Tai biến thiên nhiên natural hazard là sự kiện tự nhiên gây nhiều tốn thất cho con người cả về vật chất lẫn tính mạng, sinh ra do sự tương tác giữa hệ thông quản lý tài nguyên của con ng
Trang 1LIEN HIEP CAC HOI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIET NAM
HOI DIA LY VIET NAM
- 3 - Œ- ¿ - E2 - GR -
BAO CAO DE TAI
XAY DUNG SO 00 PHAN VUNG TAI BIEN Maly TRUONG LANH THO TÂY BÁC VIỆT NAM (HOA BINH, SON LA, BIEN BIEN, LAI CHAU: (GO SO CHO VIEC DY BAQ PHONG TRANK THIEN TAL KHAC PHUC KHUNG HOANG SINH THAI, BAG VE MO! TRUONG PHA WT TRIER BÊN VỮNG
Những người thực hiện:
GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ (Chủ tri) PGS.TS Đặng Văn Bào
ThS Nguyễn Hiệu NCS Tran Thanh Hà
ThS Nguyén Quang Minh
CN Nguyễn Ngọc Hân
1¢/@ (09
Trang 2Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
MỤC LỤC
MO DAU ỪỪỪùùỪẶùỪờồẮồ'' , 4
1 Tính cấp bách của đề tài
2 Mục tiêu của đề tài
3 Nhiệm vụ của đề tài ccccvo in
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài - cccnntnnHHHHHH.rrve 6
LIY tr`11ï::7c-17.1.7ToÝ.aa 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TAI BIẾN THIÊN NHIÊN VÀ
PHUGNG PHAP NGHIEN 00 0-, 8
1.1 KHAI QUAT CHUNG VE TAI BIEN THIÊN NHIÊN - 8
Imñn ta 24 8
1.1.2 Phân loại tai biến thiên nhi€n c.cccccecssssssceeecvecsesseecvssvecsesstssstsssesvuesseesseesens 11
1.1.3 Một số loại hình tai biến thiên nhiên chính ở Việt Nam - 14
1.2 CÁC NGUYÊN LY CHƯNG VỀ TAI BIẾN TRƯỢT LỞ ĐÁT 18 1.2.1 Khái niệm về trượt đất cssc n2 HE 2121711111111 1111 1 ececrree 18 1.2.2 Các điều kiện và nguyên nhân xảy ra trượt lở đất ccccccccc- 19 1.2.3 Vai trò của một số nhân tổ tự nhiên đối với quá trình trượt lở 22 1.2.4 Một số kiểu trượt lở chính 2-2-+csc e2 x22 SE 0211127110111 xe 26 1.3 CÁC NGUYÊN LÝ CHƯNG VẺ TAI BIẾN LŨ LỤT - LŨ QUÉT 28
1.3.1 Khái quát chung về tai biến lũ lụt — lũ quét
1.3.2 Các nguyên lý chung về tai biến lũ quét -552 0 ntcnrcrreree 30
1.4 NHỮNG NGUYÊN LÝ CHUNG VẺ TAI BIẾN ĐỘNG ĐÁT 35 1.4.1 Khái quát chung về tai biến động đất -s cu nnnnrerrerer 35
1.4.2 Đặc trưng cơ bản của động đất ác c2 xe rreee 36 1.4.3 Tác hại của động đất 222cc HH H022 38
1.4.4 Giảm thiểu tai biến động đất, 0 2c 212 eczrerrree 39 1.4.5 Dự báo động đất của núi lửa phun - s22 eererreeeee 40 1.5 CAC PHUGNG PHAP NGHIEN CUU un.csscsssssessssssecessseessssssecssscecssssecesssseessseseee 43
1.5.1 Phuong phap van phong ou ccc cccccsseseseetssssscessesesvscscscesstseevacaeatatatansnsesenees 1.5.2 Phương pháp khảo sát thực địa
1.5.3 Phương pháp lấy mẫu 2s 221222272217 22 Ererreeereseee 1.5.4 Phương pháp phân tích ảnh viễn thám hay ảnh hàng không 43 1.5.5 Một số phương pháp khác
Trang 3Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biến Tay Bac
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIÊM TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI TÂY BÁC 44 2.1 DAC DIEM DIEU KIỆN TỰ NHIÊN TÂY BẮC .ccosoccceccvev 44
2.1.1 Vị trí địa lý và tiềm năng - con nnntnhnhHr.eeere
2.1.2 Đặc điểm địa chất — l8 1a .aa
2.1.3 Đặc điểm chủ yếu về địa hình - địa mạo
2.1.4 Đặc điểm khí hậu Tây Bãc -cnnntrctsttrrrrrrrrirrriirrie
2.1.5 Đặc điểm thủy văn vùng Tây Bắc on reterrierrierrirrre
2.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng Tây Bắc s soi
2.2 ĐẶC ĐIÊM KINH TÉ XÃ HỘI TÂY BẮC 2-55c 22 cvcvveerrrrererrree 83
2.2.1 Dân Cư - cs 22c2 CS v+ 22152 1112111271211 111712221 111210221211201211211 2 eo 83
ph» Gì g.Ắ 83 2.2.3 Đặc điểm chung về kinh tế — xã hội 5c cc tre 84
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHAN VA CANH BAO TAI BIEN MOI TRUONG VUNG TAY BAC uueeeccccccscessssessseeseesseseesecsecsensssesessessetssetsneensessees 87
3.1 HIEN TRANG, NGUYEN NHAN VA DU BAO GIAM THIEU TAI BIEN
DONG DAT ooecccccceccssesssssssescsstcssscssscsevecssuessecssssesssessnysesscasecanessnsessucsutessucssbessseresnenteneds 87
3.1.1 Khái quát chưng - LH HH TH H111 1111112 7e 87 3.1.2 Đặc điểm của các tran dOng dat ln: ccc ccs cccsecessesceeseescesessuessuresseessnessees 87 3.1.3 Nguyén nhan gay ra déng data esc ccccsseessesesessssessteascssersesesssnerenetsasees 88
3.1.4 Dự báo và gidim thiu ccc essescscecceecsseesseesssessuecseessoessvveseseanecessecssnecnsvecs 88 3.2 HIEN TRANG VA DIEN BIEN TAI BIEN NỨT ĐÁT -cccccccccscez 89
3.2.1 Khái niệm Chung ooo eee cceseesesesceeeeseetescneseeseseesneesesesesesssasanensesseasssecesnss 89
3.2.2 Hiện trạng nứt đất ở TAy Bac cscccssesssssessssssessessssecsssscsssesessvesesseessseeecnass 89
3.2.3 Nguyên nhân và dự báo tai biến nứt- trượt-sụt đát ¬— 93
3.3 HIEN TRANG, NGUYEN NHAN VA DU BAO TAI BIEN
TRUOT LO DAT occecccccsscscecsssesssssesssssssssuscesuseessssesssvasuusessvsssnscssisessssasssssccsseesesussesseste 96 3.3.1 Hiện trạng tai biến trượt lớ ở Tây Bắc con 2 HE erreee 96
3.3.2 Đánh giá các nhân tổ liên quan tới tai biến trượt lở ở Tây Bắc
3.4 HIEN TRANG, NGUYEN NHAN, DU BAO GIAM THIEU TAI BIEN
3.4.1 Hiện trạng, nguyên nhân tai biến lũ lụt, lũ quét co 02ccsceerrrreccee 118
3.4.2 Một số trận lũ quét, lũ bùn đá điển hình s21 2 te eneei 125
3.4.3 Biện pháp phòng tránh tai biến lũ quét sec nnnennneeeerrrre 128
Trang 4Xây dựng sơ đồ phân vùng tại biến Tay Bắc
3.5 HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP GIẢM THIẾU CÁC
QUÁ TRÌNH TAI BIẾN RỬA TRÔI ĐẤT Ở TAY BAC
3.5.1 Các hình thái xói mòn
3.5.2 Hiện trạng XỐI mÒN - 2c nhàn
3.5.4 Một số giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại xói mòn 141
CHUONG 4 PHAN VUNG TAI BIEN MOI TRUGNG
LANH THO TAY BAG wu scccsccesessesssecssescsecscucessvessucesuesssessvssevessvssusssecsavesnecsseeessess 144
4.1 BAN DO PHAN VUNG TAI BIEN THANH PHAN Q escescecccsecsessecsecsseeereeess 144 4.1.1 Bản đồ tai biến trượt lở đất -cc con ng rererree 144 4.1.2 Thành lập bản đồ xói mòn đất Tây Bắc 5cs 2c cv 151 4.2 SƠ ĐÔ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG TÔNG HỢP TÂY BẮC 152
4.2.1 Phương pháp và nguyên tắc xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến
môi trường
4.2.2 Các vùng nguy cơ tai biến môi trưởng
KÉT LUẬN VA KIEN NGHI .ccccscccccsescsscesssecsscessecsavessesssessacssucssecasecsscsssecesseasece 169
Trang 5DANH MUC CAC CHU VIET TAT
AVT - Anh vién tham
AHK - Anh hang khong
TBĐC - Tai biến địa chất
TBĐN - Tây Bắc - Đông Nam
TBTN - Tai biến thiên nhiên
TBVN - Tây Bác Việt Nam
TV - Thực vật
XMBM - X6i mon bề mặt
XMRT — X6i mon rửa trôi
VPH - Vỏ phong hoá
Trang 6Xây dựng sơ đề phân vùng tai biến Tay Bắc
MO DAU
1 Tính cấp bách của đề tài:
Tai biến thiên nhién (natural hazard) là các hiện tượng tự nhiên cực đoan hoặc
hiếm hoi có nguồn gốc khác nhau (khí tượng-thuỷ văn, dia chat-dia mạo, sinh học,
v.v.) xảy ra trên quy mô cũng rất khác nhau từ toàn cầu, khu vực cho đến địa phương
Vì vậy, một sự kiện tự nhiên trở thành tai biến chỉ khi có quan hệ với khả năng đối
phó của xã hội hoặc cá nhân nào đó
Lịch sử nhân loại đã ghi lại rất nhiều sự kiện quan trọng do thiên nhiên gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội loài người Chẳng hạn trận động đất xây
ra vào năm 1556 ở Trung Quốc đã làm cho khoảng 830.000 người bị thiệt mạng, hay
một trận động đất khác cũng ở Trung Quốc xảy ra năm 1976 cũng làm cho 655.000 người chết Trong khoảng hơn 1000 năm (từ năm 856 đến 1983) trên toàn thế giới đã
có khoảng 3,5 triệu người chết do động đất Sau động đất là những thiệt hại do bão và
lũ lụt gây ra Đáng kể nhất là ở Băng-la-đét Chăng hạn vào năm 1991, một cơn bão
lớn (tốc độ gió đạt tới 235 km/giờ) kèm mưa to đã làm ít nhất 140000 người bị thiệt mạng (theo các nguồn tin khác có thể tới 500 000)
Trong vài thập kỷ gần đây, các hiện tượng cực đoan của thiên nhiên xảy ra ngày cảng nhiều và có chiều hướng ngày càng gia tăng trên Trái Đắt-ngôi nhà chung
của nhân loại Đó là lũ lụt ở Băng-la-đét, Trung Quốc, Việt Nam, v.v., động đất và núi
lửa ở Nhật Bản, In-đô-nê-xia, Án Độ, Pê-Ru, v.v., trượt đất, lũ bùn đá, v.v, Các hiện
tượng này đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản Theo “Báo cáo về thiên tai năm
1997 của Hiệp hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm quốc tế” trong 25 năm (1971-1995)
số người chết trung bình hàng năm do thiên tai của toàn thế giới là 128597 người Tuy
nhiên, có nhiều trường hợp những thiệt hại còn lớn hơn giá trị trung bình Chẳng hạn, năm 1991, một trận bão đô bộ vào Băng-la-đét đã làm chết 138.000 người hay trượt
đất liên quan với động đất ở Yacitan (Peru) xảy ra vào ngày 31 tháng 5 năm 1970 đã
làm cho hơn 25000 người bị thiệt mạng, v.v Trong khoảng thời gian 20 năm (1970- 1990) trên thế giới đã có hơn 3 triệu người bị chết và khoảng 800 triệu người khác lâm
vào tình cảnh khó khăn do các tai biến thiên nhiên gây ra và tổng thiệt hại về tài sản
do tai biến thiên nhiên gây ra ước tính khoảng trên 100 tỷ đô la
Ngoài thiệt hại về người và tài sản, các hiện tượng nêu trên còn có tác động rất
lớn đến tâm lý xã hội Từ xưa, con người đã tin tưởng rằng sự tồn tại của con người
phù hợp với môi trường tự nhiên và các hoạt động của con người đều ảnh hưởng rất
lớn đến bản chất của môi trường Do đó, con người đã xác nhận được tâm quan trọng
của việc nhận thức vệ tai biên cũng như khả năng phản ứng lại chúng và đã đưa ra
những quan niệm vẻ tâm lý và kỹ thuật trong quản lý tai biến
Trang 7Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biến Tay Bac
Động đất, núi lửa phun, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, lũ bùn, trượt đất, sự mất cân
bằng sinh thái một độ bằng nhiệt âm là những tai biến thiên nhiên con người từng gặp
Phạm vi tác động của tai biến thiên nhiên cũng ngày càng mở rộng về quy mô và điện tích, tác hại ngày càng nhiễu, thiệt hại về người và của ngày cảng to lớn hơn
Ông cha ta trước đây chỉ liệt kê 4 tai hoạ nghiêm trọng trong cuộc sống là:
“Thuỷ, hoả, đạo, tặc” (Lũ lụt, cháy, trộm cướp), trong đó thiên tai lũ lụt đứng dau Ngày nay tai biến thiên nhiên ở Việt Nam còn nhiều hơn có những tai biến chỉ được biết đến trong những năm gần đây như: xoáy lốc, lũ quét, trượt đất, lở đất, lũ bùn đá,
sóng thần Động đất và sóng thần ngày 26-12-2004 ở Nam Á và Đông Nam Á đã
khiến trên 150.000 người thiệt mạng
Tây Bắc có địa hình núi cao và trung bình (1500 ~ 3000m) chiếm gần 60% diện
tích tự nhiên cua ving Dia hình chia cắt sâu sắc, khí hậu khắc nghiệt, cấu trúc địa
chất phức tạp, hoạt động động đất hay xảy ra, nhiều đứt gãy kiến tạo đang hoạt động
mạnh, thảm thực vật có độ che phủ còn lại chỉ gần 11% v.v Do đó Tây Bắc là vùng
tập trung nhiều loại hình tai biến thiên nhiên, nhất là lũ quét, lã bùn đá, trượt lở, xói mòn, rửa trôi đang hoạt động rất khốc liệt Chỉ vài thập kỷ trở lại đây đã ghi nhận
được hàng chục trận động đất, lũ quét trượt lở lớn, xoá số một số điểm dân cư, kho
tảng, thôn bản, làm thiệt hại nhiều người và tài sản của nhà nước và nhân dân, tác
động đến tài nguyên và môi trường khu vực nghiên cứu một cách nghiêm trọng
Trước những tác hại to lớn và khốc liệt của các loại hình tai biến thiên nhiên, bên cạnh công tác khắc phục hậu quả thì việc tìm ra nguyên nhân, dự báo xu hướng phát triển là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm để ra các phương án giảm thiểu thiệt
hại cho địa phương Đề tài “Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến môi trường lãnh thế
Tây Bắc Việt Nam (Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) làm cơ sở cho việc dự báo phòng tránh thiên tai, khắc phục những khủng hoảng sinh thái, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững” với ý nghĩa góp công sức nhỏ bé của mình làm sáng tỏ một số vân đề trong điều tra hiện trạng, phân tích nguyên nhân, dự báo, diễn biến và để ra
một số phương án giảm thiểu ở phạm vi 4 tỉnh miền núi Tây Bắc, thực hiện trong giai đoạn 2005 — 2006 Chúng tôi có thể nói rằng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung
cấp những thông tin bổ ích phục vụ cho công tác phòng tránh tai bién thiên nhiên, quy
hoạch tổ chức lãnh thổ, bố trí hợp lý vị trí các công trình phát triển kinh tế cho Tây
Bac
2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu, điều tra, đánh giá thiên tai trượt đất, lở đất, động đất, xói mòn, suy kiệt rừng đầu nguồn của vùng Tây bắc làm cơ sở khoa học để xây dựng bản đồ tai
biến thiên nhiên
Trang 8Xây dựng sơ đô phân vùng tai bién Tay Bac
Để xuất sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường và kiến nghị các giải pháp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, phục vụ công tác quy hoạch và phát triển kinh tế bền vững vùng Tây Bắc
3 Nhiệm vụ của đề tài
Thu thập, tổng hợp, phân tích và xử lý các kiết quá nghiên cứu trước đây
để tiếp tục giải quyết các vấn để còn tổn tai
Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảm thiểu tai
biến thiên nhiên
Khảo sát thực địa, phân tích các tư liệu nhằm xác định hiện trạng các dạng tai biến thiên nhiên chính
Phân tích, đánh giá các tai biến thiên nhiên, xác định nguyên nhân, dự
báo xu hướng
Đánh giá tổng hợp các dang tai biển thiên nhiên và xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến thiên nhiên
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Về không gian, đề tài nghiên cứu trong phạm ví các tỉnh thuộc lãnh thổ Tây
Bắc Việt Nam như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu với ranh giới hành chính mới được xác định
- Về phạm vi vấn đề, do tai biến môi trường là vấn đề rộng, trong khuôn khổ
của một đề tài khoa học với nguồn kinh phí không lớn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số dạng tai biến thiên nhiên chính, chủ yếu là tai biến do quá trình ngoại sinh như
trượt lở đất, lũ quét, lũ bùn đá, xới mòn đất Các hoạt động nội sinh liên quan với các tai biến như động đất, đứt gãy dịch chuyén, sé được đưa vào phân tích như các yếu
tố phát sinh tai biến
5, Câu trúc của báo cáo
Báo cáo được cấu trúc thành 4 chương ngoài mở đầu và kết luận:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tai biến thiên nhiên và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tây Bắc
Chương 3: Hiện trạng, nguyên nhân và dự báo tai biến thiên nhiên vùng Tây
Bắc
Chương 4: Phan ving tai bién thiên nhiên lãnh thé Tay Bac
Dé hoan thanh bao cdo này, tập thé can bộ thực hiện đề tài chân thành cảm ơn:
Cục Môi trường, Đoàn Chủ Tịch Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam,
Trang 9Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
Ban Khoa học Công nghệ — Kinh tế của Liên hiệp hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tập thể tác giả hoàn thành nhiệm vụ
Tập thể tác giả xin cảm ơn Sở Khoa học Công nghệ, Ban Phòng chống lụt bão
tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu đã giúp đỡ và điều kiện cho chúng tôi
hoàn thành thực địa
Xin cảm ơn Ban Thường vụ Hội Địa lý Việt Nam, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lý Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã cộng tác đầy đủ, trách nhiệm cao cho việc hoàn thành công trình đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và đúng thời
gian
Chủ trì đề tài xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Văn Bào, PGS TS Vũ Văn Phái, Thạc sĩ NCS Nguyên Hiệu, NCS Trần Thanh Hà, ThS Nguyễn Quang Minh,
TS Phạm Văn Hùng và nhiều sinh viên K44, K45 đã giúp đỡ chúng tôi một cách nhiệt
tình, đầy trách nhiệm để hoàn thành đề tài này
Trang 10Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biển Tay Bắc
CHUONG 1
CO SO LY LUAN VE TAI BIEN THIEN NHIEN
VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU
1.1 KHAI QUAT CHUNG VE TAI BIEN THIEN NHIEN
1.1.1 Khái niệm
Cùng với sự xuất hiện của những vấn để môi trường mang tính toàn cầu, từ 30-
40 năm trở lại đây, khái niệm về zửi ro và tai biến cũng được người ta nhắc tới nhiều hơn và đã trở thành một trong những mối quan tâm chính của nhân loại, mà đỉnh điểm
là “thập ki giảm nhẹ thiên tai” đo Liên Hiệp Quốc phát động trong những năm 1990 vừa qua
Trong lịch sử nhân loại đã ghi lại rất nhiều sự kiện quan trọng đo thiên nhiên nhiên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội loài người Chẳng hạn trận
động đất xảy ra vào năm 1556 ở Trung Quốc đã làm cho khoáng 830.000 người bị thiệt mạng Trong khoảng hơn 1000 năm (từ năm 856 đến 1983) trên toản thế giới đã
có khoảng 3,5 triệu người chết do động đất Sau động đất là những thiệt hại do bão và
lũ lụt gây ra Đáng kể nhất là ở Băng-la-đét Trong vài thập kỷ gần đây, các hiện
tượng cực đoan của thiên nhiên xảy ra ngày cảng nhiều và có chiều hướng ngày càng gia tăng trên Trái Đắt-ngôi nha chung của nhân loại Đó là lũ lụt ở Băng-la-đét, Trung
Quốc, Việt Nam, v.v., động đất và núi lửa ở Nhật Bản, In-đô-nê-xia, An D6, Pé-Ru,
v.v trượt đất, lũ bùn đá, v.v Các hiện tượng này đã gây thiệt hại lớn về người và tài
san Theo “Báo cáo về thiên tai năm 1997 của Hiệp hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm
quốc tế” trong 25 năm (1971-1995) số người chết trung bình hàng năm do thiên tai
của toàn thế giới là 128597 người Tuy nhiên, có nhiều trường hợp những thiệt hại còn
lớn hơn giá trị trung bình Chẳng hạn, năm 1991, một trận bão đồ bộ vào Băng-la-đét
đã làm chết 138.000 người hay trượt đất liên quan với động đất ở Yacitan (Peru) xảy
ra vào ngày 31 tháng 5 năm 1970 đã làm cho hơn 25000 người bị thiệt mạng, v.v Trong khoảng thời gian 20 năm (1970-1990) trên thế giới đã có hơn 3 triệu người bị
chết và khoảng 800 triệu người khác lâm vào tình cảnh khó khăn do các tai biến thiên
nhiên gây ra và tổng thiệt hại về tài sản do tai biến thiên nhiên gây ra ước tính khoảng trên 100 tỷ đô la
Ngoài thiệt hại về người và tài sản, các hiện tượng nêu trên còn có tác động rất lớn đến tâm lý xã hội Từ xưa, con người đã tin tưởng rằng sự tồn tại của con người
phù hợp với môi trường tự nhiên và rằng các hoạt động của con người đều ảnh hưởng rất lớn đến bản chất của môi trường, Do đó, con người đã xác nhận được tầm quan
Trang 11Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biến Tay Bắc
trọng của việc nhận thức về tai biến cũng như khả năng phản ứng lại chúng và đã đưa
ra những quan niệm về tâm lý và kỹ thuật trong quản lý tai biến
Việt Nam là một quốc gia ven biển có địa hình đổi núi chiếm trên 2/3 diện tích
lãnh thổ, lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, gần trung tâm bão Thái Bình Dương nên các hiện tượng cực đoan của các điều kiện tự nhiên cũng thường xuyên xảy ra, trong đó đáng kế nhất là bão lụt Kèm theo đó là các hiện tượng khác như xói lở bờ
biển, bờ sông, nước dâng do bão, v.v cũng ngày càng mạnh Theo số liệu thống kê
chưa đầy đủ của Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung Ương, chỉ riêng thiệt hại do bão, lũ và lốc gây ra trong 20 năm (1978-1997) cũng đã tới trên 2 tỷ đô la
và 12563 người bị chết (chưa tính các năm 1981, 1982, 1984 và 1985) Tất cả những
hiện tượng này đều được gọi chung là tai biến thiên nhiên Trước khi xem xét các loại tai biến, đặc trưng của chúng cũng như xu thế xảy ra trong tương lai, chúng ta cẩn lam
rõ khái niệm này Vậy tai biến thiên nhiên là gì?
Tai biến thiên nhiên (natural hazard) là sự kiện tự nhiên gây nhiều tốn thất cho con người cả về vật chất lẫn tính mạng, sinh ra do sự tương tác giữa hệ thông quản lý
tài nguyên của con người với các hiện tượng tự nhiên cực đoan hoặc hiểm hoi có
nguồn gốc khác nhau (địa vật lý, khí quyển, sinh học, v.v.) Vì vậy, một sự kiện tự nhiên trở thành tai biến chỉ khi có quan hệ với khả năng đối phó của xã hội hoặc cá nhân nào đó Chăng hạn, lũ lụt là một hiện tượng thiên nhiên thường xuyên xảy ra trên
bé mat Trai Dat Chính lõ lụt của các dòng sông lớn đã tạo cho nhân loại những cánh đồng phù sa rộng lớn và màu mỡ trở thành nơi tập trung dân cư đông đúc và sản sinh
ra những nền văn minh rực rỡ như: nền văn minh Ai Cập được sản sinh ra trên đồng
bảng sông Nin, nên văn minh sông Hồng, v.v Hay trượt lở là một hiện tượng phổ biến trên các sườn núi Tuy nhiên, nếu hiện tượng này xảy ra ở một phía sườn không có một công trình dân sinh nào (nhà cửa, đường giao thông, v.v.) thì không thể gọi là tai biến được Ngược lại, nếu xảy ra ở phía sườn núi có nhiều công trình nói trên bị thiệt bại thì đó là tai biến thiên nhiên Tuy nhiên, như White G.- một nhà nghiên cứu tai biến thiên nhiên đã nhận xét rằng không có một tai biến thiên nhiên nào tồn tại ngoài
sự điều chỉnh của con người đối với nó Điều đó có nghĩa là phần lớn các tai biến
thiên nhiên xảy ra đều có sự can thiệp tích cực của con người như đốt rừng làm nương
rẫy, đô thị hoá, khai thác quá mức các loại tài nguyên như nước ngắm, v.v., hay nói cách khác chính là “gậy ông đập lưng ông” Cũng chính vì vậy, gần đây trong khoa học người ta còn sử dụng thuật ngữ /ai biến môi trưởng (Environmental hazards) Tuy
nhiên tai biến môi trường còn bao gồm cả những tai biến do hoạt động của con người
gây ra như ô nhiễm, phá rừng dẫn đến sa mạc hoá, v.v Trong giáo trình này chỉ để cập đến các tai biến môi trường đo thiên nhiên gây ra-tai biên thiên nhiên Chúng ta
cũng cần phân biệt một số thuật ngữ: Ti biễn thiên nhiên (natural hazard), rui ro
(risk) va tham hoa (disaster)
9 HỘI ĐỊA LY VIET NAM
Trang 12Xây dung so dé phan ving tai bién Tay Bắc
Tai biến thiên nhiên, như trên đã định nghĩa, là thuật ngữ rộng nhất và phản
ánh thiệt hại tiềm tàng đối với con người cũng như tác động của nó đến xã hội và môi trường Tai biến bao gồm cả rủi ro, tác động và các yếu tố chính trị-xã hội Còn rủi ro
lại muốn nói đến khả năng xảy ra một sự kiện Ngược lại với tai biến và rủi ro, thảm hoạ (disaster) là những sự kiện gây ra bởi các tai biến, nhưng có tác động đến đời sống
kinh tế-xã hội của người dân (gây thiệt hại về người và của, v.v) và chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi mức độ nhạy cảm
Hầu hết các hiện tượng tai biến thiên nhiên đều kèm theo sự giải phóng năng
lượng dữ dội vượt quá kinh nghiệm thông thường của chúng ta hoặc vượt quá thực lực
khả năng của con người Nhiều sự kiện tai biến thiên nhiên như vậy đều có quan hệ
với ngưỡng tác động trong các hệ tự nhiên Lý thuyết ngưỡng ra đời trên cơ sở của thuyết tai biến đã được đưa ra từ rất sớm Ngưỡng được xem là ranh giới tổn tại trạng thái của một hệ nhất định nào Khi có các tác động vượt quá giới hạn ngưỡng thì trạng thái của hệ cũng bị thay đổi và từ hệ này sẽ chuyển sang hệ khác Đó chính là nguyên
lý đột biến ngưỡng Chẳng hạn sự thay đổi môi trường chiếm ưu thế bởi hậu quả của
các sự kiện hiếm hoi và mang tính tai hoa
Tai biến tự nhiên đã và đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt của các khoa
học về trái đất do tính chất, quy mô, mức độ gây tác hại và tan số lặp lại của chúng
Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu, cụ thể như sau: Theo C.J Westen
(1994):
- Tai biến thiên nhiên (H) là khả năng có thé xay ra sự kiện trong một thời gian
về lý thuyết và trên một khu vực đã cho đối với một hiện tượng nào đó (lũ lụt, trượt
đất, v.v.) có sức phá hoại tiềm ẳn
- Tén thương (vulnerability - V) là mức độ thất thoát (hoặc phá huỷ) gây ra do
tai biến thiên nhiên (H) với cường độ đã cho và được biểu thị từ 0 (không bị phá huỷ)
đến 1 (bị phá huỷ hoàn toàn)
- Rải ro (Rs) là mức độ mắt mát do tai biến thiên nhiên đặc biệt (H) gây ra và được biểu điển bằng HxV (hình thức)
- Các yếu tổ rủi ro (E) bao gồm dân cư, tài sản, các hoạt động kinh tế, các dịch
vụ, v.v khi bị rủi ro trong một khu vực đã cho
- Tổng rủi ro (Rt) la số người thiệt mạng, số người bị ảnh hưởng đến đời sông,
tài sản bị phá huỷ, v.v do hiện tượng tai biến thiên nhiên đặc biệt (H) và được biểu
diễn bằng Rs x E
- 1: ong số thiệt hai: Sé lượng dự tính của mất mát, số người bị thương, phá huỷ tính chất, sự tổn hại của các hoạt động kinh tế đo những hiện tượng tự nhiên bất
Trang 13Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
thường, thông thường nó được tính bằng kết quả của sự cố đặc biệt và các yếu tố của
sự CỔ:
RT = () (RS - E) (H V) Trongđó RT: Tổng số hiểm hoạ
E :yếutố gây sự cỗ
RS : Sự cố đặc biệt
H : Tai biến tự nhiên
V — :Sựtổn thất
- Tai biến thông thường được thể hiện trên bản đồ với các lớp khác nhau, đặc
trưng cho các kiểu trượt lở khác nhau Phân vùng nghĩa là thể hiện sự phân chia vùng
đất thành các vùng có tính chất đồng nhất hoặc có cùng thuộc tính của tai biến tự
nhiên với các nguyên nhân gây tai biến khác nhau
- Phân vùng tai biến đòi hỏi có hiểu biết kỹ lưỡng về quá trình tác động gây ra
tai biển ở trong khu vực Trong công việc này, cần thiết phải có hiểu biết toàn hiện về
các khoa học Trái đất Ngoài ra khi phân tích các rủi ro, bên cạnh những hiểu biết toàn
hiện về các khoa học Trái đất, còn cần phải có kiến thức về quy hoạch đô thị, địa lý
nhân văn và địa lý kính tế
Những công trình đã được công bố về nghiên cứu tai biến và rủi ro như: Einstcin (1988), Ketrilz (1992), Innocenti (1992) trong đó đã đề cập đến việc giải
quyết những khó khăn trong việc xác định định lượng những tai biến và những thiệt
hại Vì vậy, những giá trị xác suất cũng khó đánh giá được hết đối với những khu vực rộng Vì ngoài những nhân tế xác định được hết đối với những khu vực rộng Ngoài
những nhân tố xác định được như động đất, lượng mưa hoặc mô hình tương tác, tổng
thé của nhiều yếu tố Do đó, trong hầu hết mọi trường hợp, các đánh giá cuối cùng thường quy về định tính hoặc bán định lượng như: tai biến thấp, trung bình, cao
hoặc cấp từ 1 đến 5, từ Ì đến 10
1.1.2 Phân loại tai biến thiên nhiên
1.1.2.1 Phân loại theo nguồn gốc phải sinh
Theo nguồn gốc phát sinh, người ta chia các tai biến thiên nhién thành một số
loại như sau: Tai biến khí tượng thuỷ văn, tai biến địa chất/địa mạo và tai biến sinh
học Trong khi đó, các tai biến môi trường cũng ngày càng gia tăng liên quan đến sự
gia tăng dân số, tác động của con người đến môi trường và các tai biến kỹ thuật
(technological hazards) Cũng cần phân biệt các tai biến nguyên sinh (những tai biến thiên nhiên do một nguyên nhân trực tiếp gây ra như động đất, phun trào núi lửa, bão,
lũ, v.v.) và các tai biến thứ sinh (liên quan đến một hay nhiều hiện tượng tự nhiên vừa
Trang 14Xây dựng sơ đỗ phân vùng tại biến Tay Bắc
nêu như trượt đất và sóng thần sinh ra bởi động đất, v.v.) Cũng có thể nói cách khác,
tai biến thứ sinh là những tai biến được sinh ra từ các sự kiện tai biến khác Bảng 4.1
trinh bày một số tai biến và những nguyên nhân của chúng
Bang 1.1 Phân loại tai biến thiên nhiên theo nguồn gốc phát sinh
[ Tai biên Tại biển Tai biến sinh học
khí tượng - thuỷ văn địa chât/địa mạo
Báo tuyết và tuyết Đồ lở
1.1.2.2 Phân loại theo mức độ nguy hiểm
Theo mức độ nguy hiểm, có thể phân biệt những tai biến lớn với những tai biến
nhỏ và trong những năm gần đây sự chú ý được tập trung chủ yếu cho việc nghiên cứu
những tai biến cỡ lớn Tuy nhiên, một số tai biến được coi là nhỏ, vì chúng diễn ra
không rằm rộ, những thiệt hại tức thời do chúng gây ra không mang tính thảm họa, phan bé tản mạn, song, một khi chúng được tích lũy lâu dài, cái giá phải trả cho chúng
sẽ còn lớn hơn nhiều (ví dụ, tai biến xói mòn đất .), do đó cũng không thể coi nhẹ
a Tai biến lớn
Tai biến lớn là những tai biến gắn với những sự cố diễn ra nhanh, mạnh, những
cảnh quan bị biến đổi mau lẹ, những không glan thường xuyên bị rủi ro đe dọa Đó là những hiện tượng tự nhiên có sức công phá lớn như phun trào núi lửa, động đất, lở
núi, lở tuyết, trượt đất, lũ lụt, bão tố, và cháy rừng Sự xuất hiện của những tai biến
này được khống chế bởi những quy luật và những tác nhân nhất định, do đó ta có thể nghiên cứu và thành lập bản đồ hiện trạng cũng như bản đồ tiềm năng (hay nguy cơ tai biến) hoạt động của chúng và cân nhắc chúng trong các sơ đồ quy hoạch sử dụng đất
và lãnh thổ
Trong nhóm tai biến lớn lại có thể phân biệt 3 loại:
- Tai biến lớn trên những diện tích xác định (khu biệt): Loại tai biến này gây ra
mỗi lo thường trực cho những địa phương liên quan bởi sự biến đổi đột ngột hoặc từ
từ của một hoặc nhiều hợp phần trong địa hệ dẫn đến những phá huỷ nặng nề, những
biến đổi lớn và không đảo nghịch của cảnh quan Thuộc loại này có thể liệt kê các trường hợp lở núi, trượt đất, phun trào núi lửa và động đất Những tai biến trượt lở,
sụt đỗ có thể có nguyên nhân do con người gây nên, như do việc làm ta luy đường, do
ảnh hưởng của các moong và ham lò khai thác cỏ, v.v., nhưng phần nhiều là những
Trang 15Xây đựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
quá trình tự nhiên và được gọi là những tai biến địa mạo (Faurgère L., 1990, Flageollet J.CI., 1988) Tai biến động đất thường xảy ra ở các khu vực bị tác động TKT mạnh, hoặc có những kiến trúc-hình thái khối tảng với ranh giới là những đứt
gãy sâu Người ta thường lập bản đồ độ rủi ro tai biến động đất theo các thang bậc: có
thể bỏ qua (cấp 0), rất yếu (cấp 1a), yếu (cấp 1b), trung bình (cấp 2) và mạnh (cấp 3)
- Tai biến lớn trên điện rộng: Thuộc loại này, trước hết phải kể đến tai biến do
lũ lụt, một loại tai biến trải rộng trong không gian, có tần suất cao và sức tàn phá rất to
lớn Để khắc phục hậu quả của chúng, các quốc gia luôn phải huy động những khoán
quỹ trợ cấp lớn hơn rất nhiều so với các loại khác
- Tai biến có điện tác động dạng điểm và mang tính ngẫu nhiên: Đây là những
tai biến khiến cho việc can thiệp mang tính may rủi và bap bénh, viéc du bao hết sức
khó khăn Thuộc nhóm này có phần lớn những tai biến được gọi là tai biến khí quyền,
như giông tố kèm theo sắm sét, vòi rồng, mưa đá, hạn hán và những đợt nắng nóng cực đoan Tất cả những hiện tượng này đều có thể kết hợp tác động với những tai biến
khác, như các tai biến địa mạo, tai biến thủy văn, tai biến thể nhưỡng, tai biến địa sinh
vật học và cuối cùng là những tai biến kinh tế
b Tai biến nhỏ
Khái niệm này được dành cho những tai biến hoạt động không ồ ạt, không liên tục trong thời gian và phân tán trong không gian Đặc điểm này làm cho tác hại tức thời của chúng không lớn, nên ít được người ta chú ý đến như là những quá trình tai
biến thực sự Điều đáng quan tâm đối với loại tai biến này là chúng có độ lặp lại cao
và tác động tích lũy trong khoảng thời gian dài sẽ là rất lớn Đó là những tai biến thuộc nhóm quá trình xói mòn đất, như xói mòn do gió, xói mòn do đòng chảy phân tán trên bề mặt và xói mòn hóa học Ngày nay, nhiều người đã bắt đầu xếp chúng vào _ đanh mục những quá trình gây tai biến lớn, bởi vì tuy hoạt động phân tán, tác hại tích lũy của chúng trong thời gian trung hạn và đài hạn không hề nhỏ
c Những tai biến liên kết, những phức hợp tai biến
Trong khi một số bộ phận lãnh thé it có nguy cơ bị tai biến thiên nhiên, một số
bộ phận khác lại phải gánh chịu những tai biến chồng chéo lên nhau, cộng hưởng tác động với nhau Trường hợp tai biến lũ xảy ra trong khi đang có áp thấp nhiệt đới và triều cường ở miền Trung là một ví dụ về sự kết hợp khủng khiếp của chúng Mặt
khác, tai biến thiên nhiên còn có thể là những tác nhân dẫn đến tai biến kĩ thuật và
ngược lại Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những chương trình quản lý tai biến tông hợp
Các tai biến thiên nhiên được hình thành bởi sự tác động tổng hợp của các quá trình nội sinh và ngoại sinh, song các quá trình nội sinh thường gây nên tai hoạ thông
13 HOI DIA LY VIET NAM
Trang 16Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
qua các hoạt động ngoại sinh Về phần mình, các hoạt động ngoại sinh lại chịu tác
động đáng kể của các nhân tổ khí tượng, thuỷ văn lục địa và hải văn cũng như các
nhận tố cấu trúc địa chất, tân kiến tạo và các hoạt động nhân sinh Địa hình bẻ mặt
Trái Đất là sản phẩm của mối tác động qua lại trong quá khứ lâu đài của tổng thê các nhân tố trên và chính chúng lại là chủ thể chịu và định hướng động lực của các quá trình ngoại sinh hiện đại Từ nhận thức này cho thấy việc nghiên cứu địa mạo bao gồm cả những nghiên cứu về các quá trình xảy ra trong quá khứ dẫn tới việc hình
thành bề mặt địa hình và các tầng trầm tích đồng sinh và việc nghiên cứu các quá trình
địa mạo động lực hiện đại đóng vai trò khá quan trọng trong việc xác định nguyên nhân cũng như góp phần giảm thiểu tác hại của các tai biến thiên nhiên Dưới đây chúng tôi sẽ để cập tới ba dạng tai biến thiên nhiên phổ biến nhất ở Việt Nam có liên
quan tới địa hình bề mặt Trái Đất là lũ lụt, xói lở bờ sông - bờ biển, phá huỷ bề mặt
đất bởi trọng lực (trượt lở đắt, đỗ lở đá và lún bề mặt đất) và cơ sở địa mạo cho việc cảnh báo chúng
1.1.3 Một số loại hình tai biến thiên nhiên chính ở Việt Nam
Các loại hình tai biến thiên nhiên đã được biết đến do chúng được hình thành
trong các quá trình vận động của các quyên trên Trái đất, song nó cũng có thê mới
được biết đến nhờ những tiến bộ của khoa học Các loại hình tai biến thiên nhiên phổ
biến bao gồm một số dạng chính được liệt kê đưới đây
1.1.3.1 Động đất
Liên quan đến chuyển động vật chất của cấu tạo bên trong Trái đất Quy mô
xuất hiện, mức độ phá huỷ của động đất rất khác nhau và ít bị chỉ phối của hình thái địa hình và lớp phủ trên bề mặt Trái đất Vì vậy, để nghiên cửu động đất, phương pháp
địa vật lý vẫn được xem là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Tất nhiên, việc xác định các hệ thông đứt gãy từ ảnh vệ tỉnh sẽ là một công việc hết sức hữu ích khi nghiên cứu
địa chất nói chung cũng như đối với nghiên cứu động đất nói riêng Nhiệm vụ chính
của nghiên cứu động đất là quan trắc, đo đạc để phát hiện tính chất quy luật phát sinh
sóng địa chấn của những cấu trúc địa chất đặc biệt Từ đó có thể đưa ra những dự báo
mang tính định tính Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của công tác nghiên cứu này là phân
vùng động đất và dé xuất các giải pháp quy hoạch hoặc giải pháp kỹ thuật nhằm làm
giảm nhẹ thiên tai khi động đất xảy ra
1.1.3.2 Lũ lụt
A Lã: Là tai biến thiên nhiên do mưa có cường độ lớn gây ra thường xảy ra ở địa hình vùng núi, diện tích tập trung nước hẹp và khả năng tiêu thoát nước kém Đồng chảy lũ thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho mùa màng, nhà cửa, tài sản và
tính mạng của con người Lũ thường kéo theo sự sụt lở, phá huy các công trình xây
Trang 17Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biên Tay Bắc
dựng cơ bản: cầu công, đường xá Vì vậy, lũ được coi như một hiểm hoạ tự nhiên có sức tàn phá nghiêm trọng
Những thông số cơ bản của điều kiện tự nhiên có liên quan chặt đến lũ là:
- Lũ xảy ra khi có lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngan
- Lũ xảy ra ở địa hình vùng núi, nơi lưu vực có độ đốc lớn, diện tích chịu lũ thường hẹp, là nơi hội tụ của nhiều sông suối
- Lũ cũng xảy ra mạnh hơn ở nơi lòng dẫn bị cản trở nhiều
- Lũ thường xảy ra ở nơi mà bề mặt bị khai thác mạnh và ở những nơi đó lũ thường kéo theo nhiều tai biến khác như xói lỡ, đỗ sụp
Có những trạng thái chính của lũ là: lũ ống, lũ quét Khái niệm về lũ đã được
đề cập rõ trong nhiều công trình, ấn phẩm Cao Đăng Dư (1999), Lê Bắc Huỳnh (1992)
Những lớp thông tin có liên quan đến lũ bao gồm: cường độ mưa, thời gian
mưa trong một trận, hình thái, độ cao, lưu vực, độ dốc lưu vực và các thông số mặt
đệm khác của lưu vực như hệ số thấm, độ nhám Những thông số đó tạo nên các lớp thông tin hợp phần trong nghiên cứu tích hợp thông tin để dự báo lũ
B Lụi: Lụt là một dạng khá phổ biến của tai biến tự nhiên mà nguyên nhân gây
ra là do sự tập trung nước với khối lượng rất lớn, phân bế trên diện rộng, thời gian ngập nước diễn ra lâu Trong một khu vực, sức tàn phá của lụt không lớn như lũ song cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất, hoạt động kinh tế và đời sống của nhân dân Nếu lụt xảy ra trên diện rộng thì sự tàn phá cũng như thiệt hại do lũ gây ra cũng không
hề nhỏ
Lụt là hậu quả của sự đền nước từ thượng nguồn chảy về nên lụt có thể diễn ra
không cùng thời gian với mưa ở trong khu vực Lụt cũng có thê gây ra đo những công trình nhân tác như xả nước hồ, vỡ đê Trong nghiên cứu lụt, các chỉ số quan trọng cần tính toán là lượng nước đến, thời gian nước đâng, mực nước dâng và thời gian nước đứng Những chỉ số đó có liên quan đến các thông số của khu vực như: lượng
mưa, diện tích lưu vực, diện tích đón nước, khả năng tiêu thoát nước, cá thông số của
mặt đệm
1.1.3.3 Trượt trọng lực
Trong những dạng chuyển động khối mà không có sự trợ giúp của nước chảy hoặc tác nhân chuyên chở khác, thì trượt lở đất là khái niệm sử dụng chỉ cho trường
hợp chuyên động khối xuất hiện rõ ràng dọc theo mặt trượt (Crozier, 1986) Trong
nghiên cứu này các khái niệm sau được dùng cùng một ý nghĩa: chuyển động khối, trượt lở đất, trượt lở sườn đốc và sự phá huỷ sườn dốc
Trang 18Xây dựng so dé phan ving tai biển Tay Bắc
- Trượt lở đất là một dang tiêu biểu của tai biến trọng lực với tính chất hiểm
hoa Tuy nhiên, trượt lở chỉ là những hiểm họa cuối cùng của tai biến tiềm an và van
đề đó càng rõ nét ở vùng đất đốc Phân tích và đánh giá các vùng đất đốc không ổn
định là một trong những nội dung quan trọng được đặt ra khi nghiên cứu môi trường
Trượt lở là dạng chuyển động khối ở các vùng đất đốc mà nguyên nhân là khi
trọng lực của các khối đất đã thắng sức kháng cắt của chúng
Trượi lở có ba dạng cơ bản là trượt chảy, trượt đất và đỗ lở Tất cả các dang
trượt lở đều gây tác hại lớn, song nguy hiểm hơn cả vẫn là trượt đất và đỗ lở
Trượt đất có thể diễn ra ở quy mô rất hẹp như các vết trượt, nón ta luy đường
{taluy cone), song cũng có thể có quy mô rất lớn với chiều rộng và chiều cao vải trăm mét, làm dịch chuyển cả một phần của khối núi Trượt lở đất thường xây ra sau những trận mưa lớn Ở mọi vùng núi, trượt lở đất thường phá huỷ hệ thống đường giao
thông Trượt lở đất đôi khi cũng làm đỗ sụp hoặc vùi lấp nhà cửa, gây thiệt hại nghiêm
trọng cho kinh tế và tính mạng của nhân dân Các khối trượt có thể xuất hiện qua
nhiều thời gian khác nhau và tổng hợp các khối trượt tạo nên các đai trượt có diện
phân bố rất dài hoặc hay cung trung trượt dạng vòng cong bao quanh các khối núi
Trượt đất hay xuất hiện ở những vùng có độ đốc địa hình từ 15 — 65°
- Đỗ lở đá là hiện tượng trượt trọng lực của các khối tảng đã cứng ở vùng có độ dốc lớn > 45) Đỗ lở đá thường có tần suất Xảy ra thấp, song khi đã xảy ra thì có sự phá huỷ ghê gớm Lở núi có thể lắp cả một đòng sông hoặc làm vỡ vụn mọi công trình
xây dựng, làm thiệt hại lớn về người và của
Các lớp thông tin cơ bản có liên quan đến trượt lở đất và đỗ lở đá được xem xét
đến bao gồm:
- Độ dốc của địa hình
- Tính chất cơ lý của đất đá và khả năng xuất hiện các lớp đất yếu ở dưới
- Hướng dốc của đá
- Độ dày của tầng phong hoá
- Mức độ chứa nước của đất đá
- Tính chất lớp phủ bề mặt
1.1.3.4 Sụt lún đất
La dang tai biến xảy ra ở vùng đất yếu hoặc các vùng đất có sự không đồng nhất và biễn động vẻ tính chất cơ lý đất, có liên quan trực tiếp đến quá trình co ngót về thể tích của đất do sự thay đổi chế độ ẩm Quá trình đó hay xảy ra ở các vùng có hang hốc karst hoặc các vùng có trầm tích đầm hồ giàu vật liệu sét
Trang 19Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bac
Để nghiên cứu sụt lún đất, các thông số cần được xem xét kỹ bao gồm: đặc điểm địa chất công trình, thành phần vật chất, tính chất đồng chất của vật chất Những
tính chất đó có thê được xác định qua những thông số khác như: sự đao động của mực
nước ngầm, nguồn gốc thành tạo, đặc điểm mạng lưới thuỷ van
1.1.3.5 Xói lở bờ sông, bờ biển
Là hai dạng tai biến rất phổ biến hiện nay mà tác động chính vẫn là vai trò của
nước Nước với các tính chất đặc biệt là luôn luôn biến động vẻ tính chất và hướng
vận động Nước có năng lượng rất lớn và có thể gây ra những tác động làm phá huỷ
bờ sông, bờ biển Sự tác động đó thường không ổn định và quy mô phá huỷ cũng rất khác nhau đối với đới bờ Những thông số cần được phân tích trong nghiên cứu xói lở bao gồm: độ dốc của bờ sông, bờ biển, năng lượng và hướng tác động của nước, cấu
tạo vật chất và câu trúc vật chất của bờ
1.1.3.6 Những tại biển thiên nhiên khác
Những hiện tượng tự nhiên khác có thể được xếp vào tai biến tự nhiên, bao
gom:
a Chay ring
Nguồn tạo lửa cháy rừng có thể không phải do con người trực tiếp gây ra mà có thé do những nguồn tự nhiên như những tâm điểm có nhiệt độ cao bất thường của bầu
không khí trên những vùng có lớp phủ mặt dễ bắt lửa Lửa cũng có thể bắt nguồn từ
các tia sét hoặc từ các mỏ nhiên liệu tự nhiên (than đá, khí đốt .)-
b Hoang mạc hoá
Đây là dạng tai biến tiềm ấn diễn ra trong thời gian dai ở một khu vực rộng lớn
Hoang mạc hoá diễn ra ở vùng có khí hậu khô nóng, lượng mưa thấp và độ bốc hơi
cao Khi nền vật chất chủ yếu là cát thì hoang mạc hoá được gọi là sa mạc hoá Có
nhiều chỉ thị khác cho quá trình hoang mạc hoá như: chỉ thị về thổ, nhưỡng, về địa
hình, về loại thực vật Vì vậy, khi nghiên cứu về hoang mạc hoá, ngoài việc nghiên cứu cân bằng nước thi các đấu hiệu khác cần được xem xét để đánh giá và xác định về
mức độ, quy mô của quá trình hoang mạc hoá
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này chúng tôi muốn trình bày những nét cơ bản về nguyên lý của các quá trình ngoại sinh và nội sinh
Tuy vậy đo yêu cầu cũng như tầm quan trong của đề tài nên dưới đây chúng tôi
sẽ trình bày chi tiết hơn về nguyên lý tai biến trượt lở, lũ lụt, lũ quét, xói mòn, rửa trôi
đất v.v Đồng thời cũng sẽ trình bảy sơ lược về nguyên lý các tai biến nội sinh mà chủ yếu tai biến núi lửa, tai biến động đất Những phân tích cụ thể vẻ tai biến Tây Bắc
chúng tôi sẽ phân tích đầy đủ trong chương “Hiện trạng tai biến thiên nhiên Tây Bắc,
Trang 20Xây dựng sơ đà phân vùng tai biến Tay Bac
nguyên nhân và giải pháp giảm thiểu” Dựa vào các số liệu thu thập được làm cơ sở để
xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến môi trường lãnh thé Tay Bắc
1.2 CAC NGUYEN LY CHUNG VE TAI BIEN TRUQT LO DAT
1.2.1 Khái niệm về trượt đất
Theo định nghĩa kinh điễn, trượt đất là quá trình di chuyển của những khối đất
đá trên sườn, trong đó ít xảy ra sự đỗ vỡ hoặc đảo lộn tính nguyên khối của chúng Trượt đất có thể xảy ra chậm chạp, chỉ quan sát được nhờ các thiết bị đo đạc chính xác, song cũng có thể xảy ra nhanh mang tính đột biến Khác với trượt đất, lở đất
thường xảy ra nhanh, cấu trúc đất đá của khối lở đất thường bị xáo trộn, dé vỡ đáng
kể Lở đất thường là bước phát triển kế tiếp của khối trượt đất thuần túy trong điều
kiện mặt trượt đốc và chân khối trượt không có vật chống đỡ Sự chuyển từ trạng thái trượt sang lở đất là khá phổ biến và tác hại của hiện tượng này tăng lên đáng kể Thuật
ngữ trượt lở đất được dùng để chỉ hiện tượng kết hợp này
Trượt đất là khái niệm chỉ sự chuyển động của các đất đá trên mặt hay gần mặt
xuống phía dưới sườn đốc, đồng thời để chỉ bản thân các thẻ trượt Các thể trượt đất
lớn làm dịch chuyển hàng trăm ngàn mét khối vật liệu, tiêu huỷ cả những trung tâm định cư lơn, làm biến đổi mạnh cảnh quan và mạng lưới thuỷ văn Ngược lại, có
những trượt đất nhỏ bé đến mức không gây thiệt hại gì đáng kể
Các khối trượt thường đi chuyển rất chậm chạp, trong đó không xảy ra sự đỗ
vỡ hoặc đảo lộn tính nguyên khối của chúng và gây ra nguy hiểm một cách từ từ, tuy nhiên cũng có những khối di chuyển nhanh hơn và tàn phá một cách bất ngờ và khó phỏng đoán được Trọng lực là nguyên nhân chính gây ra trượt lở, những yếu tố khiến
cho trọng lực thắng lực liên kết của các vật liệu dẫn đến trượt đất bao gồm: độ bão hoà
nước của đất đá, tăng độ đốc sườn do xói mòn hoặc phá huỷ sườn (tác động nhân sinh), động đất và hoạt động núi lửa Tuy nhiên, cũng có tác giả cho rằng trọng lực chỉ
có thể góp phần tham gia vào sự chuyên động khi các vật liệu đã mất đi kháng sức nguyên thuỷ Tác nhân chính làm mất sức kháng này chính là nước Khối bão hoà nước được di chuyển đễ đàng hơn khối nước còn khô vì nước vừa làm gia tang trong
lượng của khối vừa làm giảm độ kết dính trong vật liệu
Người ta thường dùng thuật ngữ mass wasting (vụn bở khối) cho các quá trình
tông quát như các chuyển động khối và bào mòn bề mặt Vụn bở khối và chuyển động
khôi làm thay đổi cảnh quan bằng cách đục, đếo vách núi hay đối với một khối lượng
lớn vật liệu rôi rơi hay trượt ra khỏi sườn dốc
Theo sự phân loại trên thì tai biến trượt đất được xếp vào loại tai biến gây ra
các sự có cấp diễn và là tai biến lớn, tai biến thứ sinh do sự cố trượt thường diễn ra
Trang 21Xây dựng sơ đồ phân vùng tại biến Tay Bắc
nhanh, mạnh, các cơ quan bị biến đổi mau lẹ và sự xuất hiện của loại tai biến này được khống chế bởi những quy luật và những tác nhân nhất định, tuy nhiên trong một
số trường bợp trượt đất cũng thể hiện dưới dạng tai biến tiềm ẩn tức là diễn ra một cách từ từ, kéo đài, khó nhận biết và lặp lại ở các vết trượt cũ
Trượt lở là một trong những tai biên thiên nhiên nghiêm trọng thường xuyên xảy ra trên lãnh thé Việt Nam, đối với một lãnh thd 3/4 là đổi núi cùng với lượng mưa lớn và mật độ sông suối khá dày đặc thì trượt đất là vẫn đề rất đáng được quan tâm Mỗi năm nhà nước đã mất hàng trăm tỷ đồng cho việc khắc phục các hậu quả gây ra
bởi trượt lở Theo số liệu của Viện Khoa học và Công nghệ mỏ địa chất, trong vòng
40 năm trở lại đây trượt lở đã xảy ra hàng trăm vụ, hàng chục người thiệt mạng và
thiệt hại về kinh tế ước tính tới hàng trăm tỷ đồng
Trượt lở là một tai biến thiên nhiên nguy hiểm có tính phá hoại rất lớn, chúng
thường phá hoại nhà cửa, các công trình xây dựng đưới chân sườn, làm mất đất đang
sử dụng hoặc làm giảm giá trị sử dụng của đất, thiệt hại sinh mạng, gây ách tắc giao thông, gia tăng kinh phí cứu hộ, lap đất đai canh tac, ach tắc dòng chảy gây ngập lụt
Trượt đất tuy là có qui mô nhỏ, tác hại trên một diện tích hẹp, nếu tính riêng lẻ
có thể không gây thiệt hại lớn nhưng nếu tính tổng cộng thì đây là loại tai biến gây
thiệt hại nhiều nhất thế giới, (theo thống kê cả về người và tài sản, thiệt hại do trượt lở gây ra gấp bốn lần thiệt hại do các tai biến thiên nhiên khác như lũ lụt, gió xoáy, động
đất, cuồng lưu)
1.2.2 Các điều kiện và nguyên nhân xảy ra trượt lỡ đất
a Diéu kién xảy ra trượt lở đất
Các quá trình tự nhiên xảy ra trên bề mặt trái đất luôn có xu hướng đạt đến trạng thái cân bằng về trọng lực Nhưng trạng thái cân bằng này chỉ là tương đổi hay
nói cách khác vật chất phân bố trên bể mặt trái đất luôn ở trạng thái cân bằng động
Các nguyên nhân phá vỡ cân bằng của địa hình hiện tại sẽ thúc đây cường độ của các
quá trình địa mạo đặc biệt là trượt lở đất Hiện tượng trượt đất chỉ xảy ra trong những
điều kiện thuận lợi nhất định, cụ thể là khi mất cân bằng trọng lực Trạng thái này
thường xảy ra khi vật chất trên sườn dốc bị thắm đẫm nước, chân sườn bị hụt hãng hoặc hiện tượng xói ngầm làm giảm lực liên kết giữa các tầng thấm nước và bề mặt
tầng chăn nước Có thẻ tóm tắt những điều kiện này như sau:
-_ Các tầng đá có thể nằm cắm về phía thung lũng, tức là nghiêng theo chiều đốc
Trang 22Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
- Có lượng nước ngằm tương đối phong phú vận động trên bề mặt tầng không
thấm nước
-_ Trên bề mặt sườn có hệ thống khe nứt phát triển
-_ Tăng tải trọng ở đỉnh sườn
- Tang d6 déc sườn
- Chân sườn đốc bị thắm nước quá mạnh hoặc bị hụt hãng do hoạt động nhân
sinh hoặc tự nhiên
b Các nguyên nhân gây ra trượt lở đất
Sự biểu hiện của các quá trình địa mạo nói chung và quá trình trượt lở nói riêng
gắn liền với sự tương tác của 3 nhóm nhân tố: nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh Trong mốt tương tác này có thể chỉ có một hay hai nhân tế giữ vai trò chủ đạo cũng có thể là
cả 3 nhân tế đều giữ vai trò như nhau Sự chiếm ưu thế của một quá trình hiện tại nào
đó phụ thuộc vào năng lượng mà chúng nhận được chủ yếu từ các nhóm nhân tố nội sinh, ngoại sinh hay nhân sinh Dựa vào điều kiện gây ra trượt lở các nguyên nhân gây
ra trượt lở được đưa ra bao gồm:
* Tăng độ dốc sườn gây ra do cả nhân tổ ngoại sinh, nội sinh (nâng tân kiến
tạo) và nhân sinh
Độ đốc quá lớn của sương thường là nguyên nhân cơ bản gây ra sự phá huỷ
trạng thái cân bằng của các khối đất đá trên sườn
- Tăng độ đốc sườn đo yếu tố tự nhiên: Hoạt động xâm thực giật lùi của các
mương xói cắt vào các bề mặt san bằng với vỏ phong hoá dày là hiện tượng khá phổ biến ở các khu vực đổi núi Sự xâm thực giật lùi của các mương xói hình thành một
loại sườn hẹp và có trắc diện khá dốc Sự tập trung nước ở phần chân sườn đốc này
vào mùa mưa sẽ làm cơ sở cho việc phát sinh các khối trượt
- Tăng độ dốc sườn do yếu tố nhân sinh: Ngày nay nguyên nhận này xảy ra rất
phổ biến do tốc độ đô thị hoá nhanh, hệ thống đường giao thông phát triển đặc biệt là
hệ thống giao thông miền núi Các hoạt động làm tăng độ đốc của con người như: xẻ
taluy đường, hạ thấp chân sườn để xây dựng đô thị và khai thác khoáng sản Việc xẻ
taluy đường giao thông làm tăng độ đốc sườn đọc theo các taluy, đo đó làm tăng khả
năng trượt lở, đe doạ sự an toàn của các phương tiện giao thông vận tải đi trên đường
Do đó cần phải tính toán chỉ tiết cân thận độ cao, độ đốc các taluy trên cơ sở thành
phan vat chất cầu tạo sườn
* Giảm độ bền của đất đá
Có rất nhiều quá trình dẫn tới giảm độ bền của vật liệu trượt như quá trình tắm
ướt, nguyên nhân này làm tăng độ bão hoá và trọng lực của đất đá Độ bền của đất đá
Trang 23Xây dựng sơ đồ phân vùng tại biến Tay Bắc
thường giảm khi chúng bị biến đổi trạng thái vật lý khi am ướt dẫn đến sự trương nở,
giảm độ chặt và làm cho khối đất bị hãng, mắt điểm tựa và bị trọng lực kéo về phía chân sườn Sự biến đổi tính chất vật lý của đất đá đặc biệt là đất đá dạng sét dẫn đến
khuynh hướng dễ bị trượt ở bên sườn và mái đốc Trong mùa mưa, sự tắm ướt của nước mưa vừa làm tăng khối lượng của khối trượt vừa làm giảm độ bền của đất đá gây nên trượt lở rất mạnh mẽ
*Tác động của áp lực thuỷ tĩnh và thuỷ động lên đất đá
Các lực thuỷ tĩnh và thuỷ động gây nên biến động dạng thấm ở trong đất đá và trạng thái đất đá trên sườn dốc Khi mực nước đang lên, phần dưới của sườn đốc bị ngập, đất đá nằm trong trạng thái bị đây nỗi va trọng lượng sẽ không đủ để giữ yên
khối đất đá nằm ở trên
* Biến đổi trạng thái ứng suất của đất đá
Đất đá trong điều kiện thế nằm tự nhiên đều ở trong trạng thái ứng xuất nào đó
cân bằng với các lực bên trong của đất đá, nhưng nếu có sự thay đổi các điều kiện môi trường xung quanh thì ứng suất trong đất đá sẽ bị giảm sút và phân tán (sự giải thoát
các lực nén vốn có) Sự giải thoát ứng suất trong các đá cứng sẽ dẫn đến mở rộng khe nứt, làm xuất hiện những khu nứt thoát tải mới
* Tăng chất tải trên sườn dốc
Tăng trọng tải khối trượt là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc trượt đất
xảy ra, tải trọng của sườn thường tăng do hoạt động của con người như xây dựng các công trình trên sườn dốc
* Thay đổi địa chấn và vi địa chân
Các quan sát trong thời gian dài đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa các thay đổi địa chất như động đất, nâng hạ kiến tạo, đứt gãy, dẫn đến quá trình trượt lở Các
vận động kiến tạo làm địa hình nâng lên hoặc hạ xuống làm thay đổi hình thái cũng
như trạng thái ổn định của sườn Nếu trên các nền có hoạt động tân kiến tạo yếu thì
sườn thường ôn định, nếu có trượt thì chỉ là chuyển động đạng trượt bò rất chậm chạp
và ngược lại, hoạt động kiến tạo mạnh mẽ hơn do đó trượt lở xây ra với tần số và
cường độ cao, cá biệt có thể xây ra hiện tượng tách sườn
Các nguyên nhân trên đây dù có nguồn gốc ngoại sinh, nội sinh hay nhân sinh thì động lực gây ra sự di chuyên trên sườn đều là sự thay đổi trọng lực trên sườn, tác dụng vận chuyển của trọng lực có thể là trực tiếp (làm cho đá vụn rơi tự đo, lăn trượt
từ trên sườn đốc xuống), nhưng thông thường hơn cả nó thể hiện gián tiếp qua các dòng nước, không khí (gió) và băng tuyết
Trang 24Xây dựng sơ đô phân vùng tai biến Tay Bắc
1.2.3 Vai trò của một số nhân tố tự nhiên đối với quá trình trượt lở
a Các lực trên sườn
Người ta cho rằng toàn bộ bề mặt lục địa là tong hợp các sườn có độ nghiêng
rất khác nhau Trên bề mặt đó trọng lực luôn có khuynh hướng hoạt động chuyên dời bất kì một vật chất nào, do đó trên một bề mặt nghiêng các phân tử vật chất luôn bị tác động bởi lực sau:
Hình 1.1 Quan hệ giữa lực vận chuyển và góc dốc
Trong đó: — M đại diện cho vật chất trên sườn, có khối lượng m
P là trọng lực = m*g
P¿ là áp lực của M lên mặt trượt
P; là lực kéo khối trượt M về phía chân sườn -> gây ra trượt lở P; là lực kháng kéo hay ma sát gây ra bởi ma sát giữa M và mặt trượt và giữa các thành phần vật chất trong M với nhau
Qua phân tích lực ta thấy trong thể trượt tiềm năng được phân tích thành hai phần: Lực kéo P;có tác dụng kéo khối trượt đi xuống P.= P*sin =m*g* sinœ
Lực pháp tuyến p; tác dụng vuông góc với mặt trượt p;= P*cose =m#*g*cosœ
chia lực này cho điện tích bề mặt chịu tác động, ta có các ứng suất ơn (—P;/A) sẽ tạo
ra sức kháng trượt và ơt = PA là ứng suất trượt Sức kháng trượt là khả năng của đất
đá chống lại sự trượt, trong đó hệ số kháng trượt được tính bằng:
Sg=Pn/uP¿ Với ụụ là hệ số ma sát trượt
Nếu Sg>I: kháng > kéo-> sườn én dinh
Sr<1: kháng < kéo-> trượt lở
Ta có thể nhận thấy rằng độ dốc càng lớn thì khả năng xảy ra trượt cảng cao do
Pị lớn Điều này giải thích tại sao các hiện tượng trượt lở thường xảy ra mạnh mẽ ở miền núi còn đồng bằng thì rất yếu
Trang 25Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biến Tay Bắc
Khi khối vật chất thắm nhiều nước, trọng lượng của khói trượt tăng lên đồng
thời lực ma sát giảm rõ rệt -> P;tăng -> hiện tượng trượt xảy ra
b Địa hình và độ dốc sườn
Địa hình là một nhân tố quan trọng hàng đầu đối với hiện tượng trượt lở, địa hình càng có mức độ tương phản và phân cắt lớn thì khả năng xảy ra trượt lở càng cao
do năng lượng địa hình tăng lên Ta có thể thây lực phá huỷ do hiện tượng trượt lờ gây
ra ty lệ thuận với độ cao của địa hình qua công thức:
P =(m*V?/2 = (m*(V 2gH)”⁄2
Khi đề cập tới vai trò của địa hình tới quá trình trượt lở tức là nói tới địa hình
nguyên thuỷ trước khi xảy ra quá trình này, trong đó tất cả các yêu tố địa hình như hình thái, trắc lượng hình thái, nguồn gốc, của địa hình đều có liên quan tới hướng
và cường độ của quá trình Song đóng vai trò lớn nhất vẫn là độ đốc sườn, hướng dốc
và vi địa hình của mỗi khu vực Nhìn vào mô hình phân tích lực trên ta có thể thấy rằng độ dốc sườn luôn tỷ lệ thuận với trọng lực có khuynh hướng chuyền dịch vật chất
từ cao xuống thấp, độ đốc càng lớn thì « càng tăng -> lực kéo P¡ càng lớn -> trượt lở xảy ra Mặt khác, độ dốc càng nhỏ thì lực ma sát càng lớn, làm tăng sức kháng trượt
Vị địa hình cũng là một yếu tố ảnh hưởng tuy không lớn lắm, trên các sườn thường gặp các hốc nhỏ, các bậc sườn (sườn đỗ lở, bào mòn, tích tụ) là những nơi kìm hãm
tốc độ dịch chuyển của vật chất
Những vùng có khả năng xảy ra tai biến trượt đất cao là những vùng đã từng xảy ra trượt lở (các vết trượt cũ), chân sườn dốc, các kênh thoát nước
Những vùng được coi là an toàn với trượt đất bao gồm những vùng không xảy
ra dịch chuyên trong quá khứ, những vùng có địa hình khá phẳng và không có những
thay đổi lớn về độ đốc và những vùng nằm ở đỉnh hoặc dọc theo đỉnh
c Ban chat của vật liệu và mức độ thâm nước
Tính chất của đất đá ảnh hưởng tới quả trình trượt thông qua trạng thái hay tính
gắn kết của đất đá, đất đá bở rời thường có độ găn kết thấp nên là loại đất đá đẻ xảy ra
trượt lở nhất Tính chất này được đánh giá qua độ kết dính của vật liệu (C¡) liên quan
đến sức kháng trượt
S=C+ơn*tpgỷ
với tg la hệ số ma sát trong (=), 6 1a g6c ma sat trong
C=C, +C,
với C¡ là độ kết dính của vật liệu,
C; là lực liên kết của rễ cây
23 HỘI ĐỊA LÝ VIỆT NAM
Trang 26Xây dựng sơ đô phân vùng tai biến Tay Bắc
Trong đó cát vụn bở có độ kết dính C¡= 0, cát sét có C¡> 0 và được xác định
trong phòng thí nghiệm Đối với sự vận động của cả khối vật chất vụn, tốc độ di chuyển của chúng phụ thuộc nhiễu vào lực ma sát và dính kết Trong tầng sản phẩm vụn càng có nhiều hạt ở dạng keo phân tán, sét và càng thấm nhiều nước thì càng đễ di
động hơn do lực ma sát giảm đi rõ rệt đặc biệt là ở các sườn có đất đá cấu tạo phân lớp giữa những lớp vật liệu bở rời thấm nước và lớp sét Sự tâm ướt của đất đá trước hết
làm tăng độ bão hoà và khối lượng vật chất, tương ứng làm tăng tác động của trọng
lực lên khối đất đá đó Trong đất đá luôn có những lỗ hông (lỗ, hang, khe, mao quản),
khi đất đá được thấm nước thì các lỗ trống này được lấp đầy, do vậy sự tăng khối
lượng này phụ thuộc vào độ rộng trong đơn vị thể tích đất đá:
Y=Yk+(Yn*e)/l+e
Y: khối lượng của một đơn vị thể tích khối đất đá
Yx: khối lượng một đơn vị thể tích khói đất đá khô
(YNÈ€)/l+e: thê tích các lỗ rỗng trong một thể tích đất đá
Các loại đá như sa thạch, cát, cuội kết, sét là những loại dễ thấm nước nhất, độ
thấm nước của những đá đó có liên quan chặt chẽ đến độ xốp và thành phần hạt theo kích thước của chúng Độ xếp của đá là tổng thể tích các lỗ hồng trong đá so với thể
tích của đá (của granit là 0,33%, của bazan là 0,95%, của đá vôi là 4,43%, của sét là
45%)
Hệ số trượt cũng phụ thuộc vào tính đồng nhất trong thành phần đất đá, thường
thi vật liệu càng đồng chất thì sức kháng trượt càng cao Đất đá được đặc trưng bởi
một độ bền nhất định qui định bởi các tính chất vật lý, hoá học của chúng Sự giảm độ bền của vật liệu khi chúng bị biến đổi trạng thái vật lý như khi bị Âm ướt, trương nở,
giảm độ chặt ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính chất của quá trình trượt lở Do vậy, dựa vào trạng thái của vật liệu trượt mà ta có thể phân loại được các kiểu trượt như trên
Bên cạnh đó hướng cắm của đất đá cũng đóng một vai trò quan trọng trong
việc hình thành khối trượt, các tầng đá có thế nằm cắm về phía thung lũng, tức là
nghiêng theo chiều đốc của sườn thường rất hay xảy ra trượt lở, nhưng nếu cũng có hường nằm ngược lại thì cho dù có đầy đủ các điều kiện khác thì cũng rất khó Xảy ra
hiện tượng trượt đất
d Khi hậu
Khí hậu là một nhân tố vừa ảnh hưởng trược tiếp vừa gián tiếp tới quá trình trượt lở, trực tiếp ở chỗ khí hậu quyết định đến khá năng trượt của khôi đất đá thông qua lượng mưa và bản chất của mưa, biến thiên nhiệt độ trong ngày và năm Mưa to hay hiện tượng đông lạnh và chảy lỏng xen kẽ nhau đã giúp cho đất chuyển động dễ dàng Trượt đất ở vùng nhiệt đới đặc biệt liên quan đến những cơn mưa hay giai đoạn
Trang 27Xây dựng sơ đồ phân vùng tại biên Tay Bắc
mưa lớn và có xu hướng làm tồi tệ hơn ảnh hưởng của lũ lụt (hiện tượng thường đi
kèm với mưa lớn) Trượt đất thường xảy ra khi có các cơn mưa lớn, lượng mưa này
làm thay đổi tính chất vật lý của khối trượt khiến chúng trở nên bị trương nở, mắt tính
biến dạng đẻo chuyển sang trạng thái chảy, các lớp thắm nước và không thắm nước bị
Dòng vật chất bở rời, hay còn được hiểu là dòng bùn đất, bùn, hoặc các dòng
thác vật chất vụn nát khác là những loại hình chủ yếu của trượt lở di chuyển nhanh Những dòng chảy nảy thường chảy ra trong suốt thời gian mưa lớn Chúng thường bắt đầu ở những sườn đồi dốc đứng nơi mà những khối trượt nông bị hoá lỏng tăng thêm
tốc độ trược lên từ vận tốc trung bình 10 đặm/h lên đến 35 đặm/h Vật chất cho những
đòng vận chuyển này mang nhiều loại vật chất từ bùn lông đến bùn đặc lẫn đá và có
thể mang những vật lớn hơn như đá tảng, cây, Dòng vật chất từ những nguồn khác
nhau có thể tụ hợp lại thành các kênh vận chuyển và làm gia tăng năng lượng phá huỷ lên rất lớn Những kênh vận chuyển này có thể được tiếp tục chảy ở phía chân sườn và
tăng thêm khối lượng vật chất do sự thêm vào của nước, cát, bùn, đá, cây và các vật liệu khác Đến những bề mặt phẳng hơn, vật chất trải ra các vùng rộng lớn và ở đó năng lượng của dòng vật chất giảm đi và chúng được tích tụ lại tạo thành những tầng
tích tụ dày
Mặt khác, ở mỗi miền khí hậu khác nhau thì sự chuyển động của vật chất cũng
có một kiểu đặc trưng cho nó như ở vùng ôn đới thường xảy ra kiểu trựot đổ, vùng cận
xích đạo thường có những dòng chảy vật chất, vùng khí hậy nhiệt đơi âm thường có
kiểu trượt chảy, Điều này liên quan đến đặc tính phong hoá của vật chất tại mỗi đới
khí hậu, đây chính là ảnh hưởng gián tiếp của khí hậu tới hiện tượng trượt lở
e Lớp phú thực vật
Lớp phủ thực vật ở đây là tất cả những thực vật từ cây gỗ đến cỏ, rêu phân bố
trên sườn A Kotutrep, 1886 có viết: “Dong vat chất chuyển động theo sườn, gặp phải hàng nghìn, hàng vạn cây cỏ, như những máy lọc, có nghĩa là cây cỏ đã giữ chúng lại Các thảm cỏ xanh không chỉ là những cái móc lọc đơn thuần mà còn là bộ phận bảo
vệ sườn rất tốt Các thân cây, lá cây rụng, cỏ úa, tạo thành một lớp thực vật cản làm
giảm tốc độ dòng chảy, tuy nhiên đây cũng chỉ là yếu tố phụ Chủ yếu vẫn là trên bề
mặt và bên trong khối đất đá cây cối tạo nền một lớp bọc rất dày là hệ rễ của chúng ngăn chặn quá trình thấm nước của vật liệu và ngăn vật chất chuyển đời từ trên sườn xuống Tuỳ thuộc vào kiểu rừng và mức độ che phủ rừng (mật độ rừng) mà mức độ bảo vệ của chúng đối với quá trình trượt khác nhau Sự ảnh hưởng của thảm thực vật
đến hiện tượng trượt lở được biểu hiện bằng đóng góp của chúng tới sức kháng trượt
S, thông qua thành phân C¿
# Hoạt động địa chất
25 HOI DIA LY VIET NAM
Trang 28Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai bién Tay Bac
Đặc điểm cấu trúc địa chất ảnh hưởng tới quá trình trượt thông qua hình thái sườn (dạng sườn và đặc điểm trắc diện dọc của chúng), ảnh hưởng rõ nhất của cấu
trúc địa chất đối với chuyển động vật chất là sự tạo thành các núi đơn tà (hay một
sườn — cuesta), với dạng địa hình này hiện tượng trượt rất khó xảy ra mà chỉ có bóc mòn hoạt động theo ngược hướng cấu trúc (phía sườn dốc)
Hoạt động kiến tạo cũng là một yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới quá trình trượt
lở thông qua việc biến đổi địa hình sườn và thay đổi gốc xâm thực cơ sở Bên cạnh đó, các hoạt động địa chất cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiện tượng trượt lở như động đất,
núi lửa Các hoạt động này phá vỡ trạng thái cân bằng của sườn và của vật chất, làm tăng hệ thống khe nứt trên sườn dẫn đến việc hình thành các khối trượt Thực tế cho
thấy rằng ở các vùng có núi lửa và động đất xảy ra thường kèm theo sau đó là hiện
tượng trượt lở
g Dao động của gương nước ngầm
Đây là một nguyên nhân chủ yếu gây ra quá trình trượt đất, sự dao động lên xuống của mực nước ngầm gây ra quá trình rửa trôi ngầm tiềm thực, làm suy yếu lực liên kết giữa khối đất trượt và thân sườn đốc Ở các khối trượt thường có lượng nước ngầm tương đối phong phú vận động trên bề mặt tầng không thắm nước Nước mưa thấm vào tầng gần bề mặt, làm tăng trọng lượng của nó và làm giảm độ ổn định của sườn Khi đạt tới bề mat tang chắn nước, chúng tích tụ lại và bắt đầu chảy ngầm theo
bề mặt phân lớp, gây ra hiện tượng xới ngầm và tiềm thực Quá trình tiềm thực sẽ càng mạnh khi bề mặt địa hình ngầm của tầng không thắm nước có dạng lõm nông nghiêng về phía chân sườn Nếu tầng không thấm nước là sét thì khi bị thấm nước, nó
trở nên trơn và đễ gây trượt
h Hoạt động cảu con người
Ngày nay hoạt động của con người ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trượt lở 1 cách trực tiếp hay gián tiếp Trong quá trình xây dựng, sản xuất con người đã làm biến
đổi mạnh mẽ địa hình và phá vỡ trạng thái ôn định như: tưới nước quá mạnh ở các khu
vực mép sườn đốc, xây dựng các kênh dẫn nước hoặc giếng, hồ chứa nước, xây dựng những công trình quá nặng ven mép sườn đốc, xẻ núi làm đường tạo nên những taluy đường rất đốc, dùng thuốc nỗ để khai thác khoáng sản, Đây là những nguyên nhân trực tiếp gây ra hiện tượng trượt lở Còn nguyên nhân gián tiếp thể hiện qua việc con người phá huỷ lớp phủ thực vật bảo vệ sườn, làm giảm sức kháng trượt của khối 1.2.4 Một số kiểu trượt lở chính
Nek Maqsud đã phân chia các kiểu trượt dựa trên 4 yếu tố: vật liệu trượt, độ
đốc sườn, điều kiện xáy ra và tốc độ trượt Các kiểu này được tóm tắt trong bảng sau:
Trang 29Xây dựng sơ dé phân vùng tai biên Tay Bắc
Bảng 1.2 Các kiểu trượt lở chính theo Nek Maqsud
Kiểu trượt Vật liệu oot Điều kiện xảy ra trượt trượt
Sụp lở Đá và vật liệu bở | Sườn rất |Khối đá lớn nằm trên lớp đá yếu | Nhanh (1-
Trượt đá Đá Rot di [Để trượt trên một mặt trượt cầu tạo trứng:
(rockslide) đứng bởi sự xếp tâng hoặc phay đứt gãy 1m/s)
Sườn rất -
2 : dốc (đến |Vách đá dốc đứng ở miền núi và ở| Cực kỳ
Bo da Ba nena eva G8 Í g0?) hoặc |vùng ôn đới nơi đá bị pha huy do} nhanh (10-
{rockfall) ang fon do tach | quá trình đóng và tan băng 400mis)
sườn
Trượt bò Đất và vật liệu bở Sườn _ |Mọi quá trình gay mat cân bằng đều | Rất chậm
(soilcreep) rời thoai thoải | dẫn đến việc di chuyển xuống (1-10mm/)
Chảy lỏng Đắt sỏi bão hoà và | Sườn dốc | nơi tuyết tan làm cho bề mặt bão Gram
(solifluctio) đá đã phong hoá | trung bình |hoà nước và trượt trên lớp chưa 1cming)
os Xảy ra khi có mưa, làm khối đất bị
Chay dat va Vat iu hat min hw |bão hoà nước mạnh, chuyển snag Nhanh
chảy vụn nát đất hong hoá, sét (với Sườn dốc | thể lỏng nhão và chảy xuống chan (1cm/ng- (earthflow và PO bnsflov, thì vật trung bình | sườn, dòng chảy có các vật liệu vụn amis)
debrisflow) liệu thô hơn) bở có khuynh hướng di chuyển
Khối lượng lớn vật liệu không vững
chắc, bão hoà nước mạnh sau
› | Dốc trung |những trận mưa to trở nên linh| Rất nhanh
Dòng bùn Bùn bán lỏng với : 4 ˆ X ha :A `
(mudflow) séi va da tang binh đên |động và để chảy, hiện tượng này| (100m-
hơi dốc |thường xảy ra ở các vùng khô hạn| 1km/h)
và bán khô hạn nơi phát triển phong
hoá vật lý và mưa theo mùa
a Kiểu rơi hay vật liệu vụn dé lo (fall)
Kiểu trượt này xây ra khi sườn có œ lớn khi đó P¡ thăng được lực ma sát và các mảnh đá vụn vừa bị tách ra khỏi lớp nham gốc đã có thể lăn tự đo xuống chân sườn
gây nên hiện tượng đỗ lở Khi góc đốc œ lên tới 90, sườn trở thành vách đứng, các
mảnh vụn đi chuyển theo kiểu rơi tự do Vì thế mà ở các miền nủi thuộc các đới có
quá trình phong hoá vật lý mạnh thường xảy ra hiện tượng đá lở Có trường hợp sườn
có độ đốc lớn, trọng lượng của khối trượt lớn và lại có hướng nằm của đất đá trùng
với hướng sườn gây ra hiện tượng đổ vỡ của những khối đá lớn gọi là lở núi Ở các miền có tuyết rơi thường gặp hiện tượng tuyết lở có sức công phá địa hình rất mạnh và
là một trong những dạng tai biến thiên nhiên nguy hiểm thưởng gặp ở các vùng ôn đới
b Kiểu phân tắn (avalanche)
Trong quá trình trượt tịnh tiến, thể trượt bị tách vỡ ra nhiều khối tảng, năm
chồng chất lên nhau và lan toả theo chiều ngang
Trang 30Xây dựng sơ đỗ phân vùng tai biến Tay Bắc
c Kiểu dòng chảy (debris flow)
Kiểu trượt này xây ra trên những sườn dốc bị phong hoá đữ đội nhất là trong
điều kiện khí hậu khô khan, nham thạch bị vụn bở hàng loạt Đặc biệt là khi có những
trận mưa lớn, tầng nham vụn này được nước cuốn đi ồ ạt trên sườn dốc tạo thành
những dòng chảy như thác đỗ mang theo nhiều bùn đá được gọi là ið bàn đá
(mudflow) Những dòng lũ bùn đá như vậy thường gặp ở các miền khô nóng hoặc ở
nơi khí hậu có mùa mưa và mùa khô rõ rệt Hiện tượng lũ quét ngày nay đang xảy ra thường xuyên ở các miền núi Tây Bắc nước ta cũng là một dạng của lũ bùn đá
ả Kiểu trượt bò (trượt chảy — soil creep)
Truot theo nhiéu lớp song song với sườn dốc, tốc độ rất chậm, có thể làm uốn
cong các thân cây và thường không có ranh giới lớp trượt và lớp không trượt Đó là hiện tượng lớp sườn tích có nhiều sét do bị thấm đẫm nước mà có độ cơ động cao và chảy rất chậm chạp trên sườn dốc Hiện tượng này xảy ra phổ biến ở các miền khí hậu
nhiệt đới âm Trong điều kiện độ dốc nhỏ, các chuyển dịch của vật chất vụn đều cần
có những kính thích từ bên ngoài như: được thẫm đẫm nước trở nên dẻo và có độ cơ
động cao, dao động nhiệt độ là co dãn khối trượt và tăng tính biến dạng dẻo Tại các
vùng nóng âm như Việt Nam, vỏ phong hoá thường có tỷ lệ sét và keo cao do đó bị
trương nở mạnh mỗi khi thấm đẫm nước dẫn tới hiện tượng trôi từ từ của lớp vỏ
phong hoá Những hiện tượng này thường khó thấy được bằng quan sát thông thường (có thể quan sát trên hình đáng thực vật và hệ rễ của thực vật mọc trên khối trượt- các cây trên khối trượt thường có đạng “cây say”, gần bề mặt sườn rễ cây không xuyên
thẳng đứng vào thân sườn mà bị uỗn cong theo chiều dốc và mãi ở dưới sâu mới cắm
vào các khe nứt đá gốc) nhưng chúng hoạt động liên tục, lâu đài và làm đi động toàn
bộ khối vật chất vụn rên sườn, vì vậy người ta còn gọi hiện tượng này là những vận
động trọng lực chậm
1.3 CAC NGUYEN LY CHUNG VE TAI BIẾN LŨ LỤT - LŨ QUÉT
1.3.1 Khái quát chung về tai biến lũ lụt - lũ quét
Lũ là một hiện tượng mang tính chất chu kỳ của con sông hoặc dòng chảy,
nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định sau đó giảm dẫn
Ngập lụt là hiện tượng nước lõ trần ngập một vùng nào đó trong một thời gian không dài, xảy ra khi lũ trong sông quá lớn Nước lũ tràn qua bờ sông chảy vào các vùng thập ven sông thậm chỉ có khi vỡ đê
Ngập úng là ngập lụt do nước lũ va do mua tai chỗ ở một vùng nào đó mà nước ngập lưu giữ một thời gian dài hơn
Trang 31
Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biễn Tay Bắc
Nói chung, hiện tượng lũ lụt là kết quả của một lượng mưa lớn liên tục vượt quá khả năng chịu đựng của đất đá và khả năng tiêu thoát nước của các con sông hoặc dòng chảy, điều này dẫn đến sự chảy tràn nước vào các vùng đất ở hai bên bờ
Để phân loại lũ người ta căn cứ báo các chỉ tiêu có thể phân chia thành nhiều loại, theo lưu vực xuất hiện lũ thì có:
Lũ trên các triền sông suối vừa và nhỏ
Trên các sông dạng này có loại lũ quét là loại lũ điển hình Đầu là lũ xảy ra bất
ngờ, lên xuống rất nhanh, cường suất lũ lớn, tốc độ chạy rất mạnh, cuốn trôi nhiều bùn
đá, sức tàn phá rất lớn Lũ quét thường xảy ra ở các lưu vực sông suối nhỏ ở miễn núi:
địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực lớn, độ đốc lòng sông suối lớn, độ ổn định của lớp
đất trên bể mặt lưu vực yếu do quá trình phong hoá mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn phá
Lũ trên các sông lớn
Lũ lên xuống từ từ Cường suất từ I, 2cm đến vài chục cm Thời gian trận lũ
kéo đài từ vài ngày lên đến vài tháng Các trận lũ thường kế tiếp nhau xuất hiện Trận trước chưa hết đã tới trận sau đẫn đến mực nước lũ đâng cao đạt tới đỉnh lũ cao nhất
trong năm Biên độ một trận lũ trên sông lớn không lớn; 3-5 m ít khi lớn hon 10m nhưng biên độ mực nước trong năm 10-20m Tốc độ dòng chảy nhỏ 1-2m/s Lưu
lượng đỉnh !ũ khá lớn, thí dụ lưu lượng nước đã xuất hiện trên một số đoạn của sông
Hing tại Sơn Tây là 37.800mỶ⁄s (8-1971) sông Lô tại Phù Ninh 14.000m”⁄s
Lịch sử đã nhiều lần chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của lũ lụt Ở miền núi, lũ
đã từng xoá số nhiều khu dân cư đông đúc Trên các vùng đồng bằng, lũ đã nhiều lần
biến các cánh đồng màu mỡ thành các bãi lầy hoang vu Lũ lụt nguy hiểm và tàn khốc như vậy, song ngày nay lũ lụt cũng được coi như một nguồn lợi thiên nhiên Một phần sức mạnh đường như vô viên của dòng đước lũ đã và đang được sử dụng phục vụ lợi
ích con người như hệ thống các hồ chứa nước đa mục tiêu Ở đồng bằng, về một góc
độ nào đó, lũ lụt được coi là nguồn lợi như mang phù sa, rửa chua phèn, vệ sinh đồng
ruộng tạo nên các cánh đồng màu mỡ nuôi sống cả nước Nhiệm vụ của chúng ta là phải hạn chế mặt có hại và khai thác các mặt có lợi của lũ Chúng ta đang tiếp bước
cha ông nghiên cứu tìm hiểu các quy luật hình thành và phát triển của lũ để có thể chung sống với lũ
Bảng 1.3 Tác động của lũ lụt
Gây thương vong cho con người Cung cấp nước cho các hồ chứa
Tàn phá công trình, nhà cửa Vận chuyển phù sa, bồi đắp các cánh đồng
Tàn phá, làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên Vệ sinh đồng ruộng, rửa chua phèn
Trang 32
Xây dựng sơ dé phan ving tai bién Tay Bắc
Tăng dịch bệnh sau khi nước rút
Đình trệ hoạt động giao thông liên lạc, dịch vụ, y tễ,
Rồi loạn xã hội
Trong phạm vi các tỉnh miền núi Tây Bắc, hiện tượng lũ lụt không phổ biển và
không thực sự cấp bách, đưới đây đề tài tập trung chủ yếu vào tai biến do lũ quét
1.3.2 Các nguyên lý chung về tai biến lũ quét
1.3.2.1 Những khải niệm về lũ quét
Li quét có thé duoc hiểu là một hiện tượng tự nhiên, chịu ảnh hưởng trực tiếp
của nhiều nhân tố như: điều kiện khí hậu, đặc điểm địa hình, địa chất, thô nhưỡng,
thảm phủ thực vật và các hoạt động của con người Lũ quét xảy ra bat ngo va tồn tại trong khoảng thời gian ngắn nhưng có sức tàn phá lớn
Vậy lũ quét được hình thành trong điều kiện nào?
Điều kiện địa hình là phải ở vùng đổi núi rất đốc (trên 30'), địa hình bị chia cắt
mạnh mẽ thành những hẻm, vực sâu, độ dốc rất lớn Phạm vi bị lũ quét tác động là
những lưu vực nhỏ, chi 100-200 km’, thậm chí chỉ vài chục km” Những khu vực từng
xảy ra lũ quét ở Việt Nam đều có độ đốc lớn, ví dụ một lưu vực của sông Nậm La
(Son La) dốc 45,2°, Mường Lay (Lai Châu) 37-48”, Bát Xát (Lào Cai) dốc 37-420,
Về điều kiện khí tượng, vùng xảy ra lũ quét thường có chênh lệch nhiệt độ không khí trong ngày và trong năm rất lớn (ở Lai Châu, Sơn La khoảng 10C, Lào
Cai, Yên Bái khoảng 7-8°C) Do tác động của nhiệt độ, mưa nắng, bề mặt đất bị
phong hoá, giảm tính liên kết và dễ sụt lở khi có mưa
Những động lực trực tiếp gây ra lũ quét là mưa Theo các nghiên cửa của ta, lượng mưa thường trên 150mm một ngày (thực tế chỉ tập trung trong 2-3 tiếng) thì có
nguy cơ xảy ra lũ quét Cường độ mưa khi xảy ra lũ quét rất cao, lớn nhất có thể là 70-
100mm/h
Con người tác động như thế nào tới sự xuất hiện của lũ quét?
Sự tác động của con người khiến bề mặt lưu vực sông suối bị thay đổi là một
nguyên nhân phụ làm tăng lũ quét Việc phá rừng để sản xuất, xây dựng nhà đã làm hạn chế khả năng giữ nước của mặt đất Khi xảy ra mưa lớn, nước không thấm sẽ chuyển động nhanh hơn, tạo thành lũ Con người cũng đã ngăn cản đòng chảy để bắt
cá, dâng nước dân vào ruộng
Những nơi hay xảy ra lũ quét như Sơn La, Lai Châu rừng bị phá rất nhiều Trước năm 1975 người ta tính diện tích rừng ở lưu vực này còn 10%, đến này không quá 6%, nhưng toàn là cỏ tranh, sim, mua, không có khả năng giữ nước
Trang 33Xây dựng sơ đô phân vàng tai bién Tay Bac
Khi có mưa với cường độ lớn ở bề mặt địa hình có độ dốc lưu vực > 20°-30°,
đặc biệt là nơi có thảm phủ thực vật thưa thớt, lớp đất bề mặt có độ ốn định kém tạo điều kiện hình thành dòng chảy dền và mạnh vào các sông suối Lúc này thế năng sinh
ra rất lớn, dòng chảy rất nhanh và xiết gây nên sức tàn phá mạnh có thể cuốn theo mọi chướng ngại vật tập trung trên lưu vực Chính vì dòng chảy xiết mạnh nên sự xuất hiện của lũ quét xảy ra chỉ trong vòng vài ba giờ
1.3.2.2 Các đặc trưng của lũ quét
- Lũ quét là dạng lũ lớn chứa nhiều vật chất rắn, xảy ra bất ngờ trong thời gian ngắn trên các lưu vực nhỏ, địa hình đốc, tốc độ đòng chảy mạnh gây nên sức tàn phá lớn
- Lũ quét có cơ chế hình thành đặc trưng dễ nhận biết với các dạng lũ khác Lũ
quét sinh ra do các hình thé thoi tiết đặc biệt do hội tụ nhiệt đới, mưa bão hoặc xoáy
thuận nhiệt đới với cường độ mưa rất lớn và tập trung trong thời gian rất ngắn trên lưu
vực nhỏ có độ dốc lớn
- Li quét chuyển động rất nhanh, tức thời với lưu lượng đỉnh lũ tương đối cao;
đỉnh lũ đạt được chỉ từ 3-4h sau khi bắt đầu mưa, thường chỉ bằng 33-50% so với
tuyến lũ thông thường Trong thời gian xảy ra bão, mưa lớn có thể đồn lại một cách nhanh chóng khi nước lũ chảy vào những hẻm dốc, và sóng lũ có thể truyền nhanh gây nên sự phá hoại đột ngột và mãnh liệt Do đó mà chúng chỉ hình thành trong thời gian
rất ngăn và khó dự báo Chính vì vậy, việc dự báo, cảnh báo lũ quét dựa vào phương
pháp hiện có trong tính toán thuỷ văn thường không khả thi
1.3.2.3 Các dang lũ quét
Lũ quét được xem là một loại hình thiên tai xảy ra trên thế giới từ rất lâu; có
hình thức, quy mô phát triển và vật chất mang theo trong dòng chảy khác nhau Từ đó người ta có thể phân ra cac đạng lũ quét khác nhau:
- Lũ quét, xảy ra với tốc độ lớn và ngắn cuốn theo mọi chướng ngại vật trên đường no di qua (Flash flood)
- Lũ bùn đá, mang theo nhiều bùn đá trong đòng cháy lũ (Mudflow)
- Lũ mang theo nhiều mảnh vụn: rác, cảnh cây, cuộn sỏi (Debris flood)
1.3.2.4 Tình hình lũ quết ở Việt Nam trong những nặm 1990-2005
Trang 34Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
Những nơi xảy ra lũ quét thường là khu vực miền núi, hẻo lánh: có địa hình chia cắt mạnh, độ đốc lưu vực và sông suối lớn, lớp đất bề mặt có độ ốn định về, sự tương phản giữa các mùa trong năm sâu sắc, lớp phủ thực vật bị tàn phá mạnh tạo nên vùng xung yếu dễ gây sạt lở mạnh làm tắc nghẽn đòng chảy Tắt cả những yếu tổ trên
tạo điều kiện cho sự tập trung nước nhanh khi có mưa lớn Lượng nước tích tụ lớn tạo
ra sóng lũ mạnh, bên cạnh đó do độ dốc địa hình cao tạo nên thế năng địa hình lớn có thể cuốn phăng tất cả các vật cản trên đường chúng đi Trong vòng mười năm qua, có
một số địa phương lũ quét xuất hiện nhiều lần: huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu
(1992,1996), huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang (1993, 2004), thậm chí xuất hiện liên tiếp
ở thị xã Lai Châu (1990, 1991, 1994, 1996) Lũ quét gây thiệt hại nặng nễ về người và
tài sản
Ở nước ta, các đạng lũ quét thường xảy ra và gây thiệt hại là lũ quét và lũ bùn
đá, đặc biệt lũ bùn đá có sức tàn phá mạnh mẽ
b Hiện trạng một số trận lũ quét ở nước ta trong những năm 1990-2005
Với diễn biến thời tiết thất thường và các hoạt động đân sinh phá vỡ cân bằng
sinh thái, các chuyên gia nhận định lũ quét đang có xu hướng tăng tần suất và sức tàn
phá tại các tỉnh miễn núi nước ta Ước tính từ 1990 đến 2005, cả nước đã có 27 trận lũ
quét, làm chết và mắt tích 965 người, thiệt hại gần 2.000 tỷ đồng
Trong hội thảo khoa học về trượt lở và lũ quét điễn ra ngây 9/6 tại Hà Nội, các
nhà khoa học đã công bố những kết quả nghiên cứu bước đầu về hiện trạng và nguy
cơ xảy ra lũ quét tại các tỉnh miền núi phía Bắc, thuộc Chương trình khoa học công
nghệ cấp nhà nược KC-08
Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương cho biết, lũ quét trở nên phức tạp
hơn khi con người tác động đến môi trường thông qua các hoạt động kinh tế Chỉ tính
15 năm trở lại đây, lã quét đã gây thiệt hại đáng kê về người và của, ảnh hưởng đến
hàng chục nghìn người khác Lũ quét là lũ ở các sông, suối nhỏ, xây ra bất ngờ với
cường độ cao, tốc độ nhanh, thường xuất hiện trên quy mô hẹp, ở 1 hoặc 2 bản hoặc
một nhóm gia đình, nhung cũng có khi xảy ra trên vùng dân cư tập trung Dưới đây là một vài trận lũ quét điển hình:
Trận lũ quét cuốn trôi toàn bộ phần thấp của thị xã Lai Châu (tinh Lai Châu cũ)
vào ngày 27/6/1990 Liên tiếp trong cuối tháng 6 ở khu vực tỉnh Lai Châu có mưa
Tính đến ngày 27/6 lượng mưa đo được là 223mm; phần lớn quả đổi phía dưới bản
Huổi Say (cach thi xã Lai Châu chững 20km) đổ lở tạo thành con đập chặn ngang
dòng Nậm He làm nước suối ứ lại và tăng cao dần Chỉ trong vòng 2-3h, mực nước phía trên đập chắn dâng cao gần tới nóc nhà sàn của bản, nước dâng khoảng 4-5m so với nước lũ bình thường thì đập chắn bị vỡ tạo nên sóng lũ đồn vẻ thị xã Lai Châu, thời gian đỉnh lũ đạt được khoảng 2h30°, biên độ lũ khoảng 5,3m, tổng lượng lũ tính
Trang 35Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến Tay Bắc
toán được khoảng 61,5triệu mì, lưu lượng cực đại đạt 1900m3⁄s, lưu tốc là 6m⁄s Lũ
cuốn trôi 300 người, 104 người chết, 196 người bị thương, nhà cửa, ruộng vuờn,
đường xá bị hư hỏng Tổng thiệt hại lên đên 22 tỷ đồng
Lũ quét xảy ra ở Thái Nguyên 24/9/1990 do ảnh hưởng hoàn lưu của cơn bão
số 6 Trong 4 ngày liên tiếp từ 20-24/9/1990 trên toàn tỉnh Đắc Thái có mưa rất to, có nơi lượng mưa lên tới, 340 mm (Định Hoá); 448,9mm (Chợ Mới) Mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn đã gây ra lũ quét làm chết 2! người, 4 người bị thương, ngập
2739 ngôi nhà, đỗ 56 ngôi nhà, trôi 59 ngôi nhà, vùi lấp 37 ngôi nhà , tất cả các ngành lâm nghiệp, nông nghiệp, giao thông, bưu chính đều bị thiệt hại nghiêm trọng
Tông thiệt hại lên tới 10 tỷ đồng
Trận lũ quét tại thị xã Sơn La ngày 27/7/1991 trên 43 km chiều dài sông suối,
làm chết và mất tích 42 người, cuốn trôi 336 ngôi nhà Cùng ngày này ở thị xã Lai Châu lại xảy ra lũ quét Tuy nhiên do được dự báo nên công tác di dân kịp thời làm
cho trận lũ gây thiệt hại không đáng kê
Trận lũ quét xuất hiện tại suối Bảo Hà thuộc Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày
15/5/1992, có cường suất 3m/h đã cướp đi 3 sinh mạng và vùi lắp hàng trăm ha ruộng
Ngày 10/5/1993, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có mưa lớn gây ra lũ quét ở các xã
Hồng Phong, Tô Hiệu và Minh Khai làm 2 người chết , 22 ngôi nhà bị hư hỏng, ngập
53 ha lúa, hư hỏng nhiều công trình thuỷ lợi
Trận lũ quét ngày 11/6/1993 xây ra tại nhiều địa phương trong tỉnh Hà Giang
đã cướp đi 3 sinh mạng, nhà đỗ, lúa, hoa màu bị cuốn trôi, phá hoại công trình thuỷ lợi Tổng thiệt hại ước tính 800 triệu
Tại huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang, từ 19h-21h ngày 16/6/1993 có mưa rất to và
đã gây ra lũ quét: 7 người chết, 14 người bị thương mất trắng 55ha lúa, xói lở 9ha
ruộng, hư hại nhiều công trình thuỷ lợi Tổng thiệt hai ước tính hơn 4 tỷ đồng
Từ 20h-22h ngày 16/8/1993, tại huyện Sapa và một vài địa phương khác tỉnh Lào Cai xuất hiện mưa gây lũ quét tại thôn Lào Chải xã Tả Giang Phìn huyện Sapa: 7 người mắt tích, cuốn trôi 5 ngôi nhà, 2 công trình thuỷ lợi bị hư hại
Ngày 21/7/1994, mưa lớn đã gây nên lũ quét tại huyện Điện Biên tỉnh Lai
Châu: cướp ổi 9 sinh mạng, cuốn trôi 46 ngôi nhà, ngập 49 ngôi nhà, hư hại 565ha lúa
Tổng thiệt hại ước tính 15 ty đồng
Tại thị tran Mường Lay, ngày 23/7/1994, lũ quét xuất hiện quét đi một phần thị
tran, cướp đi 17 sinh mạng, 34 người bị thương Nhà cửa, đường xá bị cuốn trôi và hư hại
Trang 36Xây dựng sơ đỗ phân ving tai biến Tay Bắc
Tại Quảng Ninh, liên tiếp trong các ngày từ 13-18/7/1994 có mưa lớn nhiều nơi
lượng mưa lên tới 480mm (Yên Hưng), 476mm (Quảng Hà), 458mm (Bãi Cháy) và lũ
quét xuất hiện làm 3 người chết, 4 người bị thương, đỗ và ngập nước 1266 ngôi nhà,
ngập úng lúa, hoa màu, hư hại công trình giao thông, thuỷ lợi
Ban chỉ đạo phòng chông lụt bão tỉnh Hà Giang cho biết từ ngày 18 đến
21/7/2004, các huyện Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Mê, Hoàng Su Phì đã xảy
ra mưa lớn gây lũ quét Nước lũ đã cuốn trôi 44 người, trong đó tìm thấy xác 20 nạn nhân Xã Du Tiến chịu thiệt hại nhiều nhất với 38 người chết và mắt tích, 9 người bị
thương Xã Du Già kế bên cũng bị lũ cước đi 6 sinh mạng, làm bị thương 4 người Ngoài ra lũ còn làm sập 22 căn nhà, tốc mái 33 căn nhà khác và làm sạt lở, ngập úng nhiều đoạn đường Đường từ huyện Yên Ninh đi Đồng Văn bị gián đoạn do 1,4 km
đường bị sạt lở, 1 cầu bị trôi Quốc lộ 4C từ Hà Giang di các tỉnh vùng cao bị sạt tới 2
km, đường Tuyên Quang đi Hà Giang bị ngập nhiều đoạn
Vào khoảng 19h tối ngày 26/11/2004, một cơn lũ quét đã làn sụt trượt hơn
2.500m” đất đá từ đỉnh núi xuống, lấp toàn bộ toàn bộ đường từ Km 905+500- 906+550, cách đỉnh đèo Hải Vân về phía Nam chừng 1 km Sự cỗ này đã làm tắc
nghẽn hoàn toàn hoạt động giao thông qua ngọn đèo huyết mạch trên tuyến QL 1A này, khiến hàng trăm phương tiện giao thông cùng hàng nghìn hành khách bị mac ket trên đèo suốt đêm trong cơn mưa gió
Do ảnh hưởng của bão số 3, trong suốt 4 ngày, kể từ đêm 11/8, địa bàn Nghệ
An có mưa rất to kèm theo gió lốc Các huyện miền núi như Kỳ Sơn, Tương Dương,
Anh Sơn, gió lốc, lũ quét hoành hành đã chia cắt trung tâm huyện với các xã vùng sâu Theo số liệu cập nhật đến 17/8/2005 của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão tỉnh, lũ quét
đã cướp đi 13 sinh mạng ở các huyện Thanh Chương, Đô Lương, Tương Dương, Anh
Sơn; làm bị thương 3 người và mất tích 2 Trong số các huyện thị, Tương Dương bị
thiệt hại nhiều nhất Lượng mưa lên đến 250-300mm đã tạo thành lũ quét cuỗn phăng
105 ngôi nhà, vùi lắp 116 nhà khác, 19 phòng học bị giật đỗ Kế đó là các huyện Kỳ Sơn với 31 ngôi nhà bị cuốn trôi, 250 nhà khác hư hại, 50 kho lúa của dân bị đổ, trôi
Toàn tỉnh có 11.800 ha lúa bị úng ngập, trong đó 1/3 diện tích bị hỏng nặng, năng suất
giảm ít nhất 30% Hệ thống thuỷ lợi, giao thông bị tàn phá nặng nề sau lũ 17.000m” đất nền đường, 5.800m” kênh mương ỏ các huyện Con Cuông, Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Quỳ Châu bị sạt lở và phải mất nhiều tháng sau mới có khả năng khôi phục Tổng thiệt hại vật chất đo lũ quét lên tới 205 tỷ đồng
Tối 26/8/2005, ông Hà Đức Lý, phó bí thư thường trực huyện uỷ huyện vùng cao Quan Hoá (Thanh Hoá), cho biết một cơn mưa lớn kéo dài khoảng năm giờ đồng
hồ (từ Ig-6g sang 26-8) da gay ra trận lũ quét kinh hoàng tại ba xã vùng cao của
huyện Hiền Chung, Thiên Phủ, Hiền Kiệt Cơn lũ này đã làm hai người chết, hàng
Trang 37Xây dựng sơ dé phân vùng tại biến Tay Bắc
chục người bị thương nặng; gần 100 ngôi nhà xây, nhà sản cùng nhiều tài sản của
đồng bào bị đất đá cuốn trôi vùi lấp, hư hỏng nặng; hơn 100ha lúa nước bị mắt trắng
hoàn toàn Tổng thiệt hại do cơn lũ gây ra ước tính lên tới gần 10 tỉ đồng
Gần đây, trận lõ quét ngày 27/9/2005 xảy ra ở Yên Bái (do ảnh hưởng của bão
số 7) vào lúc 19h30 Lúc đầu trời còn mưa nhẹ, nhưng chỉ một giờ sau những dòng suối vốn hiền hoà bỗng cuộn ngầu sắc đỏ, nước ào ào đô về, đột ngột dâng cao hơn 2
m rồi 4 m Lũ quét tràn xuống kéo theo hàng nghìn cây cối, nhà cửa, gia súc, gia cằm Những tiếng người kêu cứu trong tuyệt vọng Lúc đó là 23h tối 27/9, các tuyến đường giao thông bị lấp bởi đất đá từ trên cao theo dòng nước chảy xuống, làm tắc
hoàn toàn tuyến đường từ thị xã Nghĩa Lộ đến thành phố Yên Bái Điện lưới quốc gia mắt, điện thoại mắt liên lạc (kể cả điện thoại di động), huyện Văn Chấn bị cô lập hoàn toàn Lũ kéo về quá nhanh cùng với sức công phá khủng khiếp, chỉ trong chốc lát 40m
đường đầu cầu Thia đã bị cuốn trôi, trở thành một dòng suối và cuốn theo 5 nhà dân
Ba chiến sĩ trong đội cứu hộ cũng trôi theo đòng suối và bị thương, cây cầu Thia vững
chãi bị dòng nước cuốn theo cây cối Nhà cửa va đập vào trụ cầu rung bản bật Hơn
100 ngôi nhà gần đầu cầu thuộc địa phận xã Phù Nham chỉ trong 2 phút đã đi theo
dong lũ
Sáng 29/9/2005, khi nói chuyện với phóng viên của VnExpress Ông Hà Quyết
(Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái) cho biết, có 50 người đân ở cdc huyén Van Chan, Tram Tau,
thị xã Nghĩa Lộ đã bị chết và mắt tích do lũ quét; l1 người khác bị thuơng nặng Tuy
nhiên, đây chưa phải là con số cuối cùng bởi các huyện vẫn tiếp tục báo cáo về Huyện Văn Chấn bị thiệt hại nhiều nhất với 43 người chết và mất tích Riêng ở xã Cát
Thịnh có tới 24 người, Nghĩa Tân 9, Làm Nành 7, Phù Nham 2 và Sơn Thịnh | Xa
Túc Đán, huyện Trạm Tấu, có 7 người bị lũ cuốn, có người bị đất vùi lấp, 8 người
khác bị thương nặng Thị xã Nghĩa Lộ tuy không có người chết, nhung có 3 người đang trong tình trạng nguy kịch vì nhà sập Khả năng sống sót của những người mắt tích rất nhỏ bởi hôm nay đã là ngày thứ 3 sau cơn lũ tử thần mà vẫn chưa tìm thấy
Toàn tỉnh Yên Bái có 181 nhà bị lũ cuốn trôi hoặc kéo sập, 57 nhà khác bị hư hỏng
1.4 NHỮNG NGUYEN LY CHUNG VE TAI BIEN DONG DAT
1.4.1 Khái quát chung về tai biến động đất
Dưới chân chúng ta, những mảng nền đang trôi trượt trên “quyên mềm” chứ không vững chắc như chúng ta tưởng Có thể đột ngột một lúc nào đó, mặt đất bỗng chao đảo hoặc rung lên trong giây phút, những toà nhà bê tông cốt thép sụp đỗ vỡ vụn Các nhà địa chân học mỗi năm ghi lại khoảng gần 1 triệu chắn động lớn nhỏ của trái dat (trung bình mỗi giờ khoảng gần 1 triệu chắn động lớn nhỏ của trái đất (Trung bình
mỗi giờ khoảng 250 chắn động) trong đó chỉ khoảng 6.000 chân động có thể cảm nhận
Trang 38Xây dựng sơ đề phân vùng tai biến Tay Bắc
được Các chấn động thường xảy ra ở vùng tiếp xúc giữa các mảng nên, nơi xảy ra
những va chạm làm rung chuyên bề mặt Trái đất Những chân động mạnh của vỏ Trái
đất, có thể cảm nhận được hoặc gây thiệt hại cho con người và cho các công trình xây dựng, làm biến dạng mặt đất được gọi là động đất Chân động đo sự va chạm giữa các mảng nền (sóng chấn động) lan truyền nhanh trên mặt đất và trong lòng đất, được các máy đo địa chấn đặt khắp mọi nơi ghi nhận lại Từ các số liệu đo đạc nay, cac nha
khoa học đo đạc được tâm chân, thường ở độ sâu từ 0 — 700km và tính được cường độ
động đất theo thang độ Richte (Charles Richter 1900 — 1985): từ 0-9 độ Richtc Những trận động đất có cường độ từ 4 độ Richte trở nên sẽ gây thiệt hại cho con người Từ chân địa chan, năng lượng do sự và chạm của các mảng nền được truyền thắng lện mặt đất, gọi là tâm động đất, rồi lan truyền thành sóng địa chắn ra khắp mặt
đất tại các vùng phụ cận Các sóng địa chắn như những đợt sóng lan toả từ tâm động
đất, nếu gặp các công trình kiến trúc sẽ tạo nên các sóng dư chắn dội ngược lại và tàn
phá vùng bị động đất một lần nữa mà hậu quả có khi còn nặng né hon
Thiệt hại do động đất xảy ra thường bắt ngờ, trong vòng vài giây, dài nhất cũng chỉ vài phút, gây thiệt hại nặng nề trong những rung đông dân cư, và các đô thị Một
số người bị thương hoặc chết ngay trong nhà cửa sụp đỗ, một số bị vùi lấp giữa các
mảng tường bê tông, nếu không cứu kịp thời, sẽ bị chết dần vì đói khát kiệt sức hoặc
vì vết thương quá nặng Một số khác bị chết cháy do chập điện ở đường ống khí đốt,
do các bếp lửa
Động đất xảy ra ở các vùng ven biển thường kèm theo các đợt sóng thần có sức
tàn phá khủng khiếp Trận động đất ở thành phố Lixbon (Bồ Đào Nha) sáng ngày
01/11/1755, chỉ diễn ra trong 10 phút, tạo cơn sóng thần cao như quả núi lừng lững tiến vào đồ xuống như thác, khi rút đi còn mạch hơn, cuốn theo tất cả những gì còn lại
có thể cuốn được, kể cả toàn bộ nước sông Tagiơ chảy qua thành phó Sóng đia chấn lan sang Đức, Pháp đến bờ biển Bắc Phi, làm rung chuyển một vùng đất rộng 2,5
triệu km”, và sóng dư chắn đến tháng 3/1756 còn ảnh hưởng đến bờ biển Bắc Mỹ
Mới đây một trận động đất mạnh nhất trong năm 2004 (8độ Richte) xảy ra 8 giờ ngày 26 tháng 12 năm 2004 ở miền bắc Inđônêxia gây sóng thần khu vực bờ biển
của 8 nước Nam Á làm chết và mắt tích 150.000 người
Hiện nay, có đến 90% động đất diễn ra ở “vòng đai lửa Thái Bình Dương”, trong đó vùng Đông Nam Á là nơi có nhiều động đất vi nằm ở nơi tiếp xúc giữa nền Á
- Âu với nền Philippin
1.4.2 Đặc trưng cơ bản của động đất
~ Độ sâu chân tiêu
Trang 39Xây dựng sơ dé phan vùng tai biến Tay Bac
+ Động đất tâm sâu > 70km liên quan đới hút chìm
+ Động đất tâm nông < 70km liên quan hoạt động biến vị nội mảng
- Cơ chế động đất
+ Tạo ra các sóng dọc, sóng ngang và mặt
+ Hệ thống lực tác động (phương, chiều, cường độ )
Hình 1.2 Phân loại cường độ trường độ động đất
I Hết sức Chỉ có máy mới ghí nhận được P trình: Dong dat
II- Rất yếu Người nhạy cảm có thể nhận biết gây thâm
II- Dao động yếu Một số người nhận biết lọ = 1,5M - 351g (h) + 3 hoạ có năng IV-Dao động làm rung cửa số và nhà cửa Nhiều io - Chân cắp lượn -
V- Dao động khá mạnh, lắc các đồ vật treo H- độ sâu 10 ec, gen
VI- Dao động khá mạnh làm hư hại nhẹ một số nhà | | M - Magnitude 8,6M gấp
cửa, tường bị nứt Có hiện tượng nứt đất nhiêu lần VII- Phá hoại, nhà cửa bị phá huỷ, tường nhà cỏ Cấp | Richte năng lượng
nhiều đường nứt lớn, ô văng bị sập, ông khỏi bị | bom nguyén
VII- Tản phá nhà cửa bị để tường, sập mái, trên II 1-3 độ
mặt đất tạo các đường nứt rộng 10cm, ở miền núi IV
IX- Tai hoạ, nhiều nhà cửa bằng bê tông bị sập đẻ VỊ 3-4 độ
Trên mặt đất tạo các đường nứt rộng 1m Phát Vil 4-5,9 độ
triển trượt lở chăn thung lũng sông ao hỏ VII 59-65
X- Thảm hoạ, nhà cửa bị phá huỷ; Có nhiều đường 1X sự TA |
nứt trên bề mặt Xảy ra trượt lở lớn ở miền núi X
XII- Tai hoạ Biến đối địa hình trên một qui mô lớn XI
Thấy rõ hoạt động dịch chuyển của các khỏi đá XI | 7,75-8,25 độ
Xây ra đỗ lở lớn, lòng sông thay đổi tạo ra thác và
hồ Nhà cửa vả các công trình bị phá huỷ hoản
Trang 40Xây dựng sơ đỗ phân vùng tại biến Tay Bắc
- Đai Địa Trung Hải: kéo đài từ Gobraltar qua Pirenet, Anpơ, Bancang, Capat, Tiểu Á, Capcazơ, Kopeđac, Hymalaya xuống quân đảo Inđonêxia
- Đại Thái Bình Dương: kéo dài từ Kamtratsa quần đảo Aleutianis, Conđirer,
Bắc Mỹ, dãy Andơ, Tân Đảo, Philipin, Nhật Bản và quần đảo Kuril
- Một số miền địa chấn khác như Thiên Sơn, các công trình núi Mông Cổ,
Trung Quốc, Pribaican, Đông Phi và dọc theo các sông núi đại dương
- Động đất tâm sâu 70-300km và hơn thế phân bố chủ yếu ở đới hút chìm giữa
các mảnh Thái Bình Dương với mảnh Âu - Á, Án — Úc và mảng Nazca với mảng Nam
Mỹ
- Õ Việt Nam tập trung chủ yếu ở các đới dọc theo sông Hồng, sông Chảy,
sông Đà, sông Mã, sông Cả và ven biển Nam Trung Bộ Động đất ở Điện Biên Phủ
(1/11/1935) đạt tới 6,75 độ Richter (cấp 8-9 của thang động đất), chấn tầm sâu 25km 1.4.3 Tác hại của động đất
* Tén thất rất lớn tới người và tài sản
- Người chết và bị thương
- Công trình bị phá huỷ: Sập dé công trình, hệ thông dẫn nước, hệ thống thông tin đường giao thông
* Tàn phá và biến đổi cảnh quan, địa hình
- Tạo ra vùng sụt lún, nâng trồi
- Trượt đất, đỗ lở biến thung lũng sông thành lòng hồ, làm thay đổi cảnh quan
vùng v.V
*Cường hoá ô nhiễm môi trường và kéo theo các dẫn xuất tai biến khác
- Sóng thần phá huỷ các công trình ven bờ, làm ngập nước vùng khô ráo, gây tử
- Thúc đây tai biến địa hoá (phá huỷ các nhà máy hoá chất, khu công nghiệp,
nhà máy điện nguyên tử v.v
- Hoả hoạn, cháy nỗ, nứt đất, sụt lún đất, trượt lở.v.V
Hiện nay các nước sống gần hoặc trong vành đai động đất Thái Bình Dương,
Địa Trung Hải như Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam đã trang bị những thiết bị đo địa
chin hiện đại, tuy vậy thời gian dự báo không dài Người ta còn căn cứ vào các loại
động vật như chó, rắn, hồ.vv cảm nhận động đất được trước con người nhiều giờ
Sau động đất làm thay đổi đến cơ sở hạ tầng nhà cửa, đường sá đỗ nát trong từ
3-5 giây làm thiệt hại rất lớn về người và của, rất cần nghiên cứu lịch sử chu kỳ, lập