Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Trang 2
1 Lý do chọn đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
Thực hiện các nghị quyết của Đảng, các cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân đã nhanh chóng tổng kết lý luận và thực tiễn hoạt động, triển khai các biện pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của mình Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cải cách tư pháp còn chậm và kết quả chưa đầy đủ so với yêu cầu và thực tiễn đặt ra Mặt khác, trong các nghị quyết trên của Đảng tuy đã đề ra khá nhiều giải pháp cải cách tư pháp nhưng vẫn chưa đề cập đầy đủ, chưa toàn diện những vấn đề cơ bản về cải cách tư pháp, so với yêu cầu và trước tình hình mới, nhiều vấn đề đang đặt ra trong cải cách tư pháp, trong đó có nội dung đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, trong đó có nội dung: "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện công tố" [13]
Tiếp đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định
Trang 3nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, về Viện kiểm sát nhân dân, Nghị quyết nêu rõ:
Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [14]
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nêu rõ:
Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp [15]
Như vậy, cả hai nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Do
đó, Viện kiểm sát nhân dân phải chủ động chuẩn bị tất cả các điều kiện để thực hiện thành công việc đổi mới tổ chức và hoạt động phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp Đến đây, hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn được đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đòi hỏi cần phải được quan tâm nghiên cứu
Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam" để viết
luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 4Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Có thể phân loại thành hai nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình là các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ,
các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân như: Đề tài khoa học cấp Nhà nước:
"Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp"; Đề tài khoa học cấp bộ:
"Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Những giải pháp xây dựng đội ngũ kiểm sát viên cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ:
"Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp"; Luận án tiến sĩ luật học: "Quyền công tố ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn hiện nay"; Sách tham khảo: "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra"…
Liên quan đến nhóm này còn có kỷ yếu các cuộc hội thảo về lịch sử ngành Kiểm sát nhân dân, hội thảo về Viện công tố một số nước trên thế giới do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức
- Nhóm thứ hai: Là các bài viết có liên quan đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đăng trên các tạp chí chuyên ngành: "Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới" của tác giả Khuất Văn Nga; "Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" của tác giả Lê Cảm; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp" của tác giả Phạm Hồng Hải, "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay" của
tác giả Đỗ Văn Đương…
Trang 5Tuy vậy, các công trình, bài viết trên chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu chung nhất về tổ chức quyền lực nhà nước, nghiên cứu theo từng lĩnh vực nghiệp vụ chuyên ngành hoặc được nghiên cứu dưới góc độ của luật nhà nước, luật hình sự và tố tụng hình
sự hoặc có công trình nghiên cứu tuy có trực tiếp đề cập đến vấn đề này nhưng do thời điểm nghiên cứu đã lâu nên không cập nhật được những vấn đề đang đặt ra trong líư luận
và thực tiễn hiện nay, do đó nội dung không còn mang tính thời sự nữa Vấn đề đổi mới
về cơ bản tổ chức Viện kiểm sát nhân dân theo hướng chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố mới chính thức được đặt vấn đề khi Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành vào giữa năm 2005 và mới được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 2006 Vì vậy, đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này được chính thức công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Qua phân tích những cơ sở lý luận cơ bản nhất về tổ chức quyền lực nhà nước,
quyền tư pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước; các quan điểm về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu của cải cách tư pháp đối với đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
+ Làm rõ thực trạng đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam để làm
cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
+ Đề xuất những phương hướng cơ bản cho việc đổi mới và hoàn thiện tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân
Trang 6dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, nên đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam, đặc biệt
là có tham khảo các qui định về Viện kiểm sát và Viện công tố của một số nước trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề có liên quan đến các tư tưởng, quan điểm, những qui định của pháp luật liên quan đến quá trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay; luận văn này chỉ nghiên cứu về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân, không nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp; những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể; đồng thời cũng sử dụng kết hợp các phương pháp luật học so sánh, phương pháp lý thuyết hệ thống, phương pháp thống kê
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới là:
Phân tích và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay; làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát và Viện công tố của một số nước trên thế giới
Đề xuất phương hướng cơ bản về đổi mới và hoàn thiện tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đặc biệt là luận văn đã mạnh dạn đưa ra
mô hình tổ chức của Viện công tố Việt Nam trong tương lai
Trang 7
7 ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực tiễn trong quá trình đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm thực tiễn; đồng thời có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương 9 tiết
Trang 8
Chương 1
Cơ sở lý luận tiếp tục đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
1.1 Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp
1.1.1 Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, là cơ sở để hàng loạt các thiết chế của một Nhà nước mới được tạo lập Ngay sau khi giành được độc lập, việc xây dựng và củng cố chính quyền là một trong những công việc quan trọng, trong đó có việc xây dựng các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng Hệ thống cơ quan tư pháp ngay trong những năm đầu thành lập được định hướng xây dựng thể hiện là một nền tư pháp cách mạng Trong bối cảnh của những ngày đầu thành lập nước, hệ thống cơ quan tư pháp được tổ chức rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ cách mạng Chức năng công tố nhà nước được giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm như cơ quan Tòa án, Chính phủ, ủy ban kháng chiến, Ban thanh tra của Chính phủ
Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945, đây cũng là cơ sở pháp lý đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nước ta, là vũ khí tư pháp sắc bén bảo vệ chế
độ dân chủ nhân dân Theo qui định của Sắc lệnh này, Tòa án quân sự ra đời có chức năng: Xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trừ những người phạm tội là những binh sĩ thì thuộc thẩm quyền xét xử của nhà binh theo quân luật Về chức năng công tố được quy định rõ tại Điều 5 Sắc lệnh 33c như sau: Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát Như vậy, lần đầu tiên, chức năng công tố nhà nước được quy định trong một văn bản pháp lý Lúc này, Tòa án quân sự được thành lập ở cả ba miền Bắc,
Trang 9Trung, Nam là Tòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và hoạt động thực hành quyền công tố Nội dung của quyền thực hành quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện sự buộc tội trước Tòa án
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số
64 thành lập Tòa án đặc biệt tại Hà Nội để xét xử những người là nhân viên của ủy ban nhân dân, các cơ quan của Chính phủ phạm tội Theo quy định của Sắc lệnh này, chức năng công tố nhà nước được giao cho Ban thanh tra đặc biệt do Chính phủ thành lập đảm nhiệm Cụ thể là Ban thanh tra đặc biệt có nhiệm vụ giám sát công việc và nhân viên của
ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ, có quyền điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, đình chỉ chức vụ, bắt giam bất cứ nhân viên nào của ủy ban nhân dân hoặc nhân viên của Chính phủ phạm tội, lập hồ sơ truy tố ra Tòa án đặc biệt và thực hành quyền công tố tại phiên tòa Thành phần Hội đồng xét xử của Tòa án đặc biệt có Chủ tịch Chính phủ lâm thời làm Chánh án, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Hội thẩm, một ủy viên trong Ban thanh tra đặc biệt thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, buộc tội tại phiên tòa
Ngày 14 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số
21 thay thế các sắc lệnh đã ban hành trước đây về Tòa án quân sự, trong đó quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Chủ tịch ủy ban hành chính có quyền chỉ định Công cáo ủy viên thực hành quyền công tố, buộc tội tại phiên tòa Như vậy, về tổ chức, ngoài Chánh án và hai Hội thẩm là ủy viên quân sự và ủy viên chính trị đảm nhiệm, chức năng công tố do một Công cáo ủy viên thực hiện ở Bắc Kỳ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định Công cáo ủy viên, ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì do Chưởng lý Tòa thượng thẩm hoặc Chủ tịch ủy ban hành chính chỉ định ủy viên Chính phủ ngồi ghế Công cáo ủy viên ủy viên Chính phủ ngồi ghế Công cáo ủy viên có thể lấy trong quân đội, trong Ban trinh sát hay trong số các Thẩm phán chuyên nghiệp Các Công cáo ủy viên trực tiếp đặt dưới quyền giám sát của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp hay Bộ trưởng Bộ Nội vụ ở Trung Kỳ và Nam Kỳ thì do Chưởng
lý Tòa thượng thẩm và Chủ tịch ủy ban hành chính giám sát
Trong bối cảnh vừa giành được độc lập, việc thiết lập các cơ quan trong bộ máy nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân, đặc biệt
Trang 10
là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo đảm trật tự xã hội Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét xử những tội phạm phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội, vi phạm kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập
hệ thống Tòa án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ nhà nước và bảo vệ nhân dân Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội) Theo quy định của Sắc lệnh này thì Tòa án thường được tổ chức ở ba cấp là Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm
Tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố chỉ được thành lập ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm, không tổ chức thành phần Công tố trong Tòa án sơ cấp vì thẩm quyền của cấp Tòa án này rất hạn chế Chủ thể thực hiện quyền công tố trong hệ thống Tòa án thường được quy định là các Thẩm phán buộc tội thuộc Tòa án
Mặc dù, tổ chức của cơ quan Công tố được đặt trong hệ thống Tòa án, cả Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử và Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ công tố đều gọi chung
là Thẩm phán, đều chịu sự quản lý về mặt nhân sự của Bộ Tư pháp, nhưng trong hoạt động của mình, Thẩm phán buộc tội (công tố viên) độc lập với Thẩm phán xét xử ở Tòa
đệ nhị cấp, Thẩm phán buộc tội do ông Chưởng lý đứng đầu ở Tòa thượng thẩm, tất cả các Thẩm phán buộc tội họp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xét xử và duy nhất đặt dưới quyền chỉ đạo của Chưởng lý, Chưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố các vụ án Mối quan hệ độc lập này càng được khẳng định rõ tại Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946 Điều 17 Sắc lệnh này có quy định: Ông Chánh án có quyền điều khiển
và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội
Ngày 20 tháng 7 năm 1946, Sắc lệnh số 131 được ban hành quy định về tổ chức
Tư pháp Công an, trong đó xác định rõ mối quan hệ giữa Công tố với Tư pháp Công an như sau: Công tố có trách nhiệm phụ trách Tư pháp Công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra, Tư pháp Công an đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Chưởng lý, Biện lý Biện lý có quyền ra chỉ thị và kiểm soát công việc của tất cả ủy viên Tư pháp Công an Việc bổ nhiệm, thăng thưởng và xử phạt hành chính những ủy viên Tư pháp Công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý và Chưởng lý
Trang 11Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cơ quan Công tố có nhiệm vụ giám sát thi hành
án, giám sát hoạt động giam giữ, cải tạo Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, cơ quan Công tố được tiến hành các hoạt động như bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, của người
bị cấm quyền, của các pháp nhân hành chính; có quyền đứng làm chánh tố hay nguyên đơn chính trong các việc kiện về dân sự theo thẩm quyền; bắt buộc phải có mặt trong những phiên xử án dân sự và có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng mọi biện pháp cần thiết
để chứng tỏ sự thật của vụ án
Ngày 19 tháng 11 năm 1948, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 254/SL thành lập chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Theo đó giao cho ủy ban kháng chiến hành chính liên khu được sử dụng quyền công tố tại Tòa án đặt dưới quyền công tố tại các Tòa án thường và Tòa án quân sự, sau khi hỏi ý kiến ông Giám đốc Tư pháp liên khu Quyền công tố này thấp hơn quyền công tố của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Chưởng lý
Như vậy, trong thời kỳ này, tổ chức của cơ quan Công tố chủ yếu gắn với tổ chức của cơ quan Tòa án, nằm trong tổ chức của cơ quan Tòa án, song vị trí và hoạt động của
cơ quan Công tố độc lập so với tổ chức và hoạt động của Tòa án
Vào những năm 1950, kết quả của cuộc cải cải tư pháp lúc bấy giờ có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động cơ quan Công tố Về vị trí của cơ quan Công tố và những chủ thể được giao thực hiện quyền công tố nhà nước so với các quy định được ban hành trước cuộc cải cách tư pháp năm 1950 về cơ bản không thay đổi, quyền công tố nhà nước vẫn được giao cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện Tuy nhiên, kết quả cuộc cải cách tư pháp năm 1950 đã ảnh hưởng tới việc quy định thẩm quyền của cơ quan Công
tố trong các văn bản pháp luật của nhà nước
Sau cuộc cải cách tư pháp năm 1950, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp được đổi mới và chấn chỉnh một bước, những kết quả cải cách đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này Song tổ chức các cơ quan tư pháp trên thực tế còn chưa phù hợp, chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, sự chỉ đạo của ủy ban hành chính đối với các cơ quan
tư pháp còn lỏng lẻo Nhận thức rõ tình hình đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật để kiện toàn các cơ quan tư pháp, tăng cường chỉ đạo công tác tư pháp như các
Trang 12Thông tư số 772/TTg ngày 15 tháng 5 năm 1956, Thông tư số 314/TTg ngày 19 tháng 7 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ Đặc biệt, ngày 5 tháng 12 năm 1957, Bộ Tư pháp ra Thông tư số 141/HCTP quy định về phân công nội bộ trong các Tòa án Theo quy định của Thông tư thì Tòa án có Chánh án và Công tố ủy viên, ở những nơi nhiều việc có thể
có Phó Chánh án, Phó Công tố ủy viên và Thẩm phán Chánh án và Công tố ủy viên có nhiệm vụ độc lập và đều là Thủ trưởng cơ quan Thông tư này có giá trị rất quan trọng, đặt nền móng cho việc thành lập Viện công tố độc lập, tách ra khỏi Tòa án
Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, việc tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy các cơ quan tư pháp nói riêng linh hoạt như trong thời kỳ đầu về cơ bản
là phù hợp với điều kiện của nước ta Tuy nhiên, sau năm 1954, khi hòa bình được lập lại
ở miền Bắc, nước ta thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ
ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Bắc, việc tiếp tục tổ chức bộ máy cơ quan
tư pháp như giai đoạn trước đây tỏ ra không còn phù hợp Các cấp Tòa án vẫn được đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp, cơ quan Công tố vẫn đặt trong Tòa án, trong mỗi Tòa
án vẫn còn tình trạng cả Chánh án và ủy viên công tố cùng là lãnh đạo cơ quan, có quyền hạn độc lập nhau, chức năng công tố vẫn được giao cho nhiều cơ quan đảm nhận, thủ tục
tư pháp còn quá sơ sài Trong khi đó vào những năm 1957-1958, ngành tư pháp đã có sự trưởng thành nhất định cả về số lượng và chất lượng, việc tiếp tục tổ chức các cơ quan tư pháp như hiện thời không bảo đảm để xây dựng và duy trì một nền tư pháp dân chủ, vững mạnh
Trước sự chuyển biến của tình hình cách mạng, trước yêu cầu tăng cường pháp chế, trước sự trưởng thành của các cơ quan tư pháp đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản, sâu sắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có cơ quan Công tố để bảo đảm việc trừng trị bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác được kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần phải thành lập một tổ chức cơ quan Công tố từ trung ương đến địa phương
Tại phiên họp ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Đề án tăng cường thêm một bước Chính phủ và bộ máy nhà nước ở cấp trung ương, trong đó có nội dung thành lập Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án; thành lập Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố, cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ Tư
Trang 13pháp Theo đó, Viện công tố trung ương có quyền hạn và trách nhiệm ngang một bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển của nền
tư pháp cách mạng Việt Nam, là cơ sở cho việc tiến hành cải cách tư pháp một cách sâu rộng cho những năm tiếp theo
Ngày 1 tháng 7 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố Đây là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc thiết lập hệ thống Viện công tố độc lập Chấm dứt sự phân công cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước cùng thực hiện quyền công tố nhà nước, tập trung việc thực hiện quyền công tố nhà nước vào một cơ quan duy nhất đó là Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố Sự ra đời của hệ thống Viện công tố độc lập, trực thuộc Hội đồng Chính phủ trong thời kỳ này đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử cải cách nền tư pháp của nước nhà Đây là cơ sở quan trọng, đặt nền móng cho sự ra đời hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sau này
Mặc dù đã tồn tại với tư cách là một hệ thống cơ quan độc lập, tổ chức và hoạt động của các Viện công tố địa phương do Viện công tố trung ương quản lý và chỉ đạo nhưng trên thực tế, các Viện công tố địa phương vẫn phải chịu sự lãnh đạo và có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác với ủy ban hành chính cùng cấp Cơ chế lãnh đạo "song trùng trực thuộc"này là cần thiết trong hoàn cảnh kháng chiến trước đây, nhưng trong tình hình mới đã tỏ ra không còn phù hợp nữa Thực tiễn lúc đó cho thấy ủy ban hành chính thường có ảnh hưởng rất lớn và nhiều khi có ý kiến quyết định đối với việc truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp cùng cấp Kinh nghiệm từ các vụ án xét xử oan, sai trong thời gian này cho thấy nguyên nhân phổ biến bắt nguồn từ ý kiến lệch lạc một chiều giữa
ủy ban hành chính đối với các cơ quan Công an, Công tố và Tòa án Trong cơ chế đó, rất khó cho Viện công tố duy trì sự độc lập khách quan, chế ước và phát hiện sai lầm trong công tác điều tra, xét xử để điều chỉnh kịp thời Mặt khác, tổ chức cơ quan Công tố được thành lập năm 1958 cũng mới chỉ là tổ chức của thời kỳ quá độ Tổ chức đó mới chỉ làm được một phần nhiệm vụ của cơ quan kiểm sát là thực hành quyền công tố, còn phần quan trọng là nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật thì vẫn chưa thực hiện được
Theo quan điểm của V.I Lênin trình bày trong tác phẩm "Nguyên tắc song trùng lãnh đạo và vấn đề pháp trị" thì tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có
Trang 14được pháp chế thống nhất Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với việc xây dựng chế độ pháp trị chính là sự can thiệp của địa phương xuất phát từ động cơ tư lợi hoặc cục bộ địa phương chủ nghĩa Vì vậy, việc áp dụng nguyên tắc "song trùng" lãnh đạo trong lĩnh vực pháp trị, theo đó cơ quan chuyên môn ở địa phương phải đặt đồng thời dưới sự lãnh đạo của cơ quan chủ quản và ủy ban hành chính, là một sự sai lầm về mặt nguyên tắc Do đó, theo Lênin, để đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa cục bộ địa phương thì phải thành lập Viện kiểm sát Cũng theo Lê-nin, Viện kiểm sát có quyền và phận sự làm một việc thôi: bảo đảm cho pháp trị được hiểu biết thống nhất và thông suốt trong toàn nước cộng hòa, bất kể những đặc điểm của địa phương và sự can thiệp của nhà chức trách địa phương
Để không ngừng thiết lập chế độ pháp trị, Lê-nin cho rằng phải bác bỏ nguyên tắc "song
trùng" lãnh đạo trong tổ chức của Viện kiểm sát và qui định nguyên tắc Viện kiểm sát địa
phương chỉ đặt dưới sự lãnh đạo của trung ương Về thẩm quyền, Viện kiểm sát phải được quyền kháng nghị bất cứ quyết định nào của cơ quan chức trách ở địa phương khi
có vi phạm pháp luật Tuy nhiên, Viện kiểm sát không có quyền đình chỉ việc thi hành các quyết định đó mà chỉ có quyền đưa việc vi phạm pháp luật ra trước Tòa án xét xử Viện kiểm sát không trực tiếp hành xử một quyền hành chính nào cả
Đáp ứng những đòi hỏi khách quan của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và dựa trên cơ sở lý luận của Lênin và vận dụng kinh nghiệm quốc tế, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân đã được chính thức ra đời Ngày 31 tháng 12 năm 1959, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Hiến pháp năm 1959, với 10 chương, 112 điều, trong đó Chương VIII, từ Điều 105 đến Điều 109 qui định các nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam Theo Hiến pháp năm
1959, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân (Điều 105) Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 107) Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 108)
Trang 15Trên cơ sở các qui định của Hiến pháp năm 1959, ngày 26 tháng 7 năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành Luật có 6 chương, 25 điều, đã cụ thể hóa các qui định của Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được thành lập và triển khai tổ chức hoạt động trên thực tế
1.1.2 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp
Tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp Trên thế giới, mỗi quốc gia có cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực riêng cho nhà nước của mình Đối với hầu hết các nhà nước tư sản đều tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết tam quyền phân lập Theo đó, quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhánh độc lập, giao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau thực hiện, trong khi thực hiện quyền lực có sự đối trọng và chế ước lẫn nhau ở những nước này không có cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, mà chỉ có cơ quan Viện công tố và cơ quan này cũng không phải là một hệ thống độc lập mà nó có thể nằm trong Tòa án hoặc chịu sự quản lý của Bộ Tư pháp hay của Chính phủ Chức năng cơ bản của Viện công tố của các nước này là đưa kẻ phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc tội đối với hành vi phạm tội của người đó
Đối với các nước tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết tập quyền (Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm này) thì tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Trong bộ máy nhà nước của các quốc gia này tồn tại một hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập, trực thuộc Quốc hội Viện kiểm sát nhân dân được giao chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phương diện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo qui định của pháp luật hiện hành có thể thấy vị trí của Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan nhà nước khác như sau:
Trang 16Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân và giao cho Viện kiểm sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Chính phủ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Như vậy, Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan
do Quốc hội thành lập, nhưng đây là hai hệ thống cơ quan độc lập về tổ chức bộ máy, biên chế và chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân phải có cơ chế phối hợp tốt để thực hiện các mục tiêu chung của đất nước
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là các cơ quan tư pháp do Quốc hội thành lập và được Quốc hội giao cho các chức năng khác nhau Viện kiểm sát nhân dân độc lập với Tòa án nhân dân về tổ chức bộ máy và biên chế Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình xét xử, thi hành án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, các vụ án hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phương với các cơ quan chính quyền địa phương và Hội đồng nhân dân cùng cấp: Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống
cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội, không thừa hành quyền lực từ chính quyền địa phương Viện kiểm sát nhân dân địa phương độc lập với cơ quan chính quyền địa phương về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính và độc lập về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện kiểm sát
Trang 17nhân dân địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp về các công việc có liên quan
Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểm sát nhân dân còn được tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc đặc thù, đó là nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành Nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất đã chi phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Do đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất
Nguyên tắc tập trung thống nhất đảm bảo cho các Viện kiểm sát nhân dân địa phương được tổ chức và hoạt động một cách tập trung, thống nhất và độc lập theo ngành dọc, không lệ thuộc hay chịu sự can thiệp nào từ phía các cơ quan Nhà nước ở địa phương Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi xác định vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước cần có nhận thức đúng về những vấn đề sau:
Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phương không chịu sự chỉ đạo của chính quyền
sở tại, nhưng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương không phải là một bộ phận tách rời mọi hoạt động của địa phương Viện kiểm sát nhân dân địa phương còn phải chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương và sự giám sát của nhân dân địa phương Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cũng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương Do
đó, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải kết hợp chặt chẽ
Trang 18Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cấp vừa trực tiếp thực hiện công tác kiểm sát theo thẩm quyền cấp mình, mặt khác vừa có nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp đối với Viện kiểm sát cấp huyện nên tổ chức bộ máy cần phải có cơ cấu phù hợp để thực hiện cả hai hoạt động đó Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là cấp cơ sở, cấp trực tiếp thực hiện phần lớn các nội dung của công tác kiểm sát theo thẩm quyền Viện kiểm sát cấp huyện cần tập trung thực hiện tốt các mục tiêu công tác cụ thể mà Viện kiểm sát cấp trên đề ra Do đó, cấp huyện cần được tăng cường và tạo điều kiện về mọi mặt để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Để đảm bảo Viện kiểm sát các cấp hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong tiến trình cải cách tư pháp thì hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cần phải được tổ chức theo nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất, không phụ thuộc và chịu sự can thiệp nào của chính quyền địa phương Nguyên tắc tập trung thống nhất đòi hỏi phải xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của từng cấp kiểm sát Các Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường
sự lãnh đạo, công tác kiểm tra đối với cấp dưới Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thực hiện tốt vai trò là trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân
Trang 19Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm 1992 xác định rõ nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của từng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước Đối với các cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, vấn đề chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này không chỉ bảo đảm lĩnh vực hoạt động riêng mà bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động thực hiện chức năng chung của nhà nước Trên cơ sở, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Hiến pháp năm 1992 khẳng định nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, là tổ chức để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình Đó là bản chất, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực quản lý của nhà nước kiểu mới Vì vậy, việc phát huy và bảo đảm quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa
là vấn đề có tính quy luật, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của nhà nước
xã hội chủ nghĩa Thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thực chất là bảo đảm quyền lực của nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội Các nguyên tắc cơ bản khác như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc thống nhất quyền lực, nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
đã định hướng trực tiếp đến tổ chức, hoạt động đối với hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng Mục tiêu chung của cải cách bộ máy nhà nước chỉ thực sự đạt được trên cơ sở hoàn thiện tổ chức hoạt động của từng cơ quan, bộ phận trong bộ máy nhà nước cùng với hoàn thiện cơ chế phối hợp của tổ chức cơ quan thực hiện chức năng chung của nhà nước
Trong hệ thống cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Thực hiện nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước ta, là bộ phận không thể thiếu trong bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Các cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát
Trang 20nhân dân được phân công trực tiếp thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp luật Do đó, có thể xem Tòa án và Viện kiểm sát như
là những bộ phận truyền tải quyền lực nhà nước chứa đựng trong pháp luật vào đời sống
xã hội thông qua hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của những cơ quan này Điều này cũng có nghĩa hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước một phần chi phối bởi hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân
Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm đầu của thời
kỳ đổi mới cho thấy cần tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hiến pháp năm 1992 khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước là xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển Cùng với sự hình thành cơ chế kinh tế mới đòi hỏi sự thay đổi, ra đời của hàng loạt chế định pháp luật phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Nhà nước thừa nhận quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Đổi mới nền kinh tế đã bắt đầu bằng sự phát triển của hàng loạt các doanh nghiệp với mọi hình thức tổ chức, hoạt động Mặt khác, yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư pháp cần phân định rõ phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức trong bộ máy nhà nước, của cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân
Những ý kiến, quan điểm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được đề cập khi tiến hành cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới đất nước, đặc biệt là khi tiến hành đổi mới trên lĩnh vực kinh tế Những bước đi ban đầu của nền kinh tế chuyển đổi với không ít những lựa chọn, những thay đổi, từ cơ chế chính sách đến vấn đề pháp lý để có thể định hình từng bước phát triển của nền kinh tế thị trường Đó là quá trình trăn trở, tháo gỡ dần những vướng mắc trên mọi phương diện để có thể xây dựng được một thể chế hoàn chỉnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những vấn đề đó đã ảnh hưởng không nhỏ khi xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng
Trong giai đoạn trước đây, vai trò giám sát bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, tuân thủ cơ chế, chính sách, loại trừ yếu tố tự phát, sai lệch, vi phạm trong quá trình phát triển
là vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu Với chức năng kiểm sát việc tuân theo
Trang 21pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (chức năng kiểm sát chung), Viện kiểm sát nhân dân các cấp có vai trò, trách nhiệm trong hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến khi ban hành Hiến pháp 1992 (sửa đổi) Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả đóng góp to lớn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt thời kỳ này đã tuân thủ định hướng được chỉ đạo thống nhất toàn ngành trong nhiệm vụ công tác năm tập trung hoạt động vào một lĩnh vực cụ thể có ảnh hưởng tới nền kinh tế Mục đích của các cuộc kiểm sát không chỉ xác định vi phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, khắc phục hậu quả về kinh tế - xã hội, mà vấn đề mang ý nghĩa lớn đó là phát hiện ra những yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội của các
bộ, ngành, địa phương Từ đó đưa ra những kiến nghị với Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả về hoạt động quản lý nhà nước và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật Có thể đánh giá một cách công bằng trong thời kỳ này thành tựu của ngành kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội Điều này được minh chứng bởi hàng loạt các chương trình công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội trong suốt giai đoạn này như chương trình kiểm sát trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, chương trình mía đường, chương trình kiểm sát công tác quản
lý nhà nước về đất đai, chương trình dự án giao thông đường bộ, chương trình giáo dục, chương trình xuất khẩu lương thực…
Năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tiến hành trên
cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước Những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp một cách triệt để, toàn diện hơn để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã thể chế hoá nghĩamục tiêu Nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, xác định đúng
Trang 22đắn vị trí, vai trò, hệ thống các cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước, định hướng xây dựng một nền tư pháp dân chủ, vững mạnh Một trong những nội dung về cải cách tư pháp được thể chế trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) là sự điều chỉnh một bước về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Việc điều chỉnh chức năng của Viện kiểm sát trong Hiến pháp không phải là vấn đề mới nảy sinh trong quá trình xây dựng, soạn thảo Hiến pháp sửa đổi, mà ngay sau Đại hội Đảng lần thứ VII, những ý kiến liên quan đến chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đã được đề cập, thảo luận trên nhiều diễn đàn về lý luận cũng như thực tiễn Không chỉ đề cập đến sự chồng chéo chức năng thanh tra của cơ quan Thanh tra với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà vấn đề có tính trực diện hơn đối với sự tồn tại của chức năng này trong điều kiện đổi mới Trong mối tương quan chung giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước với những chức năng mà Viện kiểm sát đang thực hiện dường như Viện kiểm sát đang nắm giữ quá nhiều quyền lực chi phối trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ tư pháp đến thể chế quản lý kinh tế, quản lý hành chính nhà nước Hệ quả của sự đánh giá này đã dẫn tới việc có người đặt ra câu hỏi phải chăng Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan siêu quyền lực và như thế là trái với tổ chức và hoạt động của một nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc dân chủ
Quá trình sửa đổi Hiến pháp, vấn đề chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được xem xét trên nhiều phương diện, không chỉ ở giác độ quyền lực rộng lớn của Viện kiểm sát trong đời sống xã hội hay sự chồng chéo chức năng với cơ quan Thanh tra mà cả những ảnh hưởng từ hoạt động của Viện kiểm sát tới nền kinh tế thị trường ở vào thời điểm nền kinh tế đã trải qua 15 năm đổi mới với những thành tựu và sự ổn định bước đầu
về cơ cấu kinh tế, phương thức tổ chức hoạt động, một thể chế kinh tế được xác lập bởi hàng loạt văn bản pháp luật về kinh tế đã đưa nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển
có định hướng trên cơ sở khuôn khổ của pháp luật Trong quá trình đó, sự hình thành hệ thống pháp luật kinh tế là quá trình không ngừng sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Trong điều kiện vận hành nền kinh tế thị trường vẫn đang tiếp tục
có sự tìm tòi, thử nghiệm và không ngừng đổi mới để có sự phát triển phù hợp, vững chắc; bên cạnh những ưu điểm của việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật qua hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân thì mặt khác dường như đã tạo ra lực cản vô
Trang 23hình đối với sự phát triển của nền kinh tế Sự phản ứng ở những mức độ khác nhau của các nhà quản lý, các nhà kinh doanh đối với hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát đã đặt vấn đề về thực tiễn của việc có cần thiết tồn tại chức năng này của Viện kiểm sát hay không Xét một cách biện chứng, khi pháp luật phù hợp với kinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm pháp luật được tuân thủ, nhưng trong điều kiện hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện thì chính nó trở thành nguyên nhân làm hạn chế tác dụng, ý nghĩa của việc thực hiện chức năng này Sự cần thiết duy trì hay xóa bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau cả về lý luận và thực tiễn
Nhìn vấn đề ở phương diện hẹp hơn để đánh giá thực trạng của ngành kiểm sát
về lực lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát (về năng lực, trình độ, về số lượng…), quy mô tổ chức bộ máy ngành kiểm sát, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật còn nhiều hạn chế, bất cập Trong khi, Viện kiểm sát đang phải thực hiện nhiều trọng trách trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội thì với điều kiện hiện có, việc thực hiện tốt tất cả những chức năng, nhiệm vụ được giao thực sự là khó khăn đối với Viện kiểm sát
Mặt khác, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng, sôi động của kinh tế mang lại sự thay đổi, nâng cao điều kiện sống cho nhân dân, nhưng cũng đặt ra những vấn đề xã hội cần giải quyết Đó là sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng sâu sắc, đó là sự gia tăng tệ nạn xã hội và tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, nghiêm trọng, đặc biệt các tội phạm về kinh tế, tham nhũng, ma túy, mại dâm… Tình hình tội phạm trong những năm qua cho thấy số lượng, tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm không chỉ phản ánh sự xuống cấp, băng hoại đạo đức xã hội mà điều quan tâm là
sự gia tăng tình hình tội phạm đã trở thành nỗi quan ngại, thách thức các cơ quan tư pháp Tính chất nguy hiểm của tội phạm không chỉ gây ra tổn thất to lớn về kinh tế cho xã hội
mà còn là nguy cơ hủy hoại đạo đức xã hội, hủy hoại nguồn lực thiết yếu của xã hội (thế
hệ thanh niên) nếu không kịp thời có quyết sách, tổ chức, lực lượng cần thiết, mạnh mẽ
để đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm Do đó, nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm là trọng trách đối với toàn bộ hệ thống cơ quan tư pháp Với vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm thì vấn đề tăng cường thực hiện
Trang 24tốt chức năng công tố, nâng cao vai trò trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm hình sự là điều cần thiết Để Viện kiểm sát có thể tập trung làm tốt chức năng công tố, thì việc điều chuyển một phần chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát sang cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước được xem là giải pháp tối ưu Thực chất của việc điều chuyển là sự tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khác như tăng cường thẩm quyền của cơ quan Thanh tra trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, của Bộ Tư pháp trong hoạt động thẩm định các văn bản pháp luật của chính quyền cơ sở trong việc xây dựng, ban hành văn bản pháp quy, của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong lĩnh vực giám sát
Trên thế giới, các quốc gia có thể khác biệt nhau về chế độ chính trị nhưng hệ thống cơ quan Công tố trong bộ máy nhà nước cơ bản tập trung thực hiện chức năng công tố trong lĩnh vực hình sự Trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc tiếp thu những thành tựu, giá trị tiến bộ trên mọi lĩnh vực đang là xu thế tất yếu, mang tính phổ biến của các quốc gia Quá trình cải cách ở nước ta việc lựa chọn để có được một mô hình tổ chức khoa học, tiên tiến, phù hợp cho từng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước là một quá trình trải nghiệm không chỉ nhận thức đầy đủ nguyên tắc mang tính lý luận mà cả diễn biến thực tiễn cần được đánh giá tổng kết
Xuất phát từ những lý do nêu trên, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã có sự điều chỉnh quan trọng về chức năng ngành kiểm sát, đó là sự xóa bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội, nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã thể chế hóa quy định của Hiến pháp, ghi nhận cụ thể, rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời phân định rõ phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Sự phân định này không chỉ tác động tích cực trong thực tiễn công tác của Viện kiểm sát nhân dân
mà còn là cơ sở lý giải vướng mắc trong nhận thức các khiếu nại liên quan đến quyền công tố, đến kiểm sát các hoạt động tư pháp
Bên cạnh việc ghi nhận và đề cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, sự tăng cường vai trò của Viện kiểm sát
Trang 25trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp xuất phát từ việc đánh giá thực trạng trên các phương diện kinh tế xã hội, hoạt động tư pháp trong những năm qua,
có thể thấy đây là các điều kiện chi phối trực tiếp đến hoạt động tư pháp và yêu cầu, đòi hỏi Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trên các phương diện khác nhau Cụ thể là:
- Trình độ hiểu biết, ý thức pháp luật của bộ phận lớn nhân dân còn hạn chế
- Hệ thống thiết chế bổ trợ tư pháp như luật sư, hỗ trợ pháp lý, công chứng, giám định… còn thiếu, chưa hoàn thiện, đồng bộ
- Vấn đề quản lý hành chính nhà nước còn nhiều tồn tại, thiếu sót, tổ chức hoạt động của hệ thống đăng ký tài sản chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, thủ tục rườm rà, bất cập Các cơ quan quản lý nhà nước chưa xác định được trách nhiệm trước những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng tư pháp
- Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, thi hành án chưa hoàn thiện
- Đội ngũ cán bộ tư pháp còn hạn chế về trình độ kiến thức pháp lý, về chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là sự hạn chế về kỹ năng nhận thức áp dụng pháp luật
Với các đặc điểm nêu trên, có thể thấy rằng, sự tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong kiểm sát các hoạt động tư pháp xuất phát từ yếu tố truyền thống pháp luật, từ nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, trước yêu cầu bảo đảm quyền dân chủ của công dân, điều kiện thực trạng kinh tế, xã hội ở nước ta Tuy nhiên, đồng thời với quan điểm tăng cường chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong các hoạt động thi hành án, giam giữ, cải tạo, trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, vụ
án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động cũng tồn tại quan điểm cho rằng Viện kiểm sát nhân dân chỉ nên tập trung làm tốt chức năng công tố, còn đối với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp mà phần quan trọng là kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh
tế, hành chính, lao động, thì Viện kiểm sát chỉ nên tham gia ở phạm vi hạn chế
Trên cơ sở nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, quan niệm về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước, từ thời kỳ đầu thành lập ngành Kiểm sát nhân dân chi phối ảnh hưởng lâu dài đến sự nhận thức về vai trò, vị trí
Trang 26của Viện kiểm sát trong hoạt động tư pháp, trong lĩnh vực tố tụng dân sự Về thực tiễn, trong một thời gian dài, sự thiếu hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, hệ thống bổ trợ tư pháp,
sự hạn chế về năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cũng như trình độ nhận thức pháp luật của người dân… là nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức cho rằng không thể thiếu được vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp nói chung, trong hoạt động tố tụng, giải quyết các vụ án dân sự nói riêng, đó là sự bảo đảm cho việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án ở một chừng mực nào đó,
sự nhận thức này có phần thiên kiến, chủ quan khi cho rằng sự tuyệt đối hóa vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp, đặc biệt trong hoạt động xét xử các
vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động là sự áp đặt công quyền, chi phối mọi hoạt động tố tụng và điều này là không phù hợp với nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, xem nhẹ vai trò của đương sự với quyền tự định đoạt và trách nhiệm tự chứng minh của
họ Thực tiễn cho thấy sự cần thiết của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, phạm vi tham gia nhiều hay ít ở mức độ nào đó đều mang tính lịch sử cụ thể Vì vậy, đến thời điểm ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, đã hội đủ điều kiện để có được hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn chỉnh với nguyên tắc nền tảng của nó và vai trò, vị trí của các chủ thể trong tố tụng dân sự (bao gồm cả Viện kiểm sát nhân dân) cần được xác định phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Những lập luận này là cơ sở cho sự thay đổi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Đây là một bước chuẩn bị cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tập trung vào việc thực hiện chức năng công tố
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ xã hội chủ nghĩa Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền
Trang 27lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các qui định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, bảo vệ công lý, quyền con người Về đường lối đối ngoại, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Trong tiến trình chung đó, Viện kiểm sát nhân dân với chức năng, nhiệm vụ của mình có vị trí quan trọng và vai trò to lớn trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo trên phương diện pháp lý cho xu thế hội nhập, giao lưu quốc tế của nước ta Và ngược lại, đó cũng là cơ sở lý luận vững chắc cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay
1.2 Các quan điểm về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Thời gian qua, khi nghiên cứu vấn đề hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lí, các chuyên gia trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, các cán bộ làm công tác thực tiễn trong các cơ quan bảo vệ pháp luật và nhân dân
về vấn đề này Có thể nêu ra ba quan điểm điển hình sau đây:
1.2.1 Quan điểm thứ nhất
Theo quan điểm này, thực tiễn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
ở nước ta hơn 45 năm qua đã khẳng định sự cần thiết khách quan tồn tại hệ thống Viện kiểm sát nhân dân với hai chức năng không thể tách rời là chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung) Việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay cần xuất phát từ những thành tựu đã đạt được và theo hướng phân định rõ
Trang 28hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân với hoạt động thanh tra của cơ quan Thanh tra, từng bước nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động công tố, bảo đảm cho thắng lợi của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm Những người theo quan điểm này cho rằng, so với thời gian trước đây hơn 45 năm, ở nước ta hiện nay đã có nhiều thay đổi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo xu hướng giữ vững ổn định và phát triển, đóng góp vào thành tựu chung đó có vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân Hiện nay, với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì việc bảo đảm cho các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành được nghiêm chỉnh tuân thủ, để đảm bảo cho tính thống nhất của pháp luật trong cả nước, để nhanh chóng phát hiện các vi phạm pháp luật trong việc thực hiện, áp dụng pháp luật và ban hành các văn bản quản lí của các cơ quan hành pháp thì Quốc hội phải có một cơ quan thay mặt Quốc hội thực hiện chức năng giám sát việc thi hành pháp luật đối với các cơ quan hành pháp từ trên xuống dưới Cơ quan đó phải trực thuộc Quốc hội, do Quốc hội thành lập chứ không thể trực thuộc Chính phủ - cơ quan hành pháp Hoạt động kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ phía cơ quan nhân danh cơ quan lập pháp hoàn toàn khác với hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhân danh cơ quan hành pháp Đồng nhất hai loại hoạt động nêu trên và thậm chí còn chuyển hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện sang cho cơ quan Thanh tra là hoàn toàn sai lầm bởi việc đó đã tước đi hoặc hạ thấp vai trò kiểm tra, giám sát của Quốc hội đối với quá trình thực hiện Hiến pháp, các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật do chính Quốc hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Trong quá trình thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật, khi phát hiện thấy có vi phạm và tội phạm thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền xử líư vi phạm và tội phạm theo qui định của pháp luật Và vì lẽ đó chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không thể tách rời chức năng công tố Mặt khác, đúng là hoạt động công tố là một trong những nội dung của hoạt động áp dụng pháp luật (hành pháp) nhưng nếu thành lập Viện công tố chỉ với chức năng công tố và đặt cơ quan này trực thuộc Chính phủ có nghĩa là đã tách rời hai chức năng nói trên và vô hình chung đã làm cho quá trình giải quyết các vi phạm và tội phạm thêm phức tạp và làm bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh (cho dù có thành lập Viện công tố trực thuộc Chính phủ thì vẫn phải có một cơ quan trực thuộc Quốc hội để để
Trang 29thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan hành pháp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân) Qua nghiên cứu so sánh vị trí, vai trò và địa vị pháp lí giữa Viện kiểm sát của nước ta với các Viện công tố hoặc Viện kiểm sát ở một số nước khác, cho thấy chúng ta còn chưa có những cơ chế, điều kiện cần thiết
để Viện kiểm sát có thể thực thi nhiệm vụ đúng với vị trí của cơ quan này Với vai trò là
cơ quan thực hiện quyền lực của Quốc hội để tiến hành hoạt động giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân đáng lẽ các quyết định của Viện kiểm sát phải có uy quyền hơn, thế nhưng trong thực tế lại không phải như vậy Nhiều quyết định, kiến nghị, thậm chí kháng nghị của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát chung đã không được thực hiện hoặc không được thực hiện nghiêm chỉnh Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều nhưng trong đó phải kể đến sự thiếu hiểu biết pháp luật cũng như quan niệm không đúng của một số người khi họ cho rằng chức vụ trong Đảng luôn quan trọng hơn chức vụ trong bộ máy nhà nước, người không có chức vụ hoặc có chức vụ nhỏ trong Đảng không thể yêu cầu hoặc kiến nghị, kháng nghị gì với người có chức vụ trong Đảng cao hơn kể cả trong trường hợp pháp luật
có qui định như vậy Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp đầu tiên là Hiến pháp và pháp luật phải thể chế hóa vị trí, vai trò của Viện kiểm sát đúng với vị trí cần phải có của
nó Cần phải mở rộng hơn nữa thẩm quyền của Viện kiểm sát so với qui định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành Do đó, theo quan điểm này cho rằng cần trả lại cho Viện kiểm sát chức năng, nhiệm vụ như đã từng tồn tại trong thực tế ở nước ta từ năm 1960 đến năm 2002 Và vấn đề đặt ra là cần phải có những biện pháp đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hiện hai chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội chứ không chỉ đơn thuần là kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay
1.2.2 Quan điểm thứ hai
Theo quan điểm này, việc chuyển hệ thống Viện công tố trực thuộc Chính phủ sang hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trực thuộc Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 là hợp lí nhưng do từ đó đến nay vì giao thêm cho Viện kiểm sát chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công
Trang 30dân nên trong thời gian qua, Viện kiểm sát nhân dân đã không thể thực hiện tốt hai chức năng này Để khắc phục tình trạng trên đây cần đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng giữ nguyên mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng về cơ bản giữ nguyên tên gọi, mô hình tổ chức bộ máy nhưng cắt giảm bớt chức năng, nhiệm vụ Cụ thể là Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Và như vậy, Viện kiểm sát nhân dân mới có thể tập trung làm tốt chức năng công tố mà bấy lâu nay Viện kiểm sát còn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với công tác này Quan điểm này đã được chính thức chấp nhận và được thể hiện trong các qui định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Và theo đó đến nay, Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
và công dân nữa
1.2.3 Quan điểm thứ ba
Quan điểm này cho rằng, tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát cần quay lại
mô hình tồn tại trước năm 1960 Theo quan điểm này, Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức lại thành Viện công tố trực thuộc cơ quan hành pháp là Chính phủ với chức năng, nhiệm vụ như trước đây là chỉ thực hiện chức năng công tố chứ không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân như nó đã từng làm trong thời gian hơn 40 năm qua Còn hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật do Quốc hội trực tiếp thực hiện và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân trước đây do Viện kiểm sát thực hiện nay giao cho cơ quan Thanh tra các cấp tiến hành Theo quan điểm này, nội dung của chức năng công tố thực chất là hoạt động hành pháp, vì vậy bản thân nó phải do một hệ thống các cơ quan hành pháp thực hiện và hợp lưí hơn cả là thành lập Viện công tố trực thuộc Chính phủ để thực hiện chức năng này Còn nội dung của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân
Trang 31không khác hoạt động thanh tra của cơ quan Thanh tra và vì thế song song với việc thành lập hệ thống Viện công tố thì đồng thời cũng chuyển chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội cho cơ quan Thanh tra các cấp thực hiện Cũng theo quan điểm này, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng thành lập Viện công tố như mô hình đã tồn tại ở nước ta trước năm
1960 nhưng đồng thời cũng phải kế thừa những ưu điểm đã được khẳng định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm qua và có sự tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
1.3 Tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và Viện công tố của một số nước trên thế giới
1.3.1 Viện kiểm sát Cộng hòa Liên bang Nga
Trước đây, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ở Liên Xô có vị trí độc lập, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các cơ quan hành pháp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội và hệ thống Tòa án Mục đích của việc thực hiện chức năng kiểm sát
là để đảm bảo pháp luật được tuân thủ, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất Từ đó, cấu trúc của Viện kiểm sát Nga về cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày hôm nay và được khẳng định trong các Hiến pháp năm 1936, 1977, 1993 và Luật Liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga năm 1995
Hệ thống Viện kiểm sát Liên bang Nga gồm có: Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga; Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương; Viện kiểm sát các thành phố, quận, huyện và các Viện kiểm sát ngang cấp với chúng; các Viện kiểm sát chuyên trách như Viện kiểm sát trong lĩnh vực giao thông, Viện kiểm sát bảo vệ môi trường…
Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga lãnh đạo Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Giúp việc cho Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có một Phó Tổng kiểm sát trưởng thứ nhất và một số Phó Tổng kiểm sát trưởng Trong Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga thành lập ủy ban kiểm sát ủy
Trang 32ban kiểm sát Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga là cơ quan tư vấn Trong cơ cấu Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga gồm có: các tổng cục, các cục, các vụ, viện và các phòng, ban chức năng
Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương do kiểm sát viên các nước cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tương đương lãnh đạo Giúp việc cho kiểm sát viên các nước cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liên bang, các vùng tự trị, các khu vực
tự trị và cấp tương đương có một cấp phó thứ nhất và một số cấp phó khác Tương tự như
cơ cấu Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương có ủy ban kiểm sát, với vai trò là cơ quan
tư vấn
Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương do kiểm sát viên thành phố, quận, huyện và cấp tương đương lãnh đạo Giúp việc cho kiểm sát viên thành phố, quận, huyện và cấp tương đương có một cấp phó thứ nhất và các cấp phó khác Ngoài ra, theo quyết định của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tương đương có thể có các phòng, ban
1.3.2 Viện kiểm sát nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Từ khi lãnh đạo cách mạng thành công và thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (năm 1949), Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Trung Quốc Từ đó đến nay, mặc dù có những thăng trầm nhưng Trung Quốc vẫn trung thành với những nguyên lý cơ bản theo mô hình các nước xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và ở địa phương là Đại hội đại biểu nhân dân địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp) Chính phủ được xác định là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính cao nhất Tòa án là cơ quan xét xử và Viện kiểm sát
là cơ quan giám sát pháp luật Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao đều do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, theo
Trang 33nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và chịu trách nhiệm trước cơ quan này
ở Trung Quốc, Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập Viện kiểm sát được coi là cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan hành pháp, và do vậy, Chính phủ
và Bộ Tư pháp không có chức năng giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tương tự như vậy, Viện kiểm sát địa phương không chịu sự giám sát của cơ quan hành chính ở địa phương nhưng lại chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Điều 129 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: Viện kiểm sát nhân dân Trung hoa là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước Điều 130 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát nhân dân chuyên ngành khác Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống,
cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát như sau:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm
sát cao nhất, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương các cấp và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật được đúng đắn và thống nhất
Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm Văn phòng; Ban Chính trị; Tổng cục chống tham ô hối lộ; Vụ kiểm sát hình sự; Vụ kiểm sát giam giữ; Vụ kiểm sát hành chính, dân sự; Vụ kiểm sát khiếu nại, tố cáo; Vụ kiểm sát thi hành án; Trung tâm thông tin; Vụ kiểm sát vận tải đường sắt; Cục kỹ thuật kiểm sát; Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật; Cục thanh tra; Cục giáo dục rèn luyện cán bộ; Cục đối ngoại; Cục kế hoạch tài vụ và trang thiết bị; Cục quản lý hành chính sự vụ; Cục cán bộ lão thành Ngoài
ra, còn có các đơn vị trực thuộc như: Nhà xuất bản kiểm sát, Báo kiểm sát, Viện nghiên cứu lý luận kiểm sát, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật kiểm sát, Học viện bồi dưỡng cán bộ kiểm sát cao cấp Trung Quốc…
Trang 34Viện kiểm sát nhân dân tối cao thành lập ủy ban kiểm sát ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chế độ làm việc tập thể, thảo luận các vụ án quan trọng và các vấn đề quan trọng khác, dưới sự chủ trì của Viện trưởng ủy ban kiểm sát quyết định theo đa số Nếu ý kiến của Viện trưởng khác với ý kiến của đa số về các vấn
đề quan trọng có thể báo cáo ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân quyết định
Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, ủy viên ủy ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật
- Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương: Viện kiểm sát nhân dân các cấp
ở địa phương gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (cấp thứ 2); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộc tỉnh, châu tự trị… (cấp thứ 3); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu trực thuộc thành phố (cấp cơ sở)
Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương thành lập ủy ban kiểm sát ủy ban kiểm sát thực hiện chế độ làm việc tập tập thể, quyết định theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số Nếu ý kiến của Viện trưởng khác với ý kiến của đa số về các vấn đề quan trọng có thể báo cáo ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp quyết định
1.3.3 Viện công tố Nhật Bản
Nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực của Nhật Bản cũng giống như các Nhà nước tư sản khác trên thế giới, đó là chế độ tam quyền phân lập Theo quy định của Hiến pháp Nhật Bản, quyền công tố là một phần của quyền hành pháp, thẩm quyền truy tố được trao cho cơ quan hành pháp, quyền hành pháp được trao cho Nội các, Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội Bộ trưởng Bộ Tư pháp với vị trí là người đứng đầu, chỉ đạo công tác thuộc thẩm quyền thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp, bao gồm cả công tác liên quan đến việc truy tố Như vậy, Viện công tố là một tổ chức nằm trong Bộ Tư pháp như
là một "cơ quan đặc biệt" Công tố viên nằm dưới sự chỉ huy chung, giám sát của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Về nguyên tắc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể kiểm tra và giám sát các công tố viên nói chung trong việc thực hiện các chức năng của họ, tuy nhiên, trong trường hợp liên quan tới việc điều tra và quyết định các vụ án cụ thể Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ có thể kiểm tra, chỉ đạo đối với Tổng công tố trưởng Hiến pháp Nhật Bản cũng
Trang 35trao cho Viện công tố có quyền truy tố độc lập là nhằm tách bạch mối liên hệ giữa thẩm quyền truy tố và thẩm quyền xét xử của Tòa án
Khi thực hiện nhiệm vụ, Viện công tố cũng có tính độc lập như Tòa án Mặc dù Viện công tố nằm trong một tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đứng đầu nhưng để có thể bảo đảm tính độc lập, chính bản thân công tố viên, với tư cách là công chức đảm trách về việc truy tố, cần phải được độc lập và không chịu ảnh hưởng của sức ép bên ngoài Để bảo đảm tính độc lập của công tố viên, Luật về Viện công tố quy định giới hạn về quyền chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đối với công tố viên: "Về việc xử lý từng vụ án, chỉ
có thể chỉ huy Tổng công tố trưởng Viện công tố tối cao" (Điều 14) Tuy nhiên, trên thực
tế thì cũng rất ít khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra chỉ thị, mệnh lệnh cho Tổng công tố trưởng Trong lịch sử tư pháp Nhật Bản chỉ duy nhất có một trường hợp Bộ trưởng Bộ Tư pháp hành xử quyền chỉ huy của mình phủ định đường lối của Tổng công tố trưởng vào năm 1954 và đã bị dư luận phản đối Luật cũng quy định công tố viên có thể hành xử quyền hạn của mình một cách độc lập Chẳng hạn, về nguyên tắc, công tố viên có thể truy
tố trái với mệnh lệnh của cấp trên và việc truy tố này cũng có hiệu lực trong tố tụng Bất
cứ ai đã phạm tội, dù là Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thủ tướng, nghị si Quốc hội thì công tố viên Nhật Bản vẫn thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật và nếu có bằng chứng thì tiến hành truy tố người đó ra tòa
Hệ thống tổ chức của Viện công tố Nhật Bản được tổ chức tương ứng với hệ thống tổ chức của Tòa án Nhật Bản Theo đó, Viện công tố Nhật Bản được tổ chức ở 4 cấp: Viện công tố tối cao; Viện công tố cấp cao (cấp vùng); Viện công tố địa phương (cấp tỉnh); Viện công tố cấp khu vực (cấp quận) Viện trưởng Viện công tố cấp trên có quyền hạn chỉ huy và giám sát các công tố viên thuộc quyền quản lý trực tiếp và các Viện công tố cấp dưới
Cơ cấu tổ chức của Cơ quan công tố tối cao gồm: Ban thư ký, Cục điều tra, Vụ giám sát điều tra, Vụ an ninh công cộng, Vụ xét xử Giúp việc cho Tổng công tố có các Phó Tổng công tố
Có 8 Cơ quan công tố cấp cao và 6 chi nhánh: Cơ quan công tố cấp cao được tổ chức ở 8 vùng: Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takamatsu Cơ cấu tổ chức của cơ quan công tố cấp cao bao gồm: Ban thư ký, Văn
Trang 36phòng, Phòng giải quyết những vấn đề chung, Phòng điều tra, Phòng an ninh công cộng, Phòng xét xử
Có 50 cơ quan công tố địa phương và 203 chi nhánh Mỗi tỉnh có một cơ quan công tố (47 tỉnh của Nhật Bản có 47 Cơ quan công tố, riêng tỉnh Hokaido do diện tích rộng nên được tổ chức 4 cơ quan công tố: Hokaido, Kushiro, Asakhikawa, Hakodate)
1.3.4 Viện công tố Cộng hòa Pháp
Tại Pháp, các Thẩm phán công tác tại hai ngạch là ngạch xét xử (Thẩm phán xét
xử làm việc tại cơ quan Tòa án phụ trách cả việc thẩm tra tư pháp lẫn việc xét xử) và ngạch công tố (bao gồm các ủy viên công tố) Hệ thống công tố bao gồm đội ngũ công tố viên đặt bên cạnh các Tòa án thuộc ngạch tư pháp (không có ngạch công tố bên cạnh Tòa hành chính) Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp qui định, tất cả các Thẩm phán (cả Thẩm phán xét xử và công tố viên) đều độc lập, dưới sự bảo đảm của Tổng thống Tính độc lập của các Thẩm phán xét xử dựa trên quyền không thể bãi miễn của mình Còn tính độc lập của các công tố viên chủ yếu dựa trên quyền tự do luận tội của mình, độc lập với Tòa án và các bên khiếu kiện
Cho đến nay, về mặt hình thức Viện công tố của Pháp được đặt trong hệ thống Tòa án, nhưng không lệ thuộc vào Tòa án Hệ thống Viện công tố của Pháp gồm có: Viện công tố nằm trong các Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng; Viện công tố tại Tòa phúc thẩm; Viện công tố bên cạnh Tòa phá án Về mặt nhân sự và quản lý hành chính Viện công tố trực thuộc Bộ Tư pháp, nhưng mối quan hệ giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Viện công tố không phải là mối quan hệ chỉ đạo trực tiếp mà là thông qua giám sát hoạt động của Viện công tố Các công tố viên là công chức nhà nước nhưng không phụ thuộc vào
cơ quan hành pháp Điều đó có nghĩa là quan chức chính phủ không có quyền chỉ thị họ đối với các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Các công tố viên hoạt động dưới sự kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và có thể nhận các hướng dẫn chung hoặc các chỉ thị chung về chính sách hình sự từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp Quyền hạn của công tố viên Pháp tương đối rộng gồm khởi tố các vụ án hình sự và một số vụ án dân sự, chỉ đạo hoạt động của Cảnh sát tư pháp, thực hiện việc buộc tội trước Tòa án và đảm bảo thi hành bản án, quyết định của Tòa án
Trang 37
1.3.5 Viện công tố Cộng hòa Liên bang Đức
Xét về góc độ tổ chức và quản lý hành chính tư pháp thì Viện công tố và Tòa án đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp nắm quyền Tuy nhiên sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp cũng chỉ dừng lại đối với Tổng công tố trưởng Và sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng chỉ mang tính chất chỉ đạo chung, mang tính quản lý hành chính tư pháp, không can thiệp vào công việc chuyên môn của Viện công tố Bộ trưởng
Bộ Tư pháp không có quyền chỉ đạo trực tiếp đối với công tố viên cấp dưới
Viện công tố hoạt động hoàn toàn độc lập với Tòa án, với các cơ quan chính quyền địa phương Viện công tố được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Tổng công tố trưởng của bang có toàn quyền lãnh đạo, chỉ đạo các cán
bộ, công tố viên vùng và khu vực Các cán bộ, công tố viên chịu sự lãnh đạo của công tố viên cấp trên trực tiếp và thống nhất chịu sự lãnh đạo của Tổng công tố trưởng của bang
Nhà nước Đức là một nhà nước liên bang, do đó tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và của Viện công tố nói riêng cũng khác với các nhà nước đơn nhất Hệ thống công tố của Đức được tổ chức không theo địa giới hành chính mà được tổ chức theo từng vùng và khu vực Một vùng có thể bao gồm một tỉnh hoặc nhiều tỉnh, một khu vực có thể
là một huyện hoặc nhiều huyện (quận) Tùy theo số lượng công việc cụ thể của từng nơi
mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp bố trí Viện công tố cho phù hợp Ví dụ, ở những nơi có ít tội phạm xảy ra thì có thể tổ chức một Viện công tố khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ rộng hơn các Viện công tố khu vực nơi có nhiều tội phạm xảy ra Khi có tội phạm xảy ra thì công tố viên cấp vùng đó thực hành quyền công tố ở khu vực đó Đây là cách thức tổ chức rất linh hoạt của Đức nhằm giảm thiểu gánh nặng về tài chính cho nhà nước, vì có khu vực một năm chỉ có một vài vụ án xảy ra mà cũng tổ chức một Viện công tố ở đó thì rất lãng phí Tổ chức của Tòa án thì lại hoàn toàn khác với Viện công tố, vì ngoài án hình
sự ra, Tòa án còn phải giải quyết nhiều loại án khác nữa như án dân sự, kinh tế, lao động… Do đó, tuy về mặt nguyên tắc thì luật qui định, Viện công tố được tổ chức song song với Tòa án, ở đâu có Tòa án thì ở đó có Viện công tố, nhưng trong thực tiễn, Tòa án
và Viện công tố được tổ chức không thống nhất ở cấp bang Viện công tố Đức được tổ chức theo ngành dọc, độc lập với cơ quan chính quyền với nguyên tắc hoạt động là tập
Trang 38trung thống nhất, công tố viên cấp dưới chịu sự lãnh đạo của công tố viên cấp trên và thống nhất chịu sự chỉ đạo của Tổng công tố bang
Tóm lại, mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Viện công
tố của các nước khác nhau cũng có sự khác nhau dựa trên cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cũng như các điều kiện kinh tế - xã hội, các yếu tố lịch sử, truyền thống pháp lý của mỗi nước Do đó, việc vận dụng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Viện công tố các nước trên thế giới để áp dụng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam là một việc làm không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu, khảo sát, đánh giá và chọn lọc cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở nước ta
Trang 39
Chương 2
Thực trạng về tổ chức và quá trình đổi mới
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2.1 Tổ chức Viện công tố ở nước ta giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm
1960
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến tồn tại trên đất nước ta Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
ở Đông Nam á Chính quyền mới từng bước thành lập, trong đó hệ thống tổ chức các cơ quan Tòa án, Công tố được thành lập góp phần bảo vệ một cách hiệu quả nền độc lập của
nước nhà
2.1.1 Tổ chức Công tố trong Tòa án quân sự
Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, ngày 13/9/1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 32 bãi bỏ các ngạch quan lại tư pháp, trong đó có ngạch Thẩm phán, công tố viên cũ và Sắc lệnh số 33c thành lập Tòa án quân sự cách mạng Chức năng công tố, nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án quân sự được giao cho
ủy viên quân sự hoặc ủy viên của Ban trinh sát có thẩm quyền truy tố đối với tất cả những người có hành vi xâm hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
và thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Ngày 26/9/1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 37 về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án quân sự Ngày 29/9/1945, Sắc lệnh số 40 được ban hành qui định về việc thành lập thêm Tòa án quân sự ở Nha Trang Ngày 14/2/1946, Sắc lệnh số 21 được ban hành, thay thế các Sắc lệnh số 33c, Sắc lệnh số
37, Sắc lệnh 40, theo đó qui định Tòa án quân sự được thành lập ở những nơi cần thiết và
bổ sung thẩm quyền của Tòa án quân sự được xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trước hoặc sau ngày 19/8/1945 xâm hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
trừ những tội phạm do binh sĩ thực hiện thì do Tòa án binh xét xử
Trang 40Thi hành các Sắc lệnh nói trên bộ máy tổ chức Tòa án quân sự và tương ứng là tổ chức Công tố trong Tòa án quân sự được thành lập tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho, Nha Trang, các Tòa án quân sự này có quản hạt gồm nhiều tỉnh Thành phần Hội đồng xét xử của Tòa án quân sự có Chánh án và hai Hội thẩm, buộc tội là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát Đến khi Sắc lệnh số 21 được ban hành thì chức danh thực hiện việc buộc tội được gọi
là Công cáo ủy viên ở Bắc kỳ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định
Công cáo ủy viên, ở Trung kỳ và Nam kỳ thì do Chưởng lý Tòa thượng thẩm hoặc Chủ tịch ủy ban hành chính chỉ định ủy viên Chính phủ làm Công cáo ủy viên ủy viên Chính phủ làm Công cáo ủy viên có thể lấy trong quân đội, trong Ban trinh sát hay trong các Thẩm phán chuyên nghiệp Các Công cáo ủy viên trực tiếp đặt dưới quyền giám sát của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ở Trung kỳ và Nam kỳ thì do Chưởng lý Tòa thượng thẩm và Chủ tịch ủy ban hành chính giám sát
Ngày 17/11/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 155 thay thế các sắc lệnh về Tòa án quân sự được ban hành từ 13/ 9/1945 đến thời điểm này Sắc lệnh qui định tất cả các Tòa án quân sự hiện hành không tổ chức theo Sắc lệnh này đều bãi bỏ và thành lập Tòa án quân sự liên khu tại mỗi Liên khu Thực hành quyền công tố tại Tòa án quân sự liên khu do Công tố ủy viên hoặc Phó Công tố ủy viên đảm nhiệm Thẩm quyền của Tòa
án quân sự liên khu vẫn theo các sắc lệnh trước đây về thẩm quyền của Tòa án quân sự Một thời gian sau, thẩm quyền của Tòa án quân sự được chuyển giao cho Tòa án binh và Tòa án nhân dân Năm 1960, Tòa án binh được đổi thành Tòa án quân sự Từ năm 1960
đến nay ở nước ta tồn tại hai hệ thống Tòa án là Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
2.1.2 Tổ chức Công tố trong Tòa án thường
Ngày 24/01/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 13 ấn định việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngày 17/4/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 51 ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công nhiệm vụ giữa các nhân viên trong Tòa án Ngày 20/7/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 131 bổ sung Sắc lệnh số 51, theo đó, chức năng công tố, nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Tòa án thường để xét xử được giao cho Biện lý, Phó Biện lý ở Tòa án đệ nhị cấp; giao cho Chưởng lý, Phó Chưởng lý, Tham lý đảm nhiệm ở