Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước : Quá trình đô thị hoá ở thăng long hà nội, kinh nghiệm lịch sử và định hướng quy hoạch phát triển đô thị hà nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tổng quan về đô thị hoá và phát triển đô thị
Trang 1-
BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ
VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
THUéC §Ò tµi NCKH cÊp nhµ n−íc:
“QÚA TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ THĂNG LONG – HÀ NỘI, KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC”
m∙ sè kx.09.05
7058-1
07/01/2009
Trang 2chương trình nckh cấp nhà nước kx.09 - Cơ quan thực hiện đề tài:
Trung tâm bảo vệ môi trường
và quy hoạch phát triển bền vững Centre for Environmental Protection and Sustainable
Development planning (CEPSD)
Nhóm nghiên cứu đề tài:
Ban Chủ nhiệm đề tài: 1 PGS TS Lê Hồng Kế, Chủ nhiệm
Cùng nhiều cộng sự khác
Trang 3
thị, quá trình đô thị hoá trên thế giới, khu vực châu á
Kết quả nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử cho thấy hình thức tổ chức quần cư dưới dạng đô thị đầu tiên của loài người hình thành khoảng 9000 năm trước công nguyên Đô thị sơ khai có nguồn gốc từ làng, ban đầu chịu ảnh hưởng của vùng nông nghiệp xung quanh, dần dần đô thị phát triển chi phối và thống trị các vùng
nông thôn và trở thành trung tâm chính của vùng hoặc cả quốc gia (Nguyễn Quốc Thông-2000)
Quá trình đô thị hoá trên thế giới gắn liền với quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của loài người Tương ứng với mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi cơ cấu xã hội quá trình đô thị hoá cũng có những đặc thù riêng Để nghiên cứu và đánh giá sự phát triển của đô thị, người ta chia ra các thời kỳ phát triển khác nhau Chủ yếu có
2 cách phân chia như sau:
1 Phân chia theo tiến trình lịch sử phát triển x∙ hội:
Thời kỳ Cổ đại, Thời kỳ Phong kiến, Thời kỳ tư bản chủ nghĩa cận đại, thời
kỳ Hiện đại
2 Phân chia theo sự chuyển đổi cơ cấu lao động:
Thời kỳ tiền công nghiệp hoá, thời kỳ công nghiệp hoá, thời kỳ hậu côngnghiệp hoá
Quá trình đô thị hoá thời kỳ cổ đại:
Trang 4Phần lớn các đô thị cổ đại đều hình thành và phát triển tại vùng đồng bằng lưu vực các dòng sông lớn, nơi khí hậu ấm áp, có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và giao thông đường thuỷ Đó là lưu vực sông Nil-Ai cập, sông Tigre và Euphrat- Tây á, sông Hằng- ấn Độ, sông Trường Giang, sông Hoàng Hà- Trung Quốc
Xuất phát từ đặc điểm chung của chế độ chính trị xã hội thời kỳ cổ đại- chế
độ chiếm hữu nô lệ, nền tảng kinh tế nông nghiệp, quan niệm tôn giáo tín ngưỡng mang màu sắc thần bí, tin vào các thế lực thiên nhiên cho nên cấu trúc chức năng
và không gian đô thị ở hầu hết các khu vực và quốc gia cổ đại đều tương đối thống nhất Đó là ba thành phần chức năng cơ bản: tôn giáo, sinh hoạt công cộng và cư trú Cấu trúc đô thị phản ánh rõ nét sự phân chia giai cấp trong xã hội thông qua việc phân khu chức năng và sự khác biệt về hình thái kiến trúc giữa khu vực dành cho chủ nô và nô lệ
Đô thị các khu vực khác nhau có quy mô chênh lệch khá lớn Người Hylạp cổ
đại quan niệm dân số đô thị không nên vượt quá 10.000người, vì vậy các đô thị khu vực này có diện tích khoảng từ 50- 60 ha, dân số từ 5000 đến 7000 người Trái lại, khu vực Tây á các đô thị phát triển tập trung và quy mô đồ sộ: Thành Babilon lúc cực thịnh có dân số lên đến 200.000 người, diện tích 800ha Thành Ur- trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng trong những năm 2200- 2000 tr Cn có
diện tích 117ha, dân số ước tính hàng chục ngàn người (Nguyễn Quốc 2000) ở châu Âu thời kỳ đế quốc Lamã hưng thịnh, dân số Roma đạt 1.200.000
Thông-người (thế kỷ I – thế kỷ IV tr CN); thành phố Pompei dân số hơn 200.000 Thông-người
(Đặng Thái Hoàng- 2000)
Quá trình đô thị hoá thời kỳ Phong kiến
Thời kỳ chiếm hữu nô lệ chấm dứt, thế giới bước sang một trật tự kinh tế xã hội mới: chế độ Phong kiến Khác với thời kỳ trước- một nước lớn thống trị nhiều dân tộc,- thời kỳ Phong kiến đã xuất hiện những quốc gia Phong kiến độc lập ở các khu vực khác nhau
Nhìn chung, sự hình thành và phát triển hình thái xã hội Phong kiến là một quá trình đa dạng, phức tạp, diễn ra không đồng đều ở các quốc gia trên thế giới
Trang 5kể cả điểm khởi đầu lẫn kết thúc ở châu Âu, chế độ Phong kiến hình thành từ thế
kỷ thứ V, kéo dài đến hết thế kỷ XV, trong khi nhiều nước thuộc châu á, châu Phi, chế độ Phong kiến tồn tại lâu hơn, thậm chí kéo dài đến những năm đầu thế
kỷ XX
Thời kỳ đầu của chế độ Phong kiến, chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn Phong kiến với sự tham gia của những thế lực tôn giáo, tín ngưỡng đưa đến tình trạng cát cứ phân quyền đã làm trì trệ nền kinh tế, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp suy giảm Các đô thị lớn bị tàn phá, không còn là những trung tâm chính trị, kinh tế xã hội quan trọng Quy mô đô thị giảm đột ngột (Roma từ hơn 1 triệu dân xuống còn 4 vạn, các thành phố khác có nơi giảm đi 1/7, thậm chí 1/20 dân
số)- (Đặng Thái Hoàng- 2000) Trong bối cảnh ấy, vùng nông thôn trở nên có ý
nghĩa Nông dân trở về quê hương bản quán để sinh sống, các lãnh chúa Phong kiến cũng xây dựng lâu đài thành quách của rmình tại nông thôn Thời kỳ đầu Phong kiến đã phá huỷ hầu như toàn bộ nền văn minh đô thị đã tồn tại trong thời
kỳ Cổ đại Thời kỳ này ở châu Âu kéo dài từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XI Vào giai đoạn sau của thời kỳ Phong kiến, khi các nhà nước Phong kiến độc lập đã khảng định được vai trò thống trị và ranh giới lãnh địa của mình thì hoạt
động sản xuất thủ công có điều kiện phát triển kéo theo sự phát triển của thương mại, đặc biệt là ngoại thương Vai trò của đô thị tăng mạnh, chi phối lại nông thôn
và trở thành động lực chính thúc đẩy xã hội phát triển Các đô thị có lịch sử phát triển lâu đời từ thời cổ đại, nhất là các thủ đô bắt đầu hồi sinh để phục vụ cho bộ máy chính quyền, Tôn giáo Thời kỳ này có 3 loại hình đô thị cùng song hành tồn tại: Thành phố tôn giáo, thành phố phòng vệ, thành phố thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên, trong 3 loại thành phố nói trên có khi không có ranh giới
rõ ràng và đến một mức độ phát triển nào đó có khi một thành phố mang cả tính chất của 2 loại còn lại Các thành phố phát triển dựa trên thành luỹ của các lãnh chúa Phong kiến, một số khác nằm ở vị trí giao nhau của những đường buôn bán, các cảng biển, cảng sông
Thời kỳ này, các đô thị châu Âu có số lượng lớn nhưng quy mô nhỏ so với các đô thị cùng thời ở khu vực Trung Cận Đông và châu á Có khoảng hơn 10
Trang 6diện tích từ 300 đến 600ha Hai thành phố lớn nhất châu Âu là Milano và Paris dân số chỉ đạt tới 200.000 người trong khi đó cùng thời gian các thành phố phương
đông như Constantinopol, Bagdad, Bắckinh, Trường An có dân số trên 1 triệu người
Hình 1: Công nghiệp và thương mại của châu Âu thế kỷ XVI Vị trí các thành phố lớn, các vùng công nghiệp luyện kim và dệt (Nguồn: Geoffrey Barraclough- 1999)
Quá trình đô thị hoá thời kỳ tư bản chủ nghĩa cận đại
Cuối thế kỷ XVI quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa manh nha xuất hiện và ngày càng phát triển trên thế giới Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến ngày càng tăng đạt đến cao trào và dẫn đến cách mạng Đến giữa thế kỷ XVII, cách mạng giai cấp tư sản đã phá huỷ thượng tầng kiến trúc phong kiến, họ xây dựng chế độ mới, chế độ tư bản chủ nghĩa Hai nước Anh và Pháp đi tiênphong trong cách mạng tư sản, cách mạng đầu tiên diễn
ra ở Anh năm 1648 và sau đó ở Pháp 1789 Giữa thế kỷ XVIII, sự ra đời của đầu máy hơi nước, các nhà máy dệt và cơ khí đã đưa nước Anh cũng như thế giới đến
Trang 7một bước ngoặt lịch sử Cùng thời gian này, cách mạng tư sản Mỹ nổ ra năm 1775
do nhu cầu tách các ngành sản xuất ra khỏi ách thống trị chuyên chế của Anh Quá trình đô thị hoá trên thế giới diễn ra rõ nét nhất ở thời kỳ này Trước thời
kỳ tiền tư bản, các thành phố đã xuất hiện và tồn tại nhưng chỉ là nơi tập trung các cơ quan hành chính và là nơi cư trú của các tầng lớp quan lại, quân đội vũ trang
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự phát triển của nền sản xuất cơ khí lớn thúc
đẩy tiềm lực của xã hội không ngừng tăng lên để rồi đến thời điểm tổng sản phẩm công nghiệp chiếm ưu thế, vai trò của sản xuất nông nghiệp chỉ còn chiếm thứ yếu Cùng với quá trình này, số lượng dân cư trong các thành phố ngày càng tăng lên và xuất hiện các giai tầng mới Tỷ trọng dân cư sinh sống tại các thành phố ngày một cân bằng với dân cư sinh sống ở nông thôn và dần dần chiếm ưu thế
Điều đó được chứng minh qua các số liệu sau đây:
- Cuối thế kỷ XVIII, thế giới tư bản Tây Âu có 15 thành phố trên 100.000 người, năm 1800 số thành phố có quy mô như vậy tăng lên tới 19 và đến năm 1902 đã có tổng số 149 thành phố lớn
- Vào năm 1880, dân số đô thị chiếm khoảng 2,4% dân số thế giới, đến năm 1850 đã có 4,3% dân số thế giới sống trong các thành phố, trong vòng hơn 50 năm con số này tăng gần gấp 2 lần
Trang 8Hình 2: Tỷ lệ dân cư đô thị của châu á và châu Phi năm 1930 (Nguồn:
Geoffrey Barraclough- 1999)
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khiến công nghiệp tập trung ở các thành phố thu hút đông đảo lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị, làm mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn càng thêm sâu sắc Đô thị tư bản chủ nghĩa có cấu trúc phức tạp hơn so với thời kỳ trước Cơ cấu thành phố bao gồm các khu chức năng: Khu dân dụng, công nghiệp, kho bãi đầu mối giao thông Trừ khu trung tâm, các khu còn lại bố trí hỗn loạn, không có quy định về văn minh xây dựng đô thị, không chú trọng về điều kiện sống cho con người mà chỉ chú trọng yếu tố lợi nhuận
Trong thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, các đô thị có chung một số đặc điểm như sau:
- Mâu thuẫn sâu sắc giữa đô thị và nông thôn
Trang 9- Cấu trúc đô thị phức tạp, quy mô lớn, mật độ xây dựng cao, phát triển không kiểm soát được
- Điều kiện sống và vệ sinh môi trường thấp kém
- Cảnh quan đô thị hỗn loạn về phong cách
Quá trình đô thị hoá thời kỳ hiện đại:
Năm 1928 Hiệp hội kiến trúc sư quốc tế (CIAM) thành lập nhằm đúc rút kinh nghiệm của kiến trúc hiện đại, giới thiệu những ý tưởng mới, phổ biến rộng rãi tư tưởng của kiến trúc hiện đại vào đời sống xã hội Đây cũng chính là thời
điểm kiến trúc và quy hoạch thế giới bước sang giai đoạn phát triển mới: thời kỳ hiện đại CIAM đã tổ chức nhiều kỳ đại hội với nhiều đề tài khác nhau đặc biệt đã soạn thảo Hiến chương Athen đề cập đến vấn đề đô thị và vùng đô thị, phê phán tình trạng của các đô thị và đề ra phương pháp khắc phục
Từ những bài học kinh nghiệm của thời kỳ cận đại, các kiến trúc sư trong thời kỳ này cố gắng hạn chế khoảng cách giữa đô thị và nông thôn Hạn chế sự bành trướng của đô thị Trước chiến tranh thế giới, ở châu Âu và Mỹ đã tiến hành xây dựng một số khu nhà ở kiểu đơn nguyên, có mặt bằng được tổ chức tốt Đây là những thể nghiệm về một hình thức quy hoạch và hình thức ở mới
Cuộc chiến tranh thế giới thứ II kết thúc với sự tổn thất nặng nề về nhiều mặt trong đó có đô thị: các thành phố của Liên Xô cũ, Ba Lan bị Phát xít Đức phá hoại nhiều và nghiêm trọng nhất Sau năm 1945, tình hình xây dựng thời hậu chiến của các nước rất khác nhau, có nước phục hồi nhanh, tiến hành xây dựng sớm, có nước phải hơn 20 năm sau mới vực dậy được Các nước chiến tranh không
đụng chạm đến như Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Bắc Âu vẫn tiến hành xây dựng theo tiến
độ bình thường Nước Anh và Pháp là 2 nước đi đầu trong xây dựng đô thị với các
dự án cải tạo thủ đô, xây dựng các vùng đô thị, các thành phố vệ tinh
Năm 1900 dân số đô thị đã chiếm 9,2% dân số thế giới Đến năm 1950 mặc
dù thế giới trải qua 2 cuộc chiến tranh tàn khốc, một số thành phố lớn bị phá huỷ nhưng cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cư dân đô thị vẫn không ngừng tăng lên và chiếm tới 29% dân số thế giới Quá trình đô thị hoá diễn ra không chỉ
Trang 10đang xây dựng cuộc sống mới Chính vì thế, số lượng dân cư trong các thành phố trên thế giới ngày một tăng
Đến giữa những năm 1970, cư dân đô thị đã lên đến 36,6% dân số thế giới Cuối thế kỷ XX quá trình đô thị hoá mạnh mẽ diễn ra trên khắp thế giới do tác
động của các yếu tố kinh tế và chính sách xã hội của từng quốc gia Tỷ lệ dân số
đô thị thời kỳ này được ước tính hơn 40% dân số thế giới
Sự biến động dân số của những thành phố lớn (dân số hơn 1 triệu người) ở các vùng khác nhau cũng hết sức khác nhau Vào năm 1900, dân cư sinh sống ở các thành phố lớn tại các nước châu Âu là 14%, châu á là 2%, châu Mỹ (Bắc Mỹ) 13%, châu Phi là 1%, châu úc 17% 50 năm sau các chỉ số này đã tăng lên: châu
Âu là 21%, châu á là 8%, châu Mỹ (Bắc Mỹ) 23%, châu Phi là 5%, châu úc 38% Những số liệu trên giúp ta hình dung ra tiến trình đô thị hoá trên thế giới Có thể thấy quá trình đô thị hoá ở châu Âu và Mỹ (chủ yếu ở các nước Bắc Mỹ) diễn
ra nhanh hơn các châu lục còn lại ở châu Phi quá trình đô thị hoá diễn ra chậm vì phần lớn các quốc gia ở châu lục này mới giành được độc lập dân tộc và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới
Tỷ lệ dân số đô thị của thế giới biến đổi nhanh chóng từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20 và thể hiện rõ ở bảng sau:
Trang 11Bảng 1 : Tỷ lệ % dân số đô thị của các khu vực trên thế giới
Khu vực 1950 1960 1970 1980 1990 1995 2000 2005Toàn thế giới 29,3 34,2 36,6 39,4 43,1 45,2 47,6 61,2Châu Phi 5,3 18,3 22,9 27,3 32,0 34,7 37,6 54,1Châu Âu 56,2 60,9 66,6 70,4 73,4 75,0 76,6 84,5Châu Mỹ
Latinh
41,6 49,4 57,4 65,0 71,5 74,2 76,6 84,4
Châu á 16,4 21,6 22,9 26,2 31,2 34,0 37,1 54,4Nguồn: World urbanization prospects (The 1992 Revision), United Nations
0 1000
0 130
0 140
0
1500 1600 1700 1800 190
0 200 0
Trang 120 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Trang 13Mü
69
68
75,6 73,7
76,4 74,5
77
76
Trang 14Brasil 50 61,2 70,6 78,3 Ph¸p
Anh
66
86
73 88,7
73,1 88,8
73 89,5 Ni-giª-ri-a
Ai CËp
13
38
23,4 43,5
31,1 43,9
39,3 44,8 NhËt
76,7 22,5 24,3 19,6
77,6 30,3 26,8 20,8
Nguån: UNDIESA
B¶ng 4 : Sù ph¸t triÓn cña 30 thµnh phè lín nhÊt, 1950-2000
D©n sè (ngh×n ng−êi) Tû lÖ t¨ng tr−ëng hµng n¨m (%) Thµnh phè
Trang 16Pa-ri 5525 8620 8720 2,59 0,66 0,04
Nguồn: UNDIESA 1987d, 142-143, 148-260 (Third world cities, 1993)
Bảng 5: Các vùng đô thị lớn nhất xếp theo quy mô dân số(triệu người)
Bra-10,7 Buenos Aires,
Ac-hen-ti-na
12,9
Trang 18Nguồn: Mega-City growth and the future, 1994
Đô thị hoá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đô thị hoá có liên quan chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế và phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước So sánh giữa tỷ lệ đô thị hoá với giá
trị tổng sản phẩm quốc dân GNP tính theo đầu người cho thấy rõ điều đó Năm
1990 ở 25 nước có tỷ lệ đô thị hoá cao nhất thì có giá trị tổng sản phẩm quốc dân
tính theo đầu người là trên 1000 USD, gấp 20 lần so với 25 nước có tỷ lệ đô thị
hoá thấp nhất bảng dưới đây cho thấy quan hệ giữa trình độ đô thị hoá với GNP
bình quân đầu người của 2 nhóm nước
Bảng 7: Đô thị hoá và sự phát triển kinh tế
Tên nước
Tỷ lệ
đô thị hoá
(%)
GNP/ đầu người năm
1988 (USD)
Tên nước
Tỷ lệ
đô thị hoá (%)
GNP/ đầu người năm
1988 (USD)
Trang 19Hà lan 86 14 520 Bu-di-na pha-xô 9 210
Nguồn: UN, Mega-City growth and the future
Quá trình đô thị hoá đi đôi với cách mạng trong nông nghiệp
Đô thị hoá cũng gắn liền với sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp ở các
nước Bắc Mỹ và châu Âu số dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là dưới 5%
nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp tính theo đầu người rất cao (so sánh với các
nước đô thị hoá thấp) Tiến bộ khoa học và công nghệ, máy móc và phân bón đã
cho phép nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, giải phóng sức lao động
để cung cấp cho các lĩnh vực khác
Trang 20Các nước phát triển có trình độ đô thị hoá cao, dù tỷ lệ lao động trong nông
nghiệp thấp nhưng nhờ có trình độ tiến bộ khoa học và công nghệ, nhờ máy móc
và phân bón, nhờ công nghệ sinh học mà họ vẫn có nền kinh tế nông nghiệp
mạnh, thậm chí là những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới Do đó những
nước này lại có điều kiện để nâng cao trình độ đô thị hoá
Bảng dưới cho thấy ở các nước giàu, tỷ lệ dân số hoạt động trong khu vực
nông nghiệp rất thấp nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân do một lao
động nông nghiệp làm ra lại rất cao ở những nước nghèo tình hình lại diễn ra
ngược lại Tỷ lệ dân số hoạt động trong khu vực nông nghiệp thì rất cao nhưng giá
trị sản lượng nông nghiệp bình quân do một lao động nông nghiệp làm ra lại rất
Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 lao động nông nghiệp (USD)
Nước
% dân số trong khu vực nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp trên
1 lao động nông nghiệp (USD)
Trang 21Pháp 5,8 24 743 Ma-li 81,9 432
Nguồn: The economicst, 1990
Sự di cư từ nông thôn ra thành thịtrong quá trình đôthị hoá
Di cư từ nông thôn ra thành thị là một xu hướng tất yếu trong quá trình đô thị
hoá Đô thị hoá không những là quá trình biến các khu vực nông thôn thành khu
vực đô thị mà còn là quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị
Nguyên nhân của quá trình di cư này là:
Thứ nhất là điều kiện sống tốt hơn Người dân tìm thấy nhiều cơ hội việc làm
hơn, thu nhập cao hơn, mức sống về cả vật chất và tinh thần cao hơn, các tiện nghi
trong cuộc sống cao hơn ở các khu vực đô thị
Thứ hai là tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn Cách mạng khoa học kỹ
thuật trong nông nghiệp đã không ngừng nâng cao năng suất lao động trong nông
nghiệp, giải phóng sức lao động nông nghiệp và làm cho khu vực nông thôn bị dư
thừa lao động Lực lượng lao động dư thừa này buộc phải tìm việc làm mới và các
khu vực đô thị là cơ hội tốt cho họ
Hai lý do này đã tạo ra những dòng di cư từ nông thôn ra thành thị Đây là
quy luật tất yếu của quá trình đô thị hoá và ngày càng có nhiều dòng dịch chuyển
khổng lồ hơn
Những thách thức của đô thị hoá với các nước đang phát triển
Đối với những nước nghèo và những nước đang phát triển thì quá trình đô thị
hoá nhanh đang gây ra nhiều áp lực Họ phải đối mặt với những vấn đề như phát
triển cơ sở hạ tầng, quản lý giao thông đô thị, phát triển nhà ở, quản lý môi trường,
đảm bảo sức khoẻ của người dân mà nhiều khi những vấn đề này đã vượt quá khả
năng quản lý và điều hành của họ
Các nước đang phát triển có tốc độ đô thị hoá rất nhanh nhưng phải đối mặt
Trang 22lệ chết, tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, những đòi hỏi về sử dụng lao
động dư thừa trong nông nghiệp có hiệu quả
Bảng so sánh cho thấy trình độ đô thị hoá ở các nước đang phát triển chậm
hơn các nước công nghiệp gần một thế kỷ Nhưng điều quan trọng hơn ở đây là áp
lực tăng dân số của các nước đang phát triển ở thời điểm năm 1990 khi đạt được
mức đô thị hoá tương đương với các nước công nghiệp ở thời điểm năm 1900 thì
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở các nước đang phát triển vẫn còn ở mức rất cao là 2,51
%, trong khi tỷ lệ này ở các nước công nghiệp chỉ là 1,02% Tỷ lệ tăng dân số cao
như vậy rõ ràng là một khó khăn rất lớn trong phát triển kinh tế và thúc đẩy quá
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%)
Mức đô thị hoá (%)
Trang 23In-đô-nê-xi-a 2,70 1,10 1,60 25,30
Nguồn: Population Crisis Committee, 1990
Bảng Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị chết ở 20 vùng đô thị lớn của thế giới, năm 1990 chỉ
rõ những khu đô thị khổng lồ ở những nước đang phát triển có tỷ lệ trẻ sơ sinh bị
chết rất cao Tình hình này tập trung chủ yếu ở các nước ấn Độ, Bra-xin,
In-đô-nê-xi-a, Iran, Ai Cập, Phi-líp-pin và Mê-hi-cô Tỷ lệ này ở các khu vực đô thị của các
nước công nghiệp như Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp là rất thấp Rõ ràng, đây là một
thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển khi chất lượng cuộc sống không
theo kịp với tốc độ đô thị hoá
Bảng 10: Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị chết ở 20 vùng đô thị lớn của thế giới, năm 1990
Số trẻ chết tính trên 1000 trẻ mới sinh
Trang 24Nguồn: Population Crisis Committee, 1990
Một hiện tượng tiêu biểu khác của các nước đang phát triển trong quá trình đô thị hoá là sự chênh lệch về chất lượng và điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị Bảng dưới đây minh hoạ sự chênh lệch này bằng hai chỉ tiêu là số trẻ sơ sinh
bị chết trên 1000 trẻ và phần trăm dân số được dùng nước sạch Rõ ràng có sự chênh lệch rất lớn giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị Sự chênh lệch này chính là một trong những động lực chính thúc đẩy quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị làm cho qui mô đô thị ở các nước này mở rộng nhanh chóng vượt quá khả năng kiểm soát của chính quyền Mạng lưới đô thị không được phát triển và quản lý theo kế hoạch ở những thành phố lớn phát sinh những tiêu cực đô thị như tình trạng tắc nghẽn giao thông, tội phạm xã hội, các khu ổ chuột của người nghèo
Bảng 11: Điều kiện sống ở nông thôn và thành thị giữa các nước khác nhau
Số trẻ sơ sinh chết tính cho
1000 trẻ sống sót
% dân số
được dùng nước sạch Nước
Ga-na 87 67 39 93 Kê-ni-a 59 57 21 61
Trang 261.1.2 Lịch sử các giai đoạn hình thành và phát triển của quá trình
ĐTH châu Âu
Châu Âu là khu vực có quá trình đô thị hoá diễn ra sớm và tương đối đồng
đều nhất trên thế giới Dựa vào diễn biến lịch sử và những thay đổi của cơ
cấu kinh tế xã hội, quá trình đô thị hoá ở châu Âu được chia ra thành các
giai đoạn sau:
Từ thế kỷ thứ VI đến thê kỷ XI: Giai đoạn suy thoái và phục hưng kinh tế
Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VII, kinh tế châu Âu được phục hồi dần trở
lại, thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ X được coi là thời kỳ phục hưng của đụ thị
Giữa thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ X, số đô thị loại lớn ( dân số trên 10000)
người tăng từ 70-80 lên đến 100-120 (40-50%) Cũng trong thời kỳ này dân số
đô thị châu Âu tăng khoảng 60-70%
Nguyên nhân của sự phát triển của đô thị trong thời gian này là do:
- Thương mại phát triển, đặc biệt là các thành phố lớn ở Italy
- Thiên chúa giáo phát triển
- Nụng nghiệp phát triển cả về sản phẩm, sản lượng và năng suất
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVIII: Thời kỳ phát triển về kinh tế và đô thị
Giữa thế kỷ XI và XIV dân số ở các nước châu Âu (trừ Nga) tăng mạnh
Bảng 12: Sự tăng trưởng dân số ở Châu Âu (trừ Nga)
Trang 27Giữa thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, Chõu Âu đó phải trải qua những năm mất
mựa đói kém, dịch hạch, nội chiến vì vậy theo số liệu điều tra những năm
1380-1400, dõn số của cả Chõu Âu đó giảm xuống 1/3
Trang 28B¶ng 13: Sù t¨ng tr−ëng §« ThÞ ë Ch©u ¢u (trõ Nga)
Trang 29Hơn 500 1.080
Tổng 3.765 7.855 8.160 10.895 12.560
Tổng dân số 39.000 75.000 76.000 95.000 102.000 Mức độ
Trang 31Hình 5: Châu Âu năm 1900: dân số tập trung vào các khu vực công nghiệp phát triển ở Anh, Pháp, Đức và Bỉ (Nguồn: Geoffrey Barraclough- 1999)
Toàn bộ Châu Âu 7 - 9 7 - 9 9 - 12
Nguồn: Population Crisis Committee, 1990
Nhìn vào bảng trên có thể thấy các nước Tây Âu có mức độ đô thị hoá lớn hơn nhiều so với những nước Châu Âu khác
Bảng 17: Sự tăng trưởng Dân Số ở các nước châu Âu (trừ Nga và Bancăng)
theo chức năng nổi trội
Các
thành phố
Trang 32Nguồn: Population Crisis Committee, 1990
Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX: Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, thời kỳ
đô thị hoá phát triển mạnh nhất
Đầu máy hơi nước ra đời ở Anh năm 1928 đẫ thúc đẩy sản xuất phát triển,
kéo theo hàng loạt những thay đổi về kinh tế xã hội, đưa đến cuộc cách mạng công
nghiệp lan rộng ra nhiều khu vực trên thế giới Các xí nghiệp công nghiệp, các
ngành công nghiệp mới ra đời thu hút một lực lượng lớn nhân công từ nông thôn
lên thành thị Nhờ những tiến bộ của phương tiện và hệ thống giao thông: tàu hoà,
tàu thuỷ, hệ thống đường cao tốc… đô thị của các nước châu Âu mở rộng phạm vi
Trang 33B¶ng 18: Sù t¨ng tr−ëng §« ThÞ ho¸ ë c¸c n−íc Ch©u ¢u (vµo nh÷ng n¨m
Toµn bé Ch©u ¢u 9 – 12 9 -12 9 – 11
Nguån: Population Crisis Committee, 1990
B¶ng 19: Sù t¨ng tr−ëng D©n Sè §« ThÞ vµ §« ThÞ ho¸ ë Ch©u ¢u (trõ Nga) vµo
PhÇn tr¨m tæng d©n
sè
Sù biÕn thiªn hµng n¨m(%)
1700 102 12,6 1,3
Trang 341801 1851 1881 1901 1921
Nguồn: Population Crisis Committee, 1990
Bảng 21: Dân số các đô thị lớn của một số nước châu Âu (đơn vị ngàn người)
Năm Tên thành
Trang 35Trong thời kỳ cận đại, các đô thị châu Âu phát triển với quy mô lớn, lộn xộn, thiếu sự kiểm soát, vệ sinh môi trường và điều kiến sống của người dân bị xuống cấp trầm trọng đã dẫn đến sự ra đời của các thuyết về quy hoạch đô thị nhằm hạn chế quy mô các thành phố, cải tạo điều kiện sống và vệ sinh môi trường, tăng cường mối giao tiếp cộng đồng
Thế kỷ thứ XIX châu Âu đã tiến hành cải tạo nhiều đô thị Đến đầu thế kỷ
XX, quy hoạch đô thị hiện đại ra đời tập trung nghiên cứu phát triển các thành phố theo chiến lược được hoạch định chặt chẽ của mỗi quốc gia
Qua nghiên cứu thực tế ở các nước tiên tiến châu Âu, người ta đã đúc kết lại
có hai xu hướng phát triển của quá trình đô thị hoá, đó là
- Sự phát triển phân tán (disubanization hoặc deurbanization)
- Sự tái tập trung (reurbanization)
Phân tán là bước tiếp theo của quá trình phát triển của đô thị sau khi tập
trung cao độ Đây là quá trình quan trọng và đã phát triển đến cao trào ở những nước của châu Âu vào những nãm 80 Có rất nhiều quan điểm khác nhau về những căn cứ để đánh giá sự phát triển phân tán của đô thị, song tổng kết lại đô thị được coi là bắt đầu phát triển phân tán khi có sự thay đổi của các chỉ số sau:
- Tỉ lệ giữa dân số và diện tích
- Tỷ lệ giữa số dân gia tăng (cả tăng tự nhiên lẫn cơ học) với tổng số dân
- Sự chênh lệch về dân số gia tăng giữa trung tâm với ngoại ô, giữa các
đô thị, giữa vùng đô thị hoá và vùng chưa đô thị hoá
Phân tán đô thị phát triển qua 4 giai đoạn:
1 Quá trình dịch chuyển ra vùng ngoại ô bắt đầu, dân số ở vùng ngoài vành
đai đô thị có chiều hướng tăng lên, tuy nhiên dân số ở vùng hạt nhân vẫn tăng nhanh hơn
2 Dân số ở hạt nhân và ngoại ô cùng phát triển nhưng ngoại ô phát triển mạnh hơn trong hạt nhân- (Phân tán tương đối)
Trang 364 Dân số đô thị giảm- giảm cả ở hạt nhân và ngoại ô trong khi dân số ở các thành phố vệ tinh tăng lên- (Phân tán tuyệt đối)
Nguyên nhân dẫn đến sự phân tán đô thị chủ yếu là do:
- Nhờ những tiến bộ to lớn về khoa học kỹ thuật, nhờ những cải cách trong tổ chức và quản lý lao động cùng với công cuộc hiện đại hoá công nghiệp đã tạo điều kiện phát triển nền kinh tế trên quy mô to lớn với lực lượng sản xuất được tinh giảm, qui mô các nhà máy gọn nhẹ và cũng không nhất thiết phải bố trí ở trung tâm các thành phố lớn
- Ngành bưu chính viễn thông phát triển cùng với các các thành tựu to lớn của điện thoại di động, fax cho phép điều khiển và theo dõi một cách dễ dàng từ trung tâm đầu não của thành phố đến các các nhà máy bố trí ở ngoại ô
- Những tiến bộ của ngành giao thông vận tải (về phương tiên vận chuyển hiện đại, như mạng đường hoàn chỉnh ) cho phép liên hệ thuận tiện và nhanh chóng giữa trung tâm với ngoại ô cũng như giữa các vùng ngoại ô với nhau
- Do diện tích ở chật chội và giá đất đắt đỏ ở trung tâm thành phố nên cư dân muốn chuyển ra ngoài ngoại ô - nơi có môi trường sống tốt hơn cũng như hạ tầng cơ sở hoàn thiện hơn
- Do chế độ làm việc giảm xuống, người dân thành phố có nhiều thời gian để đi đến những khu vui chơi giải trí xa trung tâm hơn, nơi có những loại hình giải trí phong phú đa dạng và gần gũi thiên nhiên hơn
- Do những tiến bộ của y học, tỉ lệ tử vong giảm, số người cao tuổi tăng lên – lớp người ưa thích cuộc sống ở miền ngoại ô yên tĩnh
Quá trình tái đô thị hoá: Ngược lại với sự phân tán ở trên, quá trình này có
những biểu hiện như dịch chuyển hướng tâm, trung tâm các đô thị và hạt nhân của thành phố tăng lại sức hấp dẫn Khác với quá trình đô thị hoá ban đầu, quá trình tái đô thị hoá tạo ra sự biến đổi cho các đô thị về kích thước và mật độ trong khi
Trang 37đặc tính của thành phố cũng như mức độ đô thị hoá vẫn là không đổi Một đặc
điểm nữa của tái đô thị hoá là sự phân cực rõ nét giữa các vùng có cùng diện tích
và mật độ với nhau chứ không phải sự phân cực giữa vùng đô thị hoá nhiều với vùng đô thị hoá ít, giữa đô thị lớn với nhỏ như đô thị hoá bình thường Các chức năng được liên hệ và phát triển theo phương đứng hơn là thứ tự theo phương ngang
Quá trình tái đô thị hoá ở châu Âu thể hiện rõ nét vào đầu những năm 80 và người ta dự báo nó sẽ kéo dài khoảng 10 đến 20 năm Điển hình là hiện tượng phát triển đột biến của các thành phố ở bắc và trung Italia, thành phố Lyon, Marseille ở Pháp
Nguyên nhân dẫn đến quá trình tái đô thị hoá có thể kể đến:
- Xu hướng phát triển kinh tế hội nhập và toàn cầu hoá làm tãng sự cạnh tranh cũng như những bấp bênh trong kinh doanh Trên thương trường cuối cùng chỉ còn lại những doanh nghiệp có sản phẩm đạt chất lượng cao nhất với dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại nhất, biết nhanh chóng
đổi mới mẫu mã, linh động và nhạy bén trong sản xuất hàng hoá, nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu của người phân phối cả về chất lượng lẫn số lượng Để đạt được mục đích đó các doanh nghiệp phải giảm lượng sản phẩm tồn kho, sa thải lực lượng nhân công dư thừa, giảm diện tích kho bãi Nhằm tăng sự linh hoạt trong sản xuất và giảm hàng lưu trữ, cần phải phân tán dây truyền sản xuất thành các công đoạn nhỏ, các chuyên ngành hẹp,
tổ chức những không gian sản xuất độc lập riêng rẽ, hoàn thiện không ngừng dây truyền sản xuất, ưu tiên công nghệ viễn thông và máy vi tính, tạo điều kiện phát triển cho khoa học kỹ thuật nhất là các sản phẩm vi điện
tử và tin học, giảm sản lượng công nghiệp và cơ khí hạng nặng Do vậy, trong các thành phố dần dần có sự bố trí và sắp xếp lại để thích ứng với quá trình sản xuất chuyến tiếp từ ào ào hàng loạt sang phương thức tổ chức
và sản xuất tinh hơn, chặt chẽ và cao cấp hơn Nối tiếp quá trình phân tán
đô thị, những dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dịch chuyển lại vào thành phố trong khi các khu sản xuất bị thu hẹp lại và công nghiệp thì di dời ra các vùng phụ cận hoặc nông thôn Khác với những chu trình diễn ra
Trang 38trong quá trình đô thị hoá ban đầu, mặc dù ngành công nghiệp nặng truyền thống suy thoái, các thành phố lớn vẫn phát triển kinh tế nhờ các chính sách đầu tư tại chỗ, nhờ sự phát triển của nghiên cứu khoa học kỹ thuật và bưu chính viễn thông, nhờ thương mại dịch vụ và nhờ sự phát triến kinh tế trên qui mô hội nhập toàn cầu hoá
- Do có sự ưu tiên phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật cao cấp, xuất hiện một thế hệ trẻ làm chủ xã hội- các chuyên gia tin học, các luật sư, các nhà quản lý kinh tế, tiếp thị, nghiên cứu chính trị những người sống độc lập, tự do và có khuynh hướng dịch chuyển vào các thành phố lớn hoặc trung tâm thành phố
- Để thực hiện việc hoàn thiện sản phẩm và quản lý sản xuất, xuất hiện tổ chức xã hội đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của quá trình đổi mới và cải tiến mẫu mã, giảm bớt những bấp bênh trong kinh doanh Những tổ chức xã hội này cũng bảo hộ và khuyến khích các ngành nghề thủ công truyền thống Cơ cấu thành phố được tổ chức lại theo mạng lưới có sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và phân phối, sản xuất nhằm đáp ứng sự phân phối Những mối quan hệ làm ăn đóng vai trò rất quan trọng đế thực hiện các hợp tác Trong mạng lưới đó các thành phố hạng vừa và nhỏ sẽ bị tách dần ra
Cả hai quá trình vừa trình bầy ở trên là hai giả thuyết mang tính lý thuyết để khắc hoạ tiến trình phát triển của đô thị châu Âu Những hiện tượng của nó không
rõ nét và thường đan xen cả hai quá trình khó có thể nhận biết được
1.1.3 Lịch sử các giai đoạn hình thành và phát triển của quá trình
ĐTH châu á
Quá trình đô thị hoá ở các quốc gia châu á diễn ra không đồng đều Nhật bản
là quốc gia thuộc các cường quốc đô thị hoá cao trên thế giới, Singapore có tỷ lệ
đô thị hoá đạt 100% Trong khi đó có một nửa quốc gia ở châu á có tỷ lệ dân cư
đô thị thấp hơn so với chỉ số trung bình của thế giới ở những nước dân số lớn
đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, ấn Độ tỷ lệ dân cư đô thị vào đầu những
Trang 39năm 80 của thế kỷ 20 là 21% và 23% mặc dù ở hai quốc gia này có nhiều thành phố lớn với dân số lên đến hàng chục triệu người
ở khu vực Đông Nam á, sự gia tăng dân số ở các thành phố lớn khác biệt so với các nước ở khu vực khác trên thế giới Nếu như năm 1950 có 13 thành phố có
từ 200.000 dân đến 1.500.000 dân thì đến năm 1990 đã có 10 thành phố có hơn 1,6 triệu dân trong đó thành phố đông dân nhất là Jarkarta (9,2 triệu), Manila (8,9 triệu), Băngkok (7 triệu),Yangon (3,3 triệu), Thành phố Hồ Chí Minh (3,2 triệu) Theo số liệu dự báo của Liên hiệp quốc đến năm 2010, khu vực Đông Nam á có 9/13 thành phố có dân số đô thị trên 3 triệu người, trong đó thành phố Jarkarta sẽ
có số dân lên đến 17,2 triệu tương đương với Newyork Các thành phố lớn khác của châu á có số dân tương đương là Bắc Kinh, Thượng Hải, Bombay Thành phố Manila sẽ tăng gấp 2 lần so với năm 1990, tương đương với New Delhi (ấn Độ) còn thành phố Bangkok tăng gấp 4 lần Kuala Lampua, Singapore
Hầu hết các thành phố lớn ở châu á nguyên là các thủ phủ thuộc địa, khi trở thành các trung tâm kinh tế, chính trị của công cuộc đô thị hoá đầy tham vọng và nôn nóng thường phát triển hỗn loạn Đặc trưng tiêu biểu của các thành phố này là hình thành quá nhanh quần cư đô thị lớn, đô thị phát triển tập trung với thành phố hạt nhân quá tải, bao bọc bởi các thành phố vệ tinh còn mang nặng cơ cấu truyền thống văn hoá nông thôn với mặt bằng dân trí thấp Các căn bệnh trầm kha của giai đoạn mới công nghiệp hoá, đô the hoá cấp tốc của phương Tây thế kỷ trước
đang lặp lại ở châu á nhưng với quy mô to lớn hơn nhiều Các vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn do biến động chính trị, chiến tranh, xung đột tôn giáo xảy ra liên miên ở châu á
Sự phát triển nhanh chóng ở một số quốc gia Châu á đang đặt ra cho các thành phố những vấn đề mới đối với toàn xã hội, đồng thời nó đem lại cho những vấn đề cũ (cơ sở hạ tầng, lương thực, năng lượng, nhà ở, việc làm y tế giáo dục…) những khó khăn và thách thức mới Rập khuôn theo phương Tâyvới phương thức sản xuất và phân phối kinh tế the trường tư bản chủ nghĩa chỉ tạo ra các khu dân cư đông đuc, phát triển không kiểm soát được Mặc cảm thua kém phương Tây thúc đẩy nhiều chính quyền chạy theo hướng phát triển phô trương
Trang 40quá mức Nhà cao tầng được coi là biểu tượng của quyền lực và và sự giàu có nhưng kém hiệu qủa trong khung cảnh châu á
Qua cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước châu á và những vấn đề về đô the hoá những năm vừa qua, nhiều nước châu á đang quay về vơci những tiêu chí cho châu á phát triển bền vững Đó là chính quyền vững mạnh và có khả năng duy trì sự ổn định, sự tự nguyện hạn chế một số quyền dân chủ kiểu phương Tây, phục hồi sức mạnh gia định, tôn trọng pháp luật và trật tự, sự đồng thuận xã hội và hoà hợp cộng đồng Từ những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới hướng về một số nước như Singapore, Trung Quốc, Đài Loan để học hỏi kinh nghiệm phát triển Công cuộc đô thị hóa ở các nước này đã khắc phục được những nhược điểm của quá trình đô thị hóa tại châu Âu và Bắc Mỹ Đó là sự lợi dụng vị trí của các khu rừng nhiệt đới và hệ thực vật nhiệt đới để bảo đảm thiên nhiên của môi trường đô thị
Đó còn là tôn trọng triệt để những nhu cầu của nhân dân trong sinh hoạt, tôn trọng giá trị lịch sử, tôn giáo và đặc điểm dân tộc trong kiến trúc đô thị hiện đại
Hầu hết các đô thị ở các nước ASEAN đều là những trung tâm thương mại và hành chính với những mức độ khác nhau Đặc biệt là những đô thị cảng biển có chức năng thương mại, dịch vụ, ngân hàng, nơi đầu mối các trục giao thông, nơi
có nhiều cơ sở nông nghiệp phát triển, nơi tập trung cao độ các hoạt động văn hóa, giáo dục hiện đại Song, các đô thị ở các nước ASEAN đều có ý thức rõ rệt trong việc sử dụng những đặc điểm thiên nhiên Singapore đã sử dụng tốt kinh nghiệm lấn biển để phát triển đô thị, Kuala Lumpur bảo tồn được những dấu vết của rừng nhiệt đới ngay trong các con đường dẫn vào trung tâm, Philippines sử dụng các độ cao của đồi núi tự nhiên để tạo dáng cho những đô thị của mình, Indonesia đã dựa vào cảnh quan vùng ven đảo để xây dựng đô thị, Bangkok, Chiềng Mai, Patayia của Thái Lan đều phát triển những đặc điểm cảnh quan biển, sông, núi để hình thành cấu trúc thành phố Nói chung, quá trình phát triển đô thị ở các nước ASEAN đã kết hợp được nhiều yếu tố tổng hợp về sự tăng trưởng kinh tế, khai thác những điều kiện địa lý tự nhiên và sinh thái nhân văn, hiện đại hóa đô thị với những thành tựu công nghệ mới, nhưng vẫn bảo tồn và tôn tạo quy mô các di tích lịch sử, các đền thờ tôn giáo trở thành những công trình kiến trúc có giá trị thẩm
mỹ cao Singapore là quốc gia đô thị (City-State) không còn dấu vết của nông