1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước

72 868 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên nước
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 775,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Trang 1

MỤC LỤC

Tóm tắt 1

trang .1

Chương I - Giới thiệu nhiệm vụ nghiên cứu 3

1 Hoàn cảnh nghiên cứu 3

2 Phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Tiêu chí đánh giá 4

Chương II - Tổng quan về quản lý tổng hợp tài nguyên nước 5

1 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước 5

2 Các nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước 11

3 Việt Nam tiệm cận với quản lý tổng hợp tài nguyên nước 12

4 Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam 14

Chương III - Đánh giá các chủ trương, chính sách và pháp luật 23

1 Các chủ trương, chính sách và định hướng chung 23

2 Các văn bản pháp luật 30

Chương IV - Đánh giá thể chế và tổ chức hoạt động 43

43

1 Cơ cấu tổ chức 43

2 Thể chế tài chính 50

3 Cơ chế phối hợp liên ngành 51

4 Thể chế thanh tra 51

5 Xây dựng thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước 52

Chương V - Đề xuất kiến nghị và giải pháp 53

1 Đối với hệ thống chính sách 53

2 Thể chế và tổ chức hoạt động 53

3 Đề xuất lộ trình thực hiện 57

Trang 2

Kết luận 59

Tài liệu tham khảo 60

Danh sách các chuyên gia cung cấp thông tin 62

Danh sách các chuyên gia đã gửi bản câu hỏi và đã nhận được trả lời 65

Phụ lục 69

Trang 3

TÓM TẮT

Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một trong các nội dung cơ bản của dự án quốc gia bảo tồn và sử dụng hữu ích các vùng đất ngập nước (ĐNN) Cho đến nay, hệ thống luật, nghị định hướng dẫn của Chính phủ, các quyết định của Chính phủ, quyết định của các Bộ chuyên ngành, thông tư liên Bộ liên quan đến tài nguyên nước là tương đối nhiều, tuy nhiên chưa có sự liên kết một cách “tổng hợp”

Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu là lấy ý kiến của các chuyên gia thuộc lĩnh vực quản

lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong các ngành kinh tế - xã hội và chỉ giới hạn ở nguồn tài nguyên nước lục địa (bao gồm cả nước mặt, nước dưới đất) và nước biển ven bờ Tiêu chí của đánh giá liên ngành các chính sách, thể chế, cơ cấu tổ chức là tính hệ thống, tính thực tiến (hay tính khả thi) và tính hiệu quả

Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản về quản lý tổng hợp tài nguyên nước (8 khái niệm), giới thiệu một số nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên thế giới và sự tiệm cận của Việt Nam, tóm lược hiện trạng tài nguyên nước ngọt và nước biển ven bờ trên toàn quốc Một đặc điểm nổi bật của nguồn tài nguyên nước Việt Nam là khá phong phú nhưng phân bố không đều theo không gian (giữa các vùng) và thời gian (giữa các mùa), hai phần ba tổng lưu lượng nước các sông được bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ

Chương 3 đánh giá các chủ trương, chính sách và pháp luật thông qua các chiến lược, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về sự phát triển kinh tế xã hội bền vững Các chủ trương chính sách được tóm lược trong 6 vấn đề chính và được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật mà trong đó Luật Tài nguyên nước là cơ sở pháp lý cho các văn bản khác Tác động tích cực của các văn bản này là: có tính hệ thống cao, hệ thống văn bản khá hoàn chỉnh mang tính kế thừa và nâng cao, các văn bản đã có đều nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho mọi hoạt động liên quan đến tài nguyên nước; tính thực tiễn: tạo ra một sự phối hợp liên ngành, thống nhất và đã đi vào hoạt động thực tế; hiệu quả của các văn bản này đã được thể hiện trong xây dựng cơ cấu tổ chức, và các kết quả phát triển kinh tế Các tồn tại của hệ thống chính sách thông qua các văn bản pháp luật được tóm tắt trong 5 vấn đề: sự chồng chéo, sự song hành, chưa đầy đủ, sự liên quan giữa quản lý tài nguyên nước và ĐNN, sự thiếu cập nhật

Chương 4 trình bày đánh giá thể chế, tổ chức hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên nước hiện nay ở Việt Nam Ngoài cơ quan quản lý nhà nước về Tài nguyên nước là Cục Tài nguyên nước (cấp trung ương), Phòng Tài nguyên nước (cấp tỉnh), cơ cấu tổ chức quản lý nước theo lưu vực đã được thành lập thí điểm cho ba lưu vực chính đã đi vào hoạt động từ

ba năm nay Các ưu việt của cơ cấu tổ chức này đem lại nhiều giá trị tích cực như: quản lý cấp nước, chất lượng nước, kiểm soát lũ lụt, kiểm soát bồi lắng, giao thông thủy, phát triển thủy điện – thủy lợi…Lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, Nhuệ - Đáy được đưa ra phân tích Tồn tại chính trong cơ cấu tổ chức là sự thiếu nhất quán trong chuyển giao trách nhiệm giữa

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và Bộ Tài nguyên Môi trường (TN&MT)

Trang 4

trong quản lý nước và lưu vực sông; thể chế tài chính cho ngành nước chưa được xem xét nghiêm túc.

Báo cáo cũng đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để tháo gỡ các tồn tại này theo một lộ trình nhất định

Trang 5

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Hoàn cảnh nghiên cứu

Tài nguyên nước đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững Trên trái đất của chúng ta

có ba phần tư là nước, song lượng nước sạch phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người là rất hạn chế Vậy mà, tình trạng sử dụng nước trên thế giới là rất lãng phí và nhiều hành động gây tổn hại cho nguồn nước Một nguyên nhân là việc quản lý nguồn tài nguyên tái tạo yếu này còn phân tán, chưa được quản lý trong một quan hệ tổng thể và chưa được coi là một loại hàng hóa đặc biệt Tuy rằng được đánh giá là quốc gia tương đối giàu tài nguyên nước, Việt Nam là một trong nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt trong “cuộc chiến” vì sự phát triển kinh tế và xã hội ngày càng có nhiều liên quan đến nguồn nước Đó là: sự phân phối không đều trong năm (lượng nước trong mùa khô chỉ chiếm 20%); không đều theo vị trí địa lý (vùng Tuyên Quang, Móng Cái tới 80 l/s trong khi vùng Hàm Tân chỉ 10 l/s); chất lượng nước ở các vùng là rất khác nhau (đồng bằng sông Cửu Long nước chua, phèn, mặn…) Thiếu nước, suy thoái chất lượng nước và sự tác động đến lương thực là những vấn đề cần có sự quan tâm và hành động cụ thể

Mục tiêu của việc Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) là một quá trình hỗ trợ các quốc gia đang nỗ lực giải quyết các vấn đề về nước với phương pháp có hiệu quả đồng vốn và vững bền Đặc biệt, Việt Nam là một quốc gia có những vùng ĐNN đáng kể bao gồm vùng ĐNN thuộc hệ thống sông Mê Kông, sông Hồng, đầm lầy, hồ, vùng ĐNN ven biển, bãi triều Các vùng ĐNN này cung cấp một giá trị hàng hóa to lớn và thực phẩm cho cuộc sống Mặt khác, Việt Nam đã tham gia vào hội nghị Ramsar năm 1989 và phổ biến một số tài liệu hợp pháp về duy trì và bảo vệ các vùng ĐNN Luật Tài nguyên nước được thông qua năm 1998 và sau đó là các nghị định hướng dẫn việc thực hiện luật này đã đưa ra một bước chủ yếu hướng tới quản lý tổng hợp tài nguyên nước Tuy nhiên, các chính sách về ĐNN và việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước còn khá yếu, chồng chập, thiếu sự sắp xếp và chức năng rõ ràng

Do đó chúng ta cần phải có sự xem xét đa ngành về các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam làm cơ sở cho việc sử dụng và quản lý một cách có hiệu quả các vùng ĐNN Các nghiên cứu này cũng sẽ góp phần hoàn thiện các chính sách, pháp luật

và thể chế quản lý ĐNN và quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam

2 Phạm vi nghiên cứu

Vấn đề về chính sách, thể chế QLTHTNN rất rộng về không gian, xuyên suốt về thời gian và là một vấn đề phức tạp liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế - xã hội Các kết quả đánh giá trong báo cáo này nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN, vì vậy nội dung đánh giá được trình bày trong báo cáo này chỉ giới hạn xem xét các vấn đề liên quan đến nước lục địa (nước mặt, nước ngầm) và

Trang 6

các vùng nước biển ven bờ, tức là các vùng tài nguyên nước có ít nhiều liên quan đến các vùng ĐNN.

3 Mục đích nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá các mặt mạnh và yếu của hệ thống chính sách, luật ở Việt

Nam về ĐNN và QLTHTNN

- Báo cáo sẽ xem xét các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thể chế ở Việt

Nam và sự tác động của hệ thống chính sách, luật lệ hiện hành

- Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, quy tắc, luật lệ hiện

hành về QLTHTNN

Từ sự tổng hợp này, báo cáo sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp và thể chế về quản lý ĐNN và QLTHTNN Các kết quả này sẽ hỗ trợ cho việc sử dụng và tạo nguồn thông tin cho các ngành, liên ngành, các địa phương một cách hiệu quả

4 Phương pháp nghiên cứu

- Thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu: bao gồm các nhà nghiên cứu chuyên

ngành nước, các nhà quản lý đang làm việc trong các Bộ/ngành

- Nghiên cứu, sàng lọc, tổng hợp, đánh giá các dữ liệu: các bộ luật, nghị định,

quyết định, thông tư của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan đến quản lý tài nguyên nước

- Hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn

5 Tiêu chí đánh giá

Để có thể đánh giá được thực trạng của hệ thống quản lý tài nguyên nước, cần phải

đề ra các tiêu chí đánh giá để thấy được những mặt đã hoặc chưa làm được, khả thi hay kém khả thi, hiệu lực của hệ thống luật pháp, quy định, thể chế chính sách đã được ban hành trong những năm qua ở nước ta Một tiêu chí chung nhất cho sự đánh giá liên ngành là

sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững, tức là khai thác hiệu quả tài nguyên nước

mà không hoặc ít làm tổn hại đến chất lượng, tiềm năng tài nguyên nước cũng như các nguồn tài nguyên khác có liên quan Các tiêu chí cụ thể được đề nghị như sau:

- Tính hệ thống của các chính sách: đây là điểm quan trọng trong hệ thống quản

lý của một quốc gia

- Tính thực tiễn của hệ thống chính sách: biểu thị cho khả năng áp dụng vào

thực tế cuộc sống của từng thành viên trong xã hội, của từng địa phương

- Tính hiệu quả của các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước: kết quả

của hệ thống chính sách, luật lệ đã ban hành Trong tiêu chí này, sự thành công hay những nội dung còn bất cập trong các luật lệ đã ban hành sẽ được bàn luận

Trang 7

Chương II TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC (QLTHTNN)

4 nguyên tắc của Dublin là:

- Nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương và cần thiết cho sự

sống, phát triển và môi trường

- Phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp cận với sự tham gia của

các bên có liên quan, từ người sử dụng đến người lập kế hoạch, người lập chính sách, ở mọi cấp độ

- Phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và đảm bảo an

toàn về nước

- Nước có giá tri kinh tế ở nhu cầu cạnh tranh sử dụng và phải được xem như

hàng hóa có giá trị kinh tế

Định nghĩa về QLTHTNN

Thực tiễn QLTHTNN tùy thuộc vào từng tình huống Ở mức độ vận hành thì thách

thức là chuyển nguyên tắc đã được thỏa thuận thành hành động cụ thể Để đáp ứng yêu cầu này thường phải dựa vào QLTHTNN với “Quản lý” bao hàm cả phát triển và quản lý Tuy nhiên khái niệm của định nghĩa QLTHTNN có nghĩa rộng hơn, rõ ràng hơn Khi đó các tổ chức vùng hay quốc gia phải triển khai thực tiễn QLTHTNN và sử dụng khuôn khổ hợp tác toàn cầu và vùng

Quản lý sử dụng hiệu quả nguồn nước là hoạt động nằm trong chiến lược QLTHTNN Khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng để thống nhất chung, khái niệm này dựa theo định nghĩa của tổ chức “Cộng tác vì nước toàn cầu“ (GWP) như sau:

“QLTHTNN là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất đai và các tài nguyên khác có liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”.

Tổng hợp là cần thiết nhưng chưa đủ Theo từ điển của Webster, sự cần thiết phải

tổng hợp nổi lên khi có liên quan tới tình hình “quan hệ tương hỗ thường xuyên của các

nhóm phụ thuộc lẫn nhau của các hạng mục hình thành nên một tổng thể thống nhất.

Tổng hợp khi đó là “ nghệ thuật và khoa học” của sự hài hòa tỷ lệ các thành phần

trong một thể thống nhất Tuy nhiên những vấn đề này trong quản lý tài nguyên nước được biết là tổng hợp, tự nó không thể đảm bảo phát triển chiến lược tối ưu, kế hoạch và sơ đồ quản lý tối ưu

Trang 8

1.1 Quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và nhân tạo

Khái niệm QLTHTNN tương phản với “truyền thống”, quản lý tài nguyên nước theo ngành (fragmented) ở mức nền tảng nhất có liên quan tới quản lý yêu cầu với cấp nước (quản lý cung-cầu về nước) Như vậy tổng hợp có thể được xem dưới 2 hệ cơ bản:

- Hệ thống tự nhiên với tầm quan trọng cực kỳ của nó là có tài nguyên nước và

chất lượng của nó,

- Hệ thống nhân tạo (Human System) và được xác định một cách cơ bản là sử

dụng tài nguyên, tạo ra chất thải và gây ô nhiễm tài nguyên và hệ thống đó cũng phải tạo dựng những ưu tiên phát triển

Tổng hợp phải diễn ra ở cả hai hệ và giữa hai hệ và có tính tới sự biến động về thời gian và không gian Về mặt lịch sử, những người quản lý nước đã hướng tới tự xem xét mình trong vai trò trung lập quản lý hệ thống tự nhiên để đảm bảo cung cấp thỏa mãn những nhu cầu xác định của chính họ Rõ ràng rằng, người tiêu thụ chỉ cụ thể “yêu cầu” sản phẩm được cung cấp, nhưng nước có thể được cung cấp với các tính chất rất khác nhau, chẳng hạn về chất lượng và lưu lượng lại nhỏ ở những giai đoạn yêu cầu cao điểm Giá và xác định đơn giá sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ nước cũng như sẽ đầu tư hạ tầng để chuyển tải tiềm năng thành tiêu thụ hiệu quả

1.2 Tổng hợp giữa quản lý nguồn nước ngọt với quản lý vùng biển ven bờ

Quản lý nguồn nước ngọt với quản lý vùng biển ven bờ sẽ phải được nhất thể hóa, phản ảnh tính liên lục giữa nước ngọt và nước biển ven bờ Hệ nước ngọt là vật thể rất quan trọng xác định những điều kiện của vùng biển ven bờ và do đó người quản lý hệ nước ngọt

sẽ phải xem xét những yêu cầu của vùng biển ven bờ khi quản lý tài nguyên nước Đây là trường hợp đặc biệt của vấn đề quan hệ giữa thượng lưu và hạ lưu, mà vấn đề này càng ngày càng được chú ý đối với tất cả các nước Điều này có xuất xứ từ các tuyên bố của Liên Hợp Quốc trên cơ sở các nguồn ô nhiễm từ lục địa, đòi hỏi phải xây dựng các chương trình hành động toàn cầu (GPA) và đánh giá nước quốc tế toàn cầu (GIWA)

1.3 Tổng hợp giữa quản lý đất và quản lý nước

Cách tiếp cận tổng hợp giữa quản lý đất và nước là một sự khởi đầu của chu trình thủy văn, tuần hoàn vận chuyển nước giữa các quyển hay thành phần: không khí, đất, cây trồng và nguồn nước mặt, nước dưới đất Kết quả phát triển sử dụng đất và lớp phủ trồng trọt (bao gồm cả lựa chọn cây trồng) sẽ ảnh hưởng tới sự phân bố vật lý cũng như chất lượng nước và điều này phải được xem xét cẩn thận trong quy hoạch tổng thể và quản lý các nguồn tài nguyên nước Một vấn đề khác, nước là yếu tố mấu chốt xác định đặc điểm và sức khỏe của tất cả các hệ sinh thái (trên cạn cũng như dưới nước) và do đó những yêu cầu

về số lượng, chất lượng nước của các hệ sinh thái đó cần được xem xét toàn bộ trên các khía cạnh về tiềm năng tài nguyên nước Việc tăng cường quản lý lưu vực nói chung và lưu vực sông cần được quan tâm và phải là các vấn đề quy hoạch khung logic để QLTHTNN theo các hệ thống tự nhiên Lưu vực và quản lý ở cấp lưu vực không chỉ quan trọng ở nghĩa

Trang 9

tổng hợp các vấn đề sử dụng đất và nước, mà còn rất bức thiết trong quản lý các mối quan

hệ giữa lượng và chất, giữa các quyền lợi ở thượng lưu và hạ lưu

1.4 Tổng hợp về quản lý nước mặt và nước dưới đất

Chu trình thủy văn cũng kêu gọi tổng hợp giữa quản lý nước mặt với nước dưới đất

Sự suy giảm nước được giữ lại trên bề mặt một lưu vực có thể xuất hiện nghịch đảo (xoay chiều) giữa nước mặt và nước dưới đất theo cách từ hạ lưu đến toàn lưu vực Phần tỷ lệ lớn của dân số thế giới phụ thuộc vào nước dưới đất để được cung cấp nước Việc sử dụng rộng rãi hóa chất trong nông nghiệp và sự ô nhiễm từ các nguồn không điểm (theo diện) đã tạo ra một sự đe dọa lớn đối với chất lượng nước dưới đất và người quản lý phải xem xét các mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất Ô nhiễm nước dưới đất rất không đồng đều trên toàn lưu vực và phải tính tới các chi phí giảm thiểu ô nhiễm nước dưới đất

1.5 Tổng hợp giữa quản lý số lượng và chất lượng tài nguyên nước

Quản lý tài nguyên nước bao hàm sự phát triển số lượng nước phù hợp với chất lượng an toàn Như vậy quản lý chất lượng nước là hợp phần cần thiết của QLTHTNN Sự xuống cấp, suy thoái chất lượng nước làm gỉam tính sử dụng tài nguyên đối với các bên liên quan ở vùng hạ lưu Rõ ràng rằng, các tổ chức, thể chế có khả năng tổng hợp, nhất thể hóa các khía cạnh về số lượng và chất lượng phải được đẩy mạnh Hệ thống nhân tạo vận hành

sẽ sản sinh ra ô nhiễm, gây nhiều tác động đối với môi trường-tài nguyên nước Do đó phải phấn đấu để giảm thiểu các sản phẩm phế thải

1.6 Tổng hợp giữa các quyền lợi liên quan đến thượng lưu và hạ lưu

Việc tiếp cận tổng hợp quản lý tài nguyên nước hàm ý nhận dạng các xung đột về quyền lợi giữa các bên có liên quan ở vùng thượng lưu và hạ lưu Những “tổn thất” về tiêu thụ (nhu cầu) ở thượng lưu sẽ làm giảm lưu lượng nước sông Các thải lượng ô nhiễm xả

ra ở thượng lưu sẽ làm suy thoái chất lượng nước sông.Việc sử dụng đất làm thay đổi ở vùng thượng lưu cũng sẽ làm thay đổi việc bổ cập nước dưới đất và lưu lượng theo mùa của nước sông Các giải pháp kiểm soát lũ ở vùng thượng lưu có thể đe dọa về lũ đối với các bên liên quan ở vùng hạ lưu Những xung đột về quyền lợi cần được xem xét trong QLTHTNN với toàn bộ sự hiểu biết về hàng loạt mối quan hệ vật lý-tự nhiên và xã hội, những quan hệ đó tồn tại trong một hệ thống tổ hợp Sự am hiểu về tính tổn thương gây ra bởi những hoạt động ở vùng thượng lưu đối với những bên có liên quan ở vùng hạ lưu là rất cần thiết Nhấn mạnh lại một lần nữa, quản lý sẽ tham gia vào cả hai hệ thống tự nhiên và nhân tạo

1.7 Tổng hợp trong hệ thống nhân tạo

1

7.1 Xác định dòng chính của tài nguyên nước

Khi phải phân tích các hoạt động của con người hay hệ thống dịch vụ, rõ ràng là tất cả các vấn đề-khía cạnh của tổng hợp sẽ phải được tham gia cùng với sự hiểu biết về hệ sinh thái tự nhiên, năng lực, tính dễ bị tổn thương và những giới hạn của nó Sự tổng hợp dó là nhiệm vụ tổng hợp, sự tổng hợp hoàn toàn là chưa rõ ràng và chưa hiện thực Điều đó bao gồm:

Trang 10

- Đảm bảo chắc chắn rằng các chính sách của chính quyền, tính ưu tiên tài chính và quy hoạch (vật chất, kinh tế, xã hội) sẽ phải tính tới những trong các nội dung của phát triển tài nguyên nước, nước có liên quan tới rủi ro và sử dụng nước.

- Ảnh hưởng của các ngành, các lĩnh vực: Khi quyết định lựa chọn công nghệ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải dựa trên cơ sở các giá trị thực của nước và nhu cầu giữ cho tài nguyên thiên nhiên tồn tại mãi mãi theo thời gian

- Cung cấp, tạo dựng nền- phông, cơ chế, để đảm bảo rằng, tất cả các bên có liên quan đều có thể tham gia vào các quyết định về lĩnh vực tài nguyên nước, giải quyết các xung đột và lựa chọn giải pháp cuối cùng

Các giải pháp tổng hợp là cần thiết ở mọi cấp từ hộ gia đình đến quốc gia, rồi đến thị trường quốc tế

1

7.2.Tổng hợp liên ngành trong phát triển chính sách quốc gia

Tiếp cận QLTHTNN ám chỉ rằng, những phát triển liên quan đến nước, với tất cả các ngành kinh tế, xã hội, sẽ phải được tính đến trong quản lý tổng thể tài nguyên nước Như vậy chính sách tài nguyên nước sẽ phải tổng hợp/ nhất thể hóa với chính sách kinh tế quốc gia cũng như các chính sách của các Bộ, ngành Ngược lại, các chính sách kinh tế xã hội (của các Bộ/ ngành) cần phải tính tới các nhiệm vụ của tài nguyên nước, chẳng hạn, các chính sách năng lượng quốc gia, chính sách thực phẩm quốc gia cũng có thể tác động sâu sắc tới tài nguyên nước và ngược lại Khi đó các phát triển phải được đánh giá đối với các tác động có thể có đối với tài nguyên nước và các đánh giá đó phải được xem xét khi thiết

kế và xác định các dự án phát triển ưu tiên Sự phát triển và quản lý tài nguyên nước có tác động đối với kinh tế-xã hội thông qua nhiều con đường khác nhau, như di dân, gia tăng định

cư hay những thay đổi trong thành phần cơ cấu công nghiệp Hậu quả là, hệ thống quản lý tài nguyên nước phải bao gồm sự trao đổi thông tin liên ngành và quy trình hợp tác cũng như kỹ thuật để đánh giá các dự án riêng biệt với mong đợi là bao hàm nội dung đối với tài nguyên nước trong những trường hợp đặc biệt nói riêng và trong xã hội nói chung

1

7.3 Các tác động kinh tế vĩ mô của sự phát triển nước

Ở những tình huống khi mà một lượng lớn vốn được dồn cho việc đầu tư ngành nước thì các tác động kinh tế vĩ mô thường rất lớn và rất tai hại đối với toàn bộ sự phát triển kinh

tế Yêu cầu ngày càng gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ ở các ngành không cần nước là

do dòng vồn đầu vào làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ sẽ dẫn đến sự lạm phát Như vậy thường kéo theo những tác động kinh tế vĩ mô dài hạn và là những điều không mong muốn.1

7.4 Những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chính sách tổng hợp

Việc xây dựng chính sách liên ngành và tổng hợp là rất nặng nề và khó khăn để có thể đạt được trong thực tế Tuy nhiên có những nguyên tắc chung là:

- Những nhà lập kế hoạch kinh tế phải rất thận trọng đánh giá lạm phát, sự cân bằng chi trả và tác động kinh tế vĩ mô trước khi bắt đầu một chương trình đầu tư vốn trên quy mô lớn trong ngành nước

Trang 11

- Người lập chính sách sử dụng đất phải được cung cấp các thông tin về những hậu quả về nước ở vùng hạ lưu và chi phí ngoại biên những lợi ích đối với hệ thống nước tự nhiên (nghĩa là việc phá rừng hay đô thị hóa có thể làm thay đổi chế độ về dòng chảy nước và gây nguy cơ lũ lụt) Điều này không có nghĩa là những chi phí ngoại biên bị thiệt hại, mà những điều đó sẽ giúp người lập chính sách phải cân nhắc giữa những chi phí với những lợi ích thu được từ những chính sách và kế hoạch do họ lập ra.

- Những chính sách gây tác động làm tăng nhu cầu tiêu thụ nước bao gồm cả việc loại bỏ các sản phẩm lãng phí sẽ được phát triển với sự hiểu biết về chi phí gia tăng tổng thể

- Những chính sách phân phối nước hiệu quả giữa các nhu cầu sử dụng khác nhau phải tính tới các giá trị tương đối trong sử dụng và được đo lường bằng các điều khoản kinh tế xã hội

- Những người hoạch định chính sách cần biết cân bằng giữa những lợi ích ngắn hạn/ trước mắt và chi phí lâu dài tại các tình huống áp dụng những nguyên tắc phòng ngừa có thể giảm chi phí trong suốt thời gian dài

- Những người hoạch định chính sách phải biết rằng bao cấp trong quản lý tài nguyên nước là tất yếu, sao cho những nhiệm vụ khác nhau được thực hiện ở mức phù hợp và thấp nhất

1

7.5 Ảnh hưởng các quyết định của các ngành kinh tế

Những quyết định của những nhà phát triển kinh tế (từ quy mô xuyên quốc gia hay

các công ty sở hữu nhà nước đến những trang trại hay hộ riêng biệt) trong đa số các nước

sẽ có tác động lớn đối với nhu cầu về nước, những nguy cơ liên quan đến nước và khả năng có nguồn nước với chất lượng nước đảm bảo Những quyết định này sẽ không gây tổn thương đối với tài nguyên nước nếu có thông tin rõ ràng, minh bạch về tổng chi phí của các hành động, khuyến khích lớn đối với các chi phí bên ngoài của các quyết định cần biết.1

7.6 Tổng hợp tất cả các bên có liên quan trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định

Việc tham gia của các bên có liên quan trong việc quản lý và lập kế hoạch về tài nguyên nước được biết là đa năng, tổng hợp như một yếu tố cốt lõi để đạt tới sự sử dụng nước một cách cân bằng và bền vững Tuy nhiên trong nhiều trường hợp các bên có liên quan thường có quyền lợi xung đột và mục tiêu của họ liên quan đến quản lý tài nguyên nước có thể tức thì tách riêng Để giải quyết vấn đề này, QLTHTNN phải phát triển các công

cụ vận hành để quản lý xung đột và giải quyết, dung hòa những xung đột và dính líu giữa những mục tiêu, kế hoạch và hành động Vấn đề quan trọng ở đây là cần nhận dạng và thiết

kế các chức năng quản lý tài nguyên nước theo mức độ thực hiện phù hợp ở cấp thấp nhất;

ở từng cấp độ thực hiện, những bên có liên quan cần được nhân dạng và động viên

Trang 12

7.7 Tổng hợp giữa quản lý nước và nước thải

Nước là tài nguyên tái tạo và có thể tái sử dụng Ở những nơi mà không có nhu cầu

và nước được quay vòng sau khi sử dụng, cần phải có cơ chế để đảm bảo rằng dòng nước thải được xả vào nguồn nước phục vụ cấp nước thì sẽ rất có lợi Nếu không quản lý điều phối, thì dòng thải sẽ làm giảm hiệu quả cung cấp nước do sự suy giảm chất lượng nước và tăng chi phí về cấp nước sau đó Những khuyến khích để tái sử dụng có thể được tạo dựng đối với những người sử dụng riêng biệt, nhưng để có cơ hội sử dụng hiệu quả, phải thiết kế lồng ghép các hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và hành chính

Tổng hợp liên ngành giữa các tiểu ngành sử dụng nước và vai trò của QLTHTNN trong liên kết giữa các tiểu ngành được thể hiện như sau:

Những tiêu chí quan trọng nhất

Để tiếp tục QLTHTNN, cần phải biết một số tiêu chí quan trọng nhất cần phải tính tới trong các điều kiện xã hội, kinh tế và tự nhiên:

Hiệu suất kinh tế trong sử dụng nước: Vì sự khan hiếm nước ngày càng trầm trọng

và thiếu nguồn tài chính, bản chất xác định và dễ bị tổn thương của nước, như một tài nguyên và nhu cầu về nước ngày càng tăng Vì vậy nước cần được sử dụng có hiệu quả cao nhất

Bình đẳng: Quyền lợi cơ bản đối với mọi người là có nước dủ về số lượng và an

toàn về chất lượng để duy trì sự sống của loài người Điều đó cần được ghi nhớ

Tính bền vững về môi trường và sinh thái: Việc sử dụng tài nguyên hiện tại phải

được quản lý theo cách không làm suy yếu hệ thống hỗ trợ duy trì sự sống, bằng cách dung hòa sử dụng chính nguồn tài nguyên đó cho hôm nay và cho cả thế hệ mai sau

Nước cho thực phẩm Nước cho thiên nhiên

Nước cho công nghiệp

và những nhu cầu khác

Trang 13

- Vai trò thể chế và các chức năng của các cấp hành chính khác nhau và những bên

có liên quan khác nhau;

- Những công cụ quản lý, bao gồm công cụ vận hành đối với các quy định có hiệu

quả, quan trắc và tăng cường, tạo khả năng cho những người ra quyết định được thông tin lựa chọn phương án hợp lý giữa những phương án hành động Những lựa chọn này cần phải dựa trên cơ sở các chính sách đồng thuận, các nguồn tài nguyên có thể có, các tác động môi trường và những hậu quả kinh tế, xã hội

Hình 1 Tính bền vững sinh thái

2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC

Tổ chức cộng tác vì nước toàn cầu (GWP) được thành lập từ năm 1996, là một mạng lưới mở cho mọi tổ chức có liên quan đến quản lý tài nguyên nước như: các cơ quan của chính phủ ở các nước phát triển và đang phát triển, các cơ quan thuộc Liên hợp quốc, các ngân hàng phát triển song phương và đa phương, các hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ và tổ chức cá nhân Tổ chức này nhằm thúc đẩy quản lý tổng hợp tài nguyên nước với mục tiêu đảm bảo liên kết phát triển và quản lý nước, đất và những tài nguyên liên quan bằng cách tăng tối đa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội mà không làm ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của những hệ thống thiết yếu

Ủy ban tư vấn kỹ thuật của GWP đã đưa ra những tiền đề cho QLTHTNN như sau:

- Tài nguyên nước ngọt thế giới đang chịu một sức ép ngày càng tăng, tăng trưởng dân số, tăng các hoạt động kinh tế, mức sống cải thiện dẫ tới sự cạnh tranh và mâu thuẫn về nguồn nước ngọt Việc thiếu những biện pháp chống ô nhiễm cũng làm cho tài nguyên nước suy thoái trầm trọng hơn

- Dân số dưới sức ép về nước: trong thế kỷ 20, dân số thế giới tăng khoảng ba lần trong khi lượng nước khai thác để sử dụng tăng khoảng bảy lần Theo tính toán hiện nay có khoảng một phần ba dân số thế giới đang chịu sức ép mức trung bình

và mức cao về nước Theo ước tính tỷ lệ này còn có thể tăng đến hai phần ba vào năm 2025

Trang 14

- Tác động của ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người Ngoài các chức năng phục vụ những nhu cầu cơ bản của đời sống và các quy trình công nghiệp, nước còn có vai trò như một tác nhân truyền tải chất thải sinh họat, nông nghiệp và công nghiệp gây ô nhiễm Nguồn nước suy thoái do ô nhiễm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nguồn nước ở hạ lưu đe dọa sức khỏe con người và chức năng của hệ sinh thái nước.

- Sự khủng hoảng trong quản lý Nhà nước về tài nguyên nước: cách tiếp cận quản

lý tài nguyên nước theo ngành đã và đang có vái trò lấn át Điều này dẫn đến việc phân mảng và thiếu phối hợp trong phát triển và quản lý nguồn tài nguyên nước Thêm vào đó, việc thực hiện công tác quản lý thường được thực hiện theo hướng

từ các cơ quan cấp trên xuống, mà tính hiệu quả của phương pháp này vẫn còn là vấn đề cần phải xem xét

- Đảm bảo nước cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất lương thực: những tác động này trước hết ảnh hưởng đến những thành phần nghèo đói nhất của dân số các nước đang phát triển về nhu cầu nước sạch và vệ sinh Theo số liệu phát triển dân số Trong khoảng thời gian 25 năm, cần có lương thực cấp thêm cho 2-3 tỷ người Nước được xem là một trở ngại chính đối với sản xuất lương thực (nông nghiệp

sử dụng 70% lượng nước khai thác)

Trên cơ sở những vấn đề được nêu ở trên, khái niệm QLTHTNN khác với khái niệm Quản lý tài nguyên nước trước kia ở điểm phải xem xét Tài nguyên nước trong mối quan hệ tương quan giữa con người và nguồn tài nguyên tức là phải xem xét hai cấp độ: hệ tự nhiên được coi là tầm quan trọng sống còn đối với khả năng và chất lượng tài nguyên; hệ con người/ nhân tạo/ là cơ bản xác định việc sử dụng tài nguyên, phát thải và làm ô nhiễm tài nguyên, đồng thời là nguồn động lực cho những ưu tiên phát triển Trước kia, các nhà quản

lý nước có xu hướng coi mình có vai trò trung lập đáp ứng các nhu cầu từ phía bên ngoài tức là thiếu sự tương quan qua lại Sự phát triển mới của khái niệm đòi hỏi phải có những nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề QLTHTNN nhằm một cơ chế phát triển kinh tế - xã hội bền vững không chỉ ở nước ta mà còn là nhiệm vụ của các tổ chức có liên quan đến lĩnh vực này trên toàn cầu

3 VIỆT NAM TIỆM CẬN VỚI QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC

Việt Nam đã tham gia là thành viên của Mạng lưới Cộng tác vì Nước toàn cầu và mạng lưới cộng tác vì nước khu vực Đông Nam Á (SEATAC – nay là SEARWP) từ những năm 1997-1998

Mạng lưới nước Cộng tác vì Nước của Việt Nam (VNWP) đã được thành lập từ năm

2000 và từ đó đến nay đã có nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế được tổ chức (Hội thảo Quản lý điều hành hiệu quả ngành nước-6/2002, hội thảo QLTHTNN với dịch vụ nước-12/2003, hội nghị thành viên lần thứ II mạng lưới cộng tác vì nước của Việt Nam-4/2004…) Các tham luận tại hội thảo tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách của từng ngành hoặc liên ngành cho việc QLTHTNN Sự tăng trưởng

Trang 15

bền vững của các ngành kinh tế có sự đóng góp quan trọng của việc cân bằng giữa nhu cầu khai thác, sử dụng và khả năng chịu tải, sự phân bố hợp lý của nguồn tài nguyên nước dồi dào nhưng không phải là vô tận Các nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách quốc gia về QLTHTNN không chỉ cần cho một quốc gia đơn lẻ mà còn mang ý nghĩa toàn cầu, phù hợp với những thông lệ quốc tế.

Ngày 20 tháng 5 năm 1998 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua luật Tài Nguyên Nước để quy định việc quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng TNN, phòng chống và khắc phục hậu quả tai hại do nước gây ra

Khoản 2 điều 63 quy định" Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước gồm Chủ tịch Hội đồng là một Phó Thủ tướng, uỷ viên thường trực là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT"

Ngày 15 tháng 6 năm 2000 Thủ tướng Chíng Phủ đã quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia tài nguyên nước và ngày 28 tháng 6 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành quy chế hoạt động của Hội đồng Quốc gia về TNN và có văn phòng tại Bộ NNvà PTNT Hội Đồng Quốc Gia về TNN đã họp được 3 lần bàn các vấn đề lớn về TNN theo chức năng của hội đồng Năm 2003 Hội đồng cũng đã họp để bàn về việc xây dựng kế hoạch phát triển và quản lý TNN

Khác với đất đai, khoáng sản, những tài nguyên được định vị trong một địa bàn nhất định, tài nguyên nước có đặc tính là vận động theo lưu vực mang tính hệ thống Việc quản lý tài nguyên nước và công trình thủy lợi là một khối thống nhất, rất khó có thể chia sẻ trong việc quản lý Tính hệ thống và sự vận động của nước theo lưu vực thể hiện ở các điểm sau:

- Mối quan hệ mật thiết qua lại giữa thượng nguồn và hạ nguồn tức là mọi biến

động ở thượng nguồn như lấy nước, thải nước, ngăn giữ nước, cải tạo dòng chảy, biến động chất lượng nước đều liên quan đến sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực ở hạ lưu

- Mối quan hệ giữa bề mặt lưu vực và nguồn nước: mỗi tác động bề mặt lưu

vực như việc chặt phá rừng, việc mở rộng canh tác trên sườn dốc, việc đô thị hóa, việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp… đều làm thay đổi chế độ dòng chảy và chất lượng nước trong phạm vi lưu vực

- Mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất: nước mặt và nước dưới đất

trong phạm vi lưu vực quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau Mùa lũ nước mặt cung cấp thêm trữ lượng cho nước dưới đất, còn mùa khô nước dưới đất bổ sung lại cho nguồn nước mùa nước kiệt Vì vậy, các biện pháp trồng rừng, làm hồ chứa là biện pháp tích cực điều hòa lượng nước cho cả hai cấu thành

Tính hệ thống của nước đòi hỏi phải có những chính sách, qui định, thể chế mang tính liên ngành trong QLTHTNN

Trang 16

4 TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM

4.1 Tài nguyên nước mặt

Trên lãnh thổ Việt Nam có 2360 sông dài trên 10 km có dòng chảy thường xuyên 9 hệ thống sông có diện tích lưu vực trên 1000 km2 đó là: Mê Kông, Hồng, cả , Mã, Đồng Nai, Ba, Bằng Giang, Kỳ Cùng và Vũ Gia-Thu Bồn Sông ngòi Việt Nam có thể chia làm 3 nhóm

Bảng 1 Trữ lượng nước mặt ở các sông

Nhóm sông Diện tích lưu vực (km 2 ) Tổng lượng nước (km 3 /năm)

Toàn bộ Trong

nước

Ngoài nước

Toàn bộ Trong

nước

Ngoài nước

Sơ lược các nguồn tài nguyên nước các vùng

8 vùng kinh tế ở nước ta phần lớn đều nằm trong các lưu vực sông chính Tuy nhiên, trữ lượng và chất lượng tài nguyên nước, tính đa dạng sinh học và khả năng có nước và tính dễ bị tổn thương của mỗi vùng có khác nhau Các vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc và nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào Ở các vùng này, gia tăng dân số, đô thị hoá và công nghiệp hoá một cách nhanh chóng, thâm canh nông nghiệp và vận tải đường thuỷ làm cho chất lượng nước xấu

đi và giảm mực nước dưới đất Trong khi các vùng ven biển với mật độ dân số ngày càng tăng, càng dễ bị tổn thương trước do sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nạn phá rừng diễn ra

ở các vùng thượng lưu, thì ở các vùng núi cao (Tây Bắc và Tây Nguyên) hạn hán và lũ quét lại xảy ra ngày càng nghiêm trọng Tính đa dạng sinh học trên đất liền và thuỷ sản nước ngọt giảm ở hầu hết các vùng Các nguồn tài nguyên biển và ven biển từng mang lại các lợi ích cho các vùng ven biển và nền kinh tế nước nhà, nhưng khai thác quá mức là một nguy

cơ rõ nhất

4.2 Tài nguyên nước dưới đất

Tổng hợp trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xét duyệt trên toàn lãnh thổ đến cuối năm 1998 và các năm 2002, 2004 được thể hiện trong bảng 2

Trang 17

Bảng 2 Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m/ngày)

Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Bộ NN&PTNT

Nguồn nước ngầm được phân bố theo lãnh thổ như sau:

* Hà nội – Hải phòng – Quảng Ninh: 5.058.915 m3/ngày

* TP Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Vũng tầu 1.591.182 m3/ngày

4.3 Tài nguyên nước ven bờ

Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km và hơn 3500 đảo lớn và nhỏ Vùng bờ biển

và vùng nước ven bờ biển Việt Nam có thể chia thành 9 vùng với các đặc trưng địa mạo sau:

- Vùng bờ từ Móng Cái đến Đồ Sơn: đây là vùng bờ động lực sông và thủy triều

chiếm ưu thế Hình thái đường bờ khúc khuỷu và phân cách mạnh có nhiều vũng, vịnh và đảo ven bờ cùng với rừng ngập mặn

- Vùng bờ từ Nam Đồ Sơn đến Nga Sơn (Thanh hóa): đây là vùng bờ biển phát

triển trên nền lục địa kế thừa vùng trũng sông Hồng bao gồm các cửa sông chính của hệ thống sông Hồng Đặc trưng hình thái đường bờ là lồi ra biển, trước các cửa sông đều có các cồn cát

- Vùng bờ từ Nga Sơn (Thanh Hóa) đến Đèo Ngang (Quảng Bình): vùng này có

cấu tạo đất đá theo nền của đới tạo núi Việt – Lào

- Vùng bờ từ Đèo Ngang (Quảng Bình) đến đèo Hải Vân (Đà Nẵng): thuộc vùng

Bắc Trường Sơn bao gồm phức nếp lõm sông Cả và lồi Trường sơn Đặc điểm bờ biển là đồng bằng hẹp tích tụ mài mòn ven biển có nhiều cồn, đụn cát nằm dọc phía ngoài, phía trong là đầm phá

- Vùng bờ từ bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến Sa Huỳnh (Quảng Ngãi): vùng

phát triển trên nền uốn nếp Việt – Lào, dải đồng bằng ven biển và vùng bờ biển hiện đại đều tương đối rộng Trong vùng này có Cù Lao Chàm

- Vùng ven bờ từ Cà Ná đến Vũng Tàu: vùng này thuộc đới cấu trúc Đà Lạt Địa

hình bờ biển tương đối bằng phẳng, vùng đáy sát bờ có nhiều bùn cát và đá ngầm

Trang 18

- Vùng bờ từ Vũng Tàu đến Rạch Giá: thuộc châu thổ sông Cửu Long có nhiều

cửa sông lớn, bờ biển thoai thoải, hệ thống kênh rạch dày đặc Các cửa sông thường rất rộng với các bãi triều ngầm và cồn cát

Việt Nam có 28/64 tỉnh thành phố có biển Nhìn chung, dân số thành thị của các tỉnh ven biển đều tăng trong 3 năm gần đây (2,5% năm 2002 và 3,2% năm 2003) Năm 2003, các tỉnh ven biển có 308 quận, huyện với dân số khoảng 41,7 triệu người trong đó có 126 quận, huyện với trên 17,7 triệu người sinh sống

Hơn hai thập niên qua, một số lượng lớn tầu, thuyền mới đóng đã tham gia khai thác

Số tàu thuyền này chủ yếu hoạt động ở vùng biển có đậu sâu trên dưới 50 m, gây áp lực lớn cho việc khai thác hải sản ở vùng nước ven bờ So sánh với kết quả nghiên cứu những năm

90, trữ lượng cá biển đến nay (2004) đã giảm sút khá rõ rệt (3,1/4,1 triệu tấn)

4.4 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày Tổng số các con sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2.500, trong đó có 2360 con sông dài từ 10km trở lên Việt Nam có chín hệ thống sông lớn nhất là Cửu Long, Hồng, Thái Bình, Kỳ Cùng - Bằng, Mã,

Cả, Thu Bồn, Ba và Đồng Nai Theo số liệu tính toán cho thấy hệ thống sông Cửu Long có nguồn nước chảy vào Việt Nam là lớn nhất, chiếm 61,4% tổng lượng dòng chảy sông ngòi của cả nước Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trong những loại hình ĐNN quan trọng của Việt Nam Hiện nay, cả nước có trên 3.500 hồ chứa nước nhỏ và 650 hồ chứa nước vừa và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diện tích mặt nước 23.400 ha, hồ Hòa Bình 218 km2, hồ Dầu Tiếng 35.000 ha, hồ Trị An 27.000

ha (Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân, 2003)

Khí hậu nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao (hơn 200C/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào (1500mm/năm) Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt -

ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình ĐNN

4.5 Tình hình khai thác và sử dụng nước ở Việt Nam

Dân số tăng nhanh và lượng nước sử dụng nhiều lên sẽ làm cho lượng nước bình quân đầu người ngày càng giảm Theo số liệu thống kê hàng năm ở Việt Nam, tổng lượng nước được tạo ra trung bình hàng năm là khoảng 835 tỷ m3, lượng nước sản sinh trên lãnh thổ khoảng 325 tỷ m3 Lượng nước bình quân đầu người hàng năm từ 4.000 m3/năm cho vùng thiếu nước đến 10.720 m3/năm cho các vùng có trữ lượng lớn

Sử dụng nước có tiêu hao

- Sử dụng nước cho nông nghiệp: kết quả tính đến năm 1998 đã có 75 hệ thống

thủy lợi vừa và lớn với nhiều hệ thống thủy lợi nhỏ gồm 3.500 hồ chứa vừa và lớn (dung tích trên 1 triệu m3 chiều cao đập trên 10 m); 1017 đập dâng và hàng ngàn hồ chứa nhỏ, hơn 5.000 công tưới/tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm điện lớn và vừa với tổng công suất 24,8 triệu m3/h và hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các hệ thống thủy lợi có tổng năng lực tưới trực tiếp 3,45 triệu

Trang 19

ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp Khoảng trên 8000 km bờ bao ngăn lũ vụ hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh Tổng tài sản cố định phần nhà nước đầu tư khoảng trên 60.000 tỷ đồng (giá năm 1998) chưa kể tài sản cố định cho đê điều, công trình thủy điện… Lượng nước cung cấp hàng năm cho nông nghiệp rất lớn và tăng lên hàng năm: 1985 sử dụng 40,65 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, 1990 là 51 tỷ m3 chiếm 91% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 2000 là 76,6 tỷ m3, chiếm 84% tổng nhu cầu về nước Từ năm

1998, diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các

hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng cho 7,4 triệu ha (hay 80% tổng diện tích đất trồng trọt) Chính phủ mong muốn đến năm 2010 thì nhu cầu tưới sẽ tăng đến 88,8 tỷ m3 (ứng với diện tích được tưới là 12 triệu ha)

- Sử dụng nước cho công nghiệp: 1980 là 1,50 tỷ m3 (chiếm 4,0%); 1985 là

1,86 tỷ m3 (chiếm 6,3%); năm 1990 là 5,33 (chiếm 9,8%); năm 2002 là 14 tỷ (chiếm 18,5%)

- Sử dụng cho sinh hoạt: tổng lượng nước cấp cho các đô thị 2,6 triệu m3/ngày

(năm 1998); 2,7 triệu m3/ngày (năm 2002), khoảng 3 triệu m3/ngày (vào tháng 12-2005) và dự kiến 3,3 triệu m3/ngày năm 2010

Hiện nay chỉ khoảng 70% dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt Theo chiến lược của Chính phủ, đến năm 2010 sẽ tăng tỷ lệ này 95% dân cư đô thị Ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp và các ngành dịch vụ cũng làm tăng nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên nước của đất nước

- Ngoài mục đích tưới tiêu cho nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ cấp

nước cho sinh hoạt và tiêu nước cho các vùng dân cư Một số hệ thống còn được kết hợp khai thác sử dụng nước cho giao thông, du lịch, thủy sản

- Sử dụng nước cho thủy điện: Các hồ chứa thủy điện là nguồn dự trữ nước

quan trọng để điều hòa, phân phối, cấp nước cho các mục đích khác Tổng dung tích trữ nước của 11 hồ chứa nước thủy điện lớn đã và đang xây dựng (dung tích mỗi hồ trên 1 tỷ m3) và hơn 35 hồ chứa dung tích trên 100 triệu m3/

hồ là trên 25 tỷ m3 Theo kế hoạch đến 2010 sẽ đưa vào hoạt động 21 hồ chứa thủy điện vừa và lớn Đến hết năm 2020 sẽ xây dựng thêm nhiều hồ chứa với tổng công suất điện là 11.137 MW

Đánh giá chung

a. Về chất lượng:

Chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng ở vùng hạ lưu nước

ở phần lớn các con sông đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng Nguyên nhân do nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép thải trực tiếp vào các dòng sông Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH4, tổng N, tổng P và vi sinh có hàm lượng cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ và đời sống

Trang 20

nhân dân, nhất là ở những nơi người dân sử dụng nước sông làm nguồn nước phục vụ sinh hoạt Nước ở vùng ven biển cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm Hàm lượng các chất hữu cơ, kim loại nặng, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt quá tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng dầu trong nước biển có xu hướng tăng nhanh do xảy ra nhiều sự cố tràn dầu Hàng năm ước tính nước ta có khoảng trên 1 tỷ m3 nước thải mà hầu hết chưa được xử lý hoặc

xử lý chưa đạt yêu cầu đổ ra môi trường đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng một số nguồn nước Tỷ lệ số người được sử dụng nước hợp vệ sinh còn thấp (khoảng 85% ở thành phố và khoảng 45% ở vùng nông thôn)

b. Khả năng bảo đảm về nước:

Sẽ gặp khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô Theo báo cáo của Viện Quy hoạch thuỷ lợi, trữ lượng nước ngầm ở nước ta có khoảng 50 - 60 tỷ m3, trong đó trữ lượng khai thác khoảng 10 - 12 tỷ m3/năm Hàng năm chúng ta khai thác khoảng 20% trữ lượng nước ngầm phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt là các khu công nghiệp, đô thị có nguy cơ cạn kiệt vào mùa khô và có dấu hiệu ô nhiễm ở một

số nơi Nguyên nhân do khai thác bừa bãi và không đúng quy trình kỹ thuật

c. Quan trắc môi trường nước:

Nhằm phục vụ công tác đánh giá diễn biến chất lượng môi trường, định kỳ xây dựng Báo cáo hiện trạng môi trường, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia đã được xây dựng, từng bước bổ sung và hoàn thiện Tính đến nay, trên phạm vi cả nước có

20 trạm quan trắc và phân tích môi trường thực hiện quan trắc thường xuyên các thành phần môi trường nước, không khí, đất, mưa axít, phóng xạ và môi trường lao động với hơn

250 điểm quan trắc, phân bố trên địa bàn của 45 tỉnh, thành phố với tần suất quan trắc là 4 lần trong năm Bên cạnh đó, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia cũng phối hợp chặt chẽ với hệ thống quan trắc môi trường không khí của Trung tâm Khí tượng thuỷ văn quốc gia và hệ thống quan trắc nước lục địa của Cục quản lý tài nguyên nước

d. Đáp ứng các vấn đề về tài nguyên nước của Việt Nam:

Chính phủ Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả rất ấn tượng trong việc giải quyết những vấn đề về quản lý tài nguyên nước của đất nước Những kết quả này là do tăng đầu tư của Nhà nước cho ngành nước từ 5.682 tỷ đồng trong năm 1996 lên đến 8.621

tỷ đồng trong năm 2001, mới có thể đạt được

Cùng với việc tăng đầu tư và tăng cường năng lực, Chính phủ Việt Nam cũng đã xây dựng và thực thi nhiều chính sách, chương trình đặc biệt chú trọng vào giải quyết các vấn

đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước, bao gồm tăng tỷ lệ được sử dụng nước sạch và

vệ sinh, hạn chế ô nhiễm, bảo tồn tính đa dạng sinh học và bảo vệ các hệ sinh thái, nâng cao tính bền vững của ngành thuỷ sản, giải quyết tính dễ bị tổn thương trước các thiên tai có liên quan đến nước và tăng cường quản lý các lưu vực sông

e. Các vấn đề về môi trường nước:

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước:

Trang 21

Ô nhiễm nguồn nước là một trong các thách thức thực tế phải đối mặt trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Đôi lúc sự tăng trưởng kinh tế phiến diện đã dẫn đến những hậu quả môi trường không kiểm soát được Các nghiên cứu về các lưu vực sông đã cho những kết quả đáng báo động Sự ô nhiễm do nước thải từ các khu đô thị và các khu công nghiệp trên hầu hết các lưu vực từ bắc đến nam đều có biểu hiện rõ rệt

ra, còn có hơn 1.600 loài giáp xác và 2.500 loài thân mềm Trong số này, có 101 loài nước ngọt và 131 loài biển được xem là quý hiếm và đang bị đe doạ và đã được đưa vào sách đỏ năm 2002 Các hệ sinh thái của Việt Nam cũng rất phong phú như các vùng ĐNN, rừng ngập mặn, rạn san hô và các bãi cỏ biển

Chất lượng nước :

Tình trạng ô nhiễm nước mặt, ngầm và các vùng nước ven bờ ở Việt Nam ngày càng trở nên rõ rệt hơn Mặc dù chất lượng nước ở các vùng thượng lưu còn khá tốt, nhưng các đoạn sông hạ lưu của các con sông chính thì chất lượng nước lại kém và hầu hết các hồ,

ao, kênh mương trong các khu đô thị đang nhanh chóng trở thành các bể chứa nước thải Nước dưới đất cũng đã có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn ở một số nơi Đô thị hoá và công nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng ở các vùng ven biển, các hoạt động xây dựng cảng và phát triển hàng hải, phát triển du lịch ven biển và sự gia tăng các sự cố tràn dầu đã góp phần làm suy giảm chất lượng nước ven biển

Tính dễ bị tổn thương :

Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước thiên tai do các điều kiện về địa lý và địa hình của đất nước Các vùng bị ô nhiễm nặng như Hà nội thuộc đồng bằng sông Hồng, thành phố Hồ Chí Minh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, các vùng ven biển miền Trung là những vùng rất

dễ bị thiên tai Hàng năm, thiên tai như bão nhiệt đới, mưa dông, lũ lụt hay hạn hán đã gây ảnh hưởng rất lớn đến người dân, sinh kế, đất nông nghiệp, chăn nuôi và cơ sở hạ tầng của họ

Tốn kém về kinh tế :

Trong các năm qua, Việt Nam đã có khoảng 6 triệu trường hợp bị nhiễm 6 loại bệnh lây lan theo đường nước và đã phải chi ít nhất là 400 tỷ đồng để trực tiếp chữa chạy các bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét Ngoài chi phí về y tế, các khoản chi có liên quan đến xử lý các nguồn tài nguyên nước và các hoạt động làm sạch sau các sự cố dầu tràn cũng rất lớn

Trang 22

Tổng thiệt hại về mặt tài chính do một vụ dầu tràn lớn gây ra trong năm 2001 ước tính khoảng 250 tỷ đồng (17 triệu đô la Mỹ) trong khi đó thì chi phí cho việc làm sạch nước và các vùng bãi biển bị ô nhiễm lên tới 60 tỷ đồng (4 triệu đô la Mỹ) Chi phí thiệt hại do thiên tai như lũ lụt trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2002 gây ra ước tính 18.700 tỷ đồng (hay 1,25 tỷ đô la Mỹ).

Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp

Nước thải từ 44 KCN, KCX của các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM và Bà Rịa- Vũng Tàu thải ra hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai mỗi ngày lờn đến 111.605m3 nước thải, trong đó có khoảng 15 tấn TSS, 76,93 tấn COD, 19,68 tấn BOD5, 1,6 tấn Nitơ và 542 kg P tổng làm cho nguồn nước vượt TCCP nhiều lần Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2005, mới chỉ có 16 KCN là có nhà máy

xử lý nước thải tập trung

(Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai", Viện Môi trường và tài nguyên)

Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị

Mức độ ô nhiễm từ sinh hoạt cũng không kém từ hoạt động sản xuất công nghiệp, trên LVS Sài Gòn- Đồng Nai hiện nay có đến 116 khu đô thị mỗi ngày thải vào sông khoảng gần 1 triệu m3 nước có chứa 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46 tấn dầu mỡ động thực vật cùng nhiều vi khuẩn và vi trùng gây bệnh

Ngoài ra, lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai có đến 75 khu bãi rác thải, hàng ngàn khu chăn nuôi Hầu hết rác thải ở các tỉnh chưa có hệ thống xử lý và chủ yếu chôn lấp là chính, sự chôn lấp không bảo đảm kỹ thuật làm cho các chất độc hại ngấm vào nước ngầm, hay hòa lẫn cùng nước mưa chảy ra sông suối hòa cùng các chất hóa học từ thuốc trừ sâu, phân bón từ sản xuất nông nghiệp mà cây trồng hấp thu chưa hết đổ ra sông chảy về xuôi

(Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai", Viện Môi trường và Tài nguyên)

Trang 23

Ví dụ về sự ô nhiễm trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy

Hiện nay, về mùa khô sau khi tiếp nhận nước sông Tô Lịch, lưu lượng nước sông Nhuệ tăng lên, nồng độ các chất ô nhiễm nước sông tăng vọt, sau đó giảm dần do khả năng

tự làm sạch của sông nhưng không đáng kể Nồng độ các chất ô nhiễm ở khoảng cách 20

km về phía hạ lưu vẫn cao hơn giá trị ban đầu trong sông Nhuệ (trước điểm nhập lưu ở Đập Thanh Liệt) đến 1,2-1,5 lần theo BOD5, 2-2,5 lần theo NH3, NO3 và NO2 Fecal Coliform cao hơn ban đầu 1,2-1,5 lần

Ô nhiễm độ đục, DO, COD và BOD 5 tại các điểm đo ở hạ lưu cao hơn ở thượng lưu.

Độ đục ở thượng nguồn sông Đáy nhìn chung đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nước mặt loại A, chỉ có một vài điểm đo có giá trị vượt quá tiêu chuẩn A từ 1,2-1,5 lần Đoạn từ Phủ Lý đến hạ lưu sông Đáy có độ đục khá cao Tại điểm đo ở Đò Mười, độ đục đạt 178,91 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A tới 9 lần, vượt quá tiêu chuẩn B tới 2,5 lần

Hàm lượng DO đoạn đầu từ Liên Mạc đến Cầu Diễn là trên 6,5 mg/l, từ Cầu Diễn về

hạ lưu hàm lượng DO giảm dần, về đến Tó thì lượng DO lại càng giảm mạnh, chỉ khoảng 4,5 mg/l Đặc biệt tại khu vực gần cửa xả sông Tô Lịch DO có giá trị nhỏ hơn 1 mg/l

Đoạn đầu của sông Nhuệ, hàm lượng BOD5 và COD đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép loại A (lớn hơn và bằng 4 mg/l) Nhưng đoạn từ Cầu Diễn trở về hạ lưu, các chỉ tiêu này đều vượt quá tiêu chuẩn nguồn nước loại A Đặc biệt là tại Cầu Tó sau điểm xả nước

Ô nhiễm nước mặt tại đoạn sông Cầu qua thành phố Thái Nguyên

Đoạn sông Cầu qua Tp Thái Nguyên có COD trung bình từ 20÷200mg/l vượt TCCP từ 2÷10 lần đối với nguồn loại A (<10mg/l) vượt đế́n gầ̀n 6 lầ̀n đối với nguồn loại B (<35mg/l) Tại khu vực này, tại nhiề̀u vị trí hàm lượng COD đạt đế́n mức độ ô nhiễm rấ́t cao từ 550÷1.576mg/l vượt TCCP đối với nguồn loại B tới 16÷45 lầ̀n Hàm lượng BOD5 trung bình từ 6÷200mg/l, vượt TCCP từ 1,5÷

50 lần đối với nguồn loại A (<4mg/l) và đến 8 lầ̀n khi so sánh ở mức B (25mg/l) Tại khu vực này, ô nhiễ̃m hữu cơ có thể̉ đạt đế́n mức cao với BOD5 từ 310÷490mg/l, vượt TCCP đối với nguồn loại B tới 12÷20 lầ̀n

Tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ; khu gang thép Thái Nguyên có mức

độ ô nhiễm cao Các hợp chất hữu cơ: COD, BOD5, hàm lượng quỏ cao vượt quá tiêu chuẩn A trung bình từ 2-5 lần (Cam Giá, cống thải Hoàng Văn Thụ, Cầu Loàng, Hương Canh ) Hàm lượng

NO2 đó bị ô nhiễm với diện khá rộng và nồng độ cao, trung bình vượt quá tiêu chuẩn A từ 20 - 40 lần, vượt quá tiêu chuẩn B từ 10 - 20 lần, rất nhiều nơi vượt quá tiêu chuẩn A từ 200 - 250 lần, thậm chớ tới 300 lần và vượt quá tiêu chuẩn B tới 50 lần Dầu cũng là một trong những yếu tố ô nhiễm cao, hầu như không đạt tiêu chuẩn A, rất nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn B, thậm chí ở một

số nơi vượt qua tiêu chuẩn B tới vài chục lần

Trang 24

thải từ sông Tô Lịch, nồng dộ BOD5 và COD vượt quá từ 5 đến 7 lần so với tiêu chuẩn nguồn nước loại A và cao hơn tiêu chuẩn nguồn nước loại B.

Hàm lượng cặn lơ lửng khá cao, có sự biến động mạnh giữa các vùng và các tầng.

Tại các điểm lấy mẫu trên sông Nhuệ, hàm lượng cặn lơ lửng đều đạt từ 40-60 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A từ 2-3 lần mặc dù tại thời điểm khảo sát, cống Liên Mạc liên tục mở nên nồng độ các yếu tố trên sông Nhuệ đã được pha loãng

Tại các vị trí đo trên sông Đáy, hàm lượng cặn trung bình đạt từ 30-40 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A từ 1,5-2 lần Hàm lượng cặn lơ lửng lớn nhất tại các điểm đo ở cầu, bến đò, cửa sông đạt từ 44-70 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A từ 2-3,5 lần, có nơi như Đò Mười - Trực Ninh cao gấp 9 lần tiêu chuẩn cho phép

Ở các sông nội thành Hà Nội, độ cặn lơ lửng rất cao, trung bình từ 50-100 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A nhiều lần và vượt quá tiêu chuẩn B từ 2,5 - 5 lần

Ô nhiễm amoni (NH 4 + ) diễn ra trên diện khá rộng trong lưu vực.

Tại các vị trí lấy mẫu trên sông Nhuệ, hàm lượng NH4+ trung bình đạt từ 1,2-1,7 mg/l, vượt tiêu chuẩn A từ 25-33 lần và vượt quá tiêu chuẩn B từ 1,2-1,7 lần

Trên sông Đáy, hàm lượng NH4+ tại các vị trí đo đạt từ 0,06-1,5 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A từ 1,2-30 lần, một số nơi vượt quá tiêu chuẩn B 1,5 lần

4.6 Những tồn tại và thách thức

- Vấn đề đánh giá tài nguyên nước

- Sự xem xét mối quan hệ đất – nước – hệ sinh thái

- Chính sách và chiến lược nước

- Pháp chế và tiêu chuẩn nước

- Khung thể chế

- Sự tham gia vào kế hoạch quản lý

- Phân phối nước và giải quyết tranh chấp

Trang 25

Chương III ĐÁNH GIÁ CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT

1 CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG

1.1 Chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác vảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đặt việc “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân và toàn quân” lên vị trí hàng đầu, Nghị quyết số 41-NQ/TW (ngày 15/11/2004) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết đánh giá tình hình môi trường, nêu lên các nguyên nhân của thành công và yếu kém, đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu, 5 nhiệm vụ chung,

2 nhiệm vụ cụ thể và 7 giải pháp bảo vệ môi trường Một trong các nhiệm vụ được đề cập đến trong nghị quyết này là “điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học” Các quan điểm về phương hướng chiến lược nêu trong nghị quyết này nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động của xã hội trong giai đoạn quá độ tiến tới một nền sản xuất công nghiệp và xa hơn nữa là kinh tế tri thức Đây là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất cân bằng giữa phát triển kinh tế và duy trì bảo vệ nguồn tài nguyên nói chung, tài nguyên nước nối riêng Cho nên, xét một cách toàn diện thì đây là một dạng văn bản định hướng, chiến lược, không phải là một văn bản hướng dẫn nên không đưa ra các hoạt động cụ thể cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra.Mục II/phần 4 của Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã đề ra 4 hoạt động ưu tiên đối với tài nguyên nước ở Việt Nam: hoàn thiện chính sách và pháp luật; hoạt động về kinh tế; hoạt động kỹ thuật; nâng cao nhận thức

Theo tiêu chí thực tiễn, bất cứ một chính sách nào cũng phải dựa trên sự đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển của xã hội, định hướng phát triển bền vững không nằm ngoài quy luật đó Sự phát triển và quản lý tài nguyên nước được gắn liền với mỗi mục tiêu

và chiến lược quốc gia trong từng thời kỳ Thành công của chủ trương phát triển bền vững

sẽ đóng góp quan trọng vào việc nâng cao đời sống nhân dân và mỗi ngành kinh tế - xã hội Điều này đã được khẳng định bằng các kết quả được ghi nhận qua việc cung cấp nước, tích cực trong hoạt động thủy lợi, phòng chống lũ, lụt tạo thuận lợi để:

- Đạt được những thành quả chiến lược trong tăng trưởng lương thực một cách ổn định Khẳng định các sản phẩm lương thực không chỉ bảo đảm dự trữ quốc gia mà còn tăng nhanh giá trị xuất khẩu (5,2 triệu tấn gạo/năm 2005) Sản lượng gạo qua các năm được trình bày trên bảng 3

Trang 26

Bảng 3 Sản lượng lúa cả năm

Năm

Sản lượng (nghìn tấn)

Tổng số

Chia ra Lúa

Nguồn: Báo cáo thống kê năm 2004 Bộ NN và PTNT

- Tăng vụ, phát triển gieo trồng không chính vụ, cây ăn quả, cây công nghiệp và tăng năng suất cây trồng trên mỗi hecta

- Đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển giao loại hình canh tác từ các vùng Đặc biệt đáp ứng ngày càng nhiều về nhu cầu nước cho sự phát triển đô thị và các vùng công nghiệp, dịch vụ du lịch và thủy sản, cải thiện giao thông nội địa

- Khai thác hiệu quả thủy điện: một số các công trình thủy điện vừa và nhỏ trên các sông nhánh cúng như các công trình thủy điện lớn trên các sông chính như sông

Đà, sông Chảy, sông Sê san, sông Ba… đã được xây dựng và cung cấp hơn 12 tỷ kWh điện mỗi năm

1.2 Chiến lược ngăn ngừa và giảm thiểu thảm họa tự nhiên

Mục tiêu phát triển kết hợp với bảo vệ môi trường (trong đó có tài nguyên nước) theo phương châm “lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường là chính” được thể hiện rõ trong chủ trương của Đảng được đề ra trong nghị quyết 41-NQ/TW Nhiệm vụ này vừa phức tạp, cấp bách và mang tính đa ngành, liên vùng rất cao

Trang 27

Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa có lượng mưa lớn và có nhiều biến cố bất thường của thời tiết Việc xảy ra lũ, lụt, trượt lở đất là không thể tránh khỏi Để giảm thiểu tối

đa tác hại của các thảm họa này, cần phải nắm vững những quy luật, diễn biến, các tác động của thời tiết, điều kiện tự nhiên của từng vùng Những hiểu biết về thảm họa thiên nhiên cần được nâng cao, đặc biệt đối với các nhà hoạch định chính sách ở cấp trung ương

và địa phương Các phương án phòng ngừa, khắc phục hiệu quả bão, lụt, lũ quét đã được

đề cập đến trong các bộ luật hiện hành như luật bảo vệ môi trường, luật tài nguyên nước…Hiện nay, kế hoạch phòng chống lũ, lụt tại đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mê Kông, trung bộ và cao nguyên Tây nguyên đã từng bước được soạn thảo và hoàn chỉnh Mạng lưới chống lụt lớn đã được xây dựng và tăng cường hàng năm như: hệ thống đê sông Hồng – Thái Bình, sông Mã, sông Cả…; hệ thống đê biển, cống ngăn mặn ở phía Bắc và bắc Trung bộ; hệ thống đê bao, kênh tiêu lụt ở đồng bằng sông Mê Kông; các hồ chứa lớn như

hồ Hòa Bình, thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng, Phù Ninh, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, hồ Bình Điền – Tả Trạch (đang xây dựng) … để cắt lụt bảo vệ đời sống nhân dân, hạ tầng cơ sở, và sản xuất tại những đồng bằng quan trọng của quốc gia suốt trong mùa mưa, lụt Hiệu quả của chiến lược phòng chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra được thể hiện bằng: khống chế, điều hòa được lượng nước trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong mùa mưa, tránh được lụt cho vùng đồng bằng bắc bộ; bảo đảm cuộc sống, duy trì mức độ tăng trưởng nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo phương châm “chung sống với lũ”, bằng biện pháp chủ động kiểm soát lũ để hạn chế tối đa thiệt hại do lũ gây ra, đồng thời khai thác các mặt lợi của lũ, vùng ngập lũ đã đóng góp 75% GDP nông lâm thủy sản và 80% sản lượng gạo xuất khẩu của quốc gia; cảnh báo các vùng có nguy cơ bị sụt lở, lũ quét có kế hoạch di dân khỏi các vùng nguy hiểm bảo đảm tính mạng cho nhân dân

1.3 Chính sách xã hội hóa trong quản lý tài nguyên nước

Xã hội hóa công tác quản lý tài nguyên nước theo phương châm: nhà nước và nhân

dân cùng làm chú trọng phát huy nội lực và sức mạnh của toàn xã hội đồng thời khuyến

khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng và khai thác có hiệu quả tài nguyên nước Tiến tới dân chủ hoá và thực hiện công bằng xã hội trong hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi Trong bối cảnh đó việc tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cho tất cả các tầng lớp nhân dân trên mọi phương diện để họ nhận thức được việc xây dựng các công trình khai thác tài nguyên nước phục vụ cho các mục đích phát triển phải đi đôi với việc quản lý sao cho tương xứng với nguồn vốn đầu tư to lớn của nhà nước, của nhân dân và giá trị của nguồn tài nguyên quí giá này là việc làm cần thiết, đồng thời phải khẳng định rõ: việc quản lý tài nguyên nước là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân

Nguyên tắc Dublin thứ 3 là “phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý

và bảo đảm an toàn về nước” đã phần nào nói lên tính chất xã hội hóa của việc sử dụng và quản lý nguồn nước, nhất là nước phục vụ cho sinh hoạt và nông nghiệp Các cơ quan chức năng không thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nước sử dụng và chất lượng nước của từng vùng do sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nước ta tập trung theo kiểu làng nghề, nuôi trồng thủy sản theo kiểu tự phát, nông nghiệp là kinh tế hộ gia đình Theo đánh giá của ngành thủy sản, nghề khai thác cá biển và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam được gọi là nghề

Trang 28

cá nhân dân Sự phát triển của nghề cá mang tính chất tự phát và trong suốt một thời gian dài chúng ta đã không kiểm soát được sự phát triển này Theo số liệu của Bộ Thủy sản, năm

1981 cả nước mới chỉ có 29.584 tàu gắn máy thì đến cuối năm 2004 chúng ta đã có 85.430 chiếc tàu gắn máy (Hình 2)

Hình 2 Sự tăng trưởng về số lượng thuyền gắn máy thời kỳ 1981 – 2003.

Hằng năm, số lượng tàu thuyền tăng lên liên tục với tốc độ bình quân 2.929 chiếc/năm Sự phát triển này hoàn toàn không dựa trên một căn cứ khoa học về khả năng chịu tải của ngư trường đánh bắt Về nuôi trồng thủy sản, hiện nay cả nước có 904.9 nghìn

ha mặt nước được dùng để nuôi trồng thủy sản, trong đó có: nuôi nước ngọt là 268,6 nghìn

ha (chiếm 30%) và nuôi nước lợ, nước mặn là 636,3 nghìn ha (chiếm 70%) Với định mức

sử dụng khoảng 10.000 m3/ha/năm thì lượng nước để nuôi trồng thủy sản hàng năm ước tính 9 tỷ m3 (bao gồm cả nước ngọt dùng để pha loãng trong nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ) chỉ đứng sau nhu cầu sử dụng nước trong nông nghiệp Việc nuôi tôm nước lợ, nuôi tôm trên cát ven biển đang phát triển rất mạnh, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biên miền Trung Nước dưới đất bị khai thác để nuôi trồng thủy sản và các dịch vụ đi kèm thường dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, gia tăng xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước ở vùng xung quanh gây giảm nguồn nước cấp cho sinh hoạt và một

số nhu cầu khác Trong khi đó, ý thức về tính hữu hạn, tính dễ bị tổn thương của tài nguyên nước của từng người sử dụng hầu như chưa được trang bị Công việc bảo vệ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước là một nhu cầu cần thiết trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở nước ta

1.4 Sử dụng hiệu quả năng lực và tiềm năng nước mặt và nước ngầm

Nhận thức được nguyên tắc Dublin thứ nhất “nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn và

dễ bị tổn thương”, trong nghị quyết 41-NQ/TW đã đưa ra chủ trương “khuyến khích sử dụng tiết kiệm tài nguyên” và “khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải bảo đảm hiệu quả, bền vững và phải gắn với bảo vệ môi trường trước mắt và lâu dài” Chương trình phát triển bền vững (Nghị sự 21 của Việt Nam) đã đề ra việc bảo vệ môi trường nước

và sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước, khai thác và bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo là nhiệm vụ ưu tiên trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

Trang 29

Như đã phân tích trong mục 2.3, tài nguyên nước ở Việt Nam tuy là tương đối phong phú nhưng không phải là vô hạn Mặt khác lượng nước phân phối không đều theo không gian và thời gian trong năm Trong mùa mưa, lượng nước chiếm 70 – 80% tổng lượng nước hàng năm Lưu lượng hàng năm chỉ tập trung vào 3-4 tháng mùa mưa, trong khi 4 tháng giữa mùa khô chỉ chiếm 5 – 8% Bên cạnh đó, lưu lượng tài nguyên nước ngầm có tiềm năng khoảng 1.500 m3/giây Tuy nhiên, sự phân bố tài nguyên nước này không đồng đều Chủ trương sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nước theo cơ cấu kết hợp đa ngành, liên tỉnh là cần thiết.

Lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai là một thí dụ cho sự sử dụng đa chức năng:

- Nguồn tiếp nhận và pha loãng nước thải: Tính đến cuối năm 2004, trên toàn lưu

vực có 116 khu đô thị với các quy mô khác nhau Trung bình mỗi ngày các đô thị

trên lưu vực thải vào nguồn nước sông Sài Gòn - Đồng Nai và vùng phụ cận ven

biển khoảng 992.356 m 3 nước thải sinh hoạt, trong đó sông Sài Gòn tiếp nhận 756.240 m3 nước thải sinh hoạt

- Vận tải: Hiện tại trên hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai đã khai thác và đưa vào

sử dụng nhiều cụm cảng nước sâu, đồng thời còn quy hoạch phát triển một số cụm cảng trọng điểm phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng trong khu vực, đặc biệt là vùng KTTĐ phía Nam

- Công trình thủy điện: Việc xây dựng các công trình thủy điện - thủy lợi như công trình hồ thủy lợi Dầu Tiếng, hồ thủy điện Trị An, Thác Mơ, Đa Mi và hàng chục hồ chứa nước nhỏ có nhiều mặt tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội song cũng phát sinh nhiều vấn đề môi trường và sinh thái cần đặc biệt quan tâm

- Nông nghiệp: cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp bằng lượng nước mặt

và khai thác nước ngầm Sự điều tiết lưu lượng nước trong các mùa tạo điều kiện phát triển nông nghiệp ổn định (75% lượng nước mặt sử dụng cho nông nghiệp)

Sự liên kết giữa các ngành như điện lực – nông nghiệp – giao thông thủy – du lịch

đã hạn chế tổn thất do lũ lụt trong mùa nước, tiết kiệm nước trong mùa khô

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy

Lưu vực sông Nhụê - sông Đáy thuộc các tỉnh và thành phố: Hoà Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, có diện tích khoảng 8.000 km2, dân số trên 9 triệu người, trong đó có khoảng 3,5 triệu sống ven sông Đây là vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên, môi trường phong phú đa dạng, có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng trong đó có Thủ Đô Hà Nội

- Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực lao động của toàn lưu vực tăng nhanh, đặc biệt

là ở thành thị Giai đoạn 1998 - 2002 tốc độ tăng của lực lượng lao động đạt 2,5%/năm, ở thành thị tốc độ tăng của lực lượng lao động là 5,2%, trong khi đó vùng nông thôn chỉ đạt 1,75% Hà Nội là nơi có tốc độ tăng của lực lượng lao động cao nhất (tăng 7,1%, khu vực thành thị là 8,4 %, nông thôn là 5,4%)

Trang 30

- Công nghiệp: Năm 2002 toàn bộ khu vực có 128.581 cơ sở công nghiệp (trong đó

Hà Nội có 16.395 cơ sở, Hà Tây có 54.509 cơ sở, Hà Nam có 12.813 cơ sở, Nam Định có 27.212 cơ sở, Ninh Bình có 16.837 cơ sở và 3 huyện của tỉnh Hoà Bình có

797 cơ sở) Giá trị sản xuất công nghiệp là 20.893.900 triệu đồng

- Tiểu thủ công nghiệp: 286 làng nghề bao gồm các ngành cơ khí, dệt may, chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ

- Chức năng tiêu thoát nước thải: lưu vực Nhuệ - Đáy là nơi tiếp nhận nước thải của các tỉnh Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam được pha loãng bằng nước sông Hồng qua cống Liên Mạc

- Chức năng thủy lợi: cung cấp nước tưới cho hệ thống thủy nông Đan – Hoài cung cấp nước cho canh tác nông nghiệp thuộc Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định

- Cung cấp nước sạch: nguồn cung cấp nước sạch sinh hoạt dân cư cho tỉnh Hà Nam

- Chức năng giao thông vận tải: mạng lưới sông trong lưu vực Nhuệ - Đáy phục vụ cho giao thông vận tải chuyên chở vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho công nghiệp, nhiên liệu

1.5 Đầu tư và tài chính

Tài chính là cơ sở cho mọi hoạt động của nền kinh tế quốc dân Chính sách đầu tư cho QLTHTNN đã được khẳng định trong chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị

sự 21) đã đề ra “sử dụng công cụ tài chính cho phục vụ cho phát triển bền vững”, huy động tất cả các nguồn tài chính có thể để bảo vệ và phát triển môi trường theo hướng cân bằng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đầu tư và tài chính là một khâu trọng yếu trong toàn bộ sự phát triển của quốc gia Việc đầu tư cho quản lý và sử dụng hợp lý Tài nguyên nước đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến từ những thập kỷ 60 của thế kỷ trước bằng việc đầu tư xây dựng các công trình thủy nông (đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải) bằng nguồn vốn trong nước Sự đầu tư các công trình hạ tầng trị thủy như đê điều, kênh mương, các hồ đa chức năng vẫn được xem xét và mở rộng bằng mọi nguồn vốn dưới nhiều hình thức Theo báo cáo của Bộ Tài chính tỷ trọng đầu tư cho ngành nước được tăng lên trong những năm gần đây (hình 3, bảng 4)

Trang 31

Nguồn: Bộ TC, Tổng cục thống kê 2002; và Bộ KH&ĐT

Đầu tư thực tế của nhà nước chiếm một tỷ trọng đáng kể trong ngân sách nhà nước Nhưng từ năm 1999 tỷ trọng này giảm xuống do đầu tư cho ngành nước chủ yếu tập trung vào thủy lợi và cấp thoát nước Trong giai đoạn 1996 – 2001, ước tính khoảng 64% tổng đầu

tư cho ngành nước là từ nguồn vốn ODA, còn 36% là đầu tư trực tiếp trong nước Tổng số vốn đầu tư cho ngành thủy lợi trong 10 năm từ 1991-2000 ước tính khoảng 2,5 tỉ US$ trong

đó đóng góp của nhân dân chiếm khoảng 1/3, ngân sách Nhà nước (cả trung ương và địa phương) khoảng 1,7 tỉ US$ trong đó thời kỳ 1996-2000 tăng gấp 2,4 lần thời kỳ 1991-1995 Ngoài ra, các ban quản lý các lưu vực sông còn được hỗ trợ bằng các nguồn vốn của Ngân hang Á Châu (ADB), AusAID trong việc lập quy hoạch và xác định các vấn đề ưu tiên cho từng lưu vực

1.6 Chủ trương quy hoạch tài nguyên nước theo lưu vực

Việt Nam nằm trong khu vực châu Á nhiệt đới gió mùa, nên thường xuyên xảy ra lũ lụt

và hạn hán, việc quản lý tài nguyên nước theo lưu vực là một biện pháp cần thiết để giải quyết vấn đề mất cân bằng về nước theo không gian và thời gian Đã từ lâu, nước ta đã hình thành các nguyên tắc và quy luật về sử dụng nước tưới, điều này cũng trở thành văn hóa vùng trong nhiều trường hợp như ở Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc…

Trang 32

Từ khi Luật Tài nguyên nước ban hành, nhiều chương trình phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nước đã được thực hiện cho các lưu vực với cách tiếp cận quy hoạch sử dụng tài nguyên nước Nhiều tổ chức quản lý tài nguyên nước đã được thành lập: Hội đồng tài nguyên nước quốc gia và tổ chức quản lý quy hoạch 3 sông lớn sông Hồng – Thái Bình, sông Đồng Nai và sông Cửu Long

Theo kết quả đánh giá của Cục Thủy lợi – Bộ NN&PTNT, Chủ trương quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn với các kết quả sau:

- Các dự án quy hoạch thủy lợi trước kia đã được thực hiện theo lưu vực và nội

dung theo hướng sử dụng tổng hợp tài nguyên nước và bảo vệ sinh thái các dòng sông Các công trình đề xuất trong các dự án mang tính phục vụ tổng hợp đa ngành, đa mục tiêu

- Ba tổ chức lưu vực sông: tổ chức sông Hồng – Thái Bình, sông Đồng Nai và

sông Cửu Long đã được thành lập theo quyết định số 37, 38, 39 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đến nay đã được hơn 3 năm nhưng ba tổ chức này mới

đi vào hoạt động Các ban quản lý đã xác định được các vấn đề ưu tiên cho từng lưu vực

- Ngoài ra đại diện các tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ- Đáy cũng đã

được nhóm họp một số lần trong những năm 2003- 2004 để tiến tới thành lập

tổ chức quản lý theo lưu vực sông nhưng chưa đạt kết quả cuối cùng

2 CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Các văn bản pháp luật đặc trưng liên quan đến QLTHTNN, trong đó có những chi tiết

đề cập đến việc quản lý các vùng ĐNN, được trình bày trong bảng 5

Bảng 5 Các văn bản

Có Không

1 Luật Tài nguyên nước (TNN) (số 08/1998/QH10) ×

2 Nghị định của Chính phủ (số 179/1998/NĐ-CP) quy định chi tiết thi

hành luật Tài nguyên nước

×

3 Nghị định của Chính phủ (số 149/2004/NĐ-CP) hướng dẫn thi hành

luật TNN về việc cấp phép khai thác, sử dụng nước và xả nước thải

vào nguồn

×

4 Nghị định của Chính phủ (số 34/2005/NĐ-CP) quy định về việc xử phạt

hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

×

Trang 33

TT Tên văn bản ĐNN được đề cập

Có Không

1 Luật Tài nguyên nước (TNN) (số 08/1998/QH10) ×

5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 67/TTg) thành lập Hội đồng

Quốc gia về tài nguyên nước

×

6 Nghị định của Chính phủ (số 91/2002/NĐ-CP) quy định chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN và MT

×

7 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 63/2002/QĐ-TTg) về công

tác phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai

×

8 Nghị định của Chính phủ (số 27/2005/NĐ-CP) quy định chi tiết hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản

×

9 Quyết định của Bộ trưởng Bộ NNvà PTNT (số 55/2004/QĐ-BNN) về

việc ban hành quy định việc cấp phép cho các hoạt động trong phạm vi

bảo vệ công trình thủy lợi

×

10 Quyết định số 19/2002/QĐ-BTS quy định quy chế quản lý môi trường

chế biến thủy sản

×

11 Thông tư liên tịch Bộ Tài chính – Bộ TN-MT (số

125/2003/TTLT-BTC-BTNMT) hướng dẫn thực hiện nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo

vệ môi trường đối với nước thải

2.1.1 Luật Tài nguyên nước

Luật gồm 9 chương 71 điều bao gồm các nội dung:

- Những qui định chung: quy định hình thức sở hữu, đối tượng sử dụng, cơ quan quản lý và các mối quan hệ về tài nguyên nước đồng thời quy định các hành vi bị nghiêm cấm

- Bảo vệ tài nguyên nước: quy định trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, chính quyền Tất cả các vấn đề liên quan đến bảo vệ chất lượng nước trong khai thác sử dụng, sản xuất, sinh hoạt bao gồm cả vấn đề

xả nước thải vào nguồn được đề cập đến trong chương này

Trang 34

- Khai thác sử dụng tài nguyên nước: quy định quyền của chính phủ trong việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước; quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích khác nhau.

- Phòng chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và tác hại khác do nước gây ra (chương IV): bao gồm 11 điều (điều 36 – 46) liên quan đến các vùng ĐNN do lũ lụt, lưu vực sông, ao, hồ Chương này quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức, lập phương án, quy hoạch dân cư, phân lũ, huy động lực lượng Phần này cũng xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức, cơ quan nhà nước và toàn dân trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại khác do nước gây nên Khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi: xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân quản lý khai thác, bảo vệ Nội dung này quy định rõ các tổ chức, cá nhân được giao quản

lý phải xây dựng phương án bảo vệ, phạm vi bảo vệ các công trình thủy lợi, đê điều; các điều nghiêm cấm trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi cũng được nêu ra

- Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước: quy định nguyên tắc ứng xử, trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đất nước, hợp tác quốc tế trong quản lý và phát triển tài nguyên,

và giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế

- Quản lý nhà nước về tài nguyên nước: quy định nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước (xây dựng chiến lược, quy hoạch, ban hành văn bản pháp luật, cấp

và thu hồi giấy phép…); thẩm quyền quản lý, phê duyệt quy hoạch và chức năng của hội đồng quốc gia về tài nguyên nước

- Quy định về thể chế thanh tra chuyên ngành nước

Tới nay mới chỉ thực thi được một phần những cải cách mà luật này đem lại Hệ thống các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi luật còn đang trong quá trình xây dưng (cấp phép khai thác tài nguyên nước dưới đất, các giới hạn thải, v.v.)

Điểm đặc biệt của luật tài nguyên nước là cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước mang tính liên ngành và phối hợp Cách tiếp cận này đã được triển khai thông qua việc thành lập Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước ở cấp quốc gia và các Ban quản lý và quy hoạch lưu vực ở cấp địa phương Các cơ quan này là các đơn vị trực thuộc Chính phủ và có nhiệm vụ

tư vấn, điều phối và quy hoạch giúp Chính phủ

Về cơ bản Luật Tài nguyên nước được xây dựng làm khung pháp lý linh hoạt và sẽ được bổ sung một số Nghị định tiếp theo Các Nghị định này sẽ quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan thực hiện Luật Tài nguyên nước

Trang 35

lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước; xả nước thải vào nguồn nước; cấp giấy phép về tài nguyên nước và phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra Nghị định này cũng được quy định đối với các hoạt động gây ô nhiễm nước biển; quy định quy hoạch xây dựng công trình trên biển như các công trình giao thông, thủy lợi, thủy sản và các công trình khác; các hoạt động liên quan đến quai đê lấn biển, thoát lũ; phòng, chống xâm nhập mặn, nước biển dâng, tràn, làm muối, nuôi trồng thủy, hải sản và các hoạt động khác

có liên quan

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước Chính phủ có quy định riêng

Các vấn đề được đặt ra và quy định trong nghị định này được tóm tắt như sau:

- Bảo vệ tài nguyên nước, quản lý cấp phép xả nước thải: Bộ NN&PTNT là cơ quan chủ trì phối hợp với các Bộ ngành khác có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện công việc này

- Khai thác, sử dụng tài nguyên nước: chương này gồm 6 điều (từ điều 7 đến điều 12) quy định việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước; quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được phép sử dụng tài nguyên nước; trách nhiệm của các

cơ quan cấp và thu hồi giấy phép sử dụng tài nguyên nước

- Chương IV bao gồm 7 điều quy định cụ thể trách nhiệm quản lý tài nguyên nước cho Bộ NN&PTNT, Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương và hệ thống thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước Trong đó điều 16 và điều 17 hướng dẫn nhiệm vụ của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước là tư vấn cho Chính phủ về xét duyệt quy hoạch lưu vực sông lớn; Các dự án về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước do Chính phủ quyết định; phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, lụt và các tác hại khác do nước gây ra

Không có điều khoản riêng nào quy định cho việc bảo vệ tài nguyên nước liên quan đến các vùng ĐNN Tuy nhiên nội dung này được đề cập gián tiếp trong điều 17

2.1.3 Nghị định của chính phủ số 149/2004/NĐ-CP

Nội dung của nghị định quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước bao gồm 4 chương 25 điều Nghị định này quy định việc cấp, gia hạn, thay đổi, đình chỉ, thu hồi giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước Đối tượng thực hiện là mọi tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có các hoạt động liên quan đến việc thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước Nghị định cũng xác định

rõ trong trường hợp phát sinh mâu thuẫn trong các điều khoản quốc tế đã được Việt Nam ký kết với nội dung của Nghị định sẽ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó

- Chương II quy định việc cấp, gia hạn, thay đổi… giấy phép khi sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước Điều 6 của nghị định xác định các trường hợp không phải thực hiện các thủ tục xin phép này như đối với các vùng ĐNN (nuôi

Trang 36

trồng thủy sản, sản xuất muối…) của các quy mô sản xuất nhỏ phục vụ sinh hoạt trong phạm vi gia đình; khai thác sử dụng nước mưa, nước mặt trong phạm vi đất được giao.

- Trình tự xin cấp phép, gia hạn giấy phép sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước được quy định trong chương III và chương IV Nội dung này liên quan đến các thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về nguồn nước để đảm bảo tính pháp lý và sức chịu đựng của nguồn nước tại nơi khai thác hoặc tiếp nhận nước thải

- Nghị định cũng bãi bỏ một số điều chưa thỏa đáng trong nghị định

179/1999/NĐ-CP như điều 5, 9, 10 và 12

2.1.3 Nghị đinh của Chính phủ số 34/2005/NĐ-CP

Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước Nghị định gồm 5 chương 28 điều quy định cụ thể về các trường hợp và các mức bị xử phạt Đây là một công cụ pháp chế nhằm xử lý các hành vi xâm hại đến chất lượng và dự trữ tài nguyên nước Chương II của Nghị định quy định các hình thức xử phạt cụ thể cho từng trường hợp gây tổn hại cho tài nguyên nước như phạt tiền với các mức khác nhau, khôi phục lại trạng thái ban đầu, tước giấy phép hành nghề khai thác nước mặt, nước dưới đất… Liên quan đến các vùng ĐNN, điều 16 quy định xử phạt đối với các hành vi thu hẹp vùng ĐNN như ao, hồ, đầm lầy bởi các phế thải, đất, đá

vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật

- Điều 2 xác định nhiệm vụ quyền hạn của Bộ TN&MT trong đó các nhiệm vụ liên quan đến QLTHTNN như:

o Trình Chính phủ các dự án Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác về tài nguyên đất, tài nguyên nước, môi trường…

o Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về các lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường…

Ngày đăng: 17/01/2013, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thượng Hùng, Quan điểm bền vững trong sự nghiệp khai thác và sử dụng tài nguyên nước, Tạp chí Địa chất thủy văn, 241 (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm bền vững trong sự nghiệp khai thác và sử dụng tài nguyên nước
2. Phạm Xuân Sử. Tăng cường pháp lý trong quản lý tài nguyên nước. Hội thảo “quản lý điều hành hiệu quả ngành nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường pháp lý trong quản lý tài nguyên nước
Tác giả: Phạm Xuân Sử
20. Quyết định 05/2003/QĐ-BTNMT về việc cấp phép thăm dò khoan nước dưới đất 21. Trần Thanh Xuân, Thảo luận về những giải pháp QLTHTNN ở nước ta, Tài nguyênvà môi trường số 2, 12/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về những giải pháp QLTHTNN ở nước ta
Tác giả: Trần Thanh Xuân
Nhà XB: Tài nguyên và môi trường
Năm: 2003
3. Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân. Tài nguyên nước Việt Nam. NXB Nông Nghiệp, 2003 Khác
4. Luật Tài nguyên nước (1998) 5. Luật Bảo vệ môi trường (2004) 6. Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004) 7. Nghị định 179/1999/NĐ-CP Khác
16. Thông tư liên tịch Bộ Tài chính – Bộ TN&amp;MT số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT Khác
17. Nghị định 162/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành qui chế thu thập khai thác sử dụng dữ liệu thông tin về tài nguyên nước Khác
18. Thông tư 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ TN&amp;MT hướng dẫn thực hiện Nghị định 149/2004/NĐ-CP Khác
19. Thông tư 05/2005/TT-BTNMT ngày 22/7/2005 của Bộ TN&amp;MT hướng dẫn thực hiện nghị định 34/2005/NĐ-CP Khác
22. Lê Trình, Lê Quốc Hùng. Môi trường lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn. NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2004 Khác
23. Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Đức Hạ. Chất lượng nước sông hồ và bảo vệ môi trường nước. NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2004 Khác
24. Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam– 2003, Môi trường nước Khác
25. Báo cáo hiện trang môi trường quốc gia - Phần tổng quan năm 2005 Khác
26. Lê Đức Năm. Báo cáo cập nhật các chính sách lưu vực sông 2004 Khác
27. Dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) Khác
28. Vietnam Water Resources Sector Review. Report No 15041. WB, ADB, FAO, UNDP, NGO, Water Resources Group in Vietnam and the Government of Vietnam. May 13, 1996 Khác
29. TAC Background Papers No4. Integrated Water Resources Management. Global Water Partnership. Technical Advisory Committee (TAC) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tính bền vững sinh thái - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hình 1. Tính bền vững sinh thái (Trang 13)
Bảng 1. Trữ lượng nước mặt ở các sông - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Bảng 1. Trữ lượng nước mặt ở các sông (Trang 16)
Bảng 2. Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m 3 /ngày) - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Bảng 2. Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m 3 /ngày) (Trang 17)
Bảng 3. Sản lượng lúa cả năm - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Bảng 3. Sản lượng lúa cả năm (Trang 26)
Hình 3. Tổng chi tiêu cho ngành nước Bảng 4. Chi tiêu cho ngành nước so với tổng chi ngân sách (tỷ đồng) - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Hình 3. Tổng chi tiêu cho ngành nước Bảng 4. Chi tiêu cho ngành nước so với tổng chi ngân sách (tỷ đồng) (Trang 31)
Bảng 5. Các văn bản - Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Bảng 5. Các văn bản (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w