Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại đồng bằng sông cửu long Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại đồng bằng sông cửu long Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại đồng bằng sông cửu long Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại đồng bằng sông cửu long Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại đồng bằng sông cửu long
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI
MÔ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 62340201
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI
MÔ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 62340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN PGS.TS PHAN ĐÌNH KHÔI
TS ĐẶNG THANH SƠN
Trang 3TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Luận án với tựa đề là “Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả
hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long”, do nghiên cứu sinh Đặng Thị Kim Phượng thực hiện theo sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Đình Khôi và TS Đặng Thanh Sơn Luận án đã được báo cáo và được Hội đồng chấm luận án thông qua ngày tháng năm 2022 Luận án đã được chỉnh sửa theo góp ý và được Hội đồng đánh giá luận án xem lại
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng với tên “Ảnh hưởng
của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của Quý Thầy Cô, các Nhà khoa
học, các bạn đồng môn; sự động viên của gia đình và cố gắng không ngừng của bản thân
Tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Phan Đình Khôi và TS Đặng Thanh Sơn đã rất tận tình hướng dẫn và trách nhiệm giúp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, học tập và hoàn thiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô Khoa Kinh Tế, cấp Lãnh đạo Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện; Quý Thầy Cô, các Nhà khoa học đã đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn đơn vị công tác, Quý đồng nghiệp, các bạn bè
đã động viên khích lệ tôi suốt trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận án, nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận án
Trang 5TÓM TẮT
Nhiều năm qua, các chương trình tín dụng vi mô được triển khai đồng loạt ở Đồng bằng sông Cửu Long, với mục đích xã hội là giúp người dân thoát nghèo Những khoản vay tuy nhỏ nhưng rất thuận tiện trong việc hoàn trả và bổ sung thêm vốn kinh doanh cho người vay vốn, đã góp một phần tăng thu nhập và giảm gánh nặng chi phí cuộc sống cho gia đình Đây chính là đặc trưng cơ bản của tín dụng vi mô, vừa mang tính hỗ trợ phát triển kinh tế vừa mang ý nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương và của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Thực tế cho thấy, hoạt động chương trình tín dụng vi mô đã góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế của quốc gia Tuy nhiên, ở vùng nông thôn vẫn còn nhiều người nghèo Đặc biệt, phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi về kinh
tế, điều này tác động rất lớn đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và thực hiện chiến lược bình đẳng giới của quốc gia Nhiều nghiên cứu cũng cho rằng, tín dụng
vi mô là điều kiện quan trọng để thoát khỏi nghèo đói và nâng cao mức sống Trên cơ
sở đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng Sông Cửu Long qua việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận, biến động thu nhập và trao quyền kinh tế cho phụ nữ tham gia chương trình tín dụng vi mô tại Đồng bằng sông Cửu Long
Cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng đều được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm tác động của chương trình tín dụng vi mô: thông tin là bảng khảo sát định lượng với cỡ mẫu là 600 quan sát (phụ nữ độ tuổi từ: 21 - 60, trong đó:
417 phụ nữ tham gia và 183 phụ nữ không tham gia chương trình trong các chương trình tín dụng vi mô (Ngân hàng chính sách xã hội và Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế)
Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ 7/13 tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Probit, phương pháp so sánh điểm
xu hướng (PSM) và ứng dụng Stata được áp dụng để đánh giá các tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ và trao quyền kinh tế cho phụ nữ Kết quả cho thấy khả năng tiếp cận nguồn vay chương trình tín dụng vi mô chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: vốn xã hội, tần suất vốn xã hội, tài sản, tuổi, việc làm và qui
mô hộ gia đình; Thêm vào đó, phụ nữ tham gia chương trình tín dụng vi mô có thu nhập hơn phụ nữ không tham gia chương trình tín dụng vi mô từ 4.620.000VND đến 4.878.000VND/năm Bên cạnh đó, tham gia chương trình tín dụng vi mô sẽ nhận được trao quyền kinh tế hơn với phụ nữ không tham gia chương trình ở khía cạnh quyền ra quyết định trong gia đình và nhận thức về pháp luật, hôn nhân bình đẳng Ngoài ra, Nghiên cứu khẳng định nâng cao vốn xã hội và vốn văn hóa của phụ nữ đã góp phần
Trang 6nâng cao ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long Công trình này là một căn cứ có giá trị góp phần đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ hiện nay tại Đồng bằng Sông Cửu Long
Từ khóa: Tín dụng vi mô, Tiếp cận, Thu nhập, Trao quyền kinh tế, Bình đẳng giới, Đồng
bằng sông Cửu Long
Trang 7ABSTRACT
Over the years, microcredit programs have been deployed simultaneously in the Mekong Delta, with the social purpose of helping people get out of poverty Although, small loans, they are very convenient in repaying and supplementing business capital for borrowers, they have contributed to increasing income and reducing the burden of living expenses for the family This is the characteristic of microcredit, both supporting economic development and bringing social meaning to the people, making an important contribution to the general socio-economic development of the locality and the Mekong River
In fact, microcredit program activities have contributed to poverty reduction and national economic development However, there are still many poor people in rural areas In particular, women still suffer many economic disadvantages, which greatly affects the goals of poverty reduction, economic development and the implementation
of the national gender equality strategy Many studies also say that microcredit is an important condition for getting out of poverty and improving living standards On that basis, this study was carried out to assess the influence of microcredit programs on economic performance of women in the Mekong Delta by identifying factors affecting their ability to perform well Accessibility, income volatility and economic empowerment for women participating in microcredit programs in the Mekong Delta
Both qualitative and quantitative research are used in empirical research on the impact of microcredit programs: the information is a quantitative survey with a sample size of 600 observations (women aged between 20 and 10): 21 - 60, in which: 417 women participate and 183 women do not participate in microcredit programs (Bank for Social Policy and Fund to support women in economic development) The data used for the study were collected from 7/13 provinces in the Mekong Delta The study used Probit regression method, propensity score comparison method (PSM) and Stata application were applied to assessing the impacts of microcredit programs on women's economic performance and women's economic empowerment The results show that access to microcredit is influenced by factors: social capital, frequency of social capital, assets, age, employment and household size; In addition, women participating in microcredit programs have higher incomes n women who do not participate in the microcredit program from 4,620,000VND to 4,878,000VND/year In addition, participating in the microcredit program will receive more economic empowerment than women not participating in the program in terms of decision-making power in the family and awareness of the law and marriage equality In addition, the study affirms that
Trang 8improving women's social and cultural capital has contributed to improving the influence of microcredit programs on women's economic performance in the Mekong Delta This process is a valuable basis to contribute to the assessment of the impact of the microcredit program on the economic performance of women today in the Mekong Delta
Keywords: Microcredit, Accessibility, Income, Women’s Economic Empowerment,
Gender Equality, Mekong Delta
Trang 10MỤC LỤC
Trang
TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
LỜI CAM ĐOAN vii
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG xi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 5
1.5.1 Ý nghĩa khoa học của luận án 5
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án 5
1.6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 7
2.1.2 Khái quát ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ 19
2.1.3 Các lý thuyết có liên quan 28
2.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô 31
Trang 112.2.2 Tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập 36
2.2.3 Tác động trao quyền cho phụ nữ trong tín dụng vi mô 40
2.2.4 Đánh giá các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan 42
2.2.5 Khoảng trống nghiên cứu 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 46
3.1.1 Khung nghiên cứu 46
3.1.2 Mô hình nghiên cứu 48
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 70
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 74
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 85
4.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 85
4.2 KẾT QUẢ ẢNH HƯỞNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 99
4.2.1 Các chương trình tín dụng vi mô trong nghiên cứu 99
4.2.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 102
4.2.3 Kiểm định hồi quy 105
4.2.4 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long 112
4.2.5 Kết quả phân tích tác động của chương trình tín dụng vi mô đến thu nhập của phụ nữ tại ĐBSCL 116
4.3.6 Kết quả tác động của chương trình tín dụng vi mô đến trao quyền kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL 119
4.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 124
Trang 124.3.1 Kết quả nghiên cứu 124
4.3.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 126
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 133
5.1 KẾT LUẬN 133
5.2 GIẢI PHÁP 134
5.2.1 Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long 134
5.2.2 Giải pháp nâng cao thu nhập của phụ nữ trong chương trình tín dụng vi mô tại Đồng bằng sông Cửu Long 136
5.2.3 Giải pháp nâng cao trao quyền kinh tế cho phụ nữ trong chương trình tín dụng vi mô tại Đồng bằng sông Cửu Long 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT VÀ PHÂN BỔ PHIẾU KHẢO SÁT 153 PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI THAM KHẢO Ý KIẾN CÁC CHUYÊN GIA 159
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH PHỎNG VẤN VÀ THAM KHẢO Ý KIẾN CỦA CÁC CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ TRỰC TIẾP CHO VAY CTTDVM 161
PHỤ LỤC 4: MÔ HÌNH PROBIT CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CTTDVM 163
PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH PROBIT, PSM TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐẾN THU NHẬP CỦA PHỤ NỮ ĐBSCL 174
PHỤ LỤC 6: MÔ HÌNH PROBIT, PSM TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TRAO QUYỀN KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ TRONG CTTDVM TẠI ĐBSCL 182
PHỤ LỤC 7: CÁC CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ TẠI NHCSXH 212
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Trang Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô
của phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long 53
Bảng 3.2: Biến nghiên cứu tác động của chương trình tín dụng vi mô đến thu nhập của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long 60
Bảng 4.1: Dư nợ tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019 89
Bảng 4.2: Doanh số cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019 .90
Bảng 4.3: Doanh số thu nợ của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019.92 Bảng 4.4: Tình hình hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân tại ĐBSCL 2017-2019 94
Bảng 4.5: Thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu 102
Bảng 4.6: Thống kê mô tả biến định lượng biên trong mô hình nghiên cứu 103
Bảng 4.7: Thống kê mô tả theo các chương trình tín dụng vi mô 104
Bảng 4.8: Kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu 105
Bảng 4.9: Tương quan giữa các biến trong mô hình 108
Bảng 4.10: Mức độ giải thích của mô hình nghiên cứu 109
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi của biến nghiên cứu 112
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy probit các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng mô của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long 112
Bảng 4.13: Đặc điểm phụ nữ tham gia chương trình tín dụng vi mô đến thu nhập tại Đồng bằng sông Cửu Long 117
Bảng 4.14: Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến thu nhập của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long 118
Bảng 4.15: Các chỉ số ảnh hưởng đến trao quyền kinh tế của phụ nữ trong chương trình tín dụng vi mô tại ĐBSCL 120
Bảng 4.16: Tác động của việc tham gia chương trình tín dụng 121 Bảng 4.17: Tác động của việc tham gia chương trình tín dụng vi mô đến trao quyền122
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Các yếu tố tác động và hệ quả 46
Hình 3.2: Khung nghiên cứu 47
Hình 3.1: Mô hình giả thuyết nghiên cứu 70
Hình 3.2: Các bước thiết kế hỗn hợp khám phá 71
Hình 3.3: Qui trình nghiên cứu 72
Hình 3.4: Nội dung nghiên cứu hỗn hợp khám phá 73
Hình 4.1: Bản đồ diện tích Đồng bằng sông Cửu Long 85
Hình 4.2: Dư nợ tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019 89
Hình 4.3: Doanh số cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019 .91
Hình 4.4: Doanh số cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 2017-2019 .93
Hình 4.5: Thực trạng vay vốn ở Ngân hàng chính sách xã hội tại ĐBSCL 94
Hình 4.6: Đường cong ROC mô hình nghiên cứu 110
Hình 4.7: Phân tích độ nhạy mô hình nghiên cứu 111
Trang 15DFID
Cơ quan phát triển quốc tế Anh Department for International Development ĐTN Đoàn thanh niên
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
KT - XH Kinh tế - xã hội NHNN Ngân hàng nhà nước NHHTX Ngân hàng hợp tác xã NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
PSM
Phương pháp so sánh điểm xu hướng Propensity Score Matching
QHTPN Quỹ hỗ trợ phụ nữ QTDND Qũy tín dụng nhân dân TDVM Tín dụng vi mô
TCVM Tài chính vi mô TDND Tín dụng nhân dân
ToC
Lý thuyết về sự thay đổi Theory of Change
Trang 16tố tự thân được khơi dậy và quyền kinh tế được đảm bảo Để phát huy vai trò và vị thế của phụ nữ thì bên cạnh sự nỗ lực của chính bản thân, phụ nữ rất cần được gia đình và
xã hội tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao sự hiểu biết, tiếp cận các thành tựu khoa học
và tích cực tham gia hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội Bên cạnh đó, chủ trương giảm nghèo bền vững đã trở thành chính sách nền tảng, xuyên suốt quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển nước ta trong thời gian gần đây Cùng với những chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, các chương trình tín dụng chính sách của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) và nhiều tổ chức tài chính vi mô đã tiến hành nhiều chương trình tín dụng vi mô (CTTDVM) triển khai trên toàn quốc, đã góp phần tạo sinh
kế, cải thiện thu nhập, nâng cao vị thế của phụ nữ và đặc biệt là trao quyền cho phụ nữ
để họ tham gia đầy đủ các lĩnh vực cũng như ở tất cả các cấp độ của hoạt động kinh tế Điều này đã được thực nghiệm qua các nghiên cứu của Zaman (1999), Benjamin & Joe (2000), Morduch (2002), Mathew (2006)
Tổ chức tài chính vi mô là một dạng doanh nghiệp xã hội đặc biệt với mục tiêu hoạt động là cung cấp các dịch vụ tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ (Luật tài chính tín dụng, 2010) Chương trình tín dụng vi mô là một phần của tài chính vi mô (Shinha, 1998) Chương trình tín dụng vi mô là hoạt động cho vay các khoản nhỏ, thời gian vay ngắn và được cung cấp bởi các tổ chức tài chính chính thức và bán chính thức (DERG, 2012) Tín dụng vi mô đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, công cuộc giảm nghèo đói và phát triển xã hội tại các nước đang phát triển (Krog, 2000) Tín dụng vi mô mở ra cơ hội mới cho người tiếp cận vốn (Yunus, 2007) cũng như cung cấp
cơ hội tạo ra năng lực sinh kế, tự làm chủ (Alhassan & Akudugu, 2012) Tín dụng vi
mô đặc biệt tập trung hướng vào đối tượng khách hàng là phụ nữ nông thôn, giúp họ
tự vươn lên, tạo ra giá trị tốt đẹp cho gia đình và xã hội (Mai Thị Anh Đào, 2016)
Trang 17Theo Niên giám Thống kê (2020), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích hơn 40.000km2, chiếm khoảng 12% tổng diện tích đất cả nước với 17,3 triệu người, không những đóng vai trò rất quan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội mà còn đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước Tuy nhiên xét trên bình diện chung, ĐBSCL là nơi có tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao Điều này, do phần lớn người dân sống phụ thuộc vào nông nghiệp là chính, một số nơi thiếu đất canh tác hoặc diện tích đất nhỏ (VDR, 2004) Hơn nữa, người nghèo thường không có điều kiện nắm bắt thông tin, chính sách, các ứng dụng mới trong hoạt động sản xuất và kinh doanh Theo
đó, khả năng mở rộng sản xuất cũng như cơ hội tiếp cận các gói tín dụng chính thức bị hạn chế (Poverty Task Force, 2003) Bên cạnh đó, phụ nữ vẫn bị ràng buộc của xã hội bởi quan điểm “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, điều này hạn chế khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ, để nâng cao thu nhập và nhận được quyền bình đẳng giới trong xã hội Điều đó, khiến cơ hội phát triển và sinh kế bền vững của người nông dân và hộ gia đình cũng như sự tự chủ về tài chính của phụ nữ bị trì hoãn
Ngoài ra, Throsby (1999) chỉ ra vốn văn hóa có giá trị cốt lõi trong bốn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế của quốc gia Tuy nhiên, nghiên cứu về vốn văn hóa còn khá khiêm tốn trong nghiên cứu về kinh tế - xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu này sử dụng khái niệm vốn văn hóa trong hoạt động đánh giá trao quyền kinh tế của phụ nữ khi tham gia chương trình tín dụng vi mô Khái niệm vốn văn hóa không đồng nhất khái niệm nền văn hóa, mà khái niệm vốn văn hóa ở đây đề cập đến những yếu tố văn hóa có khả năng luân chuyển Sự luân chuyển này có giá trị trao đổi và tạo ra lợi ích Được thể hiện cụ thể qua một số các hoạt động nhằm phát huy vai trò của phụ nữ như: đảm bảo quyền được mua sắm, quyền được tham gia sản xuất - kinh doanh, quyền quyết định trong gia đình, quyền được bình đẳng giới, tham gia sinh hoạt đoàn thể, công tác xã hội và các hoạt động chính trị, văn hóa
Xuất phát từ thực tế nêu trên, đề tài “Ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi
mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long” được
lựa chọn nghiên cứu Dựa vào thông tin khảo sát, kết quả phân tích được kỳ vọng chỉ
ra được ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ, vai trò của vốn văn hóa trong trao quyền kinh tế cho phụ nữ Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích, bằng chứng thuyết phục cho nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nhóm người yếu thế trong xã hội và góp phần thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới tại ĐBSCL giai đoạn 2021-2030
Trang 181.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận án là đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi
mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL thông qua chỉ tiêu thu nhập và trao quyền kinh tế phụ nữ, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của phụ nữ và hiệu quả chương trình tín dụng vi mô, hướng tới thực hiện trao quyền kinh tế, vì mục tiêu bình đẳng giới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung như đã nêu trên, luận án có 4 mục tiêu cụ thể cần giải quyết như sau:
- Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng chương trình tín dụng vi mô tại ĐBSCL
- Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ tại ĐBSCL
- Mục tiêu 3: Phân tích ảnh hưởng của tín dụng vi mô đến thu nhập và trao quyền kinh tế của phụ nữ tham gia chương trình
- Mục tiêu 4: Hàm ý giải pháp để nâng cao kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ qua thu nhập của phụ nữ và trao quyền kinh tế, vì mục tiêu bình đẳng giới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Câu hỏi 1: Thực trạng hoạt động của chương trình tín dụng vi mô tại ĐBSCL như thế nào?
- Câu hỏi 2: Khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ tại ĐBSCL chịu ảnh hưởng những yếu tố nào? Khi tham gia chương trình tín dụng vi mô, thu nhập của phụ nữ biến động ra sao? Có sự khác biệt nào về thu nhập giữa phụ nữ tham gia và phụ nữ không tham gia chương trình tín dụng vi mô?
- Câu hỏi 3: Chương trình tín dụng vi mô có tác động đến trao quyền kinh tế cho phụ nữ tại ĐBSCL?
- Câu hỏi 4: Những giải pháp nào có thể giúp phụ nữ nâng cao thu nhập một cách bền vững? Cho vay vốn có phải là cách để tăng thu nhập cho phụ nữ?
Trang 191.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận án là hoạt động chương trình tín dụng vi mô tại ĐBSCL; Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô, thu nhập và trao quyền kinh tế cho phụ nữ trong chương trình tín dụng vi mô ĐBSCL Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là phụ nữ có và không tham gia chương trình tín dụng vi mô Trong đó, đối tượng khảo sát thỏa mãn điều kiện là: (i) thành viên của Hội liên hiệp phụ nữ; (ii) có nhu cầu vay vốn tại Đồng bằng sông Cửu Long Có 13 chương trình được triển khai trong giai đoạn 2019 – 2020 Các chương trình này được xem là chương trình tín dụng vi mô Danh sách hội viên phụ nữ có vay vốn được thu thấp ở Ngân hàng chính sách xã hội và Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và danh sách hội viên phụ nữ không vay vốn được thu thập ở hội phụ nữ ở mỗi địa phương có khảo sát
Địa bàn nghiên cứu được xác định dựa vào ý kiến của các cán bộ quản lý và trực tiếp tham gia cho vay vốn ở địa phương Có 7 trong 13 tỉnh thành ở ĐBSCL bao gồm Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang, Trà Vinh, và Bến Tre được chọn để khảo sát
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Với mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án giới hạn nghiên cứu ở 7
trong 13 tỉnh ĐBSCL Thông tin khảo sát được thu thập bằng bảng hỏi và được khảo sát
ý kiến của các cán bộ quản lý và trực tiếp tham gia cho vay vốn ở địa phương để chọn lựa địa bàn khảo sát Sau khi được tư vấn, tác giả chọn địa bàn khảo sát là thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre
Về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2020
- Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từng tháng 03/2019 đến tháng 3/2020
Phạm vi nội dung: (i) Phân tích thực trạng chương trình tín dụng vi mô tại ĐBSCL
và ảnh hưởng của tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL: biến động thu nhập và nâng cao vị thế - thông qua khác biệt về thu nhập và tăng quyền năng kinh tế đối với những phụ nữ tham gia chương trình so với những người không tham gia chương trình; (ii) Xem xét các yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ; (iii) Tác động của chương trình tín dụng vi mô đến trao quyền cho phụ nữ (phạm vi trong gia đình, tiến tới ngoài xã hội) để từ đó thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới
Trang 201.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Thứ nhất, phân tích ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL có ý nghĩa khoa học, có tính thực tiễn và tính ứng dụng cao Vì luận án đã khai thác những vấn đề lý luận liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận, tác động tích cực của chương trình tín dụng vi mô đến thu nhập và trao quyền kinh tế cho phụ nữ
Thứ hai, luận án đã hệ thống các nghiên cứu có liên quan về phân tích ảnh hưởng chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL, là tài liệu tham khảo có giá trị và cơ sở cho các hướng nghiên cứu khác tiếp theo trong lĩnh vực tài chính – tín dụng
Thứ ba, cung cấp các thông tin tham khảo đáng tin cậy, có giá trị cho những người làm chính sách trong quá trình ra quyết định Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình tín dụng vi mô và hiệu quả kinh tế của nhóm người yếu thế trong xã hội
là phụ nữ, hướng đến thúc đẩy bình đẳng giới cho phụ nữ
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Thứ nhất, mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL Từ kết quả nghiên cứu cho thấy đề tài của luận án có tính thực tiễn cao, trong tình hình cả nước đang thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025
Thứ hai, xác định ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại Đồng bằng sông Cửu Long thông qua: (i) khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô (xem xét các yếu tố ảnh hưởng: độ tuổi, việc làm, tài sản, tần suất vốn xã hội, qui mô hộ gia đình, số người phụ thuộc); (ii) biến động thu nhập (tăng hoặc giảm) của phụ nữ ở ĐBSCL qua chương trình tín dụng vi mô; (iii) tăng trưởng: cơ hội tạo thu nhập và sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động chính thức từ đó trao quyền kinh tế cho phụ nữ để thúc đẩy bình đẳng giới
Thứ ba, nghiên cứu bổ sung vốn văn hóa - một vấn đề quan trọng nhưng chưa được
đề cập đúng vai trò trong tăng quyền năng kinh tế cho phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới
Thứ tư, kết quả nghiên cứu có thể trở thành bằng chứng thực nghiệm có ý nghĩa đối với chương trình tín dụng vi mô tại Đồng bằng sông Cửu Long và cung cấp bằng chứng thuyết phục về đóng góp tích cực của phụ nữ trong các chương trình tín dụng vi
mô, trong chiến lược giảm nghèo bền vững tại ĐBSCL
Trang 211.6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án được cấu trúc gồm có 5 chương Chương 1 giới thiệu tính cấp thiết, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được, chỉ ra ý nghĩa nghiên cứu và những điểm mới cũng như hạn chế của luận án Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu, mô tả thực trạng của vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam và ở ĐBSCL Trong đó, các nội dung tập trung hệ thống hóa các lý thuyết; lược khảo các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án
đã được công bố trong và ngoài nước; phân tích đánh giá các công rình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đề đề tài luận án, xác định mục tiêu của đề tài, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà đề tài luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, bao gồm cơ sở lý luận, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương
4 trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận Nội dung tập trung vào khả năng tiếp cận, thu nhập và trao quyền kinh tế của phụ nữ tham gia chương trình tín dụng vi mô Chương
5 kết luận, đề xuất giải pháp và hàm ý giải pháp: kết quả nghiên cứu là lời đáp cho các câu hỏi đặt ra trong đề tài Từ đó, các hàm ý giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ tại ĐBSCL thông qua chương trình tín dụng vi mô
Từ kết quả đạt được, nêu hạn chế và những vấn đề cần mở rộng ở nghiên cứu tiếp theo
để phát triển, hoàn thiện lĩnh vực mà nghiên cứu quan tâm đến một cách đầy đủ hơn
Trang 22vi mô là việc cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, dịch vụ chuyển tiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp thông qua một cơ chế thích hợp, giúp cho họ có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp để tăng thêm thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống” Khái niệm tài chính vi mô được xem là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhâp thấp trong xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu
tư (Ledgerwood, 2013)
Khái niệm tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam được Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 định nghĩa “tổ chức tài chính vi mô” là Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức
tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các
cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ (Theo khoản 5 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng) Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 6 Luật này còn quy định: “Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn” Như vậy, tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng, được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Tuy nhiên, không được gọi tên
là công ty, mà được gọi “Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn”
Hiện nay, nhiều tổ chức tài chính vi mô hoạt động rất giống với các ngân hàng thương mại Các tổ chức này được bắt đầu với vốn chủ sở hữu Tuy nhiên sẽ có những điểm khác biệt cơ bản về hai loại hình tổ chức tín dụng này
Thứ nhất, về hoạt động: Ngân hàng thương mại truyền thống là một ngân hàng bao gồm các dịch vụ tài chính từ tiết kiệm đến các khoản vay, bảo hiểm và lương hưu Còn các tổ chức tài chính vi mô thường là các tổ chức tài chính chỉ được phép cho vay Các tổ chức tài chính lớn hơn sẽ có thêm dịch vụ gửi tiền hàng tháng và có lãi suất cao
Trang 23Thứ hai, về nhà tài trợ: Các nhà tài trợ của Ngân hàng thương mại được thực hiện thông quan chào bán công khai trên thị trường chứng khoán dưới dạng vốn chủ sở hữu Còn các tổ chức tài chính vi mô thường nhận tài trợ từ các cá nhân, chủ sở hữu cổ phần
tư nhân dưới dạng nợ
Thứ ba, về mức độ rủi ro: Các Ngân hàng thương mại có nguồn vốn tương đối
dễ dàng và tham gia vào các dịch vụ tài chính với các hộ gia đình có thu nhập tương đối tốt Điều này hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại tính lãi suất thấp hơn các khoản vay
vì rủi ro thấp Còn tổ chức tài chính vi mô thường tính lãi suất cao vì việc tài trợ của tổ chức tài chính vi mô không dễ dàng và thu hồi vốn từ người vay tương đối khó khăn vì rủi ro đối với khoản vay không thế chấp cao hơn
2.1.1.2 Tín dụng vi mô
Ledgerwood (1999) và Chowdhury (2000) cho rằng tín dụng vi mô là các khoản vay nhỏ Tương tự, (Abhijit et al., 2015) cho rằng tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay nhỏ phục vụ cho các mục đích kinh doanh, sản xuất, các hoạt động tạo ra thu nhập và tạo dựng giá trị tài sản Gần đây, thuật ngữ “vi mô” được xem số tiền cho vay tương đối nhỏ và tín dụng vi mô là các khoản vốn nhỏ mà các cá nhân có thu nhập thấp
bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống vay được (Microworld, 2018) Tài chính vi mô là hoạt động bao gồm cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính
cơ bản khác cho người nghèo và những người không có khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bởi các rào cản về tài sản thế chấp với các khoản vay nhỏ, giúp họ tự tạo việc làm và tạo ra thu nhập (Mohanan, 2005) Do đó, có thể hiểu tín dụng
vi mô là một phần của tài chính vi mô
Trước đây, tín dụng vi mô tập trung vào đối tượng khách hàng là người nghèo Nhưng hiện nay, do tỷ lệ nghèo đã giảm xuống đáng kể từ khi chương trình tín dụng vi
mô được triển khai đồng loạt trên cả nước, nên đối tượng tín dụng vi mô hiện nay tập trung đến đối tượng khách hàng yếu thế trong xã hội là phụ nữ khu ở các vực nông thôn,
vì phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn vay từ các định chế tài chính Khả năng tiếp cận của phụ nữ bị hạn chế bởi vướng các rào cản về tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, rườm rà, tốn nhiều thời gian Tín dụng vi mô tạo ra năng lực sinh kế và phát huy khả năng tự làm chủ kinh tế của khách hàng vay vốn (Mohanan, 2005; Alhassan
& Akudugu, 2012) Ngoài ra, tín dụng vi mô có sức mạnh nâng cao năng lực sản xuất cho những ai được tiếp cận, mở ra cơ hội mới để có thể tạo dựng các dự án kinh doanh, sản xuất, các hoạt động lao động và việc làm góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống (Yunus, 2007) Vì vậy, tín dụng vi mô được xem là một công cụ chiến lược để trao quyền cho người dễ bị tổn thương là người phụ nữ
Trang 24Thật vậy, tín dụng vi mô đã đóng góp đáng kể trong tạo việc làm, giải phóng con người khỏi đói nghèo và phát triển kinh tế văn hóa xã hội Theo Brown (2010), tín dụng
vi mô mang lại cơ hội cho mọi người - nhất là những người không thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính nào khác, giúp họ tạo nguồn thu nhập từ việc tạo dựng hoạt động kinh doanh hoặc theo đuổi một công việc cụ thể nào đó Tín dụng vi mô chú trọng đến các hoạt động phi tài chính là chủ yếu, tập trung phát huy nội lực của bản thân khách hàng vay vốn, phát huy các kỹ năng tự lực tạo ra các giá trị tài sản, tập trung hỗ trợ môi trường thuận lợi để người nghèo có thể phát huy giá trị nội lực của bản thân hơn là cung cấp sản phẩm tài chính sẵn có Tính hấp dẫn của kênh tín dụng này cung cấp cho khách hàng khả năng vượt qua những khó khăn, trở ngại để tự làm chủ bản thân mình Mục đích của tín dụng vi mô là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các đối tượng trên tìm kế sinh nhai; tham gia vào các hoạt động sản xuất, khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ, nhằm cải thiện cuộc sống Tín dụng vi mô là hoạt động tín dụng đặc biệt (Trần Công Dũ, 2021) vì vậy các chương trình tín dụng vi mô có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tín dụng vi mô hoạt động phục vụ đối tượng người nghèo Bởi vì, người nghèo là đối tượng khó có thể tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản, do phần lớn họ
có trình độ văn hoá thấp, không đáp ứng đủ điều kiện đảm bảo cho món tiền vay Tín dụng vi mô sẽ giúp họ khắc phục được những khó khăn này và tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng
Thứ hai, tín dụng vi mô cung cấp các món vay với số tiền vừa và nhỏ Các khoản vay của chương trình tín dụng vi mô được xác định phù hợp với khả năng sử dụng vốn
và khả năng thanh toán của người vay Những món vay này đảm bảo cho người vay có thể tái tạo, mở rộng, bổ sung hoạt động kinh tế của mình
Thứ ba, điều kiện đảm bảo tín dụng và thủ tục vay đơn giản: hoạt động tín dụng vi
mô không yêu cầu người vay có tài sản thế chấp, tuy nhiên, người vay phải tuân thủ một
số quy định bắt buộc như việc sử dụng vốn, trách nhiệm trả nợ của cá nhân, hộ gia đình, trách nhiệm của mỗi thành viên nếu vay theo tổ, nhóm
Thứ tư, lãi suất cho vay thấp: với mục tiêu hỗ trợ người nghèo nên lãi suất cho vay trong tín dụng vi mô thấp Mức lãi suất này chỉ có ý nghĩa duy trì hệ thống tổ chức tín dụng và nâng cao tinh thần trách nhiệm của người vay vốn
Thứ năm, đối tượng vay là người nghèo, trình độ thấp nên thủ tục cho vay đơn giản Thông thường thủ tục cho vay vốn gồm: mẫu đơn xin vay in sẵn; xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đoàn thể, bản sao các giấy tờ tùy thân
Tóm lại, tín dụng vi mô là công cụ quan trọng để giúp phụ nữ tạo năng lực kinh tế, năng lực sản xuất góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống phụ nữ và gia đình
Trang 252.1.1.3 Kết quả hoạt động kinh tế
Hoạt động kinh tế là hoạt động hoặc quá trình sử dụng nguồn lực (máy móc, thiết
bị, nhà xưởng, lao động, nguyên vật liệu, vốn vay…) của xã hội nhằm tạo ra các sản
động kinh tế là các vấn đề liên quan đến sản xuất, trao đổi dịch vụ và sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của cá nhân Mỗi hoạt động kinh tế được phát triển theo ba giai đoạn: tạo
ra dịch vụ hoặc sản phẩm, phân phối và tiêu dùng được thể hiện ở mặt giá trị tiền tệ Kết thúc toàn bộ quá trình hoạt động kinh tế tạo ra lợi ích, đó còn được gọi là kết quả hoạt động kinh tế
Lợi ích là sự thỏa mãn nhu cầu của con người, mà sự thỏa mãn nhu cầu này phải được nhận nhận thức và đặt trong mối quan hệ xã hội ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội đó Trong mỗi điều kiện lịch sử, tùy hoàn cảnh mà vai trò quyết định đối với hoạt động con người là lợi ích vật chất hay lợi ích tinh thần Nhưng xuyên suốt quá trình tồn tại của con người và đời sống xã hội thì lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, tổ chức cũng như xã hội
Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người Gắn với các chủ thể kinh tế khác nhau thì lợi ích kinh tế khác nhau: lợi ích kinh tế của chủ doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi ích kinh tế của cá nhân, người lao động là thu nhập Trong ngắn hạn, mỗi cá nhân trong các mối quan hệ xã hội tổng hợp gắn không phải luôn đặt mục tiêu lợi ích vật chất lên hàng đầu Song, về lâu dài, đã tham gia vào hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là lợi ích quyết định Nếu không thấy được vai trò của lợi ích kinh tế sẽ làm giảm động lực hoạt động của các cá nhân Phương thức thực hiện các lợi ích kinh tế là cơ chế thị trường và sự can thiệp, điều tiết của nhà nước (C Mác – Ph Ănghen, 1995)
2.1.1.4 Thu nhập
Thu nhập của cá nhân: được chia thành hai khoản thu nhập thường xuyên và thu nhập tức thời (Friedman, 1982) Nhà kinh tế học cổ điển người pháp - Jean Baptiste Say khẳng định: lao động, tư sản và tự nhiên (đất đai) là ba nhân tố tạo nên giá trị, mỗi nhân
tố chỉ đưa lại một giá trị (lợi ích) nhất định Và, đã chỉ ra rằng đầu tư thêm tư bản vào sản xuất sẽ làm tăng thêm sản phẩm phù hợp với phần tăng thêm về giá trị; máy móc tham gia vào quá trình sản xuất sẽ góp phần tăng giá trị của ba nhân tố trên, tạo ra cho các chủ sở hữu của nó những nguồn thu nhập riêng biệt - lao động tạo ra tiền lương, đất đai tạo ra địa tô, tư bản tạo ra lợi tức Cũng như những người lao động, thu nhập của nhà
tư bản kinh doanh cũng là tiền lương nhưng đó là loại tiền lương đặc biệt, là phần thưởng đặc biệt cho năng lực kinh doanh và tinh thần làm việc
Trang 26Thu nhập của một hộ gia đình (gọi là hộ): là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định (Lê Khương Ninh, 2016) Nó bao gồm thu nhập từ: tiền công, tiền lương; từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí
và thuế sản xuất); nguồn thu khác được tính vào thu nhập như lãi tiết kiệm, quà biếu Theo Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009; thu nhập của cá nhân là tất cả các khoản thu nhập của một cá nhân nhận được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác Thu nhập là tổng hợp của tất cả các thu nhập thực nhận bởi tất cả các cá nhân Cụ thể, các khoản thu nhập cá nhân gồm:
Thứ nhất, thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Thứ hai, thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công
Các khoản phụ cấp, trợ cấp Thứ ba, tiền thù lao Đây là khoản tiền công bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra để thực hiện một công việc, căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc theo thời gian lao động hoặc theo thỏa thuận giữa các bên Về nguyên tắc, thù lao chỉ được trả khi công việc đã hoàn thành
Thứ tư, tiền nhận được từ việc tham gia các tổ chức, hiệp hội Thứ năm, các khoản lợi ích khác nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền mặt Thứ sáu, tiền thưởng Đây là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động
Thứ bảy, thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
Tiền lãi cho vay
Lợi tức cổ phần
Thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ lãi trái phiếu
Trang 27Thứ tám, thu nhập từ chuyển nhượng vốn Đây là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn của doanh nghiệp đã đầu tư cho một hoặc nhiều
tổ chức, cá nhân khác
Thứ chín, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản bao gồm thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất; thu nhập từ cho thuê lại đất của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai không phân biệt có hay không có kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc gắn liền với đất; thu nhập
từ chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó không phân biệt có hay không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất; thu nhập từ chuyển nhượng các tài sản khác gắn liền với đất đai
Thứ mười, thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
Trúng thưởng xổ số
Trúng thưởng do khuyến mại
Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino
Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng Thứ mười một, các khoản thu nhập khác như thu nhập từ bản quyền, từ thừa kế,
từ nhận quà tặng, từ kiều hối, từ làm thêm giờ, làm đêm, từ tiền lương hưu, từ học bổng,
2.1.1.5 Trao quyền kinh tế
Trao quyền là một vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế Theo Alsop (2006), trao quyền được xây dựng theo phương pháp xã hội học về phân tích quyền lực Trong
đó “trao quyền được định nghĩa là quá trình tăng cường năng lực của một cá nhân hoặc một nhóm người để thực hiện những lựa chọn có chủ đích và chuyển đổi những lựa chọn
đó thành những hành động và kết quả mong muốn Và vai trò của trao quyền được xem
là một động lực của tăng trưởng, là công cụ mạnh mẽ trong quá trình phát triển”
Trang 28Cũng theo tác giả này, điều kiện tiên quyết của trao quyền là một cơ hội cho phép
người ta chuyển đổi cơ sở tài sản của mình thành thực lực hữu hiệu thông qua các luật
lệ công bằng hơn và những quyền rộng hơn Ví dụ: các tài sản các cá nhân có thể được cải thiện thông qua việc hoàn thành các chương trình giáo dục trung học, đồng thời các
cơ hội mới cho cá nhân tham gia vào phân bổ ngân sách, có thể được mở ra thông qua
việc thể chế hóa các quy trình lập kế hoạch ngân sách cấp ở địa phương Biện pháp quan trọng để đo lường hay theo dõi sự trao quyền: (i) Liệu cơ hội để lựa chọn có tồn tại hay
không; (ii) Liệu một người hoặc một nhóm người có thực sự sử dụng cơ hội để chọn lựa hay không; (iii) Liệu sự lựa chọn có đem đến kết quả mong muốn hay không Theo
Alsop (2006), ba lĩnh vực trao quyền: (i) Nhà nước - trong đó người hành động là một công dân; (ii) Thị trường, trong đó một người là một hoạt động kinh tế; (iii) Xã hội,
trong đó một người là một hoạt động xã hội Ba lĩnh vực này lại được chia thành 8 tiểu
lĩnh vực: (i) Nhà nước: tư pháp, chính trị và thực hiện dịch vụ công; (ii) Thị trường: lao
động, hàng hóa, dịch vụ tư nhân (cho cả sản xuất và tiêu dùng); (iii) Xã hội: trong hộ gia đình và trong cộng đồng
Stern, et al (2005) cho rằng trao quyền là động lực của tăng trưởng Tương tự, Sen (1997) lập luận rằng tăng năng lực sẽ tạo ra năng suất về khía cạnh kinh tế và thay đổi
về mặt xã hội, giảm bất bình đẳng giới bên trong hộ gia đình với tỷ lệ sinh giảm Tuy nhiên, trước khi trở thành công cụ mạnh mẽ trong quá trình phát triển, đặc biệt là ở cấp chính sách thì giả thuyết rằng, trao quyền là cách thức hương tới quản trị tốt hơn và giảm
nghèo phải được chứng minh bằng thực nghiệm - đây cũng là điểm được luận án này
lưu ý
Trao quyền kinh tế cho phụ nữ được hiểu là xóa bỏ những rào cản về giới đối với việc tham gia vào nền kinh tế đi kèm những chính sách cải cách cần thiết để hỗ trợ và tạo điều kiện để có nhiều phụ nữ an toàn hơn về mặt kinh tế, có tiền tiết kiệm và cải thiện tiếp cận với tư liệu sản xuất Kabeer (2001b) đã định nghĩa trao quyền cho phụ nữ
là quá trình mà những người phụ nữ trước đây bị tước mất khả năng sinh kế (nơi sinh sống, kết hôn, có con) đưa ra các chiến lược trong cuộc sống để có được khả năng đó Tương tự, Cheston & Kuhn (2002, p12) cho rằng trao quyền là quá trình mà các cá nhân không có quyền lực, sự thay đổi, sự lựa chọn đưa ra các sự lựa chọn có ảnh hưởng đến cuộc sống của để có sự thay đổi và quyền lực Mối quan hệ giữa tín dụng vi mô với trao quyền kinh tế của phụ nữ được thể hiện ở cấp độ cá nhân trong hộ gia đình và được biểu hiện sự cải thiện kinh tế dưới hình thức thu nhập Việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ cho phép người phụ nữ đóng góp kinh tế cho gia đình, dẫn đến tăng quyền lực trong quá trình ra quyết định trong gia đình cũng như có được sự kiểm soát tốt hơn các nguồn lực của gia đình như thu nhập và tài sản Ngoài việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ, các chương trình tín dụng vi mô còn cung cấp cho phụ nữ khả năng tiếp các nguồn lực như
Trang 29kiến thức, kỹ năng, thông tin trong xã hội (Malhotra et al 2002; Gaiha & Thapa, 2006; Ansoglenang, 2006) Theo Quỹ phát triển phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (UN Women, 2015) có 7 nguyên tắc trao quyền cho phụ nữ, gồm: Lãnh đạo thúc đẩy bình đẳng giới; Bình đẳng cơ hội, đảm bảo sự tham gia và không phân biệt, đối xử; Sức khỏe, an toàn
và không bạo lực; Giáo dục và đào tạo; Các hoạt động phát triển doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và marketing; Sự tham gia và lãnh đạo của cộng đồng; Minh bạch, đánh giá
và báo cáo
2.1.1.6 Bình đẳng giới
Đặc trưng cơ bản nhất của giới là do dạy và học mà có Vì vậy, những đặc trưng
về giới mang tính xã hội, do xã hội quy định “Giới tính là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi cho nam và nữ nhìn từ góc độ xã hội; giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể trong xã hội” (Trần Thị Kim Xuyến, 2002)
Bình đẳng giới được hiểu là phụ nữ và nam giới có vị trí và cơ hội như nhau để làm việc và phát triển Nhưng thực tế đời sống, sự bất bình đẳng thường xảy ra đối với phụ nữ, cho nên bình đẳng giới xem như gắn với việc đòi quyền lợi cho phụ nữ Thực
ra, bình đẳng giới không có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ, mà là đấu tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới và là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bình đẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực Trong đó, nam giới và nữ giới được bình đẳng với nhau về: (1) Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng; (2) Các cơ hội được tham gia đóng góp và hưởng lợi từ các nguồn lực xã hội
và quá trình phát triển; (3) Quyền tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; (4) Được hưởng thành quả bình đẳng trong một lĩnh vực của xã hội
2.1.1.7 Sinh kế, sinh kế bền vững và khung sinh kế bền vững
* Sinh kế
Ở các nước đang phát triển, vấn đề cốt lõi của cộng đồng để cải thiện đời sống người dân là sinh kế Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (Department for International Development - DFID) khái niệm sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sinh sống cho con người”; Chambers,
R & Conway, G (1983), cũng cho rằng: “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sinh sống của con người”
* Sinh kế bền vững Sinh kế bền vững được hiểu là tổng thể các điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người, kinh tế, xã hội, chính sách, thông tin để cộng đồng sinh tồn và phát triển nhằm hướng
Trang 30tới phát triển ổn định và bền vững Chambers và Conway (1983) cho rằng, một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người (lấy con người làm trung tâm) để từ đó phát triển sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của con người
Carney (1998) khẳng định rằng sinh kế trở nên bền vững khi sinh kế ứng phó được các tác động ngắn hạn và thích nghi được các ảnh hưởng dài hạn hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai, mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, nguồn sinh kế Trong đó, tác động ngắn hạn là quá trình xảy ra nhanh có thể do các yếu tố xã hội (tai nạn, biến động giá cả, dịch bệnh) hay
tự nhiên (sóng thần, lũ, bão, nắng, nóng, sâu bệnh) tác động bất ngờ ảnh hưởng đến sinh
kế bền vững; tác động dài hạn của sinh kế thường xảy ra rất chậm cũng có thể do yếu tố
tự nhiên (hạn hán, biến đổi khí hậu, lũ chậm) hoặc xã hội gây ra (khủng hoảng kinh tế
và những tác động của nó), tác động dài hạn thường ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sinh kế bền vững của con người trong quá trình tồn tại và phát triển
* Khung sinh kế bền vững
Theo một số nhà nghiên cứu, khung sinh kế bền vững là “một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau” Qua phân tích nhiều mô hình sinh kế, các nhà nghiên cứu đưa ra một khung sinh kế bền vững thống nhất Sau
đó, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh đã tổng hợp và đưa ra khung sinh kế bền vững (DFID) vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX Khung sinh kế của DFID đã được các nhà nghiên cứu trong tổ chức này mở rộng, phát triển và trở thành cơ sở lý luận trong các nghiên cứu về vấn đề này Nội dung chủ đạo của khung sinh kế bền vững
là lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm để phân tích Khung sinh kế bền vững đặt con người ở trung tâm của sự phát triển và đề cập đến các thành tố hợp thành sinh
kế của con người như các ưu tiên và chiến lược, định hướng, giải pháp mà họ lựa chọn
để thực hiện các ưu tiên của mình; các chính sách ảnh hưởng đến cách mà họ tiếp cận, khả năng sử dụng các loại vốn và môi trường sống của họ
Trong phân tích khung sinh kế bền vững, vốn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sinh kế bền vững của con người nên đã được tập trung nghiên cứu Vốn chủ yếu là năm loại, gồm có vốn tài chính (nguồn lực tài chính để sử dụng), vốn vật chất (hàng hóa, cơ sở hạ tầng), vốn con người (kỹ năng làm việc, tri thức, sức khỏe), vốn xã hội (nhóm thành viên, quan hệ xã hội, niềm tin, mạng lưới) và vốn tự nhiên (rừng, nước, đất đai, nguyên liệu) Trong tiếp cận sinh kế bền vững với tư duy xóa đói giảm nghèo
và người dễ bị tổn thương, thì vốn tài chính là biến số quan trọng trong các nguồn vốn trong khung sinh kế trên Vốn tài chính gồm tiền tiết kiệm, các khoản tín dụng và vay
Trang 31nợ, các khoản tiền chuyển về, lương hưu và lương định kỳ Nguồn vốn tài chính có thể được cải thiện đáng kể qua việc vay vốn và vốn tài chính này có thể cải thiện các loại vốn còn lại trong sinh kế hộ gia đình
Hiện nay, những nghiên cứu về sinh kế bền vững ở Việt Nam đang tập trung vào việc tranh luận về năm loại vốn này và vai trò của nó trong phát triển sinh kế bền vững Tuy nhiên, vốn văn hóa - một vấn đề quan trọng nhưng chưa được đề cập đúng vai trò hay chưa nhấn mạnh trong khung sinh kế bền vững trên Do đó, đây là nội dung rất cần được nghiên cứu bổ sung và phát triển để hoàn thiện thêm quan niệm về sinh kế bền vững
2.1.1.8 Vốn văn hóa
Khái niệm vốn văn hóa (Cultural Capital) được nhà xã hội học nổi tiếng Pháp - Pierre Bourdieu sử dụng từ những năm 1960 trong quá trình nghiên cứu về xã hội học giáo dục Đến năm 1986, khái niệm vốn văn hóa và vốn xã hội được Bourdieu trình bày
có hệ thống hơn; trong đó, vốn văn hóa được xem là hệ thống các thành tố văn hóa có thể luân chuyển và tạo ra những giá trị trao đổi trong quá trình phát triển, là một hình thức “tư bản văn hóa” Theo đó, vốn văn hóa tồn tại dưới ba hình thức chủ yếu là: (i) Trạng thái thể hiện: là tiềm lực văn hóa của con người và năng lực vận dụng các yếu tố văn hóa để tạo ra giá trị trong quá trình phát triển Vốn văn hóa ở trạng thái biểu hiện còn là hệ thống yếu tố văn hóa biểu hiện thông qua yếu tố con người
(ii) Trạng thái khách quan: là hệ thống các yếu tố văn hóa ở dạng tồn tại hữu hình,
là những hình thức vật chất của vốn văn hóa như sách vở, công cụ, nhà cửa, trang thiết
bị, máy móc hay cả những sản phẩm trí tuệ, tinh thần cũng là vốn văn hóa ở trạng thái khách quan Vốn văn hóa ở trạng thái khách quan có thể là sản phẩm của cá nhân hay cộng đồng được xuất hiện dưới dạng hữu hình và có thể sử dụng để trao đổi, luân chuyển nhằm tạo ra giá trị
(iii) Trạng thái thể chế: là những yếu tố văn hóa tổ chức thành các khuôn mẫu, định hình cho sự tồn tại và hoạt động của các yếu tố văn hóa dựa trên những khuôn mẫu đó (Bourdieu, 1986)
Trong ba trạng thái này, Bourdieu nhấn mạnh vai trò của vốn văn hóa ở trạng thái thể hiện, tuy nhiên, ông cũng xác định rõ: “hầu hết các thuộc tính của vốn văn hóa có thể được rút ra từ thực tế, ở trạng thái cơ bản của nó, nó được liên kết với chủ thể văn hóa và phỏng đoán” (Bourdieu, 1986, p 244) Vốn văn hóa ở trạng thái thể chế là hệ thống các nguyên tắc, thể chế quy định tổ chức và hoạt động của các yếu tố văn hóa khác Đó cũng là những giá trị chuẩn mực được xã hội, cộng đồng chấp nhận và tuân thủ
Trang 32Khái niệm vốn văn hóa trong nghiên cứu của Bourdieu là một khái niệm trừu tượng nên nhiều khi dễ hiểu nhầm và đồng nhất với khái niệm văn hóa hay nền văn hóa Nhưng dựa trên ba hình thức tồn tại của vốn văn hóa mà Bourdieu đã phân tích ở trên, có thể nhìn nhận vốn văn hóa là một hệ thống các yếu tố văn hóa tồn tại khách quan hoặc thể hiện qua con người và những thể chế, khuôn mẫu quy định hay tác động đến sự tồn tại
và vận động của các yếu tố văn hóa đó, và có khả năng luân chuyển, trao đổi để tạo ra những giá trị trong quá trình phát triển Bourdieu đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị luân chuyển, trao đổi của vốn với tư cách là “tư bản” (capital) chứ không đơn giản là “nguồn”
(source) Vốn văn hóa không chỉ tất cả các yếu tố văn hóa mà đề cập đến những yếu tố
văn hóa có khả năng luân chuyển, có giá trị trao đổi và tạo ra lợi ích trong quá trình luân chuyển, trao đổi đó Trong quá trình tìm một khái niệm lý thuyết để tiếp cận về sự
phân tầng và sự bất bình đẳng trong giáo dục, Bourdieu đã sử dụng khái niệm vốn văn hóa để giải thích cho tình trạng thành tích học tập không đồng đều giữa những người học có nguồn gốc xuất thân khác nhau trong các tầng lớp xã hội Vốn văn hóa có vai trò quan trọng trong giáo dục và đầu tư Vốn văn hóa có ảnh hưởng nhiều đến thành tích học tập của người học (Bourdieu, 1986)
Từ khi xuất hiện đến nay, khái niệm vốn văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng và bổ sung thêm nhiều ý nghĩa mới cùng với nhiều phương pháp tiếp cận và khung phân tích khác nhau Điển hình, nghiên cứu của David Throsby (1999) đã phân tích khái niệm vốn văn hóa của Bourdieu trên phương diện phát triển kinh tế Theo David Throsby thì bên cạnh 3 loại vốn quan trọng phục vụ sự phát triển là vốn tự nhiên (các nguồn tài liệu, thiên nhiên), vốn vật chất (cơ sở vật chất do con người tạo ra) và vốn nhân lực thì vốn văn hóa là nguồn vốn thứ tư giữ vai trò cốt lõi cho sự phát triển Thêm vào đó, trong nghiên cứu này Throsby cũng phân tích sâu mối quan hệ giữa vốn văn hóa với các loại vốn còn lại trong quá trình phát triển và kết luận có tồn tại mối quan
hệ giữa vốn văn hóa với vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn nhân lực Ủng hộ vốn văn hóa có John H Goldthorpe (2007) cho rằng: vốn văn hóa không chỉ đề cập đến vấn đề
xã hội đơn thuần, mà vốn văn hóa còn được xem khái niệm cốt lõi và có vai trò quan trọng trong phân tích, đánh giá và giải thích về sự bất bình đẳng giai cấp xã hội ở trình
độ học vấn khác nhau Tuy nhiên, John H Goldthorpe hoài nghi về vai trò của khái niệm vốn văn hóa trong nghiên cứu giáo dục Theo ông thì Bourdieu đã quá nhấn mạnh đến
sự khác biệt về vốn văn hóa giữa các lớp xã hội mà không quan tâm đến tính di động văn hóa và sự linh động của người học Dù còn nhiều tranh luận nhưng không thể phủ nhận rằng từ khi xuất hiện, khái niệm vốn văn hóa đã tạo ra những ảnh lớn trong nghiên cứu xã hội học, đặc biệt trong ngành xã hội học giáo dục
Nếu khái niệm vốn xã hội chú trọng đến mạng lưới xã hội và các mối liên hệ xã hội thì khái niệm vốn văn hóa tập trung vào trạng thái thể hiện của vốn văn hóa qua tâm
Trang 33trí và cơ thể của chủ thể văn hóa, vào năng lực luân chuyển, trao đổi của các yếu tố văn hóa để tạo ra giá trị cho chủ thể văn hóa Ba trạng thái của vốn văn hóa được đưa ra trong khái niệm của Bourdieu có tính bao quát cao, nhưng không đồng nhất với các giá trị của nguồn tài nguyên văn hóa (Bourdieu, 1986) Trong bối cảnh các nền văn hóa ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại thì những nghiên cứu về vốn văn hóa càng có vai trò quan trọng, đặc biệt là các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế là hết sức cần thiết
2.1.1.9 Vốn tài chính
Mỗi cá nhân có được nguồn thu nhập từ việc bỏ sức lao động để tham gia vào các hoạt động lao động, thu nhập có được từ mỗi cá nhân cũng đóng góp tích cực vào nguồn thu của gia đình (hộ), và giá trị kinh tế này thể hiện qua mức thu nhập hàng ngày, hàng tháng hoặc cả năm của cả hộ Vậy, để tạo ra sản phẩm có giá trị đòi hỏi sự kết hợp hai nguồn vốn thiết yếu, đó là vốn vật chất và vốn con người (Ismail & Yussof, 2010) Sự kết hợp giữa vốn vật chất và vốn con người tạo ra giá trị lao động, được biểu hiện qua trị giá gia tăng về thu nhập nhận được Trong các hoạt động lao động của con người hai yếu tố vốn vật chất và vốn con người là không thể tách rời nhau
Hình thức biểu hiện của vốn vật chất là vốn tài chính hoặc hiện vật (các nguồn tư liệu lao động) mà con người tự có hoặc vay mượn để thực hiện các hoạt động lao động sản xuất hàng ngày Song song đó, trong quá trình sản xuất không thể thiếu vốn con người - là tổng hòa các yếu tố năng lực kiến thức, kỹ năng, sự kết hợp (sức lao động của con người) với các tư liệu sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động) nhằm tạo ra năng suất lao động của con người
Trong quá trình tham gia hoạt động kinh tế xã hội, cả vốn con người và vốn vật chất đều đóng vai trò quan trọng và theo thời gian, cả hai đều có thể bị hao mòn Song,
sự đầu tư mua mới các loại thiết bị tư liệu sản xuất sẽ làm tăng vốn vật chất, còn sự tích lũy trong quá trình tham gia hoạt động kinh tế xã hội giúp tăng hoặc giữ bền vốn con người, ngược lại nếu không có sự trau dồi, rèn luyện kiến thức kỹ năng, ý chí và nghị lực thì vốn này sẽ bị mai một, hao mòn
Với các nguồn vốn khác nhau, thông qua các hoạt động lao động sản xuất người lao động nhận được các khoản thu nhập khác nhau, nhưng vốn con người vẫn là cốt lõi nhất tạo ra giá trị năng suất lao động Có thể nói vốn con người đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành các chiến lược, các hoạt động lao động và liên kết các nguồn vốn khác nhằm tạo ra giá trị thu nhập Thành (2014) cho rằng, để tạo ra giá trị thu nhập con người phải vận dụng tổng hòa các kỹ năng (kỹ năng quản lý tài chính, kỹ năng sử dụng vốn, kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, kiến thức, các kỹ năng ứng phó với rủi ro) và các yếu tố bên ngoài (yếu tố rủi ro, cú sốc)
Trang 34Mối quan hệ “vốn” (tài chính và con người) với thu nhập là đòn bẩy quan trọng để tăng trưởng kinh tế, tăng nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, tối đa hóa lợi ích, đẩy nhanh quá trình phục hồi, tận dụng cơ hội và tạo đà quan trọng thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Trong nghiên cứu này việc phân tích thu nhập được tính là tổng thu nhập của cả hộ ở dưới một ngưỡng nhất định nào đó, còn gọi là ngưỡng đói nghèo (UNDP, 2012) Ngưỡng này được điều chỉnh theo quy mô và thành phần của hộ gia đình và thường được thể hiện qua các thuật ngữ về giá trị của tiền Janvry (1995) nhận ra rằng trong thị trường hoạt động hoàn hảo, các hộ gia đình sẽ giữ lại một phần sản phẩm mà họ sản xuất được và phần sức lao động của mình để tiêu dùng sản phẩm Phần dôi thừa của sản phẩm hay lao động hộ gia đình mới bán ra ngoài thị trường và ngược lại hộ gia đình sẽ là người mua ròng hoặc người
sử dụng lao động ròng Trong thị trường hoạt động hoàn hảo thì việc quyết định sản xuất hay tiêu dùng phụ thuộcvào mức thu nhập mang lại cho mỗi cá nhân
2.1.2 Khái quát ảnh hưởng của chương trình tín dụng vi mô đến đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ
2.1.2.1 Nguồn vốn và khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ
Đối với phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế hay khởi nghiệp thì yếu tố vô cùng quan trọng là được sự hỗ trợ về nguồn vốn, nhưng trong thực tế phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận vốn vay, do hạn chế cơ hội tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức và không chính thức, cùng với các rào cản về pháp lý, thái độ văn hóa - xã hội tiêu cực và hạn chế về thời gian Do vậy, các chương trình tín dụng vi mô đặc biệt hữu ích trong việc gia tăng lựa chọn kinh tế của phụ nữ; tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn từ chương trình tín dụng vi mô của phụ nữ cũng gặp ít nhiều rào cản Trong số các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của phụ
nữ ở ĐBSCL được khảo sát sơ bộ như giới hạn về tuổi tác, dân tộc, học vấn, việc làm, tài sản, vốn xã hội, tần suất nắm bắt vốn xã hội, quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, mục đích vay vốn, hài lòng về thủ tục vay vốn Các yếu tố này sẽ lần lượt được phân tích, đánh giá trong nghiên cứu này
2.1.2.2 Tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập của phụ nữ
Chương trình tín dụng vi mô đã đóng góp đáng kể trong việc cải thiện thu nhập, giải phóng con người khỏi đói nghèo và phát triển kinh tế văn hóa xã hội Theo Brown (2010), tín dụng vi mô mang lại cơ hội cho mọi người - nhất là những người không thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính nào khác, giúp họ tạo nguồn thu nhập từ việc tạo dựng hoạt động kinh doanh hoặc theo đuổi một công việc cụ thể nào đó Tín dụng vi mô chú trọng đến các hoạt động phi tài chính là chủ yếu và tập trung phát huy nội lực của bản thân khách hàng vay vốn Bên cạnh đó, chương trình tín dụng vi mô cũng phát huy
Trang 35các kỹ năng tự lực tạo ra các giá trị tài sản cho người vay vốn và tập trung hỗ trợ môi trường thuận lợi để người vay vốn có thể phát huy giá trị nội lực của bản thân hơn là cung cấp sản phẩm tài chính sẵn có Tính hấp dẫn của chương trình tín dụng vi mô so với với tín dụng khác là cung cấp cho khách hàng khả năng vượt qua những khó khăn
và trở ngại trong cuộc sống để tự làm chủ bản thân mình
2.1.2.3 Tác động của tín dụng vi mô đến trao quyền cho phụ nữ
Trước đói nghèo và các tác động của nghèo, phụ nữ - nhất là những phụ nữ ở khu vực nông thôn thường dễ bị tổn thương hơn phụ nữ ở khu vực thành thị Phụ nữ chịu tác động đến thu nhập cao hơn nam giới, do có sự phân biệt đối xử xã hội trong lực lượng lao động, không có quyền sở hữu tài sản và gánh nhiều trách nhiệm liên quan tới việc đồng áng tự cung tự cấp, trách nhiệm trong gia đình, con cái và cộng đồng Đây là hậu quả của những điều luật phân biệt đối xử, đặc biệt là trong tìm kiếm việc làm, sở hữu tài sản, phong tục tập quán và sự bạo lực của nam giới trong gia đình Từ lâu, bất bình đẳng
đã tồn tại, qua việc thiếu vắng sự tham gia đoàn hội của phụ nữ ở tất cả các cấp độ, trong quyền sở hữu tài sản, các quyết định kinh tế và sự tham gia của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Ngoài ra, do phần lớn phụ nữ tham gia vào các ngành nghề truyền thống, theo kiểu cha truyền con nối, nên không được đào tạo và các kỹ năng cần thiết nên bị phân biệt đối xử ở thu nhập Hơn nữa, vị thế của phụ nữ cũng bị giới hạn bởi những rào cản văn hoá, nên phụ nữ bị hạn chế cơ hội tiếp cận trong giáo dục và các dịch
vụ y tế Chính điều này đã gây ra những hạn chế rất nghiêm trọng đối với sự tự chủ, đi lại, và các loại hình sinh kế sẵn có dành cho phụ nữ
Với một mục đích xã hội là giúp người yếu thế, nhất là phụ nữ trong xã hội, các chương trình tín dụng vi mô được triển khai đồng loạt trên cả nước Tuy những khoản vay này nhỏ nhưng vẫn cần thiết để bổ sung thêm vốn kinh doanh cho bản thân người vay, cho gia định hộ vay gia tăng thu nhập, giảm bớt gánh nặng chi phí trong cuộc sống Các khoản vay này rất thuận tiện trong việc hoàn trả Điều này không chỉ góp phần cải thiện mức sống mà còn giúp phụ nữ có cơ hội nâng cao kiến thức, biết cách quản lý nguồn tiền hiệu quả hơn
Thực tế, nguồn vốn tín dụng vi mô từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế của Hội liên hiệp phụ nữ địa phương đã và đang phát huy được hiệu quả tích cực, tạo đòn bẩy cho hội viên Hội liên hiệp phụ nữ ở địa bàn nghiên cứu tích cực tham gia sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững Khi phụ nữ có được thu nhập riêng của bản thân, vị thế kinh tế của phụ
nữ cũng sẽ được nâng cao hơn trong gia đình và xã hội Bình đẳng kinh tế cho phụ nữ rất tốt cho công việc kinh doanh của công ty Các công ty được hưởng lợi rất nhiều từ việc tăng cơ hội việc làm và lãnh đạo cho phụ nữ, điều này được chứng minh là làm tăng
Trang 36hiệu quả và tăng trưởng của tổ chức Trao quyền kinh tế cho phụ nữ thúc đẩy năng suất, tăng đa dạng hóa kinh tế và bình đẳng thu nhập
2.1.2.4 Định hướng phương pháp đánh giá tác động của tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế của phụ nữ
Đánh giá tác động của chương trình tín dụng vi mô đến kết quả hoạt động kinh tế
là thực hiện đo lường, so sánh lợi ích kinh tế của phụ nữ tham gia chương trình nhận được, kể từ khi dự án xuất hiện theo thời gian hoặc theo không gian hoặc kết hợp cả hai Theo thời gian: là so sánh trước và sau dự án; theo không gian: là so sánh giữa người tham gia và người không tham gia; kết hợp cả không gian và thời gian: thì sự so sánh sẽ phản ánh đầy đủ nhất tác động của dự án
Đánh giá sự tác động trong trường hợp so sánh theo thời gian, thì phải thực hiện với cùng một người tham gia; nếu so sánh theo không gian, phải được diễn ra giữa những người tham gia và không tham gia có những đặc điểm tương tự nhau Cần phải có sự tương đồng trong so sánh, nếu không kết quả thu được có thể sẽ lệch (quá cao hoặc quá thấp) so với tác động thực sự Sự tương đồng trong so sánh giúp có thể tiếp cận đến giá trị tác động thực sự của dự án Vấn đề của đánh giá tác động là tìm ra sự tương đồng trong so sánh Trên thực tế, không thể quan sát được một đối tượng nào đó ở hai trạng thái trong cùng một thời điểm; nghĩa là không có đối tượng nào, đồng thời vừa tham gia vừa không tham gia chương trình
Có nhiều phương pháp để tạo ra sự tương đồng trong so sánh, bao gồm so sánh theo không gian, so sánh theo thời gian và so sánh kết hợp không gian và thời gian Các phương pháp đánh giá tác động sẽ giúp xây dựng được tình huống phản thực để có thể
so sánh giữa các nhóm có tham gia chương trình (Nhóm can thiệp - Treatment group) với các nhóm không tham gia chương trình (Nhóm đối chứng - Control Group) có các đặc điểm gần giống nhau Từ đó, phần nào có thể đánh giá được tác động của chương trình lên đối tượng Có 7 kỹ thuật trong đánh giá tác động như: (1) Đánh giá ngẫu nhiên; (2) Phương pháp đối chiếu, đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM); (3) Phương pháp sai biệt kép (DD); (4) Phương pháp biến công cụ (IV); (5) Thiết kế gián đoạn hồi quy (RD) và phương pháp tuần tự; (6) Tác động phân bổ; (7) Các phương thức cấu trúc và
mô hình khác Những phương pháp này có sự khác nhau theo những giả định kèm theo
về cách thức giải quyết sự sai số lựa chọn khi tính toán mức hiệu quả can thiệp của chương trình
(1) Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên: là một hoạt động phân bổ một chương trình hay can thiệp ngẫu nhiên trên một mẫu quan sát (ví dụ: cộng đồng hay cá nhân) Việc lựa chọn kỹ lưỡng khu vực đối chứng (hay tình huống phản thực) cũng là yếu tố quan trọng bảo đảm khả năng so sánh được với các khu vực tham gia chương trình và cuối
Trang 37cùng là tính toán tác động can thiệp (hay sai biệt trong kết quả) giữa hai nhóm Hiệu quả can thiệp có thể được phân biệt thành hiệu quả can thiệp bình quân (ATE) giữa các đơn
vị tham gia và đối chứng, hay hiệu quả can thiệp trên đối tượng được can thiệp (TOT),
là một chỉ số hẹp hơn cho phép so sánh giữa các đơn vị tham gia và đối chứng, với điều kiện đối tượng tham gia ở khu vực có can thiệp
Trong thiết kế ngẫu nhiên có một số vấn đề cần quan tâm như các vấn đề đạo đức, tính hợp lệ bên ngoài, tuân thủ một phần hay thiếu tuân thủ, đối tượng bỏ dở chương trình và hiệu ứng lan tỏa Phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên đòi hỏi phải bảo đảm tính xác thực ngoại tại và nội tại của thiết kế chọn đối tượng, có ưu điểm là tránh được
sự sai số lựa chọn ở mức độ ngẫu nhiên Tuy nhiên, trên thực tế, những yếu tố “bối cảnh” có thể gây nhiễu cho quá trình triển khai ngẫu nhiên và tiếp đến là chất lượng của các tác động chương trình Và, người nghiên cứu thường làm việc trong điều kiện bán ngẫu nhiên khi các mẫu can thiệp và đối chứng được chọn ngẫu nhiên, tùy thuộc vào một số đặc điểm được quan sát (ví dụ như sở hữu đất hay thu nhập)
(2) Phương pháp đối chiếu, đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM): Phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM là phương pháp xây dựng nhóm so sánh thống kê dựa trên mô hình xác suất tham gia can thiệp bằng các số liệu thống kê được quan sát, PSM
sẽ cho phép so sánh tác động can thiệp giữa các đơn vị tham gia và không tham gia tương ứng được đối chiếu dựa trên một loạt các đặc điểm được quan sát Và, phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM được giả định rằng sai số lựa chọn chỉ dựa trên những đặc điểm được quan sát mà không thể tính đến những yếu tố không được quan sát có tác động đến việc tham gia chương trình
Phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM xây dựng nhóm so sánh thống kê dựa trên mô hình xác suất tham gia can thiệp bằng các số liệu thống kê được quan sát Đối tượng tham gia sau đó được so sánh dựa trên xác suất này, hay còn gọi là điểm xu hướng, với đối tượng không tham gia Hiệu quả can thiệp bình quân của chương trình sau đó được tính toán bằng sai biệt trung vị trong kết quả giữa hai nhóm Tính hợp lý của PSM phụ thuộc vào hai điều kiện: (i) tính độc lập có điều kiện (tức là các yếu tố không được quan sát không ảnh hưởng đến tình trạng tham gia); (ii) hỗ trợ chung lớn hay sự trùng khớp trong điểm xu hướng giữa các mẫu đối tượng tham gia và không tham gia
Nhiều cách thức được sử dụng để so sánh giữa đối tượng tham gia và không tham gia dựa trên điểm xu hướng Trong đó có các phương pháp so sánh cận gần nhất (NN),
so sánh trong phạm vi và bán kính, so sánh phân tầng và giãn cách, so sánh hạt nhân và
so sánh tuyến tính tại chỗ (LLM) Các phương pháp hồi quy dựa trên mẫu đối tượng tham gia và không tham gia, sử dụng điểm xu hướng làm gia quyền, cho phép tính toán hiệu quả hơn Phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM là một phương pháp hữu ích
Trang 38khi chỉ các đặc trưng được quan sát được cho là có ảnh hưởng đến tình trạng tham gia chương trình
Ưu điểm (cũng như nhược điểm) chính của phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng đến tình trạng tham gia chương trình của các đặc tính được quan sát Nếu sai số lựa chọn ở các thuộc tính không được quan sát không đáng kể thì PSM sẽ cho phép so sánh hiệu quả với các tính toán ngẫu nhiên Còn nếu các biến tham gia không hoàn chỉnh thì kết quả của PSM có thể không đáng tin cậy Tình trạng này không phải là một tiêu chí có thể kiểm định trực tiếp được mà phải khảo sát kỹ lưỡng các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tham gia chương trình (như thông qua điều tra)
Một ưu điểm nữa của phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM là phương pháp này không nhất thiết đòi hỏi phải điều tra ban đầu hay điều tra tổng thể, mặc dù trong nghiên cứu cắt ngang sau đó, các biến đồng thời được quan sát trong mô hình logit về điểm xu hướng sẽ phải thỏa mãn giả định về độc lập có điều kiện bằng cách thể hiện được các thuộc tính được quan sát X không chịu ảnh hưởng của tình trạng tham gia chương trình Trong trường hợp này, điều tra trước triển khai chương trình sẽ có lợi hơn
vì bao quát được các biến X được quan sát không phụ thuộc vào tình trạng tham gia Dữ liệu về tham gia và không tham gia trong các giai đoạn cũng giúp ích trong tính toán một số sai số lựa chọn không được quan sát, nhờ kết hợp các phương pháp PSM truyền thống với giả định DD
Phương pháp PSM cũng là một phương pháp bán tham số tạo ra ít hạn chế về loại hình hàm số trong mô hình can thiệp, cũng như có ít giả định hơn về mức phân bổ giới hạn sai số Dù các quan sát bị loại bỏ để đạt được vùng hỗ trợ chung nhưng PSM lại làm tăng khả năng so sánh hợp lý giữa các đơn vị can thiệp và đối chứng tương ứng, nhờ đó giảm sai số trong tác động chương trình Tuy vậy, kết quả này chỉ đúng khi vùng hỗ trợ chung lớn; cần có đủ dữ liệu về nhóm không tham gia để bảo đảm có được một mẫu đủ lớn để chọn cặp đối xứng Sai số cũng có thể xuất phát từ việc loại bỏ các quan sát ở nhóm không tham gia vốn có những khác biệt hệ thống đối với các đối tượng còn lại; vấn đề này cũng có thể được khắc phục bằng cách thu thập dữ liệu trên mẫu không tham gia lớn, trong đó có đủ mức biến thiên để đạt được mẫu đại diện
Phương pháp PSM và các phương pháp hồi quy: Do phép so sánh cho kết quả ước tính thống nhất trong các điều kiện nên ưu điểm thực tiễn của PSM so với phép bình phương thường nhỏ nhất (OLS) là giảm được số lượng thuộc tính cần so sánh giữa đơn
vị tham gia và đối chiếu Đề tài nghiên cứu này lựa chọn sử dụng PSM để đánh giá các tác động
(3) Phương pháp sai biệt kép (DD):
Trang 39Khác so sánh điểm xu hướng (PSM), các phương pháp sai biệt kép (DD) giả định
có tồn tại sự không đồng nhất không được quan sát trong tình trạng tham gia, nhưng yếu
tố này không đổi theo thời gian Đã có một số dạng phương pháp DD được áp dụng để tính toán các nguồn sai số lựa chọn có thể có Kết hợp các phương pháp PSM với DD
sẽ giúp giải quyết vấn đề này, bằng cách đối chiếu các đơn vị trong vùng hỗ trợ chung Đối chiếu với các điều kiện ở khu vực ban đầu cũng có thể giải quyết được vấn đề chọn địa điểm không ngẫu nhiên có thể dẫn đến sai số trong hiệu quả chương trình
Ưu điểm của DD là giảm thiểu giả định về yếu tố ngoại suy có điều kiện hay chỉ lựa chọn các đặc tính được quan sát, đồng thời cung cấp một phương pháp trực giác, dễ
sử dụng để tính toán việc lựa chọn các đặc tính không được quan sát Tuy vậy, nhược điểm chính cũng nằm ở giả định này: khái niệm sai số lựa chọn không đổi theo thời gian
là thiếu cơ sở đối với nhiều chương trình mục tiêu ở các nước đang phát triển Phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM giúp so sánh các đơn vị can thiệp với đơn vị đối chứng tương tự theo quan sát trước khi ước tính tác động DD Cụ thể là, có thể chạy PSM trên năm xuất phát, sau đó thực hiện DD trên các đơn vị còn lại trong vùng hỗ trợ chung
(4) Phương pháp biến công cụ (IV):
Phương pháp biến công cụ (IV) cho phép tính toán nội sinh về tình trạng tham gia của cá thể và lựa chọn địa điểm hoặc cả hai Với dữ liệu tổng quát, phương pháp IV còn cho phép tính toán sai số lựa chọn biến thiên theo thời gian Sai số tính toán dẫn đến sai
số giảm ít đi, cũng được giải quyết thông qua phương pháp này Phương pháp IV được thực hiện bằng cách đi tìm một biến (hay công cụ) có liên hệ chặt chẽ với việc chọn địa điểm hay tình trạng tham gia chương trình nhưng không có liên hệ với những thuộc tính không được quan sát có ảnh hưởng đến kết quả Có thể thiết lập các công cụ từ thiết kế chương trình (chẳng hạn, nếu chương trình đang xem xét áp dụng lựa chọn ngẫu nhiên hay nếu các quy luật ngoại sinh được sử dụng để xác định tiêu chuẩn tham gia chương trình)
Cần lựa chọn công cụ một cách kỹ lưỡng Những công cụ kém chất lượng có thể làm tăng sai số, thậm chí còn cao hơn cả tính toán bằng bình phương thường nhỏ nhất (OLS) nếu những công cụ đó có liên kết với những đặc trưng không quan sát hay biến
bị bỏ sót có ảnh hưởng đến kết quả
(5) Thiết kế gián đoạn hồi quy (RD) và phương pháp tuần tự:
Trong điều kiện phi thực nghiệm, các quy định về tiêu chuẩn tham gia chương trình đôi khi có thể được sử dụng làm công cụ xác định ngoại sinh đối tượng tham gia
và không tham gia Để thiết lập khả năng so sánh, có thể sử dụng đối tượng tham gia và
Trang 40không tham gia trong phạm vi ngưỡng tiêu chuẩn nhất định làm mẫu thích hợp để tính toán tác động can thiệp Phương pháp (RD) cho phép tính toán những tính không đồng nhất có quan sát cũng như không có quan sát Tuy có thể xác định điểm giới hạn hay ngưỡng tiêu chuẩn tham gia dưới dạng phi tham số nhưng trên thực tế, điểm giới hạn thường được xác định thông qua biến công cụ Trong số những vấn đề về phương pháp
RD có khả năng các quy định về tiêu chuẩn tham gia không được tuân thủ chặt chẽ, cũng như khả năng các tiêu chuẩn tham gia thay đổi trong thời kỳ Có thể thực hiện kiểm tra đội tin cậy để khảo sát tính hợp lý của thiết kế gián đoạn, kể cả những thay đổi đột ngột trong các biến đối chứng khác tại điểm giới hạn Cũng có thể khảo sát mô thức của biến
số xác định tiêu chuẩn tham gia cũng như bất kỳ gián đoạn nào trong mật độ điều kiện của biến này So sánh tuần tự khai thác sự biến thiên trong thời điểm triển khai chương trình, trong đó sử dụng đối tượng tham gia đủ tiêu chuẩn chưa được tiếp nhận chương trình làm nhóm đối chiếu Một phương pháp theo kinh nghiệm khác được quan tâm trong đánh giá chương trình là khai thác dữ liệu về mở rộng chương trình theo một con đường nhất định (chẳng hạn, một dự án hạ tầng như cấp nước, giao thông hay mạng lưới liên lạc) để so sánh các kết quả ở đối tượng tham gia đủ điều kiện ở hai bên ranh giới dự
án khi bắt đầu triển khai chương trình Phương pháp này sử dụng kết hợp các phương thức tuần tự và RD để thực hiện các so sánh đáng quan tâm trong từng thời kỳ
Ưu điểm của phương pháp RD là: (i) cho kết quả không có sai số về hiệu quả can thiệp tại điểm gián đoạn; (ii) nhiều lần tận dụng được các quy tắc gắn lợi ích đã biết phổ biến trong thiết kế chính sách xã hội; (iii) không cần loại trừ nhóm hộ gia đình hay cá nhân đủ tiêu chuẩn ra khỏi can thiệp
Nhược điểm của RD: (i) phương pháp này cho hiệu quả can thiệp bình quân tại chỗ không phải lúc nào cũng mang tính tổng quát; (ii) hiệu quả được tính toán ở điểm gián đoạn nên nhìn chung sẽ có ít quan sát hơn trong thực nghiệm ngẫu nhiên với cùng
cỡ mẫu; (iii) việc xét chọn đối tượng quan sát có thể nhạy cảm với dạng hàm số, kể cả các quan hệ và tương tác phi tuyến tính Ngoài ra, yếu tố hành vi cũng là một nhược điểm của phương pháp RD (Ravallion 2008) Người quản lý chương trình không phải lúc nào cũng biết chính xác các tiêu chí tham gia Do đó, hành vi phản ứng đối với can thiệp chương trình có thể bị nhầm lẫn với các quy định xét chọn đối tượng trong thực
tế
So sánh tuần tự khai thác biến thiên trong thời điểm triển khai chương trình, bằng cách sử dụng các quan sát ở đối tượng ngoài mục tiêu nhưng đủ tiêu chuẩn mà chưa được tiếp nhận chương trình làm nhóm đối chiếu Có thể sử dụng so sánh theo tuần tự với các thiết kế gián đoạn nếu can thiệp được phân bổ dựa trên một số đặc điểm ngoại sinh và đối tượng có thể tham gia (có thể trong một chương trình liên quan) đang chờ