1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngiên cứu đề xuất phương án quản lý môi trường đàm phá tam giang cầu hai

48 652 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất phương án quản lý môi trường đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Tác giả Viện Tài Nguyên Và Môi Trường Biển, TS. Nguyễn Hữu Cử, CN. Đặng Hoài Nhơn, TS. Trần Đức Thạnh
Trường học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý môi trường và phát triển bền vững
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 491,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầm phá là một trong 4 vùng tự nhiên cơ bản của Thừa Thiên Huế, có nhiều giá trị quý giá cần được bảo tồn, bao gồm giá trị đa dạng đa dạng habitat và hệ sinh thái, đa dạng nguồn gen, đa

Trang 1

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ

Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006

nghiên cứu động thái môi trường

đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý

Trang 2

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ

Dự án 14 EE5 Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006

nghiên cứu động thái môi trường

đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý

Trang 3

mở đầu

Vùng đầm phá thuộc cỡ lớn trên thế giới, lớn nhất Đông Nam á và tiêu biểu nhất trong số 12 đầm phá ven bờ Việt Nam tập trung ở miền Trung Nó mang tính địa đới, đặc trưng cho đầm phá vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng có những nét riêng của một vùng mưa nhiều và mùa mưa trùng mùa đông lạnh Chính kiểu loại, quy mô và vị trí địa lý đã tạo nên một giá trị đặc biệt cho vùng

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, có tầm quan trọng trong quốc tế ở khu vực

Đầm phá là một trong 4 vùng tự nhiên cơ bản của Thừa Thiên Huế, có nhiều giá trị quý giá cần được bảo tồn, bao gồm giá trị đa dạng (đa dạng habitat

và hệ sinh thái, đa dạng nguồn gen, đa dạng nguồn gốc khu hệ); nguồn gốc thủy sinh, giao thông cảng; phát triển cơ sở hạ tầng nghề cá và khai thác biển, phát triển nông nghiệp, du lịch giải trí, giá trị định cư, giáo dục và khoa học, văn hoá

Đặc biệt, đây là sân chim (gồm nhiều loài di trú) lớn nhất ven bờ miền Trung Giá trị to lớn của nó còn ở những chức năng về môi trường, sinh thái, chức năng bảo vệ, cung cấp sản xuất và đóng vai trò cân bằng tự nhiên, sinh thái ven bờ, phát triển kinh tế - xã hội Sức ép phát triển dân sinh và kinh tế có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên, đặc biệt là nguồn lợi thuỷ sản và làm suy thoái môi trường sinh thái Gần đây, các tai biến ven bờ có xu hướng tăng và mâu thuẫn lợi ích sử dụng giữa các ngành trên đầm phá ngày càng rõ Trước tình hình đó, quản lý môi trường đầm phá theo định hướng phát triển bền vững là một nhu cầu cấp bách

Trang 4

I Căn cứ xây dựng phương án

1 Điều kiện tự nhiên

thông nối với biển qua hai cửa Thuận An ở phía bắc và Tư Hiền ở phía nam, nằm

cách xa nhau 40 km Hệ có độ sâu trung bình 1,5m đến 2,0m Trầm tích đáy từ

bột nhỏ đến cát trung, nhưng chủ yếu là bột lớn, môi trường địa hoá khử yếu Hệ

mưa năm rất cao đạt trung bình 300 mm/năm Mùa mưa trùng mùa đông, lạnh từ

tháng 9 đến tháng 1 năm sau Vùng chịu ảnh hưởng lớn của bão, ngập lụt và mùa

mưa, hạn khô vào mùa hè Hệ có diện tích lưu vực lớn gấp 18,5 lần diện tích

triệu tấn bùn cát Trong đó, lưu lượng của riêng sông Hương chiếm 78% Hệ

nằm ở vùng bán nhật triều biên độ chỉ đạt 0,5m nhưng biên độ dao động mực

nước đạt đến 1m do ảnh hưởng của ngập lũ Dòng chảy trong đầm phá đạt từ

2 - 40 cm/s, đạt tới 85 cm/s ở cửa lạch Độ mặn trong đầm phá dao động lớn

trong khoảng 0,1 - 330/00, tuỳ thuộc vị trí, mùa và trạng thái lấp hay mở của cửa

Tư Hiền Dinh dưỡng vô cơ, nhất là Nitơ trong đất và nước thuộc loại nghèo

trong khi hàm lượng cacbon hữu cơ khá cao Trao đổi trong đầm phá thuộc loại

yếu, tính chất phân tầng nước rất mạnh Cửa đầm phá luôn thay đổi vị trí hoặc

trạng thái đóng, mở, gây ra những đột biến về mặt môi trường sinh thái về lâu

dài, đầm phá có xu hướng cạn và hẹp dần do quá trình bồi lấp trong thuỷ vực ven

bờ đóng gần kín

2 Tài nguyên và tiềm năng phát triển

2.1 Tài nguyên phi sinh vật

Tài nguyên đầm phá phong phú, đa dạng và có giá trị sử dụng cao Đất

ngập nước (ĐNN) hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (TG - CH) là một dạng tài

nguyên quí giá Theo phân loại ĐNN Ramsar được thông qua tại Thụy Sỹ năm

1990, ĐNN TG - CH thuộc loại J - đầm phá ven bờ nước lợ, được phân thành 10

kiểu thuộc 4 nhóm với tổng diện tích 24 876 ha Với tài nguyên phi sinh học,

giá trị môi trường sống là dạng tài nguyên đặc biệt vì đầm phá là hồ điều hoà

khổng lồ, điều tiết vi khí hậu, hạn chế nhiễm mặn, ngập lụt Hệ có quan hệ về

môi trường với cuộc sống của hơn 30 vạn dân ven rìa trên diện tích 89 000 ha

Trong đó, có 1 vạn dân du cư sống trên mặt nước đầm phá Hệ có giá trị lớn phát

triển cảng bến, giao thông thuỷ và neo đậu tránh gió bão Cảng Tân Mỹ trong

đầm phá có thể cho phép tàu 3 000 tấn ra vào Mỗi khi dông bão, biển động,

hàng nghìn tàu thuyền có thể neo đậu an toàn trong đầm phá Nằm gần cố đô

Huế, lại có phong cảnh rất đẹp, nhiều đặc hải sản quí và với các bãi tắm tốt như

Thuận An, Vinh Hiền, đầm phá có tiền năng lớn phát triển du lịch, nghỉ dưỡng

với nhiều hình thức vui chơi giải trí khác nhau Khoáng sản vật liệu xây dựng và

sa khoáng khu vực đầm phá cũng rất đáng kể Cụm mỏ sa khoáng Quảng Ngạn

-Vĩnh Mỹ thuộc loại cỡ vừa, có trữ lượng lớn titan (642 nghìn tấn), Zircon (135

nghìn tấn) và monazit gần (6 nghìn tấn)

Trang 5

2.2 Tài nguyên sinh vật

- Đa dạng habitat và hệ sinh thái Hệ đầm phá TG - CH có tính đa dạng

cao về habitat, bao gồm các kiểu cơ bản: đầm lầy cỏ, đầm lầy sú vẹt, bãi bồi cỏ ngập nước mùa mưa, bãi triều ven đầm phá, thảm rong tảo - cỏ nước, nền đáy bùn, nền đáy cát bùn, sông, luồng lạch và các đầm nuôi trong đê bao Đặc biệt,

đầm lầy cỏ là một habitat thích hợp cho quần tụ chim nước Thảm cỏ nước có vai trò rất quan trọng đối với sinh thái hệ, có vai trò như những "khu rừng dưới đáy nước" Hệ sinh thái (HST) đầm phá TG - CH bao gồm nhiều phụ hệ như phụ HST đầm lầy, phụ HST cỏ nước, phụ HST đáy mềm, phụ HST mangrove, phụ HST bãi triều, v.v Có thể nói, trừ HST rạn san hô, đây là nơi tụ hợp các HST tiêu biểu ở vùng ven bờ Trong đó, các HST phụ đầm lầy cỏ và thảm cỏ rất đặc thù, tiêu biểu, có tính chất mẫu hình cho ven bờ nước ta

- Đa dạng loài Tổng số nguồn gen được biết ở đầm phá TG - CH hiện

nay là 921 loài thuộc về 444 chi, giống và 237 họ Số lượng nguồn gen này là nhiều nhất so với các đầm phá khác, ví dụ 686 ở Thị Lại, 309 ở Đầm Nại (Nguyễn Trọng Nho, 1994) Đáng lưu ý là nhóm cá có số lượng lớn 230 loài với

23 loài kinh tế, trong đó có loài vừa là đặc hữu, vừa là loài có giá trị kinh tế cao

Cyprinus centralis Nhóm chim 73 loài, trong đó 30 loài di cư, 30 loài được ghi

vào danh mục bảo vệ nghiêm ngặt của Cộng đồng Châu Âu và 01 loài được ghi

vào Sách Đỏ Việt Nam là Choắt chân màng lớn (Limnodromus semipalmatus)

Theo ước tính, tổng số cá thể chim trên đầm phá có trên 2 vạn con vào mùa

đông

- Đa dạng nguồn gốc khu hệ Do tính chất nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa

ven bờ tây vịnh Bắc Bộ và khu vực ven biển miền Trung, giữa biển và lục địa mà sinh vật vùng đầm phá TG - CH có nguồn gốc khu hệ đa dạng và phức tạp Ví

dụ, nhóm cá gần gũi về mặt khu hệ với cá cửa sông phía bắc, trong khi sinh vật nổi và động vật đáy lại gần gũi với các đầm phá phía nam Trong thành phần mỗi khu hệ động vật đáy, sinh vật nổi, thậm chí cả thực vật cạn đều có những yếu tố nguồn gốc biển, nước lợ và nước nhạt mà khu hệ cá như nói ở trên là điển hình

Sự đa dạng thành phần khu hệ còn thể hiện theo phân dị theo chiều dài hệ đầm phá và thể hiện tính mùa vụ rõ rệt Đối với nhóm chim nước, ngoài các loài sống tại chỗ, nhóm loài chim di cư cũng chiếm một tỷ lệ quan trọng

- Nguồn lợi thủy sinh Nhiều loại sinh vật vùng đầm phá có giá trị kinh tế

khai thác tự nhiên, đánh bắt và nuôi trồng Trong đó, có 4 nhóm cơ bản là rong

cỏ, tôm - cua, thân mềm và cá Trong số rong cỏ, trữ lượng Rong câu mảnh có thể đạt 5 000 tấn khô/năm Hiện nay, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng đạt

400 tấn/năm Nhiều loài rong biển, cỏ nước dùng làm phân bón, thức ăn gia súc rất tốt, mỗi vụ có thể khai thác đến 150 000 tấn Đã phát hiện 12 loài tôm, 18 loài cua có giá trị thực phẩm, giá trị kinh tế cao Tôm và cua được khai thác tự nhiên hoặc nuôi trong ao, lồng Sản lượng tôm hàng năm đạt đến 1 000 tấn Các loài thân mềm như con Chìa, Ngao, Vẹm xanh cũng là những đối tượng khai thác tự nhiên, nuôi trồng có giá trị Trong số 230 loài cá, có khoảng 20 - 23 loài

có giá trị kinh tế Mỗi năm, đầm phá khai thác được khoảng 1 000 tấn cá Sản

Trang 6

lượng thủy sản đầm phá trước năm 1975 đạt 4,5 - 5,0 nghìn tấn/năm, gần đây chỉ

đạt 2,0 - 2,5 nghìn tấn/năm

Vài năm gần đây, nghề cá nuôi phát triển với các hình thức ao, lồng, diện tích gần 1 000 ha Sinh vật đầm phá và ven biển có tiềm năng sử dụng làm vật liệu công nghiệp và y học Ngoài ra, hàng vạn vịt đàn được nuôi thả trên mặt nước đầm phá nhờ nguồn thức ăn tự nhiên Sinh vật và các hệ sinh thái đầm phá ven bờ còn là một yếu tố tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch sinh thái và thăm xem những sân chim dày đặc tại các đầm lầy cửa sông

Vùng đầm phá TG - CH là một kho dinh dưỡng giàu có ở một vùng ven bờ nghèo kiệt Dinh dưỡng vô cơ trong nước và nền đáy giàu hơn phía ngoài biển hàng chục lần Đó là sự tích luỹ, lưu giữ dinh dưỡng từ lục địa qua các con sông chuyển ra Sự phong phú về dinh dưỡng và habitat tạo điều kiện hình thành các bãi giống, bãi đẻ cung cấp nguồn giống làm cơ sở phát triển nguồn lợi thuỷ sản không chỉ cho đầm phá và còn cho cả vùng biển ven bờ Thành phần nguồn giống thuỷ sản trong đầm phá khá đa dạng và phong phú Đã xác định được 94 taxon, thuộc 54 họ, 14 bộ cá và 21 loài thuộc 7 họ tôm, cua Cấu trúc nguồn giống cá gồm 4 nhóm sinh thái: nước lợ, nước biển, nước ngọt và cá di cư Các khu vực có nguồn giống cá phong phú hơn cả theo thứ tự là Tam Giang, Đầm Sam, Ba Cồn Sự phong phú của nguồn giống tôm, cua theo thứ tự là Cầu Hai, Tam Giang và Thuỷ Tú

3 Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội

Vùng đầm phá TG - CH có vai trò cực kỳ to lớn đối với phát triển dân sinh, kinh tế khu vực Vai trò to lớn của nó đã hình thành nên khái niệm "cư dân đầm phá" cũng tương tự như "cư dân đồng bằng", "cư dân miền núi" Cư dân đầm phá

có nhiều nét riêng, độc dáo về tập quán sinh hoạt, phương thức và ngư cụ đánh bắt thủy sản, lễ hội Cũng từ đó, đã hình thành "kinh tế đầm phá" trực tiếp liên quan đến cuộc sống của hàng vạn người, có quan hệ với các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, thủy lợi, giao thông, lâm nghiệp của cả một khu vực Năm trong số 8 huyện của Thừa Thiên Huế với 40 xã có đời sống liên quan trực tiếp với vùng ĐNN hệ đầm phá TG - CH (Phong Điền 6 xã, Quảng Điền 6, Hương Trà 2, Phú Vang 16, Phú Lộc 10)

Diện tích lãnh thổ có quan hệ mật thiết với sinh thái và môi trường đầm phá

ước tính 94 000 ha (18,8%) lãnh thổ tự nhiên tỉnh, trong đó có 49 000 ha đồng bằng, 19 000 ha đất cát ven biển, còn lại là diện tích đầm phá Đó là những mối quan hệ về giao thông, thủy lợi, nghề cá, nông nghiệp, nước ngầm, ngập lụt, nhiễm mặn, vi khí hậu, nơi sinh cư và xây dựng cơ sở hạ tầng Dân số sống có liên quan đến đầm phá có tới 30 vạn Trong đó có quan hệ mật thiết có 19,5 vạn với 3 900 hộ và 7 500 lao động chuyên nghề khai thác đầm phá Đặc biệt, có khoảng 1 vạn người lấy mặt nước vùng đầm phá làm nơi cư trú Ngoài ra, còn có

đến 3 200 hộ với 5 000 lao động làm nghề biển thường sử dụng đầm phá là cơ sở xuất phát hoặc nơi tránh gió bão Ven rìa đầm phá có 22 000 ha lúa có sản lượng, năng suất quan hệ trực tiếp với quá trình lụt, mặn đầm phá

Trang 7

3.1 Giao thông - cảng

Với chiều dài 70 km và là một vùng nước yên tĩnh, có hệ lạch sâu và hai

cửa thông ra biển, có các con sông chảy vào hai đầu và giữa đầm phá (sông Ô

Lâu chảy vào Tam Giang ở đầu tây bắc, sông Đại Giang - Truồi chảy vào Cầu

Hai ở phía nam, sông Hương chảy vào thành phố Huế ở đoạn giữa thông với cửa

Thuận An), vùng đầm phá là mối lợi lớn đối với giao thông biển, nội thủy liên

hoàn, góp phần tạo nên sự trù phú cho đô thị Huế và các vùng ven đầm phá Gắn

liền với giao thông thủy là việc phát triển các cảng, bến Cảng Tân Mỹ nằm ở

gần cửa sông Hương, có luồng ra biển qua cửa Thuận An, cho phép tàu 500 tấn

cập bến Theo quy hoạch đến 2010 cảng này sẽ tiếp nhận tàu đến 3 000 tấn cập

bến Xung quanh đầm phá, còn rất nhiều bến cá lớn nhỏ phục vụ cho nghề cá

biển

3.2 Cơ sở hạ tầng nghề cá và khai thác biển

Ngoài cộng đồng dân thủy diện sinh sống và hành nghề ngay trên mặt nước

đầm phá, tụ họp quanh vùng đầm phá là những cộng động dân cư đông đúc, các

bến thuyền, các cơ sở chế biến, mua bán thủy sản, dịch vụ nghề cá và đi

biển, v.v Do vị trí áp sát và nằm dọc bờ biển đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trở

thành vùng tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng khai thác biển, quan trọng nhất là

nghề cá biển Tổng khai thác cá biển 5 huyện ven đầm phá có 13 170 hộ và

26 435 lao động với 4 300 tàu thuyền khai thác biển, trong đó có 1 780 tàu máy

với tổng công suất 33 818 CV (Sở Thủy sản, 1995) Ba huyện có đầm phá Quảng

Điền, Phú Vang, Phú Lộc cũng là các huyện trọng điểm khai thác cá biển, do có

lợi thế đầm phá là hậu cứ và là địa bàn xây dựng các cơ sở hạ tầng, dịch vụ

Tổng lao động nghề cá biển 12 300 và tổng phương tiện đánh bắt của 3 huyện có

tới 3 267 tàu thuyền trên biển và 3 928 tàu thuyền trên đầm phá (số liệu

10/1994) Chế biến thủy sản cũng là một hoạt động kinh tế quan trọng vùng đầm

phá

3.3 Phát triển nông nghiệp

Một diện tích đáng kể ĐNN rìa vực nước đầm phá đã được quai đắp biến

thành đất nông nghiệp ở các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền và Phong

Điền cho năng suất lúa khoảng 1 - 5 tấn/ha/năm Ngoài ra, còn một diện tích

ĐNN cấy một vụ hoặc trồng rau màu về mùa khô, rộng đến hàng trăm ha nằm

rải rác ở cửa sông Ô Lâu, hai bên bờ Thủy Tú Nông nghiệp ven rìa đầm phá

cũng được tăng cường bằng một lượng lớn phân bón cho lạc, vừng, ớt, sắn, thuốc

lá và thức ăn gia súc lấy từ rong tảo trong vùng đầm phá Các bãi cỏ ở cửa sông

Ô Lâu là nơi chăn thả gia súc (trâu, bò) và nuôi vịt tới hàng vạn con Vực nước

đầm phá thay đổi từ lợ nhạt đến lợ mặn, nhưng sự có mặt của nó duy trì gương

nước ngầm, làm giảm rất nhiều khả năng khô hạn của các vùng canh tác nông

nghiệp xung quanh

3.4 Du lịch - giải trí

Nằm trong quần thể du lịch Huế, cùng với Thành Nội được UNESCO công

nhận là di sản văn hóa thế giới và khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, vùng đầm

Trang 8

phá Tam Giang - Cầu Hai cũng là một khu du lịch, giải trí lý tưởng, có nhiều nét

độc đáo, làm phong phú nội dung, tăng thời gian lưu chân khách

Cảnh quan vùng đầm phá thật đẹp với vực nước yên tĩnh, trong xanh có hệ

đụn cát hùng vĩ chắn phía biển, có các vùng cửa sông với các bãi lầy cỏ hoang dã có chim nước cư trú Đầm Thủy Tú tĩnh lặng như dòng sông mùa khô Đầm Cầu Hai mênh mông như biển, có núi, có đảo, lại thuận tiện thủy bộ, gần vườn Bạch Mã Đầm phá nối liền với dòng sông Hương thơ mộng ngược lên tận Huế Khung cảnh mặt nước với vô vàn cách thức đánh bắt thủy sản rất hấp dẫn với du khách nếu được giảng giải về tính năng của các ngư cụ

Đầm phá có khả năng lớn cho bảo vệ tự nhiên để phát triển du lịch sinh thái, kể cả du lịch ngầm dưới nước Các đồng cỏ hoang với các bầy đàn Ngỗng trời, Vịt trời, Sâm cầm, Vạc, Cò tới hàng ngàn con bơi kín mặt nước, mà chắc chắn bất kỳ ai có dịp chứng kiến đều thích thú và làm các nhà du lịch sinh thái,

du lịch khoa học say mê, tăng thêm sức hút rất mạnh cho du lịch khu vực Những bãi cỏ biển như những cánh rừng dưới đáy nước trong xanh cũng tương lai sáng lạn cho du lịch dưới nước

Những bãi biển đẹp như Thuận An, Vinh Hiền phía rìa ngoài cồn cát cùng với các khu nhà nghỉ, các hình thức vui chơi giải trí như câu cá, bơi thuyền, lướt ván, thăm xem các bể, giàn nuôi cá cảnh, v.v có khả năng biến du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của khu vực

Những loài thủy sản đầm phá như tôm, cua, cá Dầy, cá Dìa, v.v được khách

du lịch ưa thích Nếu thủy sản đầm phá được bảo vệ khai thác theo định hướng thương phẩm phục vụ du lịch sẽ tăng thêm giá trị và phát triển bền vững

Vùng đầm phá còn có nhiều các di tích lịch sử, văn hóa, tập quán, lễ hội rất

đáng bảo tồn, phát triển để góp phần biến tiềm năng du lịch vùng ĐNN thành hiện thực

3.5 Giá trị định cư

Cũng do thiên nhiên ưu đãi, tạo nên một vùng ĐNN yên tĩnh, nước không sâu, với nguồn lợi thủy sản phong phú, khai thác dễ dàng, nên đã hình thành một cộng đồng dân cư thủy diện hiện có khoảng 1 vạn người sống di cư lênh đênh trên mặt nước Đây là một hiện tượng hai mặt Một mặt phản ánh giá trị sinh cư lập nghiệp của đầm phá, mặt khác phản ánh sự nghèo nàn lạc hậu của cuộc sống cộng đồng dân cư quan hệ tới việc tàn phá môi sinh, khai thác quá mức nguồn lợi Ngoài ra, điều kiện thuận lợi đã tạo nên một quần cư khoảng 30 vạn dân thuộc 40 xã, 5 huyện sống quanh rìa đầm phá

3.6 Giáo dục, khoa học và văn hoá

Với cảnh quan tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên giàu có và phong phú, hệ

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một ví dụ trực quan giáo dục về tình yêu quê hương đất nước đối với cộng đồng nói chung, thế hệ trẻ nói riêng Đây là địa bàn tốt cho học sinh thăm quan, sinh viên thực tập về môi trường, sinh thái và tài nguyên Rất nhiều luận văn tốt nghiệp đại học, cao học và luận án Phó tiến sĩ

Trang 9

đã được thực hiện về các lĩnh vực chuyên môn khác nhau về đầm phá Tam Giang

- Cầu Hai Hệ đầm phá này có giá trị cao đối với nghiên cứu khoa học các lĩnh vực địa mạo - địa chất, sinh thái và tài nguyên sinh học, quản lý môi trường bờ,

động lực bờ và kinh tế - xã hội

Hệ đầm phá chứa đựng những giá trị thẩm mỹ và tinh, tạo nên những giá trị văn hóa có bản sắc riêng thể hiện qua những phong tục tập quán và lễ hội gắn với tín ngưỡng và thực tiễn lao động sản xuất Ngành nghề khai thác truyền thống, nếu loại bỏ một số tác động tiêu cực đến môi trường, là một yếu tố văn hoá có tính đầm phá

Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai gắn liền với nhiều di tích và các sự kiện thăng trầm của lịch sử qua hàng trăm năm Sông Ô Lâu nhiều năm là biên giới giữa Chiêm Thành và Đại Việt Cửa Tư Hiền là nơi quân Nguyên hành quân qua tiến đánh Chiêm Thành, cửa Thuận An là nơi các pháo hạm Pháp án ngữ tấn công Kinh thành Huế Phá Tam Giang ngày nào tàu thuyền tấp nập ngược sông Hương lên cảng Thanh Hà ở Bao Vinh Chắc chắn vùng rìa bờ đầm phá có nhiều di chỉ khảo cổ chưa được phát hiện liên quan đến các giai đoạn văn hóa Bầu Tró, Sa Huỳnh và các triều đại phong kiến sau này

4 Chức năng môi trường và sinh thái

Đầm phá TG - CH là một hồ điều hoà khổng lồ nằm giữa vùng đồng bằng cát có khí hậu khắc nghiệt, có tác dụng điều tiết vi khí hậu theo hướng thuận lợi cho cuộc sống Nhờ có nó, đã hạn chế rất nhiều khả năng ngập lụt khu vực và những tác hại của nước dâng trong bão Khi có bão, thường có mưa lớn dồn nước

ở thượng nguồn về, đồng thời với nước dâng từ biển cũng tràn vào Đầm phá là vùng chứa cả nước lũ thượng nguồn, cả nước dâng từ biển, làm giảm rất nhiều khả ngập lụt cho đồng bằng

- Vùng đầm phá có tác dụng lớn đến duy trì gương nước ngầm vùng đồng bằng ven rìa, có tác dụng tốt với hệ sinh thái đồng ruộng và duy trì nguồn nước ngầm sinh hoạt cho nhân dân Nếu không có đầm phá, khả năng khô hạn và nhiễm mặn vùng đất cát ven biển Thừa Thiên Huế sẽ rất lớn

- Đối với vùng biển ven bờ, vùng đầm phá có chức năng làm sạch môi trường Bùn cát hoặc các chất gây ô nhiễm từ lục địa phần lớn rơi lắng và được lưu giữ trong đầm phá trước khi đưa ra biển Đây là nơi tích tụ chôn vùi các chất thải, dễ nhạy cảm, tổn hại do ô nhiễm từ lục địa, nhưng chính nhờ đó bảo vệ cho môi trường biển phía ngoài được trong sạch

4.1 Chức năng cung cấp và sản xuất

Nhờ tồn tại như một hệ sinh thái độc lập ven bờ, gồm nhiều phụ hệ, vùng

đầm phá TG - CH lưu giữ và tạo một chu trình vật chất khép kín, tự làm giàu và xuất khẩu dinh dưỡng ra vùng biển ven bờ

Theo kết quả thực nghiệm và tính toán, năng suất sơ cấp thực vật nổi đầm

tầng đáy Năng suất sơ cấp của vực nước được tăng cường bằng sinh khối, tốc độ

Trang 10

phát triển nhanh của rong tảo và cỏ nước "Rừng cỏ nước" dưới đáy đầm phá,

ngoài tạo mùn bã, cung cấp thức ăn trực tiếp cho cá, còn có vai trò quan trọng

điều hòa sinh thái vực nước, tạo ra oxi hòa tan trong tầng đáy khá cao, thường 5

mg/l mặc dù hoàn lưu thẳng đứng kém và đặc biệt luôn tạo ra lớp nước sát đáy

kiện thuận lợi về habitat dinh dưỡng và các yếu tố môi trường đã hình thành nên

các bãi đẻ và nơi sinh trưởng của ấu trùng, cung cấp nguồn giống cho cả đầm

phá và vùng biển ven bờ

Với tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, đầm phá cung cấp cho

con người nhiều loại sản vật và tạo điều kiện phát triển thủy sản, nông nghiệp,

giao thông và du lịch và hình thành "kinh tế đầm phá" với những tính chất đặc

thù, cơ cấu liên ngành và tính hoàn chỉnh của mình Trên 9 nghìn lao động khai

thác các sản phẩm đầm phá Hàng năm (1977) có 5 025 thuyền, trong đó có

1 684 thuyền gắn máy hoạt động đánh bắt Trên đầm phá có tới 7 826 công cụ

đánh bắt với 4 188 công cụ cố định và 3 638 công cụ di động thuộc về 14 nhóm

Như vậy, mật độ sản xuất trung bình cứ 2,76 ha mặt nước có một ngư cụ đánh

bắt và cứ 4,3 ha mặt nước có một phương tiện tàu thuyền đánh bắt Đó là chưa kể

lượng khai thác và nuôi trồng hàng năm trung bình 2,5 nghìn tấn (tương đương

115 kg/ha/năm là một con số đầy ý nghĩa)

4.2 Chức năng bảo vệ

Vùng ven biển Thừa Thiên Huế và miền Trung thường xuất hiện nhiều

thiên tai như bão, lụt, nước dâng trong bão Nhờ vai trò điều hoà, vùng đầm phá

có chức năng bảo vệ cho cộng đồng dân cư xung quanh, hạn chế phần đáng kể

những thiệt hại về người và tài sản

Đầm phá là màng đệm giữa biển và đồng bằng, ngăn xâm nhập mặn sâu

vào lục địa Nhờ có nó, nước biển bị pha trộn, trao đổi thành nước nhạt hơn trước

khi theo áp lực triều lấn theo đáy các lòng sông ngược về phía lục địa

Cũng do là một vực nước kín, có 2 cửa thông ra biển, mỗi khi có bão, hoặc

giông tố làm động biển, đầm phá là nơi cư trú, neo đậu an toàn cho hàng trăm,

thậm chí hàng ngàn tàu thuyền nhỏ, tránh được nhiều thiệt hại cho con người

4.3 Cân bằng tự nhiên và sinh thái ven bờ

Xét về tổng thể, vùng đầm phá TG - CH là một hệ đệm giữa biển và lục địa,

có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cân bằng tự nhiên và sinh thái ven bờ Sự tồn

tại của vùng đất ngập nước ảnh hưởng và tác động đến vi khí hậu khu vực, chế

độ thủy động lực, phân bố và bồi lắng trầm tích ven bờ, lưu giữ và xuất khẩu

dinh dưỡng, nguồn giống ra biển, tạo nơi cư trú, sinh đẻ cho các thủy sinh biển

di cư mùa và chim trú đông di cư trên quy mô rộng lớn

Trang 11

II Hiện trạng sử dụng và quản lý

Khai thác sử dụng đầm phá chủ yếu là thuỷ sản, khoảng 3,5 vạn người sống nhờ khai thác thuỷ sản đầm phá Phương tiện tàu thuyền và ngư cụ đánh bắt ở

đầm phá hàng năm tăng rất nhanh Năm 1997, có 5 025 tầu thuyền đánh bắt, trong đó 1 684 chiếc có gắn động cơ và có 7 826 ngư cụ đánh bắt với 4 188 chiếc loại cố định và 3 638 chiếc loại di động Ngư cụ đánh bắt hết sức phong phú, đa dạng với hàng chục loại khác nhau : sáo, xăm, đáy, lưới kéo, rợ dàng, rê tôm, chuôm, v.v Phổ biến nhất là sáo cắm dày đặc trên mặt nước Nghề nuôi trồng

đầm phá có diện tích gần 1 000 ha với các loại rau câu, tôm sú, tôm rảo, cá mú với các hình thức ao, lồng, giàn Năng xuất tôm nuôi 200 - 700 kg/ha/năm Nghề nuôi gặp khó khăn về giống, ngọt hoá, ngập lụt, lưu thông nước kém và những biến đổi bất thường về môi trường do đóng hoặc mở đột ngột cửa Tư Hiền Sản lượng tôm cá đầm phá hiện nay trung bình 2 500 tấn/năm, trong đó nuôi chiếm

12 - 15% Trong thời gian 1970 - 1975, sản lượng tôm cá chủ yếu đánh bắt đạt

4 500 - 5 000 tấn/năm, nay đã bị suy giảm gần một nửa

Theo quy hoạch của tỉnh, từ 2001 đến 2010, diện tích nuôi thuỷ sản đầm phá tăng từ 2 930 ha lên 5 939 ha và diện tích nuôi chắn sáo đến năm 2010 sẽ không còn nữa Đến năm 2010, giảm 40% mật độ ngư cụ, tương đương 40% cường lực, giảm 25% thời gian khai thác theo mùa vụ, cấm khai thác 3 tháng/năm Từ ngày 01/01/2006, tất cả các hoạt động khai thác và nuôi trồng

đều phải có giấy phép

Hoạt động giao thông thủy trên đầm phá tấp nập và đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế khu vực Cảng Thuận An trong đầm phá hiện nay cho phép tàu 500 tấn, tương lại gần có thể tầu 1 000 tấn cập bến Việc tàu thuyền ra biển

đánh cá qua cửa Tư hiền nhiều khi bị cản trở do cửa này bị lấp theo thời khoảng

4 - 10 năm một lần Hoạt động du lịch đầm phá chưa phát triển Vào 3 tháng hè luợng khách tới tắm ở bãi Thuận An ước tính 3 000 người/ngày, có ngày tới vạn khách ở cửa sông, ven rìa đầm phá phát triển hệ thống đập ngăn mặn (Cửa Lác, Thảo Long, Diên Trường) và hệ thống đê ngăn mặn dài 162 km Các công trình này gây cản trở dòng chảy, thu hẹp thuỷ diện, tăng khả năng ngập lụt Hoạt động nông nghiệp ven rìa đầm phá rất phát triển, 5 huyện ven đầm phá có diện tích đất

tự nhiên 258 nghìn ha phát triển nông nghiệp 21% Trong đất nông nghiệp, 69% trồng lúa với năng xuất 3 - 4,5 tấn/ha ở thượng nguồn hệ thống hồ chứa nước 25 triệu m3, có ảnh hưởng lớn đến môi trường đầm phá

1 Hiện trạng quản lý môi trường

Theo pháp luật, đầm phá thuộc về sở hữu nhà nước mà đại diện là chính quyền tỉnh và 5 huyện có đầm phá Chính quyền huyện lại phân cấp quản lý cho các xã liên quan sử dụng ĐNN Giúp chính quyền tỉnh quản lý đầm phá có các cơ quan chức năng như Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Sở Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chính quyền các huyện Trên thực tế,

sở hữu đầm phá bao gồm cả sở hữu nhà nước và sở hữu cộng đồng, không có sở hữu cá nhân Sở hữu cộng đồng đối với đánh bắt, nuôi trồng, nông nghiệp do

Trang 12

chính quyền xã quản lý Các hoạt động khác, tùy quy mô do chính quyền huyện, tỉnh, thậm chí nhà nước quyết định Trường hợp trên 1 vạn dân du cư sử dụng mặt nước sinh sống có tính chất sở hữu cộng đồng thuần túy

Nhà nước cũng đã ban hành Luật Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản (2003), Luật Bảo vệ môi trường (1993 và 2005) và Luật Đất đai (1993) Dưới luật UBND Thừa Thiên Huế đã ban hành chỉ thị số 1557 QĐ/UBND (1995) về bảo vệ, quản lý và phát triển nguồn lợi thủy sản Tỉnh còn thành lập Chi cục Bảo

vệ nguồn lợi thủy sản (1993) và Ban thanh tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản (1995) Các tổ chức này đã có những đóng góp to lớn bảo vệ nguồn lợi thủy sản Thành

ủy và UBND Tỉnh đã có một số văn bản quan trọng:

- Nghị quyết số 11/NQ - TU ngày 20/10/1998 về phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và đầm phá Thừa Thiên Huế giai đoạn 1998 - 2005

- Quyết định số 3170/QĐ - UB ngày 06 /12/2002 về việc Duyệt quy hoạch tổng quan phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế đến năm 2010

- Quyết định số 3677/QĐ - UB ngày 25/10/2005 về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thuỷ sản vùng đầm phá Thừa Thiên Huế đến năm 2010

- Quyết định số 3014/2005/QĐ - UBND ngày 25/08/2005 về việc Phê duyệt quy chế quản lý môi trường vùng nuôi tôm tập trung tỉnh Thừa Thiên Huế

Chính quyền các huyện cũng đã ngăn cấm săn bắt chim Một số đề tài khoa học đã được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng tài nguyên - môi trường, giám sát những đe dọa và đề xuất kế hoạch, chương trình hoạt động nhằm phát triển bền vững tài nguyên và môi trường Gần đây, Ban quản lý đầm phá đã được thành lập nhằm phối hợp các hoạt động bảo vệ và phát triển

Trên thực tế, luật pháp và chính sách vận dụng để quản lý đầm phá còn kém hiệu lực Ví dụ, các đơn vị quản lý tỏ ra cương quyết với vi phạm dùng mìn, điện

đánh cá, nhưng nhiều khi bỏ qua các lưới có cỡ mắt quá nhỏ Thực tế, phần lớn công việc đánh bắt trên đầm phá ở dạng tự do, không có giấy phép, không nộp thuế Một số dự án phát triển ven đầm phá chưa chú trọng đánh giá tác động môi trường, hoặc chỉ đánh giá hình thức Các công trình ở lưu vực thượng nguồn cũng chưa tính đến tác động đến đầm phá ở hạ nguồn Việc giao quyền sử dụng

ĐNN chưa chặt chẽ và ở mức quản lý ở chính quyền cấp xã Nhiều vấn đề nan giải như đăng sáo cản trở giao thông, khai thác cỏ nước tự do chưa có ai quản lý Nhiều tai biến đầm phá chưa được kiểm soát

Tình trạng thiếu quản lý trên đầm phá là một thực tế và quản lý để sử dụng hợp lý tài nguyên đầm phá là một thách thức do phải đương đầu với nhiều khó khăn

- Tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của cộng đồng dân cư sống nhờ đầm phá với nền kinh tế tiểu nông, tiểu ngư có tính tự cấp Thói quen, phong tục

Trang 13

tập quán sinh sống của xã hội khó thay đổi, nhận thức xã hội và ý thức cộng đồng chưa cao

- Vốn đầu tư phát triển hạn chế, manh mún, cơ sở khoa học, công nghệ phát triển bền vững chưa được khẳng định

- Thiên nhiên khắc nghiệt, nhiều rủi ro, tai biến và chưa có những quyết sách ngăn ngừa, phòng chống thiên tai làm cơ sở cho đầu tư bền vững

- Thể chế chính sách quản lý chồng chéo, không đồng bộ trong điều kiện khai thác, sử dụng và quản lý đầm phá liên quan tới nhiều ban ngành, lĩnh vực hoạt động kinh tế

2 Những ván đề cấp bách về môi trường

2.1 Những biến động và mối đe dọa từ tự nhiên

- Nông hóa vực nước và cát bay, cát chảy

Trong quá trình phát triển, tiến hoá, đầm phá TG - CH đã bị nông hóa và hẹp đi đáng kể do quá trình trầm tích Theo ước tính, với lượng bồi tích sông đưa

ra, đầm phá bị bồi lấp cạn sau 1 500 năm Hiện tượng cát bay, cát chảy gây bồi cát ven rìa đầm phá, đưa vật liệu xuống lòng đầm phá và có thể rút ngắn thời gian lấp đầy chỉ 600 năm nếu quản lý kém

- Hạn hán và nhiễm mặn

Có 2 kỳ hạn hán vào mùa khô vào tháng 3 - 4 và 7 - 8, kỳ hạn hán tháng 7 -

8 gây thiếu nước nghiêm trọng cho vụ lúa hè thu Hạn hán nhiều khi gây thiếu nước trầm trọng Hạn hán nhiều khi gây thiếu nước trầm trọng cho cả sinh hoạt

và mất mùa lớn Hàng năm, do hạn hán, lúa bị mất trắng 120 ha vào vụ đông xuân, 1 800 ha vào hè thu, bị giảm năng xuất 3 000 ha lúa đông xuân và 4 000

ha lúa hè thu Hàng năm 2 000 - 2 500 ha lúa bị nhiễm mặn, trong đó có 800 ha

bị thiệt hại nặng

- Chuyển cửa, lấp cửa đầm phá bất thường

Trang 14

Cửa Thuận An bị dịch chuyển vị trí theo chu kỳ dài gây ra những biến động bồi xói hai bên, sa bồi luồng vào cảng Tân Mỹ Thậm chí cửa có nguy cơ dịch chuyển về vị trí cũ cách cửa hiện tại 5 km và sẽ gây xáo trộn lớn về phân bờ, sử dụng cơ sở hạ tầng

Cửa Tư Hiền bị lấp, mở với thời khoảng 4 - 11 năm Cửa bị lấp, tạo ra nhiều biến cố bất lợi như ngập lụt, ngọt hóa, tăng cường ô nhiễm, mất lối cho tàu thuyền ra biển gây biến động môi trường sinh thái đầm Cầu Hai và thiệt hại lớn cho dân sinh, kinh tế trong tương lai, các tai biến tự nhiên này vẫn tiếp tục

ảnh hưởng và biến động phức tạp hơn do có những tác động ảnh hưởng của các hoạt động dân sinh

2.2 áp lực từ hoạt động nhân tác

2.2.1 Các mâu thuẫn nảy sinh trong việc sử dụng

Tài nguyên phong phú tạo khả năng sử dụng đa ngành và việc phát triển thiếu quản lý đã dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt trong các lĩnh vực sử dụng

đầm phá Đó là những mẫu thuẫn giữa các ngành thuỷ sản, giao thông và nông nghiệp - thuỷ lợi Thậm chí, mâu thuẫn trong nội bộ ngành cũng gay gắt, ví dụ giữa đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, giữa ngăn mặn và giải toả ngập lũ Nổi bật hơn cả là mâu thuẫn giữa bảo vệ và phát triển Với tình trạng như hiện nay, đầm phá sẽ suy kiệt về tài nguyên, thoái hoá về môi sinh Mặt khác, cuộc sống của biết bao người hiện hành ngày vẫn trông chờ vào khai thác đầm phá Ngoài ra, phải kể đến mâu thuẫn giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng nhỏ (1 vạn dân du cư) với cộng đồng lớn (30 vạn dân ven đầm phá) đối với quản lý, sử dụng đầm phá

- Giữa bảo vệ và phát triển

Lợi ích lâu dài sử dụng đầm phá, nhu cầu nâng cao chất lượng môi trường sống đòi hỏi phải bảo vệ tự nhiên, tài nguyên và môi trường Trong khi đó, nhu cầu phát triển kinh tế do đòi hỏi của mức sống vật chất thấp, sức ép tăng dân số

đòi hỏi phải sử dụng đầm phá ở mức độ cao dẫn đến mất cân bằng tự nhiên, sinh thái, hủy hoại tài nguyên và ô nhiễm môi trường Trong đối kháng giữa bảo vệ và phát triển có đối kháng lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng Lợi ích cá nhân tạo ra

sự phát triển tự phát Lợi ích cộng đồng cần phải có sự hài hòa giữa sự bảo vệ, phát triển và phát triển cần bền vững Lợi ích cá nhân có tính trước mắt để đảm bảo cuộc sống nghèo khó hàng ngày Lợi ích cộng đồng có tính lâu dài nhằm phát triển bền vững

- Giữa giao thông - cảng và nghề cá

Mật độ tàu thuyền đánh cá, giao thông vận tải và hành khách trên đầm phá khá dày đặc và hoạt động mua bán, cung ứng xăng dầu tại cảng cửa Thuận An và các bến cá nhỏ trên thực tế đã gây ô nhiễm dầu làm ảnh hưởng đến sinh vật và nghề cá Mặt khác, việc đánh bắt thiếu quy hoạch như hiện nay gây cản trở nghiêm trọng cho giao thông đi lại của tầu thuyền Hầu hết các miệng đáy chiếm các luồng sâu và các trộ sáo chiếm hết diện tích mặt nước đầm phá

Trang 15

- Giữa thủy lợi và nghề cá

Hệ thống đê ngăn mặn lấn mặt nước, làm giảm diện tích vực nước, các công trình ngăn mặn chặn ngang các lòng sông làm thay đổi cấu trúc thủy văn và cản trở các loại cá có tập quán di cư lên thượng nguồn sinh để Ví dụ như cá Mòi cờ, làm suy giảm nguồn giống Các hồ chứa thượng nguồn và hệ thống tưới tiêu làm giảm nước vào đầm phá trong mùa khô, có khả năng làm nghèo nguồn dinh dưỡng, làm giảm năng suất thủy vực và nguồn lợi thủy sản

- Giữa nông nhgiệp và nghề cá

Thuốc trừ sâu và phân hoá học dùng trong nông nghiệp sẽ gây ô nhiễm môi trường đầm phá, làm hiảm sản lượng và chất lượng sản phẩm nghề cá Kết quả phân tích hiện nay cho thấy mức độ ảnh hưởng này chưa lớn, nhưng có thể trở thành vấn đề lưu tâm trong tương lai Trước mắt, việc khai thác rong tảo, cỏ nước làm phân bón với số lượng lớn hàng chục ngàn tấn năm sẽ hủy hoại nơi cư trú, giảm nguồn thức ăn cho các đối tượng thủy sản Việc dẫn nước vào các đầm nuôi tôm có thể gây nhiễm mặn cho đất nông nghiệp kế cân

- Giữa đánh bắt và nuôi trồng

Phá Tam Giang là một hệ phá khá kín về mặt cấu trúc hình học Bản thân

nó có thể được coi là một đầm nuôi khổng lồ Việc phát triển nuôi trồng quá mức trong nội tại hệ dẫn đến cản trở lưu thông nước, hủy hoại habitat và làm mất cân bằng sinh thái trong hệ đầm phá tự nhiên Điều này sẽ dẫn đến suy giảm nguồn lợi thủy sản chung Việc đánh bắt quá mức như hiện nay bằng các phương tiện lạc hậu làm giảm nguồn giống, gây cản trở lưu thông nước làm tù túng vực nước, gây ô nhiễm dầu sẽ ảnh hưởng đến nghề nuôi

- Giữa phòng chống xâm nhập mặn và giải tỏa lũ lụt

Đây là đối kháng lợi ích khá gây gắt Để chống xâm nhập mặn về mùa khô vào nội đồng, hệ thống đê ngăn mặn dài 162 km ven đầm phá đã làm giảm đáng

kể diện tích vực chứa nước và cản trở dòng chảy góp phần làm tăng thêm lũ rất nhiều Chính đập ngăn mặn ở cửa Thuận An xây dựng năm 1931 là ví dụ điển hình về đối kháng lợi ích giữa ngăn mặn và thoát lũ và cuối cùng đập ngăn mặn

đã bị lũ phá Hiện có 3 đập ngăn mặn chính là Thảo Long, Cửa Lác và Diêm Trường Đập Thảo Long làm cho 10 000 ha ruộng cạn có nước ngọt cây lúa 2 vụ, nhưng lại gây úng lụt trầm trọng cho 4 000 ha, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, đó là chưa kể làm giảm đáng kể khả năng thoát lũ sông Hương Ngược lại, các biện pháp khơi thông luồng chảy sẽ tạo điều kiện cho xâm nhập mặn lấn sâu về phía đồng bằng

2.2.2 Nguồn ô nhiễm nội tại và ngoại lai

- Chất thải sinh hoạt bao gồm chất thải rắn và lỏng của cộng đồng cư dân ven đầm phá, đặc biệt của hơn vạn dân du cư trên mặt nước đầm phá Loại chất thải này gây ô nhiễm hữu cơ, coliform và rác thải làm bẩn cảnh quan

Trang 16

- Chất thải dầu mỡ do hoạt động của tàu thuyền trên đầm phá, các bến cảng, các trạm dịch vụ xăng dầu

- Chất thải do các hoạt động sản xuất, dịch vụ ven bờ đầm phá

- Chất thải sinh hoạt của dân cư các vùng nông thôn và các đô thị ven sông, trong đó có đô thị Huế trên 20 vạn dân đổ vào đầm phá

- Chất thải nguồn gốc nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu ở vùng

đồng bằng ven rìa đầm phá

- Chất thải nguồn gốc công nghiệp, các xưởng cơ khí, công nghiệp thực phẩm, xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng dẫn đến tập trung chất ô nhiễm kim loại nặng

- Ô nhiễm đục do xói mòn thượng nguồn liên quan đến phá rừng

- Ô nhiễm dầu khá trầm trọng với mức hàm lượng phổ biến 0,13 - 0,5 mg/l

do các dịch vụ xăng dầu và phát triển các phương tiện tàu thuyền cơ giới nhỏ, lạc hậu Ô nhiễm chất hữu cơ không phổ biến, rộng khắp nhưng ở mức nặng nề, ở những điểm gần khu dân cư, thể hiện ở các chỉ số BOD, COD khá cao Cũng tại những nơi này, chỉ số khuẩn coliform cao, thường trên 1 000 MPN/100ml Độ

đục nước đầm phá cũng có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng của phá rừng và mưa lũ từ thượng nguồn Các kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn dưới mức cho phép nhưng đã có biểu hiện tập trung

2.2.3 Khả năng gây ô nhiễm và các tác động môi trường trong tương lai

Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng, thuốc trừ sâu do phát triển công nghiệp, đô thị và nông nghiệp trong phạm vi lưu vực Các dự án phát triển các hồ chứa nước thượng nguồn có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng và độ mặn trong đầm phá Ô nhiễm dầu có thể tăng nếu không được giám sát, quản lý Ô nhiễm chất thải sinh hoạt và chất hữu cơ có thể làm xuất hiện thủy triều đỏ và nạn tảo độc Các habitat quan trọng như thảm cỏ nước, đầm lầy

cỏ có khả năng tiếp tục bị huỷ hoại do các hoạt động nông nghiệp, giao thông Sức ép tăng dân số sẽ vẫn là động lực duy trì tình trạng khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn lợi hải sản, liên quan đến thay đổi phân bố lưu luợng nước, diễn biến xâm nhập mặn và chuyển lấp cửa đầm phá sẽ ngày càng phức tạp

Trang 17

- Ô nhiễm dầu trong nước đầm phá đang là một thực tế và sẽ ngày càng nghiêm trọng, nếu Thuận An trở thành cảng dầu và đến năm 2010 đạt công xuất chuyển tải 0,28 triệu tấn/năm Dự án cảng nước sâu Chân Mây nếu thành hiện thực cũng sẽ là nguồn gây ô nhiễm dầu rất lớn cho đầm phá Sự phát triển của nghề cá, các khu bến cá và các phương tiện tàu thuyền cũng sẽ tiếp tục gia tăng ô nhiễm

- Sự gia tăng dân số ven đầm phá, ven các trục lòng sông sẽ tăng cường lượng chất thải sinh hoạt xuống đầm phá, trong điều kiện lưu thông nước kém sẽ làm tăng ô nhiễm chất hữu cơ và coliform Đặc biệt vào các trận lũ lụt, chất thải sinh hoạt sẽ bị lôi cuốn xuống đầm phá nhiều nhất

Dinh dưỡng trong nước đầm phá có khả năng nghèo đi do thực hiện các dự

án xây hồ, đập chứa nước ở thượng nguồn Tổng nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và đẩy mặn cần đến một lượng chứa nước ở thượng

triệu m3 Trong lúc đó, tổng diện tích chứa hiện nay mới khoảng 25 triệu m3 Dự

Nếu các dự án này được hoàn tất có khả năng sẽ làm nghèo đi dinh dưỡng của

đầm phá, nếu chế độ điều hòa nước không được hợp lý

• Phì dinh dưỡng và thuỷ triều đỏ - tảo độc hại

Các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp chế biến, nuôi trồng thủy sản có thể gây phì dinh dưỡng cục bộ và gây ra thủy triều đỏ, nhất là ở các khu cửa sông, ven rìa đầm phá Thực tế cũng đã từng xẩy ra hiện tượng nở hoa thực vật nổi ở khu đầm Sam gần cửa sông Hương tuy thời gian chưa dài và mật độ thực vật phù

du chưa lớn Trong số các thực vật phù du ngành tảo giáp Pyrrophyta hiện biết

có 21 loài, chiếm 9,5% Trong nhóm tảo này, đã phát hiện được 6 loài tảo độc

Sự xuất hiện nhiều tảo độc trong các kỳ thủy triều đỏ sẽ là mối hại lớn, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nghề cá và sức khỏe, tính mạng người ăn

Hiện tại, khai thác quá mức rõ ràng đã gây suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản Sức ép về kinh tế và dân số tiếp tục tăng cường mối đe dọa này Dự báo rằng phương thức nuôi lồng, giàn có khả năng phát triển tự phát ở quy mô rộng trong tương lai và sẽ gây cản trở nhiều cho giao thông, lưu thông nước, ô nhiễm môi trường và kèm theo dịch bệnh Nuôi trồng quá mức gây suy giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Thức ăn nuôi thừa thường gây ra thủy triều đỏ khi có điều kiện thuận lợi

Nguy cơ này gây ra do các hoạt động giao thông - cảng, đánh bắt thủy sản, thủy lợi và các công trình cơ sở hạ tầng khác, do những thay đổi bất thường về môi trường do lấp cửa, ngọt hóa Nguy cơ trực tiếp nhất là sự hủy hoại thảm cỏ

Trang 18

nước, kể cả cỏ biển do đục hóa vực nước, đặc biệt là việc khai thác bừa bãi rong tảo, cỏ nước làm phân bón và thức ăn gia súc Sự hủy hoại habitat làm mất đi nguồn lợi thủy sản

Mật độ tàu thuyền và ngư cụ đánh bắt quá dày trên đầm phá Trung bình cứ mỗi ha mặt nước có 23 tàu thuyền và 36 ngư cụ đánh bắt tôm cá, trong đó có 11 trộ sáo Các hình thức đánh bắt cạn kiệt nguồn giống và huỷ diệt môi sinh như lưới có cỡ mắt dưới 5mm, (te quện), mìn, điện (rà điện, xiếc điện) vẫn xảy ra Chim nước bị săn bằng bẫy, súng săn Các đầm lầy cho chúng cư trú sinh sống bị khai hoang trồng lúa cho năng suất thấp Cỏ nước nhạt, cỏ biển bị khai thác với khối lượng lớn và bị chà xát do neo đậu, đi lại của tàu thuyền đánh cá và vận tải

Đăng sáo dày đặc và đầm nuôi mở rộng làm thu hẹp vực nước, trao đổi nước Kết quả là nguồn lợi thủy sản và nguồn gen bị giảm nghiêm trọng, nhiều loài có nguy cơ bị biến mất

Tài liệu lịch sử đã chứng minh nhịp độ tăng dần của việc lấp cửa Tư Hiền, trước đây 10 - 12 năm, nay 4 năm 1 lần, nguy cơ này tiếp tục tăng cao, ngoài quá trình tiến hóa tự nhiên còn có nhiều biến động bất thường về khí tượng - thủy văn

và do hậu quả tàn phá rừng thượng nguồn làm thay đổi cân bằng cấu trúc dòng chảy sông đổ vào đầm phá theo không gian, thời gian Sau trận lũ năm 1999, cửa Tư Hiền mở lại và đang diễn biến theo hướng bị bồi lấp dần, có thể lại bị bồi lấp hẳn trong một tương lai không xa, nếu không có các giải pháp kịp thời Hậu quả tiêu cực của chuyển cửa, lấp cửa bất thường rất lớn

Nạn phá rừng thượng nguồn và lấp cửa Tư Hiền kèm theo lũ lụt làm độ đục trong phá tăng lên làm giảm đi độ trong sạch của nước liên quan đến tiềm năng phát triển du lịch, hạn chế khả năng quang hợp của thực vật nổi và bám phủ làm chết cỏ nước, rong tảo Nông hoá và ngọt hoá vực nước là quá trình tự nhiên,

đã xẩy ra hàng ngàn năm qua và là một quá trình chậm chạp nhưng để lại những hậu quả sâu sắc như phân dị vực nước cao hơn, thể tích giảm, trao đổi nước kém, giảm nguồn gen, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản Các quá trình đục, nông và ngọt hóa vực nước có xu thế tăng nhanh do các biến động bất thường của tự nhiên và tác động nhân sinh

3 Tầm quan trọng và lợi ích của bảo vệ môi trường đầm phá TG - CH

3.1 Đối với phát triển bền vững kinh tế - x∙ hội và vì lợi ích cộng đồng địa phương

Bảo vệ môi trường và tài nguyên đầm phá TG - CH sẽ:

- Tạo cơ hội sinh kế bền vững, nâng cao và duy trì chất lượng môi trường sống cho cộng đồng cư dân ven đầm phá, hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm, ngăn ngừa và quản lý các thiên tai, rủi ro như lấp cửa, ngập lụt, nhiễm mặn, ngọt hoá

Trang 19

- Khắc phục tình trạng đánh bắt quá mức, hủy hoại môi sinh làm suy giảm nguồn lợi thủy sản làm thiệt hại đến đời sống cộng đồng Việc bảo vệ, phục hồi nguồn gen, nguồn giống duy trì nguồn lợi thủy sản lâu dài và bền vững

- Bảo vệ, phục hồi môi sinh, đa dạng cảnh quan, đa dạng sinh học cho phép hình thành vùng du lịch sinh thái và du lịch khoa học đầm phá có sức hấp dẫn cao, bổ sung cho du lịch văn hóa Huế

- Thông qua quản lý môi trường lồng ghép trong quản lý tổng hợp, sẽ sử dụng hợp lý, có hiệu quả và các hoạt động bảo vệ, điều chỉnh lại cơ cấu sử dụng

đầm phá và giảm thiểu các mâu thuẫn lợi ích sử dụng

- Phối hợp tốt thực hiện chủ chương định cư dân du cư đầm phá, phát triển nghề cá xa bờ

Tạo mối quan hệ và sự quan tâm của các tổ chức quốc tế với vấn đề hợp tác bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học và giáo dục liên quan đến đầm phá

3.1.1 Lợi ích về môi trường và sinh thái

- Việc thực hiện phương án sẽ giữ cho môi trường đầm, giữ được môi trường tốt lành không chỉ cho sự hồi phục, phát triển thế giới thủy sinh vật và còn cho cộng đồng dân cư sông ven rìa đầm phá Hoạt động giám sát cho phép theo dõi chất lượng môi trường nước, phát hiện các nhân tố có thể gây ô nhiễm, xác định nguồn gây ô nhiễm để từ đó có thể có những giải pháp ngăn ngừa, sử lý

- Các sự cố môi trường và thiên tai sẽ được cảnh báo và hạn chế, đặc biệt là các vấn đề chuyển lấp cửa, tình trạng ngọt hóa kéo dài

- Việc giữ gìn môi trường sạch, bảo vệ cảnh quan tự nhiên còn tạo cơ hội phát triển du lịch sinh thái, các hoạt động nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí Các chức năng và vai trò môi trường của đầm phá như duy trì gương nước ngầm, điều hòa

lũ, ngập, hạn chế xâm nhập mặn, chôn vùi và tự làm sạch chất thải sẽ được phát huy

- Nhờ thực hiện phương án, sẽ ngăn chặn và chấm dứt được tình trạng khai thác quá mức, khai thác hủy diệt làm tổn hại đến habitat, nguồn gen, nguồn giống và nguồn lợi thủy sản

- Nhờ vậy, các giá trị về đa dạng sinh học sẽ được duy trì và phục hồi Một

số loài quý hiếm và đặc hữu thoát khỏi nguy cơ bị biến mất và sẽ được phục hồi, phát triển Việc phục hồi, phát triển các habitat quan trọng như đầm lầy cỏ nước, thảm cỏ nước, tạo dựng lại cân bằng sinh thái, duy trì nguồn lợi thủy sinh và đàm chim nước, đặc biệt là chim di trú từ phương bắc Không chỉ nguồn lợi thủy sản

đầm phá được duy trì bền vững, mà nguồn lợi cá ven bờ cũng được tác động tốt nhờ những mối quan hệ sinh thái học giữa đầm phá và vùng biển ven bờ Các giá trị đa dạng sinh học được phát huy, không chỉ với những giá trị sử dụng trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế cụ thể, mà còn phát huy các giá trị gián tiếp, các giá trị lưu tồn cho muôn thế hệ mai sau

Trang 20

- Việc phục hồi habitat và đàn chim nước mang lại triển vọng to lớn cho du lịch sinh thái và du lịch khoa học, tạo nên một khả năng mới sử dụng, khai thác tài nguyên không tiêu hao, nếu được quản lý tốt

3.1.2 Hiệu quả kinh tế

- Đó là hiệu quả mang lại cho nghề cá xa bờ có sự hỗ trợ của dự án đối với ngư dân vùng lõi chuyển sang khai thác ngoài khơi mà trước đây họ không có cơ hội thực hiện Hiệu quả của nghề cá trong lộng, ven bờ cũng sẽ tăng cao nhờ sự duy trì các bãi giống, bãi đẻ trong đầm phá

- Đó là hiệu quả của phát triển kinh tế nông lâm ven rìa đầm phá nhờ thay

đổi cơ cấu nghành nghề chuyển từ khai thác các vùng bãi lầy cửa sông trồng lúa năng xuất rất thấp sang các hoạt động trồng rừng, cây công nghiệp, rau mầu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở các khu vực ven rìa đầm phá

- Những hiệu quả và lợi ích này sẽ được cộng đồng dân cư, khu vực đầm phá hưởng dụng trực tiếp và họ sẽ đóng góp cho công quỹ theo chế độ thuế hiện hành

• Hiệu quả trực tiếp

Hiệu quả trực tiếp ở đây chỉ tính đến nguồn kinh phí thu được nộp vào ngân sách nhà nước, không tính đến những giá trị to lớn mà cộng đồng được hưởng thụ Tính toán cũng ở mức tối thiểu trên một số hạng mục cơ bản

- Nguồn lợi thu từ nghề cá đánh bắt Do bảo vệ được môi trường sinh thái,

nguồn giống và nguồn lợi thủy sản, sản lượng thủy sản đầm phá đánh bắt so với mức hiện nay (khoảng 2 000 tấn/năm) sẽ tăng thêm đáng kể Thu nhập cồng

đồng và nguồn nhập ngân sách từ thuế cũng sẽ tăng thêm

- Nguồn lợi thu từ nghề nuôi trồng thủy sản Với diện tích nuôi như hiện,

trong điều kiện môi trường và nguồn giống được đảm bảo, kỹ thuật nuôi ngày càng cải tiến và năng xuất nâng cao theo các mô hình thí điểm nhân rộng, dự tính sản lượng nuôi sẽ tăng không ngừng

- Nguồn lợi thu từ dịch vụ du lịch sinh thái và khoa học Lượng khách du

lịch sinh thái sẽ tăng với các lợi thế hấp dẫn về cảnh quan đẹp, môi trường sạch, các bảo tàng mẫu vật, khu nuôi aquarium và sân chim Nguồn thu nộp ngân sách

Đó là chưa kể nguồn thu từ các hình thức dịch vụ du lịch khác, nghỉ ngơi an dưỡng, vui chơi giải trí thuộc nghành du lịch quản lý và các hình thức dịch vụ khác như ăn uống, hàng lưu niệm, phương tiện đi lại

3.1.3 Hiệu quả xã hội nhân văn

- Thông qua thực hiện quản lý và bảo vệ môi trường đầm phá, sẽ tạo thêm một số phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư ven đầm phá, mở rộng giao lưu, nâng cao dân trí và đời sống tinh thần cho họ

Trang 21

- Nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng đối với bảo vệ môi trường tự nhiên và sinh thái để đảm bảo duy trì một cuộc sống có môi trường tốt lành Trao dồi và nâng cao tình cảm và lòng yêu quê hương đất nước

- Tạo thêm khả năng công ăn việc làm thông qua thu hút các dự án đầu tư phát triển trong và ngoài nước, nâng cao mức sống cả về vật chất lấn tinh thần Góp phần xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, nhất là đối với cộng đồng dân thủy diện

- Duy trì lợi ích sử dụng đầm phá lâu dài cho cộng đồng, duy hòa các mâu thuẫn lợi ích sử dụng đầm phá

- Góp phần định hình một cơ cấu mới cho nghề cá theo hướng tăng cường khai thác xa bờ và nuôi trồng công nghệ cao

- Các giá trị khoa học của đầm phá sẽ được duy trì và phát triển Đầm phá

sẽ trở thành một địa bàn nổi tiếng cho nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực sinh học, sinh thái học, sinh học thực nghiệm và ứng dụng, thủy văn và trầm tích ven

tế và với cả khoa học và bảo tồn tự nhiên khu vực miền Trung

- Có những đối tượng bảo vệ rất đại diện, đặc thù và quí giá cho Việt Nam

Đó là nơi tập trung nguồn gen, nguồn lợi thủy sản phong phú và có các loài đặc hữu (cá dày), có thảm cỏ biển tiêu biểu tập trung với số loài cao nhất (6 loài)

được biết ở Việt Nam

Có tầm quan trọng đặc biệt đối với duy trì đa dạng nguồn gen, đa dạng hệ sinh thái do chuyển tiếp giữa lục địa và biển, giữa miền Bắc Việt Nam có mùa

đông lạnh và miền Nam có nóng ấm quanh năm Đa dạng sinh học cao với các nguồn gen quí hiếm, đặc hữu, nguồn gốc khu hệ ngọt, lợ, mặn với các loại yếu tố

địa lý sinh vật phía Bắc và Nam Việt Nam

Khu hệ cá rất phong phú và đa dạng với 230 loài cá, trong đó có 23 loài kinh tế Ngoài cá, còn nhiều loại nguồn lợi giáp xác, thân mềm, rong cỏ Đây còn là nơi ươm giống, sinh đẻ và đường di cư theo mùa của nhiều loài thủy hải sản, vì vậy có tầm quan trọng to lớn với nghề cá ven bờ

Trang 22

di cư và 30 loài được ghi vào sách bảo vệ nghiêm ngặt của Cộng đồng Châu Âu Việc bảo vệ môi trường đầm phá TG - CH góp phần thực thi các công ước Quốc

tế mà Việt Nam đã tham gia về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các vùng đất ngập nước v.v

II Quan điểm, định hướng và nội dung phương án

1 Quan điểm

1.1 Đảm bảo phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo lâu bền các nguồn tài nguyên

và chất lượng môi trường, do đó cho phép tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai (Clark J.R., 1996)

1.2 Thống nhất trong khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng đầm phá

khuôn khổ của quản lý tổng hợp hệ đầm phá Quản lý tổng hợp vùng bờ biển bao gồm đánh giá toàn diện, xây dựng mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống ven

bờ biển và tài nguyên, có xét đến các yếu tố truyền thống, văn hoá và lịch sử, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng, là một quá trình phát triển liên tục nhằm đạt được

sự phát triển bền vững (UNCED - Agenda 21, 1992)

đa mục tiêu và đa lợi ích

lý; lập kế hoạch và lựa chọn ưu tiên; thực thi các dự án; giám sát và đánh giá Quản lý tổng hợp đầm phá cần phải đáp ứng:

- Khai thác sử dụng hợp lý hệ đầm phá phải dựa trên cơ sở khoa học khách quan, phù hợp với bản chất tự nhiên, tiềm năng tài nguyên của hệ

- Phải mang lại hiệu quả cao, phát triển bền vững tài nguyên, môi trường,

đồng thời đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội khu vực

- Hài hoà và giảm thiểu các đối kháng lợi ích sử dụng hệ đang tồn tại hoặc sẽ xuất hiện như thuỷ sản với thuỷ lợi - nông nghiệp, thuỷ sản với cảng - giao thông, giao thông với du lịch, đánh bắt với nuôi trồng, lợi ích cá nhân với cộng đồng, lợi ích phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên và môi trường

- Thích ứng, hạn chế hoặc tránh được ở mức tối đa những tai biến và điều kiện khắc nghiệt địa phương như ngập lụt, nhiễm mặn, trao đổi nước yếu , bồi lấp và di chuyển cửa, cũng như các sự cố môi trường có thể

1.3 Phù hợp với bản chất tự nhiên và động thái môi trường hệ đầm phá

Hệ đầm phá TG - CH điển hình cho một loại thuỷ vực ven bờ nước ta, ngang cấp với các châu thổ, cửa sông hình phễu và vịnh biển và thuộc loại lớn

Trang 23

của thế giới Hệ mang tính địa đới rõ rệt (nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều) và tồn tại trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, thành tạo trong điều kiện ven bờ có năng lượng sóng lớn và giàu nguồn bồi tích cát Hệ có những quá trình động lực

đặc thù như hoạt động phân tầng nước (thuận và ngược), quá trình lấp cửa, chuyển cửa và xu thế nông hoá vực nước Động thái chuyển và lấp các cửa ý nghĩa đặc biệt đối với môi trường, sinh thái và khả năng khai thác hệ Hệ nằm nằm ở phía bắc đèo Hải Vân thuộc miền ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ, nơi có lượng mưa thuộc loại lớn nhất ven bờ nước ta Sự trùng hợp giữa mùa khô vào mùa hè nóng và mùa mưa vào mùa đông lạnh cùng với những khắc nghiệt về thời tiết

ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường tự nhiên và sinh thái hệ

1.4 phối hợp chặt chẽ quản lý môi trường đầm phá với quản lý lưu vực

Nhiều tác động đến môi trường đầm phá TG - CH có nguồn gốc từ lưu vực

do các hoạt động công nghiệp, nông lâm nghiệp, sinh hoạt, các hệ thống đập chứa nước, tình trạng cháy rừng, v.v

2 Định hướng chung

2.1 Định hướng phát triển bền vững

Để đảm bảo hướng tới phát triển bền vững đầm phá TG - CH, cần phải:

“Khai thác tổng hợp hệ theo định hướng đánh bắt - nuôi trồng thuỷ sản; nông nghiệp - thuỷ lợi, du lịch, dịch vụ và giao thông - cảng, phát triển bền vững kinh

tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, trên cơ sở phòng tránh thiên tai, ngăn ngừa khai thác quá mức và huỷ hoại habitat, giảm thiểu ô nhiễm và đối kháng lợi ích trong sử dụng hệ”

2.2 Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - x∙ hội khu vực

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội khu vực chú trọng đến các định hướng: phát triển nghề cá xa bờ, phát triển nuôi trồng bán thâm canh, thâm canh trong

đầm phá; giải quyết vấn đề nước cho sản xuất và sinh hoạt theo các dự án xây dựng các đập chứa thượng nguồn; Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn; Định cư dân du cư thủy diện; Phát triển các

dự án thủy lợi nhằm ổn định cửa đầm phá, ngăn mặn.; Dự án phát triển cảng Thuận An và cảng nước sâu Chân Mây

3 Nội dung phương án quản lý môi trường đầm phá

Phương án quản lý môi trường đầm phá bao gồm 3 nhóm nội dung chính sau đây:

- Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai

- Ngăn ngừa và phòng tránh ô nhiễm

- Bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật

Chi tiết nội dung quản lý được trình bày trong bảng 1

Để thực hiện phương án quản lý, cần thực hiện một số nhiệm vụ ưu tiên:

Trang 24

- ổn định cửa đầm phá được coi là một giải pháp cực kỳ quan trọng, không thể thiếu khi đặt vấn đề khai thác tiềm năng đầm phá nhằm tạo nên sự ổn định, vững bền của môi trường sinh thái, tài nguyên, đồng thời giải quyết được các vấn

đề ngập lụt, ách tắc giao thông, giải toả ô nhiễm, nông hoá vực nước và tạo điều kiện phát triển nghề cá đầm phá và nghề cá biển

Bảng1 Các vấn đề quản lý môi trường ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Nguồn Nhúm

Phỏ rừng làm tăng xúi mũn lưu vực;

thu hẹp vực nước,

đờ đầm, đăng sỏo làm cản trở hoàn lưu nước

Ổn định và khai thụng cửa, hạn chế thu hẹp vực nước và cản trở dũng chảy, hạn chế cỏt bay, cỏt chảy và chống xúi mũn trờn lưu vực, chúng xúi lở bờ biển và

bờ sụng

2 Cỏt bay,

cỏt chảy

Cồn cỏt phớa biển, mưa lớn tập trung cao, mựa khụ trựng mựa hố núng, giú hướng thống trị từ khơi vào bờ

trồng cõy, xõy dựng đờ ngăn, đập nước quy mụ nhỏ, hạn chế đào xới nền cỏt

lở bờ ngoài đàm phỏ, thay đổi lưu lượng và chế độ dũng chảy qua cửa, giảm thể tớch chứa vực nước

Xõy đập, phỏ rừng

và sử dụng nước trờn lưu vực, chỉnh trị cửa khụng hợp

Giải phỏp tổng thẻ ổn định chế độ động lực đầm phỏ, điều tiết và ổn định dũng chẩy qua cửa, chống xúi lở bờ biển phớa ngoài Sử dụng cỏc giải phỏp cụng trỡnh và phi cụng trỡnh kết hợp

và phự hợp với nguyờn nhõn, cơ chế chuyển lấp cửa

bị bồi cạn hoặc lấp hẳn, thể tớch chứa

bị giảm nhiều do can hoỏ và hẹp

Xõy dựng đờ đập, ao đầm làm thu hẹp vực nước, đăng sỏo cản trở thoỏt nước, phỏ rừng đầu nguồn

đập ngăn mặn hạn chế thoỏt lũ

ổn định cửa Thuận An,

mở cửa Tư Hiền, hạn chế phỏt triển tràn lan ao đầm và đăng sỏo, hạn chế cỏt bay, cỏt chảy, khụi phục rừng đầu nguồn

Ngày đăng: 07/05/2014, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KH & CN – UBND Thừa Thiên Huế, 2005. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế. 419 trang. Huế 12/2005 Khác
2. Nguyễn Hữu Cử, 1996. Đặc điểm ddiaj chất hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) trong Holocen và phrc hệ trdng lỗ chra trong chúng. Luận án phó tiến sỹ. Hà Nội Khác
3. Nguyễn Quang Vinh Bình, 1996. Quản lý nguồn lợi thủy sản đầm phá Tam Giang. Nxb. Thuận Hoá - Huế Khác
4. Nguyễn Chu Hồi và nnk, 1995. Nguyễn Chu Hồi, Đỗ Nam, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Miên và nnk, 1996. Nghiên cứu khai thác, sử dụng hợp lý tiềm năng pháTam Giang. Báo cáo khoa học đề tài KT. ĐL. 95. 09. Lưu trữ tại Viện TN &MT BiÓn Khác
5. Nguyễn Chu Hồi, Trần Đức Thạnh và Nguyễn Đức Cự, 1991. Điều kiện tự nhiên và sinh thái hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và Lăng Cô. Thông tin khoa học và công nghệ. Ban Khoa Học và Kỹ Thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế. TI Khác
6. Hà Học Kanh, 1993. Những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc khai thác nguồn n−ớc hệ thống sông H−ơng. Thông tin khoa học và công nghệ. Ban Khoa Học và kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế. TIII Khác
7. Do Nam, Nguyen Mien, Tran Duc Thanh et all, 1998. Impact of wetland preservation at Tam Giang Cau Hai lagon system.Proc.Woskshop on management and protection of coastal wetlands in Vietnam.Hue, July,1998.P.68-80 Khác
8. Đỗ Nam, 2005. Những bài học rút ra từ thành tựu mười năm hướng đến tươpng lai bền vững. Kỷ yếu hội thảo Quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế. Huế 12/2005 Khác
9. Lên Thế Nhân, Chủ tr−ơng chính sách của tỉnh Thừa Thiên Huế về quản lý khai thác và nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá Tam Giang. Kỷ yếu hội thảo Quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế. Huế 12/2005 Khác
10. Tôn Thất Pháp, 1993. Cấu trúc thành phần loài và một số dẫn liệu sinh thái khu hệ thực vật thuỷ sinh ở phá Tam Giang tỉnh Thừa thiên - Huế. Thông tin khoa học và công nghệ. Ban Khoa Học và kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế.TIII Khác
12. Tôn Thất Pháp, 1993. Nghiên cứu thủy sinh vật ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tóm tắt luận án phó tiến sỹ. Hà Nội Khác
13. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Nhật Thi và nnk, 1996. Hệ sinh thái đầm phá Tam Giang Cầu Hai. Đề tài nhánh thuộc đề tài cấp nhà nước: Sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tiêu biểu vùng biển ven bờ Việt Nam. Báo cáo đề tài KT - 03 - 11. Lưu trữ tai Viện TN &MT Biển Khác
14. Trần Đức Thạnh và nnk, 1998. Đánh giá tiềm năng và đề xuất khu bảo vệ đất ngập nước hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Lưu trữ tại Viện TN &MT Biển Khác
15. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Đinh Văn Huy, Đỗ Đình Chiến, 2001. Tiến hoá và Động lực đầm phá. Đề tài nhánh thuộc dự án cấp nhà n−ớc. Nghiên cứu ph−ơng án phục hồi, thích nghi cho vùng cửa sông ven biển Thuận An - T− Hiền và đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Lưu trữ tại Viện TN &MT Biển Khác
16. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Nam và Nguyễn Miên và nnk, 2005. Những đặc tr−ng cơ bản của hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Kỷ yếu Họi thảo Quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế. Huế 12/2005 Khác
17. Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn L−ơng Hiền, Phạm Đình Trọng, Trần Đức Thạnh và nnk, 2001. Điều tra khảo sát các bãi giống, bãi đẻ của các loài thuỷ sản kinh tế hệ đầm phá Thừa Thiên - Huế và đề xuất các giải pháp bảo vệ. Đề tài cấp tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lưu trữ tại Viện TN &MT Biển Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Danh sách đề nghị các vùng cấm khai thác  có thời hạn - Ngiên cứu đề xuất phương án quản lý môi trường đàm phá tam giang  cầu hai
Bảng 3. Danh sách đề nghị các vùng cấm khai thác có thời hạn (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w