 àg/kg) nơi gần đầm Sam Giá trị này tương tự với kết quả phân tích của D.D Nhan et al, 1999 ở ven bờ Bắc Việt Nam nhưng thấp hơn kết quả phân tích của Iwata et al, 1994 ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và nhiều khu vực khác ở Châu á nhưng cao hơn ở khu vực kế cận đầm phá (Phú Đa, 0,65 ng/g trong đồng lúa)

Tương tự với các mẫu trầm tích tầng mặt, PCBs trong trầm tích lõi khoan cũng đặc trưng bởi nồng độ cao nhất của 3CB trong số các hợp chất đồng đẳng,

và giảm dần tới 6CB Phân bố PCBs trong 2 lõi khoan ở phía bắc phá Tam Giang

và trung tâm đầm Cầu Hai cho thấy nồng độ PCBs giảm dần tới độ sâu 9 cm ở

đầm Cầu Hai và 21 cm ở phá Tam Giang, sau đó có dao động ít nhiều và ổn định tới độ sâu 40 - 50 cm, và hoạt tính phóng xạ của 210Pb biến thiên tương tự trong cột mẫu

đầm Cầu Hai đạt 0,1 cm/năm và tốc độ lắng đọng không ổn định ở vùng cửa sông Hương Trước đây, khi sử dụng phương pháp khối lượng - thể tích, tốc độ lắng đọng trầm tích của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được đánh giá vào khoảng 0,21 cm/năm

- Dioxin và Furan

Các hợp chất polychlorinated dibenzo - p - dioxin (PCDD) và dibenzofuran

Ngày đăng: 07/05/2014, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Cử, 1995 . Hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam. Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, trang 113 - 120. Nxb KH &amp; KT, Hà Nội 2. Nguyễn Hữu Cử, 1996 . Đặc điểm địa chất hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (ThừaThiên Huế) trong Holocene và phức hệ trùng lỗ chứa trong chúng. Luận án PTS, Hà Néi Khác
3. Nguyễn Hữu Cử, 1999 . Tổng quan tình hình nghiên cứu tài nguyên và môi tr−ờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam. Tài nguyên và Môi tr−ờng biển, tập VI, trang 126 - 142. Nxb KH &amp; KT, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Hữu Cử, 2000 . Định h−ớng chiến l−ợc kiển soát lũ miền Trung Việt Nam. Tài nguyên và Môi tr−ờng biển, tập VII, trang 289 - 302. Nxb KH &amp; KT, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Hữu Cử và nnk, 2002 . Tác động của con người tới môi trường địa chất hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Tài nguyên và Môi tr−ờng biển, tập IX, trang 103 - 120. Nxb KH &amp; KT, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Hữu Cử, 2005 . Tổng quan môi tr−ờng đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài đầm phá 14EE5. Lưu tại Viện Tài nguyên và Môi tr−ờng biển Khác
7. Nguyễn Hữu Cử, Mauro Frignani và nnk, 2005 . Hợp tác Việt Nam - Italia nghiên cứu đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam: Kết quả b−ớc đầu và gợi mở. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài đầm phá 14EE5. Lưu tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển Khác
8. Frignani, M., Nguyen Huu Cu et al. 2003 . Research on coastal lagoons of Central Vietnam as a guide to management. Present knowledge and perspectives. Techn.Rep. N o 86, CNNR, Italia Khác
9. Nguyễn Chu Hồi và nnk , 1992 . Đánh giá trạng thái địa chất môi trường vùng biển nông ven bờ Đại Lãnh - Hải Vân. Lưu tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển Khác
10. Trần Đức Thạnh, 2004. Đặc điểm khí hậu - thuỷ văn hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Báo cáo chuyên đề thuộcđề tài đầm phá 14EE5. Lưu tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển Khác
11. Phạm Văn Thơm, Nguyễn Xuân Hòa, 2006 . Tổng quan về chất l−ợng môi tr−ờng và tài nguyên sinh vật các đầm phá miền Trung. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài đầm phá 14EE5. Lưu tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Dân số và diện tích đất tự nhiên các tỉnh, huyện                                         có liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 1. Dân số và diện tích đất tự nhiên các tỉnh, huyện có liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam (Trang 11)
Bảng 2. Hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 2. Hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam (Trang 14)
Bảng 3. Sự thay đổi độ muối (‰) của nước tầng mặt hệ đầm phá - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 3. Sự thay đổi độ muối (‰) của nước tầng mặt hệ đầm phá (Trang 16)
Bảng 4. Sự thay đổi hàm l−ợng (àg/l) các chất dinh d−ỡng Nitrit (NO - 2 ),                     photphat (PO 4 3- ) và Silic (SiO 3 2- ) trong n−ớc tầng mặt của hệ đầm phá - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 4. Sự thay đổi hàm l−ợng (àg/l) các chất dinh d−ỡng Nitrit (NO - 2 ), photphat (PO 4 3- ) và Silic (SiO 3 2- ) trong n−ớc tầng mặt của hệ đầm phá (Trang 17)
Bảng 6. Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô)                             hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (12/2002) - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 6. Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô) hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (12/2002) (Trang 18)
Bảng 7. So sánh nồng độ COD (mg/l) và dinh dưỡng khoáng ( àg/l)  trong nước                       ở các khu vực khác nhau của đầm Thị Nại về mùa m−a - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 7. So sánh nồng độ COD (mg/l) và dinh dưỡng khoáng ( àg/l) trong nước ở các khu vực khác nhau của đầm Thị Nại về mùa m−a (Trang 22)
Bảng 8. Sự thay đổi theo mùa của các yếu tố - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 8. Sự thay đổi theo mùa của các yếu tố (Trang 23)
Bảng 9. Các yếu tố đánh giá chất lượng nước của đầm Thủy Triều - vịnh Cam  Ranh theo kết quả khảo sát của Phạm Văn Thơm năm 1995 trong 15 trạm - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 9. Các yếu tố đánh giá chất lượng nước của đầm Thủy Triều - vịnh Cam Ranh theo kết quả khảo sát của Phạm Văn Thơm năm 1995 trong 15 trạm (Trang 24)
Bảng 10. Lựa chọn −u tiên hành động quản lý ứng xử tai biến tự nhiên  Hành động quản lý - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 10. Lựa chọn −u tiên hành động quản lý ứng xử tai biến tự nhiên Hành động quản lý (Trang 32)
Bảng 11. Lựa chọn −u tiên hành động quản lý                                             các hoạt động liên quan tới đầm phá - Chuyên đề  đánh giá  tổng quan tài nguyên và môi trường, đề xuất hướng quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền trung việt nam (1)
Bảng 11. Lựa chọn −u tiên hành động quản lý các hoạt động liên quan tới đầm phá (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w