Theo đó, 3 cán bộ khoa học của Việt Nam Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã được đào tạo tại Italia về phân tích kim loại nặng và POP trong nước và trầm tích bằng kỹ thuật tiên tiến nh
Trang 1Dự án 14 EE5 (2004-2006) Hợp tác Việt Nam - Italia theo Nghị định thư
nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
Trang 2Dự án 14 EE5 (2004-2006) Hợp tác Việt Nam - Italia theo Nghị định thư
nghiên cứu động thái môi trường
đầm phá ven bờ miền trung việt nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý
Trang 3Danh s¸ch thµnh viªn tham gia
Thµnh viªn viÖt nam
I ViÖn Tµi nguyªn vµ M«i tr−êng biÓn (ViÖn Khoa häc vµ C«ng nghÖ ViÖt Nam), 246 phè §µ N½ng, quËn Ng« QuyÒn, TP H¶i Phßng
1 KS NguyÔn ThÞ Kim Anh 17 KS Lª Xu©n Sinh
2 CN NguyÔn ThÞ Mai Anh 18 TS TrÇn §øc Th¹nh
3 CN NguyÔn Ngäc Anh 19 ThS NguyÔn M¹nh Th¾ng
II ViÖn H¶i d−¬ng häc ((ViÖn Khoa häc vµ C«ng nghÖ ViÖt Nam),
Sè 1 phè CÇu §¸, thµnh phè Nha Trang, tØnh Kh¸nh Hßa
32 CN NguyÔn Xu©n Hßa 33 CN Ph¹m V¨n Th¬m
III Së Khoa häc vµ C«ng nghÖ tØnh Thõa Thiªn HuÕ, sè 26
®−êng Hµ Néi, thµnh phè HuÕ, tØnh Thõa Thiªn HuÕ
34 CN NguyÔn Miªn 35 TS §ç Nam
Trang 4Thành viên Italia
I Viện Khoa học biển Bologna, Hội đồng Quốc gia nghiên cứu khoa học Italia - Istituto di Scienze Marine Sede di Bologna, Consiglio Nazionale delle Ricerche (ISMAR, Bologna, CNR), Via Gobetti 101, 40129 Bologna, Italia
1 Dr Mauro Frignani 4 Dr Stefania Romano
2 Dr Luca Giorgio Bellucci 5 Dr Sonia Albertazzi
7 Dr Roberta Zangrando 9 Dr Warren Cairns
8 Dr Clara Turetta
IV Khoa Khoa học môi trường, Đại học tổng hợp Cà Foscari, Venézia - Dipartimento di Scienze Ambientali, Università Cà Foscari di Venézia, Dorsoduro 2137 - 30123 Venézia, Italia
10 Prof Gabriele Capodaglio 11 Dr Rossano Piazza
V Viện Môi trường biển ven bờ Napoli, Hội đồng Quốc gia nghiên cứu khoa học Italia - Istituto per Ambiente Marino Costiero Sede di Napoli (IACM, Napoli, CNR), Calata Porta di Massa, 80133 Napoli, Italia
12 Dr Mario Sprovieri
Trang 5và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế; Italia - Viện Khoa học biển Venézia (Hội đồng Quốc gia nghiên cứu khoa học - CNR, Italia), Viện Động lực các quá trình môi trường Venézia (CNR), Khoa Khoa học môi trường (Đại học tổng hợp Cà Foscari, Venézia) và Viện Môi trường biển ven bờ Napoli (CNR)
Sau 3 năm nghiên cứu tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam, lấy hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) làm trọng điểm và điển hình hoá, dự án đã đạt được mục tiêu đề ra với những kết quả sau:
(1) Kết quả trao đổi khoa học và đào tạo
Cán bộ khoa học hai phía tích cực trao đổi thành tựu và kinh nghiệm nghiên cứu
đầm phá (coastal lagoon) của mỗi nước và thế giới, đặc biệt là kinh nghiệm của Italia như đã thành công trong nước và đã từng hợp tác và giúp đỡ nhiều nước trên thế giới Theo đó, 3 cán bộ khoa học của Việt Nam (Viện Tài nguyên và Môi trường biển) đã
được đào tạo tại Italia về phân tích kim loại nặng và POP trong nước và trầm tích bằng
kỹ thuật tiên tiến nhất, về sử dụng mô hình số trị SHYFEM để mô phỏng các trường thuỷ động lực và phân tán chất gây bẩn chuyên dùng cho các thuỷ vực ven bờ Mô hình này đã được chuyển giao và ứng dụng có hiệu quả tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển cho các nhiệm vụ khác nhau
(2) Kết quả công bố khoa học
Ngoài kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam - Italia về môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam, có 4 công trình công bố trong nước, 7 công trình công bố quốc
tế, và 1 phụ trương của Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển
(3) Kết quả nghiên cứu
Thể hiện trong báo cáo tổng kết, kỷ yếu hội thảo và 15 báo cáo chuyên đề kèm theo, hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam đã được nghiên cứu tổng quan,
Trang 6kiểm kê và phân loại, xác định tính phổ biến và tính đa dạng, tính chuyển tiếp về kiểu loại với các thuỷ vực ven bờ khác, tiềm năng tài nguyên, đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực có liên quan, đặc trưng môi trường và các điều kiện tự nhiên, xác định các vấn đề môi trường và định hướng quản lý môi trường hệ thống đầm phá với các hành động quản lý có lựa chọn ưu tiên Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là trọng điểm nghiên cứu, các nội dung được chi tiết hóa và đối sánh lịch sử, đánh giá động thái môi trường, diễn biến và dự báo xu thế biến đổi, đề xuất phương án quản lý hợp với khuôn khổ hành động quản lý tổng hợp vùng bờ biển Thừa Thiên Huế
(4) Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu
Một khối lượng lớn tài liệu khảo sát tổng quan, khảo sát chi tiết theo mùa cùng mẫu vật thu thập được phân tích tại Việt Nam và Italia, trong đó nhiều số liệu (Polychlorinated biphenyls, dioxin, furan, v.v) chưa từng có trong lịch sử Tất cả tài liệu nghiên cứu, kiểm kê, đánh giá và số liệu phân tích trên được tổ chức thành cơ sở dữ liệu điện tử, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, kể cả các dự án nghiên cứu khoa học, quản lý môi trường, bảo tồn tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội
(5) Kết quả ứng dụng
Kết quả khoa học của Dự án 14EE5 đã được ứng dụng kịp thời vào công tác quản
lý, quy hoạch bảo vệ môi trường đầm phá cũng như quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan tới đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế - Nghiên cứu sử dụng hợp lý tiềm năng đầm Lập An (Lăng Cô) thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2006 của tỉnh Thừa Thiên Huế; đóng góp cơ sở dữ liệu và kết quả nghiên cứu vào dự án của FAO
về Quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá (IMOLA) Tam Giang - Cầu Hai
(6) Mở rộng hợp tác
Trên cơ sở những kết quả đạt được của dự án 14EE5, một dự án hợp tác tiếp tục
và mở rộng đã được đề xuất và được ghi vào Biên bản kỳ họp thứ 3 tại Hà Nội vào thời gian 21 - 22/11/2005 xác định chương trình giai đoạn 2006 - 2008 Trong Phụ lục IV của Biên bản này, dự án mới đề xuất được xác định là 1 trong 9 dự án được ưu tiên (trong tổng số 21 dự án được đề cập tới), mang mã số 12EE6 với tiêu đề “Đánh giá chất lượng môi trường, lịch sử và xu thế của một số thủy vực quan trọng làm cơ sở quản lý các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và một số hồ có liên quan - Assessing environment quality, history and trends of key water bodies as a way to management: coastal lagoons in the Centre of Vietnam and some related reservoirs”
Trang 7Mục lục
Trang
Phần thứ nhất: Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ
Chương 1: Tổng quan về lagun, lagun ven bờ miền Trung Việt Nam 2
1.3.1 Phân loại theo vị trí tương đối trên thềm lục địa 6
1.4 Vị trí của hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 81.4.1 Vị trí các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam trong hệ thống
1.4.2 Vị trí lagun trong hệ thống các loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu
Trang 82.3 Phân loại đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 38
2.3.4 Phân loại theo tính chất ổn định cửa 392.3.5 Phân loại theo độ muối của nước 39
3.1 Đặc điểm phân bố đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 41
Trang 94.3.12 Đầm Nại 704.3.13 Chất lượng trầm tích các đầm phá Nam Trung Bộ 71
Phần thứ hai: động thái môi trường Hệ đầm phá
5.5.1 Vị trí của đầm phá trong phân vùng khí hậu 96
7.1 Hiện trạng phỏt triển kinh tế - xó hội tỉnh Thừa Thiờn Huế 126
Trang 107.1.5 Văn hoỏ - xó hội 131
7.2 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm
7.3 Hoạt động kinh tế - xã hội chủ yếu liên quan tới đầm phá 137
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2005
158
8.3.1 Diễn biến các hợp phần môi trường 1608.3.2 Biến đổi tính chất môi trường 161
Phần thứ ba: định hướng quản lý Môi trường đầm phá 163
Chương 9: Định hướng quản lý môi trường đầm phá ven bờ
9.3.2 Quản lý các hoạt động liên quan tới đầm phá 1709.3.3 Phân vùng bảo vệ môi trường đầm phá 173
Trang 11Ch−¬ng 10: §Ò xuÊt ph−¬ng ¸n qu¶n lý m«i tr−êng
10.3 §Ò xuÊt ph−¬ng ¸n qu¶n lý m«i tr−êng ®Çm ph¸ 177
Trang 12Danh mục bảng
Trang
1 Bảng 1 Mẫu thu tại các trạm trong các đợt khảo sát đầm phá ven bờ
miền Trung Việt Nam trong thời gian 2002 - 2005 xxiv
2 Bảng 1.1 Đặc điểm đặc trưng của các lagun 4
3 Bảng 1.2 Đặc điểm các kiểu lagun theo động lực 7
4 Bảng 1.3 Vị trí các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam trong hệ
thống phân đới các lagun ven bờ đại dương thế giới 9
5 Bảng 1.4 Vị trí phân loại của lagun ven bờ miền Trung Việt Nam 10
6 Bảng 1.5 Vị trí các lagun ven bờ trong hệ thống các loại hình thuỷ vực
7 Bảng 2.1 Diện tích và kích thước các đầm phá ven bờ miền Trung Việt
8 Bảng 2.2 Trạng thái cửa đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 40
9 Bảng 3.1 Phân bố đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam theo vùng khí
10 Bảng 3.2 Tần suất gió P (%) và tốc độ trung bình V (m/s) theo hướng tại
Huế theo số liệu quan trắc trong thời gian 1959 - 2000 44
11 Bảng 3.3 So sánh lượng mưa và lượng bay hơi trung bình năm (mm) tại
một số trạm ven biển Trung và Nam Trung Bộ 46
12 Bảng 3.4 So sánh sự khác nhau về gió thịnh hành giữa các trạm trong khu
13 Bảng 3.5 Độ cao sóng cực đại (m) trong điều kiện thường và bất thường
ở vùng biển ven bờ miền Trung Việt Nam 51
14 Bảng 3.6 Khoảng cách (km) nhiễm mặn ở một số sông của Việt Nam 53
15 Bảng 3.7 Khoảng cách (km) xâm nhập mặn theo sông ở vùng bờ biển Đà
16 Bảng 3.8 Dân số và diện tích đất tự nhiên các tỉnh, huyện
có liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam 54
17 Bảng 3.9 Hiện trạng và quy hoạch phát triển cảng liên quan tới đầm phá
18 Bảng 4.1 Sự thay đổi độ muối (‰) của nước tầng mặt hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004 62
19 Bảng 4.2 Sự thay đổi hàm lượng (àg/l) các chất dinh dưỡng Nitrit (NO
-2), photphat (PO43-) và Silic (SiO32-) trong nước tầng mặt của hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2004 63
20 Bảng 4.3 So sánh nồng độ (mg/l) oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy
sinh hóa (BOD5) và oxy hóa học (COD) trong nước tầng mặt của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai năm 1998 và 2004 63
21 Bảng 4.4 Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô)
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (12/2002) 64
Trang 1322 Bảng 4.5 So sánh nồng độ COD (mg/l) và dinh dưỡng khoáng (àg/l) trong
nước ở các khu vực khác nhau của đầm Thị Nại về mùa mưa 68
23 Bảng 4.6 Sự thay đổi theo mùa của các yếu tố
24 Bảng 4.7 Các yếu tố đánh giá chất lượng nước của đầm Thủy Triều - vịnh
Cam Ranh theo kết quả khảo sát của Phạm Văn Thơm năm
25 Bảng 4.8 Các yếu tố đánh giá chất lượng nước đầm Nại theo kết quả
26 Bảng 4.9 Kết quả phân tích các yếu tố đánh giá chất lượng trầm tích
của một số đầm phá Nam Trung Bộ vào tháng 6/2005 71
27 Bảng 5.1 Ước lượng bồi tích từ các nguồn đổ vào hệ đầm phá Tam Giang
32 Bảng 5.6 Khoáng vật nặng trong trầm tích đáy vùng đầm phá 80
33 Bảng 5.7 Giá trị trung bình các yếu tố môi trường trầm tích trong đầm phá 81
34 Bảng 5.8 Hàm lượng cacbon hữu cơ (%) trong trầm tích mặt đáy
đầm phá (trong thời gian 1999 - 2000) 82
35 Bảng 5.9 Hàm lượng cacbon hữu cơ (Ch/c, %) trong trầm tích đáy
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tại các trạm (hình 2) thu mẫu trong thời gian 6/2004 và 9/2005 83
36 Bảng 5.10 Hàm lượng photpho tan P - PO4 (mg/kg) trong trầm tích đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai theo số liệu điều tra vào năm 1999 -
42 Bảng 5.16 Biến động lấp, mở cửa Thuận An 94
43 Bảng 5.17 Đặc trưng bức xạ (Kcal/cm2) khu vực Huế theo số liệu quan
trắc trong thời gian 1956 - 2000 tại trạm Huế 96
44 Bảng 5.18 Đặc trưng nhiệt độ (oC) khu vực Huế theo số liệu quan trắc
trong thời gian 1956 - 2000 tại trạm Huế 96
45 Bảng 5.19 Tiêu chuẩn nhiệt đới về nhiệt độ và đặc trưng nhiệt độ khu vực
Huế theo số liệu quan trắc trong thời gian 1956 - 2000 tại trạm Huế 96
Trang 1446 Bảng 5.20 Lượng mưa trung bình (mm) tại một số trạm khu vực Huế
theo số liệu quan trắc trong thời gian 1956 - 2000 97
47 Bảng 5.21 Độ ẩm tương đối của không khí (%) tại trạm Huế theo số liệu
quan trắc trong thời gian 1956 - 2000 97
48 Bảng 5.22 Tốc độ gió lớn nhất (m/s) theo hướng tại trạm Huế
theo số liệu quan trắc trong thời gian 1956 - 2000 98
49 Bảng 5.23 Tần suất lặng (Pl %), tần suất (P%) và tốc độ gió trung bình
(Vm/s) theo hướng tại trạm Huế theo số liệu quan trắc trong
50 Bảng 5.24 Đặc trưng hình học các hệ thống sông đổ vào
51 Bảng 5.25 Tổng thuỷ lượng (tỷm3/năm) và tải lượng bùn cát (tấn/năm)
các sông đổ vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 100
52 Bảng 5.26 Lưu lượng bình quân tháng (m3/s) các sông
đổ vào hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 100
53 Bảng 5.27 Một số đặc trưng sóng cửa vịnh Bắc Bộ và ven bờ Thừa Thiên
54 Bảng 5.28 Nhiệt độ (oC) và độ muối (%o) nước biển ven bờ Thừa Thiên
55 Bảng 5.29 Lượng xuất chuyển bồi tích (m3/năm) do sóng dọc bờ Thừa
Thiên Huế (theo mô hình CERC và số liệu trung bình tại trạm
56 Bảng 5.30 Các đặc trưng mực nước (H, cm) và biên độ (cm)
tại một số trạm trong đầm phá ( tháng 5 - 2000) 104
57 Bảng 5.31 Tốc độ dòng chảy (V, cm/s) trung bình và cực đại tầng mặt 105
58 Bảng 5.32 Lượng nước (103m3) trao đổi qua một ngày đêm ở hệ đầm phá
Tam Giang trước khi lấp cửa Tư Hiền (Vinh Hiền) 107
59 Bảng 5.33 Lượng nước (103m3) trao đổi qua một ngày đêm ở hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai về mùa mưa (tháng 11/1995), sau khi lấp cửa Tư Hiền và đào cửa mới ở Lộc Bình 108
60 Bảng 6.1 Sản lượng thuỷ sản (tấn) khai thác trong đầm phá Tam Giang -
61 Bảng 6.2 Sản lượng tôm, cua trước và sau mở cửa Tư Hiền tháng 11/1999 124
62 Bảng 7.1 Dân số tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian 1994 - 2005 125
63 Bảng 7.2 Dân số và diện tích các đơn vị hành chính của tỉnh Thừa Thiên
64 Bảng 7.3 Phân bố cư dõn thủy diện vựng đầm phỏ năm 2001 127
65 Bảng 7.4 GDP bình quân (USD/người/năm) của tỉnh Thừa Thiên Huế
và cả nước trong thời gian 1999 - 2005 132
66 Bảng 7.5 Diện tích (ha) đất tự nhiên, mặt nước đầm phá và nuôi trồng
thuỷ sản của các xã, thị trấn có liên quan tới hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Trang 1569 Bảng 7.8 Sự thay đổi số lượng ngư cụ đánh bắt tự nhiên ở hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1996 - 2005 139
70 Bảng 8.1 Nồng độ kim loại nặng trong trầm tích (mg/kg trầm tích khô)
mặt đáy hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (6/2004 và 9/2005) 142
71 Bảng 8.2 Nồng độ PCB (àg/kg) trong trầm tích ở một số vùng
72 Bảng 8.3 Dư lượng thuốc trừ sâu gốc Chlo trong trầm tích tầng mặt
(àg/kg) hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (6/2004 và 9/2005) 145
73 Bảng 8.4 Nhiệt độ (oC) nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
76 Bảng 8.7 Nồng độ amoniac (àgN/l) trong nước đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005 147
77 Bảng 8.8 Nồng độ nitrit (àgN/l) trong nước đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005
148
78 Bảng 8.9 Nồng độ nitrat (àgN/l) trong nước đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005 148
79 Bảng 8.10 Nồng độ phosphat (àgP/l) trong nước đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005 149
80 Bảng 8.11 Nồng độ Silicat (àgSi/l) trong nước đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005 149
81 Bảng 8.12 Nồng độ oxy hoà tan (mg/l) trong nước tầng mặt đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm
2005
150
82 Bảng 8.13 Nhu cầu oxy sinh hoá(mg/l) trong nước tầng mặt đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm
83 Bảng 8.14 Nhu cầu oxy hoá học (mg/l) trong nước tầng mặt đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm
2005
151
84 Bảng 8.15 Hệ số rủi ro của chất hữu cơ tiêu hao oxy (RQhc)
85 Bảng 8.16 Nồng độ dầu (mg/l) trong nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Trang 1689 Bảng 8.20 Nồng độ kẽm (àg/l) trong nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
92 Bảng 8.23 Nồng độ thủy ngân (àg/l) trong nước đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và tháng 9 năm 2005 154
93 Bảng 8.24 Dư lượng HCBVTV gốc clo (ng/l) trong nước đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai vào tháng 6 năm 2004 và 9 năm 2005 155
94 Bảng 8.25 Hệ số rủi ro (RQ) của các yếu tố đánh giá chất lượng môi
trường nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai vào tháng 6 năm
95 Bảng 8.26 Độ muối trung bình (%o) tại các khu vực
của đầm phá trong thời gian 1993 - 2005 157
96 Bảng 8.27 Hệ số rủi ro của oxy hòa tan và oxy tiêu thụ trong nước
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trong thời gian 1993 - 2005 157
97 Bảng 8.28 Nồng độ nitrit (àg/l) của nước đầm phá trong thời gian
100 Bảng 8.31 Dự báo biến đổi một số yếu tố đánh giá chất lượng môi trường
hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tới năm 2010 và 2020 161
101 Bảng 9.1 Lựa chọn ưu tiên hành động quản lý ứng xử tai biến tự nhiên 170
102 Bảng 9.2 Lựa chọn ưu tiên hành động quản lý
103 Bảng 10.1 Đề xuất phương án quản lý môi trường qua nghiên cứu động
Trang 17Danh mục hình
Trang
1 Hình 1 Sơ đồ phân bố các lagun ven bờ miền Trung Việt Nam xx
2 Hình 2 Bản đồ trạm khảo sát khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai xxiii
3 Hình 1.1 Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ và biển 11
4 Hình 2.1 Sơ đồ phân bố đầm phá ven bờ tiêu biểu ở miền Trung Việt
16 Hình 2.2 Phân cấp đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam theo quy mô 39
17 Hình 5.1 Sơ đồ địa động lực nội sinh hiện đại khu vực đầm phá Tam
18 Hình 5.2 Sơ đồ phân bố trầm tích mặt đáy hệ đầm phá Tam Giang - Cầu
21 Hình 5.5 Sơ đồ cấu trúc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 89
22 Hình 10.1 Sơ đồ phân vùng bảo vệ môi trường hệ đầm phá Tam Giang -
Trang 18Danh môc ch÷ viÕt t¾t
1 BOD: Biochemical oxygen demand
2 CF - CS: Constant flux - constant sedimentation
3 CNR: Consiglio Nazionale delle Ricerche
4 COD: Chemical oxygen demand
5 DO: Dissolved oxygen
6 DWT: Death weight tonnage
7 §NN: §Êt ngËp n−íc
8 ERL: Effect range low
9 ERM: Effect range median
10 GHCP: Giíi h¹n cho phÐp
11 HCBVTV: Hãa chÊt b¶o vÖ thùc vËt
12 H§P: HÖ ®Çm ph¸
13 HST: HÖ sinh th¸i
14 IMOLA: Integrated management of lagoon activities
15 ISMAR: Istituto di Scienze Marine
16 KVN: Kho¸ng vËt nÆng
17 NOAA: National Oceanic and Atmospheric Administration
18 PAH: Polycyclic aromatic hydrocarbon
19 PCB: Polychlorinated biphenyl
20 PCDD: Polychlorinated dibenzo-p-dioxin
21 PCDF: Polychlorinated dibenzo furan
22 PEL: Probable effect level
23 POP: Persistent organic pollutant
24 RQ: Risk quotient
25 TEL: Threshold effect level
26 TG - CH: Tam Giang - CÇu Hai
27 UBND: ñy ban nh©n d©n
28 VN ICZM: Vietnam - Netherlands integrated coastal zone management
Trang 19Mở đầu
Lagun ven bờ (coastal lagoon), tên gọi địa phương là “đầm” hoặc “phá”, được hiểu là một loại hình thủy vực ven bờ (a coastal body of water) nước lợ, nước mặn và thậm chí siêu mặn, ngăn cách với biển nhờ một dạng tích tụ cát chắn ngoài (frontal barrier of sand) và có cửa (inlet) ăn thông với biển ăn thông với biển phía ngoài qua một hay nhiều cửa là một đặc tính cơ bản của lagun ven bờ Cửa có thể mở thường xuyên hay định kỳ về mùa mưa, đóng về mùa khô, khi đó trao đổi nước với biển nhờ thẩm thấu (percolation) hoặc chảy thấm (seepage) qua chính thể cát chắn
Tương tự các loại hình thuỷ vực ven bờ tiêu biểu khác như các vùng cửa sông (delta, estuary, liman) hay vũng, vịnh (bight, embayment, bay), lagun ven bờ phổ biến
ở nhiều nơi trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau, chiếm khoảng 13% chiều dài
đường bờ, và chúng được phân biệt thành 4 kiểu (Nichols and Allen, 1981) theo hình thái động lực - kiểu cửa sông, kiểu hở, kiểu kín từng phần và kiểu đóng kín
ở Việt Nam, có mặt 12 lagun ven bờ tiêu biểu ở miền Trung trong khoảng 11o - 16o
vĩ bắc (từ Ninh Thuận tới Thừa Thiên Huế) và chiếm khoảng 21% chiều dài đường bờ Chúng thuộc nhóm các lagun ven bờ vĩ độ thấp, nhiệt đới ẩm điển hình, đa dạng về hình dáng, kích thước, động thái cửa, đặc trưng khối nước hay kiểu loại - kiểu gần kín, kiểu kín từng phần và kiểu đóng kín (Nguyễn Hữu Cử, 1995, 1996, 1999) So với lagun ven bờ thế giới, mật độ phân bố lagun ven bờ Việt Nam thuộc loại cao - cứ 57 km chiều dài bờ biển miền Trung có 1 lagun, đa dạng về quy mô từ rất nhỏ (diện tích mặt nước dưới 10 km2) tới lớn (trên 50 km2) và thậm chí thuộc loại lớn của thế giới như hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đứng sau các lagun Mard (ven bờ vịnh Mexico), Santo Domingo (ven bờ vịnh California) hay Venézia (ven bờ biển Adriatic) Theo thứ tự về phía nam, các lagun ven bờ tiêu biểu ở miền Trung Việt Nam (hình 1) gồm có:
1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)
2 Đầm Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế)
3 Đầm Trường Giang (tỉnh Quảng Nam)
11 Đầm Thủy Triều (tỉnh Khánh Hòa)
12 Đầm Nại (tỉnh Ninh Thuận)
Trang 20Mặc dù xuất hiện ở vùng bờ biển nghèo tài nguyên thiên nhiên và khắc nghiệt về
điều kiện tự nhiên, nhưng đầm phá ven bờ miền Trung, cùng với các vùng cửa sông và vũng, vịnh, là nơi tập trung chủ yếu tiềm năng tài nguyên của vùng bờ biển, cung cấp các điều kiện sinh cư thuận lợi cho cộng đồng ven biển cũng như cơ hội phát triển kinh
tế - xã hội khu vực Tiềm năng tài nguyên đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam được khai thác từ xa xưa gắn liền với lịch sử quần cư của cộng đồng xung quanh, ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực cả hiện trạng và quy hoạch phát triển tới năm 2010 và tầm nhìn tới năm 2020 ở nhiều nơi có đầm phá lớn như Tam Giang - Cầu Hai, Trường Giang, Thị Nại, v.v., tiểu ngành kinh tế đầm phá đã hình thành Tuy nhiên, nghiên cứu về đầm phá ở Việt Nam còn mới và hiểu biết về chúng còn hạn chế Mãi tới năm 1975, đầm phá mới trở thành đối tượng nghiên cứu
độc lập và tới những năm 80 của thế kỷ trước, chúng được nghiên cứu một cách hệ thống, được coi là một thể địa chất hiện đại, một hệ sinh thái, hay một địa hệ cấu thành
bờ biển Mở đầu cho nghiên cứu này là đề tài 48 06 - 14 (1983 - 1985) với việc xác
định đúng kiểu loại địa hệ của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và Lăng Cô, làm thay
đổi cơ bản định hướng nghiên cứu tài nguyên và môi trường đầm phá trước đây Tiếp tục công việc nghiên cứu của mình, Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã đạt được kết quả bước đầu về phân chia kiểu loại (typology) toàn hệ thống đầm phá, sinh thái và
đa dạng sinh học, kiểm kê tài nguyên cơ bản, đánh giá chất lượng môi trường, nghiên cứu sử dụng hợp lý và quản lý tài nguyên và môi trường một số đầm phá Tham gia nghiên cứu một số khía canh khác về đầm phá còn có Viện Địa lý, Đại học Thuỷ lợi,
Đại học Huế, Đại học Thuỷ sản và Viện Hải dương học Sau nhiều năm nghiên cứu
đầm phá hoặc liên quan tới đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam ở mức độ chi tiết khác nhau giữa các đầm phá, có thể thấy rằng:
(1) Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường đầm phá suy giảm đáng kể, nhu cầu phục hồi chức năng môi trường và chức năng sinh thái đầm phá trở nên bức xúc
(2) Suy giảm tiềm năng tài nguyên và chất lượng môi trường đầm phá do cả quá trình tự nhiên sinh tai biến và tác động của con người Tai biến tự nhiên nặng
nề nhất là lũ và ngập lụt, bồi lấp và dịch chuyển cửa đầm phá Thông qua hành động phát triển kinh tế - xã hội của mình ngày càng gia tăng, tác động của con người điển hình là thu hẹp quỹ đất bồi ven bờ làm giảm sức chứa thuỷ vực, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật vốn thay đổi theo mùa, đồng thời phát thải đủ loại chất gây bẩn trực tiếp vào đầm phá từ các vùng xung quanh cũng như toàn lưu vực
(3) Đầm phá không những đa dạng về kiểu loại và đặc trưng khối nước, mà còn phát triển phân dị mạnh dẫn đến thay đổi bản chất tự nhiên địa hệ ven bờ và giá trị tài nguyên, giảm chức năng điều hòa lũ dẫn đến ngập lụt, giảm chức năng ổn định gương nước ngầm và góp thêm tiền đề sinh hạn vùng ven bờ (4) Cho tới nay, hiểu biết về hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam còn hạn chế, nỗ lực bảo vệ tài nguyên và môi trường đầm phá to lớn nhưng chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn về sự gia tăng sức ép từ hành động phát triển kinh tế - xã hội khu vực theo quy hoạch tới năm 2010 và tầm nhìn tới năm
2020
Trang 21Kết quả đợt khảo sát phối hợp Việt Nam - Italia (giữa Viện Tài nguyên và Môi trường biển và Viện Khoa học biển Bologna, CNR) vào tháng 8 năm 2001 trong khuôn khổ Nghị định thư hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam - Italia, Biên bản thỏa thuận Rome ngày 4 tháng 12 năm 2000 và đợt khảo sát phối hợp thứ hai vào tháng 12 năm 2002 theo Biên bản thỏa thuận Hà Nội ngày 11 tháng 7 năm 2002 đã xác định nhu cầu:
(1) Cần thiết tiến hành hợp tác nghiên cứu, đề cập tổng quan hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam, nhưng chọn hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
là trọng điểm nghiên cứu, bước đi đầu tiên trong quá trình hợp tác lâu dài (2) Cần sử dụng các phương pháp và thiết bị tiên tiến từ phía Italia để xác định các chất (kim loại năng, POP) ô nhiễm vi lượng, đánh giá mức độ tích tụ chất
ô nhiễm trong quá trình lắng đọng trầm tích, lịch sử (chronology) và xu thế liên quan tới chế độ động lực phát triển, tiến hóa đầm phá Tài liệu này sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để lựa chọn phương án quản lý và ứng xử môi trường đầm phá
Sau hai lần đề xuất (lần đầu vào năm 1999, lần thứ hai vào năm 2002) và bốn năm chuẩn bị tích cực của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), do TS Nguyễn Hữu Cử đại diện, và Viện Khoa học biển Bologna (Hội đồng Quốc gia nghiên cứu khoa học, CNR, Italia) do TS Mauro Frignani
đại diện, đề xuất dự án lần hai đã trở thành hiện thực “Nghiên cứu động thái môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý” giai đoạn 2004 - 2006 theo Quyết định số 2457/QĐ - BKHCN ngày 11 tháng 12 năm
2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Đây là nhiệm vụ Hợp tác quốc tế về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Italia, mã số 14EE5 Nghiên cứu tổng quan hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và lấy hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế) làm trọng điểm và điển hình hóa, Dự án 14EE5 nhằm đạt được 3 mục tiêu:
(1) Trên cơ sở tài liệu mới đạt được, có hiểu biết tổng quan hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam , đặc biệt về hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) liên quan tới các quá trình khác nhau chi phối động thái môi trường, cả lịch sử và xu thế (2) Đóng góp cơ sở khoa học quan trọng định hướng quản lý tổng hợp hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, khai thác lâu bền nguồn tài nguyên và phát triển bền vững kinh tế - xã hội khu vực
(3) Tiếp thu kinh nghiệm nghiên cứu tiên tiến của thế giới và Italia về đầm phá ven bờ, học tập nâng cao kỹ năng xử lý và kỹ thuật phân tích hiện đại các yếu tố độc hại vi lượng từ Italia, trong đó có phân tích phóng xạ
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu như đề cương đặt ra và đáp ứng 3 mục tiêu trên, theo các cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử, tiếp cận động lực và tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ biển, các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại
đã được sử dụng kết hợp, bao gồm:
(1) Phương pháp đối sánh
Trang 22Phân tích chuỗi số liệu lịch sử và hiện trạng để đánh giá diễn biến và dự báo biến đổi môi trường bằng cách đối sánh theo thời gian (thời khoảng và thời
điểm có tính chất chu kỳ như mùa, đặc biệt chú ý tới thời điểm cực đoan do tai biến tự nhiên cũng như tác động của con người) và theo không gian (vị trí địa
lý, vị trí cấu trúc hệ của đầm phá, v.v.)
(2) Phương pháp mô hình hóa
Trên cơ sở hệ thống số liệu phân tích đối sánh, phương pháp mô hình hóa đã
được sử dụng Theo đó, mô hình số trị 3 chiều SHYFEM chuyên dùng mô phỏng các trường thủy động lực và chất lượng nước các thủy vực nước nông ven bờ và mô hình CF-CS chuyên dùng xác định tốc độ lắng đọng trầm tích trong các thuỷ vực ven bờ đã được áp dụng thông qua việc tham gia và hướng dẫn trực tiếp của các chuyên gia Italia tại Việt Nam cũng như tại Italia
(3) Phương pháp phân tích dẫn xuất (logframe)
Đây là phương pháp tư duy nghiên cứu phổ biến ở nhiều nước tiên tiến nhằm tối ưu hóa các hoạt động của dự án cũng như thực hiện các nội dung khác nhau của dự án, đặc biệt trong đó có dự báo biến đổi và định hướng quản lý môi trường đầm phá, bao gồm các thuật phân tích logic quá trình và sản phẩm,
động lực và tiến hoá, nguyên nhân - hậu quả và giải pháp, diễn biến lịch sử và
xu thế, v.v
(4) Phương pháp lựa chọn điển hình
Hệ thống 12 đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam được nghiên cứu, đánh giá tổng quan nhưng lựa chọn trọng điểm đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (ThừaThiên Huế) đại diện cho các lagun ven bờ quy mô lớn của thế giới (đứng sau lagun Mard, Santo Domingo hay Venice), đại diện cho các lagun ven bờ vĩ độ thấp nhiệt đới ẩm (ở vùng mưa nhiều, trên 2 700 mm/năm) của thế giới, đại diện cho 1 trong các loại hình thuỷ vực ven bờ tiêu biểu của Việt Nam (cùng với các vùng cửa sông, vũng, vịnh), đại diện cho hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam giàu tiềm năng tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực nhưng nhạy cảm tác động và động thái môi trường phức tạp và thách thức to lớn về quản lý, và đại diện cho kiểu lagun ven bờ gần kín và nước lợ (khối nước từ lợ nhạt (oligohaline: 0,5 - 5%o), thậm chí ngọt (limnetic:
< 0,5%o) tới lợ vừa (mesohaline: 5 - 18%o))
(5) Phương pháp khảo sát lagun ven bờ của UNESCO
Đây là phương pháp phổ cập của thế giới được UNESCO giới thiệu vào năm
1980 (Unesco Technical papers in marine science No31) chuyên dùng cho khảo sát lagun ven bờ Ngoài ra, quy phạm điều tra nghiên cứu biển do ủy ban Khoa học và Kỹ Thuật Nhà nước ban hành năm 1981 cũng được áp dụng đồng thời với việc tuân thủ QA-QC trong suốt quá trình từ chuẩn bị, thu mẫu, bảo quản và phân tích
Ngoài kỹ thuật truyền thống được sử dụng trong khảo sát, thu mẫu và phân tích, các kỹ thuật hiện đại cũng được sử dụng đầu tiên cho nghiên cứu đầm phá, bao gồm: (1) Kỹ thuật thu mẫu nguyên dạng
Trang 23Một trong những dụng cụ chuyên dùng do phía Italia cung cấp là khoan piston thu mẫu nguyên dạng phục vụ nghiên cứu cấu trúc lớp trầm tích tướng lagun (lacustrine) với các ống thuỷ tinh hữu cơ (plexiglass) dài 40-100 cm và đường kính 6 cm
(2) Kỹ thuật X-quang
Các cột mẫu trong ống plexiglass được chụp X-quang (với cường độ chùm tia
được hiệu chỉnh phù hợp sao cho phản ánh rõ nhất cấu trúc lớp trầm tích) trước khi cắt mẫu - trừ lớp mặt dày 1 cm, mẫu được cắt cách đều 2 cm tới độ sâu 21
cm, cách đều 3 cm tới độ sâu 51 cm và cách đều 4-5 cm tới đáy cột mẫu Sau
đó toàn bộ mẫu được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 0-4oC trong các ống plastic tiêu chuẩn từ Italia
(3) Thu mẫu nước bằng bơm
Để phân tích các yếu tố thuỷ hóa và chất lượng nước thông thường, mẫu nước
được thu bằng bathomet nhưng để phân tích POPs và kim loại nặng, mẫu nước
được thu ở các tầng tùy ý bằng bơm có phao định vị và bảo quản lạnh trong chai thuỷ tinh
(4) Kỹ thuật phân tích phóng xạ
Phóng xạ 137Cs và 210Pb đã được phân tích tại Italia để xác định niên biểu (chronology) cho cột mẫu trầm tích và xác định tốc độ lắng đọng trầm tích trên cơ sở kết hợp với mô hình CF-CS (contant flux-constant sedimentation) (5) Xác định đương lượng độc tính
Dioxin/furan trong trầm tích được phân tích tại Italia (Viện Môi trường biển ven bờ Napoli) và xác định theo đương lượng độc tính với 2,3,7,8 tetrachlorodibenzo-p-dioxin (àITE/kg hay àTEQ/kg)
Trong khuôn khổ Dự án 14EE5, cán bộ khoa học trẻ Việt Nam (Viện Tài nguyên
và Môi trường biển) được đào tạo cả về sử dụng mô hình, phân tích và thực hành nhiệm
vụ của Dự án tại Italia
Trong quá trình xây dựng và thực hiện dự án 14EE5, có 4 lần đoàn ra - trao đổi khoa học và học tập nâng cao trình độ phân tích các POP và kim loại nặng trong trầm tích, radiotrace và chronology của cột mẫu trầm tích, mô hình số trị 3 chiều SHYFEM chuyên dùng mô phỏng các trường thuỷ động và phân tán chất gây bẩn trong các thuỷ vực nước nông ven bờ; 7 lần đoàn vào phối hợp khảo sát tiền trạm, khảo sát thu mẫu theo mùa, cài đặt phần mềm và hướng dẫn sử dụng mô hình số trị 3 chiều SHYFEM, khảo sát tiền trạm chuẩn bị cho dự án đề xuất tiếp theo 12EE6 “Đánh giá chất lượng môi trường, lịch sử và xu thế của một số thủy vực quan trọng làm cơ sở quản lý hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và một số hồ có liên quan”; có tổng số 7
đợt khảo sát đã được thực hiện vào thời gian tháng 8/2001 (tiền trạm xây dựng dự án), 12/2002 và 4/2004 (thu mẫu đồng bộ), 10/2004 (khảo sát ứng dụng mô hình SHYFEM), 6/2005 và 9/2005 (thu mẫu toàn bộ hệ thống đầm phá và lặp lại hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai), 7/2006 (khảo sát sơ bộ cho dự án 12EE6 tiếp theo) và 10/2006 (thu mẫu cột khoan trầm tích phúc tra lặp lại ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai)
Trang 24Các đợt khảo sát đã thu một lượng lớn mẫu vật (nước, sinh vật, trầm tích tầng
mặt, trầm tích cột khoan piston 1m của đầm phá và mẫu đất ven bờ và lưu vực đầm phá
(bảng 1), đặc biệt là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (hình 2)) và số liệu quan trắc
thủy văn liên tục Các mẫu vật được phân tích ở cả trong nước và nước ngoài, trong đó
các chỉ tiêu được phân tích tại các phòng thí nghiệm của Italia (Viện Khoa học biển
Bologna, Đại học Cà Foscari ở Venézia, Viện Môi trường biển ven bờ Napoli) bao gồm
10 kim loại nặng, POPs (trong đó có dioxin và furan) trong nước, trầm tích và đất, độ
lỗ hổng, radiotrace và chronology của trầm tích
Bảng 1 Mẫu thu tại các trạm trong các đợt khảo sát đầm phá ven bờ
miền Trung Việt Nam trong thời gian 2002 - 2005
Trầm tích Thứ
tự Trạm Tọa độ
Thời gian thu mẫu
Nơi phân tích
Tầng mặt
Lõi khoan
12-2002 I x 32 cm x Hue 02 - 6 6-2004 I
107 o 21’31,0”Đ
107 o 21’56,1”Đ
o 29’07,5”B-
Hương Sơn Hue 02 - G
o 27’21,6”B-
107 o
Hương Long Hue 02 - H
o 25’23,7”B-
Cầu Truồi Hue 02 - K
Trang 2512-2002 I x 58 cm x Hue 02 - 14 6-2004 I
107 o 41’09,1”§
107 o 39’23,5”§
o 31’34”B-
Trang 2638 J3 16
o 16’23”B-
109 o 04’07”§ 6-2005
109 o 15’50”§ 6-2005
Ghi chó: Sv (K, H) - Thu mÉu ph©n tÝch kim lo¹i nÆng vµ hãa chÊt b¶o vÖ thùc
vËt tÝch lòy trong c¬ thÓ sinh vËt (c¸, sß)
§n - §o nhanh c¸c yÕu tè thñy hãa (T o , pH, S‰, DO, TSS) mµ kh«ng thu mÉu §ång thêi, ®o dßng ch¶y tøc th× t¹i tÊt c¶ c¸c tr¹m
N¬i ph©n tÝch: I - Itali, V - ViÖt Nam
Trang 27Ngoài kết quả trao đổi khoa học và đào tạo, đề tài có 4 công trình công bố trong nước và 7 bài công bố quốc tế, 01 kỷ yếu hội thảo quốc tế, 01 Phụ trương của Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, 01 bộ tư liệu và cơ sở dữ liệu điện tử với những số liệu mới chưa từng có trong lịch sử, 15 báo cáo nghiên cứu chuyên đề, và báo cáo tổng kết khoa học của đề tài dưới đây được bố cục thành 3 phần và 10 chương:
Phần thứ nhất: Tổng quan môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam Chương 1 Tổng quan về lagun, lagun ven bờ ở miền Trung Việt Nam
Chương 2 Kiểm kê đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam
Chương 3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Chương 4 Tiềm năng tài nguyên và môi trường đầm phá
Phần thứ 2 Động thái môi trường hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
Chương 5 Đặc trưng điều kiện tự nhiên
Chương 6 Tiềm năng tài nguyên
Chương 7 Hoạt động kinh tế - xã hội khu vực đầm phá
Chương 8 Hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường đầm phá
Phần thứ 3 Định hướng quản lý môi trường đầm phá
Chương 9 Định hướng quản lý môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt
Nam Chương 10 Đề xuất phương án quản lý môi trường hệ đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai
Để hoàn thành nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu theo đúng mục tiêu của dự án, tập thể tác giả luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời từ các cơ quan quản lý và cơ quan chủ trì, nhận được sự hợp tác, giúp đỡ từ các cơ quan trong và ngoài nước Chúng tôi chân thành cảm ơn Bộ Khoa học và Công nghệ và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
về sự quản lý và chỉ đạo các hoạt động của dự án trong suốt quá trình thực hiện, cảm
ơn Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Cộng hòa Italia tại Hà Nội về việc tạo điều kiện thuận lợi hợp tác và đào tạo cán bộ khoa học trẻ Việt Nam, cám ơn UBND và các Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam có liên quan đến đầm phá, đặc biệt trong đó là UBND và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế, về
sự giúp đỡ hành chính và tạo điều kiện thuận lợi thực hiện dự án trên địa phương mình, cảm ơn ban lãnh đạo Viện Tài nguyên và Môi trường biển, cơ quan chủ trì thực hiện dự
án, về sự chỉ đạo, tạo điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực tham gia thực hiện dự án, cảm ơn Viện Khoa học biển Bologna cùng các cơ quan phối hợp của Italia thuộc Hội
đồng quốc gia Nghiên cứu khoa học và Đại học tổng hợp Cà Foscari, Venézia, về sự hợp tác nghiên cứu, giúp đỡ phân tích mẫu vật và đào tạo cán bộ khoa học trẻ Việt Nam về kỹ thuật phân tích hóa môi trường và sử dụng mô hình toán, và cảm ơn tất cả các đồng nghiệp trong nước và nước ngoài, đại diện là TS Mauro Frignani (Viện Khoa học biển Bologna), cùng GS Gabriele Capodaglio (Đại học tổng hợp Cà Foscari, Venézia) và TS Georg Umgiesser (Viện Khoa học biển Venézia), về sự hợp tác tích cực và có hiệu quả
Trang 28PhÇn thø nhÊt Tæng quan m«i tr−êng ®Çm ph¸ ven bê miÒn trung viÖt nam
Trang 29Chương 1 tổng quan về lagun, lagun ven bờ miền trung việt nam
1.1 Định nghĩa
1.1.1 Định nghĩa lagun
Từ lagun nói chung (lagoon, lagune, laguna, v.v.) có nguồn gốc từ chữ latin -
lacuna, được sử dụng tương đối rộng rãi để chỉ các đối tượng khác nhau Trong từ điển
“Glossary of Geology, 3th ed., 1987”, lagun được hiểu là một bộ phận được tách ra khỏi
một vực nước nhờ một dạng tích tụ chắn ngoài Theo định nghĩa này, lagun là một
phần của biển được tách ra khỏi biển nhờ một dạng tích tụ chắn ngoài (như đảo cát, doi
cát, rạn san hô, v.v.), có thể là một hồ nước ngọt được tách ra khỏi một hồ nước lớn
hơn hoặc một con sông, cũng có thể là một vùng cửa sông, một nhánh sông vùng cửa
hoặc một đầm lầy, v.v có nước biển chảy vào
Như vậy định nghĩa này rất rộng, chỉ nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm cả
lagun xa bờ (offshore lagoon) và ven bờ (coastal lagoon), cả vực nước mặn và nước
ngọt ở Việt Nam, có mặt các lagun xa bờ quy mô nhỏ như ở quần đảo Trường Sa do
ám tiêu san hô tạo thành, có lagun ven bờ ở miền Trung Việt Nam, có lagun ven bờ
nước lợ, nước mặn và thậm chí siêu mặn (Đầm Lăng Cô, Đầm Ô Loan) nhưng chưa hề
nói tới lagun nước ngọt có nguồn gốc sông hoặc hồ như định nghĩa nói trên ở Việt
Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, một vùng cửa sông hay một bộ phận cấu
trúc của vùng cửa sông không được coi là lagun
Tuy nhiên, cho tới nay đã có nhiều định nghĩa lagun, mỗi định nghĩa có điểm
nhấn mạnh nào đó nhưng tất cả đều bổ sung cho nhau nhằm chỉ một đối tượng xác
định:
(1) - là một phần của biển, đại dương,
(2) - được tách ra khỏi biển, đại dương nhờ một dạng tích tụ có thể theo cơ chế cơ
học - thể cát chắn, hoặc cơ chế sinh học - rạn san hô,
(3) - có cửa (một cửa hoặc nhiều cửa) ăn thông với biển
Định nghĩa lagun khái quát và rõ ràng hơn cả được viết trong Từ điển Bách khoa
bốn thứ tiếng của Liên Xô (1980) - lagun là một phần nước nông được tách ra khỏi
biển hoặc đại dương nhờ một đê cát chắn, một doi cát hoặc một rạn san hô và ăn thông
với biển qua một hoặc nhiều cửa
1.1.2 Định nghĩa lagun ven bờ
Lagun ven bờ - đối tượng nghiên cứu của Dự án, có khái niệm hẹp hơn lagun nói
chung, được xác định là:
Trang 30(1) - một thủy vực ven bờ,
(2) - được ngăn cách với biển nhờ một dạng tích tụ cát chắn ngoài,
(3) - ăn thông với biển phía ngoài qua một hay nhiều cửa hoặc thẩm thấu (percolation), chảy thấm (seepage) qua chính thể cát chắn
Trong số các định nghĩa lagun ven bờ hiện nay, định nghĩa của Phleger, F P (1981) được sử dụng phổ biến hơn - lagun ven bờ (coastal lagoon) là một loại hình thủy vực ven bờ (a coastal body of water) nước lợ, nước mặn hoặc siêu mặn, được chắn bởi một đê cát (sand barrier) và có cửa (inlet) ăn thông với biển phía ngoài
Như vậy, định nghĩa lagun ven bờ bao hàm 3 khía cạnh cơ bản xác định thuộc tính của đối tượng:
(1) - là một thủy vực ven bờ - kết quả tương tác lục địa - biển ở đới bờ, tính chất của khối nước đặc trưng bởi biến động theo mùa, độ muối giảm mạnh về mùa mưa tới lợ, lợ - nhạt và có hiện tượng phân tầng, đặc biệt là nơi có sông lớn đổ vào (điển hình là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai), đồng thời độ muối tăng mạnh về mùa khô tới mặn và siêu mặn, đặc biệt là nơi không có sông lớn đổ vào (điển hình là đầm Lăng Cô, đầm Ô Loan),
(2) - được ngăn cách với biển nhờ một dạng tích tụ cát chắn ngoài - thường là dạng doi cát nối đảo phát triển từ một phía, ở vùng bờ giàu bồi tích cát và năng lượng cao đang phát triển ở thời kỳ san bằng trên nền sụt hạ tương đối tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại,
(3) - ăn thông với biển qua một hay nhiều cửa - xuất hiện một hay nhiều cửa là kết quả tương tác sông - biển (chủ yếu là thủy triều) thông qua đầm phá, cửa luôn có xu thế đóng kín về mùa khô và thậm chí đóng kín để trao đổi nước theo cơ chế chảy thấm, thẩm thấu ở các đầm phá chỉ có sông nhỏ hoặc không có sông đổ vào, cửa có thể mở thường xuyên hay định kỳ (mở về mùa mưa và đóng về mùa khô như đầm Trà ổ ở Bình Định), có thể dịch chuyển
vị trí dần do dòng bồi tích cát dọc bờ hoặc đổi vị trí luân phiên theo chu kỳ không ổn định 5 - 10 năm/lần
Trong phân loại của mình, Brovko (1990) còn đề cập tới lagun nhân tạo (Anthropogenic lagoon) có đê cát chắn phía ngoài không phải do quá trình bờ (tự nhiên) mà là do con người tạo ra Có thể khái quát các đặc điểm cơ bản xác định một lagun hay lagun ven bờ trong bảng 1.1
Trang 31Các lagun theo nguồn gốc hình thành Lagun tự nhiên
Lagun nói chung (Lagoons)
Lagun ven bờ (coastal lagoons)
Lagun xa bờ (offshore lagoons)
Lagun nhân tạo (Anthropogenic lagoons)
- Là một phần của biển hoặc đại
- Có cửa ăn thông với biển hoặc
đại dương phía ngoài
- Là một thủy vực ven bờ
- Được tách ra khỏi biển ven
bờ nhờ một dạng tích tụ cát chắn ngoài (cơ chế cơ
học)
- ăn thông với biển ven bờ qua một hay nhiều cửa, cửa mở thường xuyên hay
định kỳ về mùa mưa, hay chảy thấm qua thể cát
- Là một phần của biển (hoặc đại dương)
- Được tách ra khỏi biển (hoặc đại dương) nhờ
ám tiêu san hô (dạng tích tụ cơ chế sinh học)
- Có cửa ăn thông với bên ngoài
- Là một thuỷ vực nhân tạo
- Được tách ra khỏi biển ven bờ nhờ đê bao (dạng tích tụ nhân tạo)
- ăn thông với biển ven
bờ phía ngoài qua cửa
- Độc lập tương đối với biển phía
- Phổ biển trầm tích sông - biển, biển
- Là bồn tích tụ độc lập tương đối với biển, yên tĩnh, không chịu
ảnh hưởng của lục địa
- Nước mặn, chỉ có trầm tích biển giàu
carbonate
- Tính chất tuỳ theo mục tiêu sử dụng
Trang 321.2 Tên gọi
Tên gọi địa phương về lagun ven bờ tồn tại mang tính lịch sử và tập quán, cho tới nay đã trở thành danh từ riêng và viết hoa Ví dụ những lagun ven bờ nổi tiếng có tên gọi lịch sử là hồ - Hồ Mặt Trời (Solar Pond) ở Israel, Hồ Togo (Lac Togo) ở Guinéa,
Hồ Mellah (Lac Mellah) ở ven bờ đông Địa Trung Hải, là vịnh - Vịnh Rockport (Rockport Bay) ở Texas hay Vịnh Florida (Florida Bay) - là lagun ven bờ điển hình tạo bởi các rạn san hô viền bờ (fringing reef) chắn ngoài
ở Việt Nam, các lagun ven bờ được gọi là “đầm” hoặc “phá” Ví dụ, ở Thừa Thiên Huế có tên gọi Phá Tam Giang, Đầm Sam, Đầm Thanh Lam, Đầm Hà Trung,
Đầm Thủy Tú và Đầm Cầu Hai, mà tất cả chúng là những thủy phần không có ranh giới tự nhiên hợp thành một lagun ven bờ thống nhất Ngay từ xa xưa, trong thư tịch cổ cũng như trong dân gian, tồn tại nhiều tên gọi và được phân theo ranh giới hành chính,
có tên là Phá Hải Hạc, Phá Tam Giang, Đầm Niểu, Đầm Đà Đà, Vịnh Đông, Vịnh Minh Lương Vịnh Hưng Bình, Vịnh Giang Tân, Vịnh Hà Bạc, v.v Cho tới năm 1831 (thời Minh Mạng), một số được đổi tên trong thư tịch thành Đầm Thanh Lam, Đầm Hà Trung, v.v nhưng trong dân gian vẫn giữ cách gọi riêng và ngày nay vẫn gọi tắt là Phá Tam Giang - Cầu Hai và thậm chí gọi Phá Tam Giang Cùng đối tượng đó ở Quảng Ngãi có tên gọi Đầm An Khê hay Đầm Nước Mặn (Sa Huỳnh), ở Bình Định có tên gọi
Đầm Trà ổ, Đầm Nước Ngọt hay Đầm Thị Nại, ở Phú Yên - Khánh Hòa có tên gọi
Đầm Ô Loan và thậm chí Đầm Nha Phu mà Đầm Nha Phu là một vịnh ven bờ (bay)
điển hình Trong khi đó, ở miền Bắc sử dụng tên gọi “đầm” theo truyền thống để chỉ một loại hình thủy vực tự nhiên, tạo ra do một đoạn sông chết, một vùng trũng còn sót lại trong quá trình phát triển đồng bằng ven biển có liên quan tới quá trình lầy hóa hiện nay Loại hình này tương ứng với “trằm” và “bàu” theo cách gọi tên ở miền Trung Hơn nữa, chính người dân ven biển tự tạo ra một loại hình thủy vực vùng triều (quây
đắp một phần bãi triều) để nuôi thủy sản nước lợ rồi cũng gọi nó là “đầm”
Từ đó thấy rằng, thuật ngữ “đầm” hay “phá” tồn tại mang tính địa phương theo tập quán hoặc do lịch sử để lại Cùng một tên gọi (đồng âm), ở những nơi khác nhau
được dùng để chỉ những đối tượng khác nhau (không đồng nghĩa) Ngược lại, cũng một
đối tượng (đồng nghĩa) ở những nơi khác nhau có tên gọi khác nhau (không đồng âm) Mặt khác, một đối tượng cụ thể cũng có những tên gọi khác nhau trong thư tịch (hành chính), trong dân gian và khác nhau theo thời gian
Do đó, để tiện lợi và nhằm phản ánh đúng bản chất của một hệ tự nhiên, chúng tôi
đề nghị sử dụng cả từ địa phương có viết hoa - Đầm Cầu Hai, Phá Tam Giang, và từ khoa học đã phiên âm tiếng Việt mà không viết hoa - lagun Khi đề cập tới một vấn đề khoa học thì dùng từ phiên âm và khi đề cập tới đối tượng cụ thể thì dùng từ địa phương Chẳng hạn, hệ Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một lagun ven bờ, hay qui luật phân bố trầm tích đáy Đầm Ô Loan biểu hiện một lagun ven bờ đang phát triển ở giai đoạn trưởng thành, v.v
Trang 33về “vấn đề nguồn gốc và qui luật phát triển bờ lagun” Về sau đã có nhiều cách phân loại lagun khi nghiên cứu lagun ở những khu vực khác nhau như phân loại lagun về mặt địa mạo học của Pravotorov, I A., Kaplin, P A hay Korotki, A M., và phân loại theo môi trường lắng đọng trầm tích, động lực lắng đọng trầm tích (chế độ thủy văn) và vật chất trầm tích của Zenkovitch, V P., Nichols, M and Allen, G., Li Congxian and Chen Gang, v.v
1.3.1 Phân loại theo vị trí tương đối trên thềm lục địa
1.3.1.1 Lagun xa bờ
Lagun xa bờ được hiểu là một phần của biển hoặc đại dương được tách ra nhờ ám tiêu vòng (atoll) Sự phát triển của chúng không bị ảnh hưởng bởi các quá trình lục địa
và trầm tích trong lagun là các trầm tích biển giàu cacbonat
1.3.1.2 Lagun ven bờ
Lagun ven bờ được hiểu là một phần của biển ven bờ, được tách ra nhờ một dạng tích tụ thường là cát, hiếm khi là ám tiêu viền bờ Sự phát triển của lagun ven bờ phức tạp bởi tương tác giữa các quá trình biển (sóng, thủy triều và dòng chảy) và lục địa (sông, vận động kiến tạo khu vực, v.v.) Trầm tích trong lagun ven bờ gồm trầm tích biển, và sông - biển
1.3.2 Phân loại theo nguồn gốc
Phleger, F B (1981) đã phân tích các lagun ven bờ đại dương thế giới và khái quát thành 18 đặc điểm đặc trưng nhất chứa đựng các nội dung địa chất và địa mạo Cho tới năm 1990 trong công trình nghiên cứu “Sự phát triển các lagun ven bờ” của mình, Brovko, P F đã phân loại lagun theo nguồn gốc phát sinh Theo cách phân loại này, có các nhóm lagun sau:
- Lagun ven bờ (coastal lagoon)
- Lagun san hô (coral lagoon)
- Lagun nhân tạo (anthropogenic lagoon)
Theo phân loại của Brovko, P F (1990), riêng lagun ven bờ được phân ra nhiều kiểu khác nhau theo hình thái các dạng tích tụ chắn ngoài, hình dáng, kích thước và độ sâu thủy vực, v.v Tuy nhiên, hệ thống phân loại lagun ven bờ của Nichols, M and Allen, G (1981) khái quát hơn và được sử dụng rộng rãi hiện nay Hệ thống phân loại này dựa theo nguyên tắc động lực, phản ánh động lực hình thành và phát triển lagun trong thế tương quan giữa các quá trình biển (sóng, dòng chảy, thủy triều) và các quá trình lục địa (sông) thông qua hình thái và quá trình ưu thế trong lagun Hệ thống phân loại này chia các lagun ven bờ đại dương thế giới thành bốn kiểu:
A Lagun cửa sông (estuarine lagoon)
B Lagun hở (“open” lagoon)
C Lagun kín từng phần (partly closed lagoon)
D Lagun đóng kín (closed lagoon)
Trong đó, sự ảnh hưởng của thủy triều và sông tăng dần từ D tới A và sự ảnh hưởng của dòng bồi tích do sóng tăng dần từ A tới D và trạng thái cửa (mức độ đóng kín) tăng dần từ A tới D (bảng 1.2) Các lagun ven bờ kiểu A hình thành và phát triển ở
Trang 34Kiểu A Cửa sông B Hở C Kín từng phần D Đóng kín
Đặc điểm đặc tr−ng
Trang 35nơi có động lực sông và triều thống trị và tương xứng, sóng hoạt động yếu hơn và không tạo được đê cát dài, nhiều cửa, lạch triều sâu, phát triển mạnh bãi bồi trong lagun Các lagun ven bờ kiểu B - sóng và dòng triều hoạt động mạnh và ưu thế, mức độ trao đổi nước giữa lagun và biển tương đối tốt nhưng kém hơn kiểu A, phát triển delta triều lên và xuống, trầm tích đáy thô dần (cát) về phía biển Các lagun ven bờ kiểu C - sóng và dòng dọc bờ chiếm ưu thế, mức độ trao đổi nước giữa lagun và biển kém, delta triều lên phát triển hơn delta triều xuống, trầm tích đáy vừa thô dần về phía biển và vừa mịn dần theo độ sâu, đê cát chắn dài, ít cửa, hoàn lưu (nước, bồi tích) kém dần đến phân dị môi trường lắng đọng trầm tích Kiểu D - sóng và gió chiếm ưu thế, trao đổi nước kém giữa lagun và biển theo cơ chế thẩm thấu qua đê cát chắn, cửa mở định kỳ về mùa mưa hoặc chảy tràn khi nước dâng do bão hay mưa lũ, đặc trưng trầm tích hạt mịn tướng hồ (lacustrine) giàu vật chất hữu cơ, độ ướt cao hoặc các trầm tích do bay hơi
1.4 Vị trí của hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam
1.4.1 Vị trí các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam trong hệ thống các lagun ven bờ đại dương thế giới
Bờ lagun ven bờ chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờ đại dương thế giới Lagun ven bờ phân bố ở nhiều vĩ độ khác nhau và mang tính địa đới rõ ràng Các lagun ven bờ
đại dương thế giới được chia thành 4 kiểu theo Nichols, M and Allen, G (1981):
đới ẩm (bảng 1.3) và được chia thành 3 kiểu (Trần Đức Thạnh, Nguyễn Chu Hồi và nnk., 1991, Nguyễn Hữu Cử, 1995) như sau:
1 Kiểu gần kín (nearly - closed)
2 Kiểu kín từng phần (partly - closed)
Trang 36các lagun ven bờ đại dương thế giới (của Nichols, M and Allen, G 1981)
Trang 37C¸c kiÓu lagun ven bê cña ViÖt Nam C¸c kiÓu lagun cña thÕ giíi
Tr−êng Giang, ThÞ N¹i,
Cï M«ng, Thñy TriÒu, N¹i
L¨ng C«, N−íc MÆn, N−íc Ngät, ¤ Loan
Theo Nichols,
M and Allen,
G., 1981
Trang 381.4.2 Vị trí lagun trong hệ thống các loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu ở Việt
Nam
Lagun ven bờ là một trong bốn loại hình thủy vực ven bờ tiêu biểu ở vùng bờ biển Việt Nam Mỗi loại hình thủy vực là một hệ tự nhiên ven bờ đặc trưng bởi hình thái, cấu trúc, động lực hình thành, phát triển và xu thế tiến hóa (bảng 1.5) Do điều kiện địa chất khu vực các đoạn bờ khác nhau mà dẫn đến hình thành các loại hình thủy vực khác nhau, các thủy vực cùng loại hình cũng khác nhau và vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực rất phức tạp do tính chuyển tiếp và quan hệ phụ thuộc để tạo nên phụ hệ (hình 1.1)
Hình 1.1 Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ và biển
Biển
Vịnh biển (gulf)
Đầm phá
Vùng cửa sông Biển nông ven bờ
Vũng - vịnh
Trang 39Loại hình
Nguồn gốc hình thành
Động lực hình thành, phát triển thống trị
Vùng cửa sông Bạch Đằng,
Ngập chìm không đền bù bồi tích
Thuỷ triều Nửa kín
Mặn
Biển lấn tiến lục địa
Châu thổ sông Hồng, sông MeKon
Lấn tiến (progradation)
Ngập chìm có
đền bù bồi tích
Sông Hở Vùng cửa
đường bờ
Sóng (triều)
Hở Vịnh ven
bờ
Vịnh Hạ Long
Bồi lấp tương
Lục địa lấn biển chậm
Trang 40Chương 2 kiểm kê đầm phá ven bờ miền trung việt nam
2.1 Nội dung kiểm kê
ở ven bờ miền Trung Việt Nam từ vĩ độ 16o bắc (Thừa Thiên Huế) tới vĩ độ 11o
bắc (Ninh Thuận), có mặt 12 đầm phá tiêu biểu (hình 2.1) với tổng diện tích mặt nước
436,9 km2 Các đầm phá này đa dạng về kích thước và quy mô (bảng 2.1), trong đó,
nhỏ nhất là đầm Nước Mặn (Sa Huỳnh) có diện tích 2,8 km2, lớn nhất là hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) với diện tích 216 km2, lớn nhất Đông Nam á
và thuộc loại lớn của thế giới
Theo thứ tự về phía nam, hệ thống đầm phá bao gồm:
1 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)
2 Đầm Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế)
3 Đầm Trường Giang (tỉnh Quảng Nam)
11 Đầm Thủy Triều (tỉnh Khánh Hòa)
12 Đầm Nại (tỉnh Ninh Thuận)
Các đầm phá này được kiểm kê cập nhật, bổ sung số liệu theo các nội dung cơ
bản sau: bản đồ cấu trúc hình thái tỷ lệ 1:100 000, tên gọi (tên gọi hiện nay, tên gọi
lịch sử), vị trí (tọa độ địa lý, địa điểm), diện tích, kích thước cơ bản của vực nước và
cửa, kiểu loại, các sông đổ vào, đặc điểm cấu trúc hình thái và cơ sở hạ tầng quan trọng
xây dựng trong đầm phá