1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn nhập môn nhật bản học morishima michio – tại sao nhật bản chìm đắm 森嶋道夫 なぜ日本は没落するか

62 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Morishima Michio – Tại Sao Nhật Bản Chìm Đắm? 森嶋道夫 - なぜ日本は没落するか
Tác giả Morishima Michio
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Hải Linh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Nhập Môn Nhật Bản Học
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự suy thoái của thể chế công nghiệp sau chiến tranh - Nhật Bản trước chiến tranh được biết đến là một nền kinh tế mạnh với sự phát triển nhanh về mặt khoa học – kỹ thuật.. - Sau chi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

Phần Trang

PHẦN I DẪN NHẬP 1

I.Tác giả Morishima Michio 1

II.Tác phẩm 2

PHẦN II BÁO CÁO TÁC PHẨM A Thực trạng suy thoái của Nhật Bản 4

I Sự tàn phá công nghiệp 4

1.Sự kết hợp giữa tài chính và công nghiệp 4

2 Sự suy thoái của thể chế công nghiệp sau chiến tranh 4

3 Cách quản lý công ty theo kiểu của Nhật 5

4.Vấn đề thất nghiệp 7

II Sự tàn phá tinh thần 8

1 Thiếu thốn của chủ nghĩa “Elite” - Người Nhật không có tham vọng 8

2 Sự tàn phá đạo đức nghề nghiệp 9

3 Đi xuống của tư tưởng 10

4 Nền móng cho năm 2050 không có sức sống 11

5 Dự đoán nhân khẩu trong tương lai 13

III Sự tàn phá tài chính: 13

1 Nguyên nhân nền tài chính bị phá hỏng 13

2 Sự khao khát và sùng bái đất đai của người Nhật 13

3 Bong bóng bất động sản 14

4 Big Bang phiên bản Nhật 14

IV Sự tàn phá giáo dục 16

IV.I Tình hình giáo dục sau chiến tranh 16

1 Ảnh hưởng của cải cách giáo dục sau thế chiến II 16

2 Vai trò của giáo dục - Quy tắc Durkheim 17

IV.II Tình hình giáo dục cuối những năm 1980 17

1 Mối quan hệ giữa tỉ lệ học lên cao và chất lượng giáo dục ĐH 17

2 Sự tăng trình độ học vấn – một vấn nạn nữa 18

3 Đề án cải cách giáo dục của tác giả 18

4 Liệu Nhật Bản có thể phục hồi được không? 19

Trang 3

B Phương án cứu trợ duy nhất - Cộng đồng chung châu Á 21

I Giới thiệu đề án 21

1 Sự cần thiết của việc có cái nhìn chung về các vấn đề lịch sử 21

2 Đề án: Cộng đồng chung Đông Bắc Á 21

II Trở ngại tới biện pháp cứu trợ 23

PHẦN BA: TỔNG KẾT 24

TRÍCH DẪN TÀI LIỆU 25

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 4

PHẦN I DẪN NHẬP

I Tác giả Morishima Michio

I.1 Cuộc đời

Morishima Michio (森嶋 通夫) là một nhà nhà kinh tế học xuất sắc của Nhật Bản thời

kì hiện đại Ông sinh ngày 18 tháng 7 năm 1923 tại Osaka, mất ngày 13 tháng 7 năm 2004, tại Anh Ông sinh ra và lớn lên tại Nhật, trong thời kì khu vực Đông Á đang có nhiều căng thẳng

Năm 1946, ông tốt nghiệp khoa Kinh tế, ĐH Kyoto Ông tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy ở ĐH Kyoto tới năm 1951, sau đó ông làm việc ở ĐH Osaka Ông sống và làm việc tại Nhật Bản đến cuối những năm 1960, thì chuyển sang Anh sinh sống và làm việc

Năm 1965, ông giữ chức vụ Chủ tịch của Hiệp hội kinh tế lượng thế giới, khẳng định được vị thế là một nhà kinh tế học ưu tú

Năm 1970, ông làm giáo sư tại trường Kinh tế và chính trị Luân Đôn (London School

of Economics – LSE ) Trong những năm làm ở LSE, ông đã có những đóng góp to lớn về học thuật, chủ tịch sáng lập STICERD, một trong những trung tâm nghiên cứu nổi tiếng của trường

Năm 1984, ông được bổ nhiệm danh hiệu Giáo sư kinh tế Sir John Hicks Ông cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nhà kinh tế học người Anh John Hicks và một số học giả Nhật Bản Takata Yasuma, Oyama Hideo

I.2 Công trình nghiên cứu

Năm 1968, ông đã ra mắt 3 công trình nghiên cứu về 3 nhà kinh tế hàng đầu thế kỉ XIX: Karl Max, Leson Walras và David Ricardo Khi nghiên cứu đề tài này, ông không chỉ đơn thuần nói về lịch sử tư tưởng – kinh tế, mà còn phân tích, làm rõ ý kiến của 3 học giả này dưới lý thuyết kinh tế hiện đại

Morishima rất coi trọng việc nghiên cứu Nhật Bản Năm 1982, ông xuất bản cuốn

“Tại sao Nhật Bản thành công?” (bản tiếng Nhật xuất bản năm 1984), đi liền với nó là cuốn sách “Tại sao Nhật Bản suy thoái” (1999)

Các cuốn sách của ông được đông đảo bạn đọc yêu thích, trở thành sách bán chạy Một số tác phẩm tiêu biểu:

- Thói quen của người tiêu dùng và Sự ưa chuộng tiền mặt (Consumer Behavior and Liquidity Preference) (1952)

- Cân bằng, ổn định và tăng trưởng (Equilibrium, Stability and Growth) (1964)

- Sự hoạt động của mô hình kinh tế lượng (The Working of Econometric Models ) (1972)

- Kinh tế Mác: Lý thuyết giá trị và tăng trưởng (Marx's Economics: A dual theory of value and growth) (1973)

- Lý thuyết kinh tế của xã hội hiện đại (The Economic Theory of Modern Society) (1973)

- Kinh tế Walras (Walras's Economics) (1977) Walras's Economics

- Tại sao Nhật Bản “thành công”? (1982) (Why Has Japan Succeeded?)

Trang 5

- Tại sao Nhật Bản chìm đắm (なぜ日本は没落するか) (1999)

- Tại sao Nhật Bản bế tắc (Japan at a deadlock) (2000)

- Tại sao Nhật Bản bế tắc (なぜ日本は行き結まったか) (2004)

Trong số đó, người ta đánh giá cuốn “Cân bằng, ổn định và tăng trưởng” (Equilibrium, Stability and Growth) là công trình nghiên cứu tiêu biểu và có ảnh hưởng hơn cả

I.3 Giải thưởng

Năm 1976, ông được Chính phủ Nhật Bản trao tặng Huy chương văn hóa, một giải thưởng được đánh giá ngang với giải Nobel

I.4 Đánh giá về tác giả

Ralf Dahrendorf, who worked closely with Morishima at LSE “He has contributed to

a subtle understanding of the culture of his country of origin as well as his country of choice

He has also been, and continues to be, a great friend, loyal and trustworthy, serious and yet always fun….His influence extends beyond even the generously drawn boundaries of economics He is a great social scientist, scholar, and man of culture.” [1]

Ralf Dahrendorf, người đã làm việc cùng với Morishima tại LSE đã nói rắng: “Ông ấy

đã cống hiến cho sự hiểu biết tinh tế về văn hóa của quốc gia bản xứ cũng như các quốc gia khác Ông ấy đã, và sẽ luôn là một người bạn tốt, trung thành và đáng tin cậy, nghiêm túc nhưng cũng luôn vui tính Sức ảnh hưởng của ông thậm chí còn vượt qua giới hạn xa nhất của kinh tế học Ông ấy là một nhà xã hội học, học giả vĩ đại và là con người đại diện cho nền văn hóa.”

As another friend, the Nobel prizewinner Amartya Sen, stated, Morishima was ‘an outstanding economist and the finest of human beings’ [2]

Với tư cách là một người bạn khác, Amartya Sen, người đã từng thắng giải Nobel, đã nói rằng, Morishima là 'một nhà kinh tế học kiệt suất, là thành phần tinh tú nhất của nhân loại’

II Tác phẩm “Tại sao Nhật Bản chìm đắm” (なぜ日本は没落するか) (1999)

II.2 Khởi đầu lý luận “Nhật Bản chìm đắm” của tôi:

- Sau những năm 1980, kinh tế Nhật Bản đi xuống, là sự khởi đầu của sự chìm đắm

Trang 6

- 1997 - 1998: Nhận được thư từ giáo sư C Friedman hỏi về nội dung cuốn “Tại sao Nhật Bản thành công?” đối chiếu với thực tại Nhật Bản đương thời, từ đó suy nghĩ nhiều về tương lai Nhật Bản

- Quyển sách là phần tiếp theo của “Tại sao Nhật Bản thành công?”, viết về thất bại bằng luận điểm và bút pháp giống với cách viết cuốn nói về thành công

II.3 Cấu trúc: Tác phẩm gồm 8 chương

1.Phương pháp luận của dự báo

2.Phân bố dân số

3.Sự hủy hoại tinh thần

4.Sự hủy hoại tài chính

5.Sự hủy hoại công nghiệp

6.Sự hủy hoại giáo dục

7.Phương án cứu trợ duy nhất

8.Những trở ngại tới phương án cứu trợ

III Phụ lục

[1] ‘Preface’, in Atkinson et.al (eds.), Putting Economics to Work, p.2

[2] ‘The Discipline of Economics’, Economica vol.75 no.300, 2008, p.617

Trang 7

PHẦN HAI: BÁO CÁO TÁC PHẨM

A Thực trạng suy thoái của Nhật Bản

I Sự tàn phá công nghiệp

1 Sự kết hợp giữa tài chính và công nghiệp

- Tài chính theo kiểu của Nhật được cho là sự thiếu cân bằng giữa tài chính ngân hàng và Equity finance (tài chính cổ phần) 1.1

- Ở Nhật, các doanh nghiệp và ngân hàng có mối quan hệ với nhau Các ngân hàng thường cung cấp vốn cho các doanh nghiệp 1.2

- Các doanh nghiệp vay từ ngân hàng, nhưng khoản vay đó không hợp với số tiền lãi thu được 1.3

- Khi các ngân hàng có tín dụng dài hạn bị sụp đổ, việc này không gây ngạc nhiên Nguyên nhân do 1.4:

+ Bộ Tài Chính coi như đó không phải việc của mình

+ Các nhà quản lý doanh nghiệp còn lười biếng

- Trong thời kì này, thì sợi dây liên kết giữa ngân hàng và doanh nghiệp bị cắt đứt 1.5, khiến cả ngân hàng và doanh nghiệp phải chịu nhiều thiệt hại 1.6

- Sự mất cân bằng giữa tài chính ngân hàng và Equity finance (tài chính cổ phần) gây ảnh hưởng tới tài chính, thiệt hại lớn cho ngân hàng, và làm ảnh hưởng tới cấu trúc công nghiệp 1.7

Có thể thấy, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ mật thiết, quan trọng Khi mối liên hệ này rạn nứt, gây nên những tổn thất cho cả hai bên Vấn đề này càng được bộc lộ rõ khi bong bóng vỡ tan vào giai đoạn những năm 1990 Các doanh nghiệp sụp đổ, dẫn đến phá sản, không thể trả nợ đã vay và sẽ ảnh hưởng tới ngân hàng không thể thu về số tiền đã cho vay

2 Sự suy thoái của thể chế công nghiệp sau chiến tranh

- Nhật Bản trước chiến tranh được biết đến là một nền kinh tế mạnh với sự phát triển nhanh về mặt khoa học – kỹ thuật Kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản không chỉ thua trận mà còn bị giáng một đòn nghiêm trọng vào nền kinh tế

- Thuật ngữ Zaibatsu (nghĩa là tài phiệt), dùng để chỉ các tập đoàn kinh doanh tài

chính và công nghiệp ở Nhật, do tư nhân làm chủ Được sự bảo trợ của Nhà nước, mà các tập đoàn tài phiệt này từ thời Minh trị chiếm vai trò chi phối nhiều lĩnh vực kinh

tế Số công ty lớn đáng được gọi là Zaibatsu có đến hàng chục Trong đó bốn Zaibatsu lớn nhất là Mitsubishi, Sumitomo, Misui và Yasuda

- Sau chiến tranh, Nhật Bản đưa ra các chính sách để phục hồi kinh tế, trong đó đầu tiên là Lệnh giải tán các Zaibatsu (tập đoàn tài phiệt đã từng chiếm đến hơn ¼ trên tổng sản lượng công nghiệp trước chiến tranh) Nguyên nhân là do các Zaibatsu bị quy tội

hiệp lực, để âm mưu gây chiến tranh 1.8

Trang 8

- Trong nền chính trị Nhật bản, các công ty lớn có mối liên hệ với các Đảng chính trị,

các Đảng này tranh đấu cho quyền lợi của các công ty trong quốc hội Và đã có sự liên hệ giữa các Zaibatsu và các Đảng đảng chính trị và giới quân nhân, chủ trương

dùng chiến tranh bành trướng để chiếm các vùng có nhiều quặng mỏ, nhiêu liệu

- Sau 1945, Mỹ đã giải tán 16 Zaibasu, trong đó có bốn công ty lớn nhất là Mitsubishi,

Sumitomo, Misui và Yasuda

- Tiếp đến, Luật chống độc quyền được ban hành 1.9

- Các công ty mới ra đời mà vẫn dựa trên nền tảng là các tập đoàn tài phiệt trước đây Tức là các tập đoàn tài phiệt này sau khi giải thế vẫn còn sống sót, nhưng tồn tại với

tư các là tập đoàn doanh nghiệp, nắm trong tay các công ty tài chính, thương mại

1.10

- Trên thực tế, Hai mươi sáu Zaibatsu được tái cấu trúc lại, trở thành hàng trăm công

ty nhỏ Mục đích của việc tái cấu trúc là để xóa bỏ ảnh hưởng của những thành phần chủ chiến trong xã hội Nhật, từ lĩnh vực chính trị cho đến kinh tế, văn hóa chứ không chỉ giới hạn trong việc đem xét xử những người lãnh đạo chiến tranh trong quân đội

và chính phủ

3 Cách quản lý công ty theo kiểu của Nhật

- Công ty của Nhật được quản lý dựa trên 3 trụ cột: Tuyển dụng suốt đời, Cơ chế thâm niên và Công đoàn Trong đó, điều quan trọng là Tuyển dụng suốt đời và Cơ chế thâm niên 1.11

3.1 Tuyển dụng suốt đời

- Tuyển dụng suốt đời : Các công ty tuyển nhân viên ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học, những nhân viên này làm việc cho công ty cho tới khi về hưu Tuy được đánh giá là mối quan hệ lý tưởng nhưng nó chỉ hạn chế trong các công ty lớn

Đây cũng là một chế độ được các ứng viên quan tâm khi vào làm công ty Nhật 1.12

- Về nhân viên, họ có thể an tâm làm ở công ty đến khi nghỉ hưu bởi chế độ tuyển dụng suốt đời này gắn liền với chế độ thâm niên nên nhân viên được tăng lương hàng năm Nên có thể thấy họ không muốn thay đổi công việc 1.13

- Nếu họ chuyển công ty, thì cũng sẽ bị coi là kẻ phản bội trong mắt đồng nghiệp ở nơi làm mới 1.14

- Về tuyển dụng, ở Nhật, việc chuyển nghề hay tuyển thêm từ công ty khác chỉ là ngoại lệ, thường là tuyển nội bộ 1.15

- Về việc thăng tiến, ở Nhật ngoài thành tích học thì các công ty tập chung chú ý đến việc tìm được người có độ tuổi hay tính cách phù hợp với vị trí đó 1.16

- Nhân viên biên chế có thể yên tâm làm việc cho tới khi về hưu, trừ phi vi phạm nội

quy của công ty Khi công ty sa sút, nếu không có cách nào giải quyết thì mới phải sa thải các nhân viên biên chế Để có sự đảm bảo về công ăn việc làm như thế, các nhân viên sẵn sàng chấp nhận chuyển sang các bộ phận khác hoặc các chi nhánh khi kinh doanh của công ty kém đi, khi công ty làm ăn phát đạt thì họ sẽ đáp lại tích cực bằng cách làm thêm giờ

So sánh với nước Anh, họ tuyển dụng một cách công khai và cũng tuyển nội bộ Còn Nhật thì chỉ tuyển nội bộ: Phương thức tuyển dụng này chọn những ứng cử viên chính là

Trang 9

nhân viên có sẵn trong công ty hoặc dùng những người trong công ty để làm môi giới tuyển dụng Những người đổi công ty giữa chừng thì khó có thể kiếm được việc làm mới,

và nếu vào được công ty mới thì khó có thể có được chỗ đứng trong công ty Hơn hết, những người ấy cũng khó hòa nhập ở môi trường mới vì bị người khác nhìn nhận đánh giá, có ác cảm xấu từ đầu Tuy nhiên thì việc coi lòng trung thành tuyệt đối với công ty cũng là việc độc đoán

Công ty Nhật hoạt động theo cơ chế tuyển dụng suốt đời, nên họ không đặt tiêu chuẩn học vấn giỏi lên hàng đầu, mà quan tâm tới việc tuyển những người thích hợp với công ty, cũng như phải có nhân cách đạo đức, sự trung thành, sẽ làm việc cho công ty đến khi nghỉ hưu

3.2 Chế độ thâm niên

- Trước khi nhắc đến chế độ này, người viết xin được giải thích trước về thuật ngữ

“Câu lạc bộ những mối quan hệ tốt”: [ 同期生全員同時昇進]- Những người vào công ty cùng đợt sẽ được thăng tiến cùng lúc, dựa theo cơ chế thâm niên Câu lạc bộ này hoạt động theo cơ chế người giỏi sẽ hỗ trợ người yếu 1.17

- Chế độ thâm niên và chế độ tuyển dụng suốt đời đi liền với nhau, có quan hệ không thể tách rời Một khi đã được tuyển dụng vào cơ quan ở Nhật thì nhân viên sẽ được tăng lương theo trình độ học vấn và số năm công tác 1.18

So sánh với ở Anh thì chế độ tuyển dụng suốt đời và thâm niên tồn tại không liên quan tới nhau Ở Nhật , mức lương, cấp bậc và bằng cấp của nhân viên trong một công ty căn cứ vào thời gian làm việc trong công ty đó Lương khởi điểm của nhân viên sẽ phụ thuộc vào thành tích học tập, loại hình công việc, giới tính, nhưng sau đó, nhờ chế độ thâm niên này mà việc tăng lương, thăng chức chủ yếu dựa vào tuổi tác, thời gian làm việc Cơ chế này cũng tạo cho công ty gánh nặng là cùng là một nhân viên đó nhưng chi phí hàng tháng cứ tăng lên

dù chưa biết doanh thu tăng trưởng khả quan đến mức nào

- Ở câu lạc bộ những mối quan hệ tốt, mọi người cùng khóa cùng nhau thăng tiến, nhưng cũng có mặt tiêu cực, là không chú trọng vào thực lực mỗi người 1.19

Nếu thăng tiến chỉ dựa vào tuổi và số năm lành nghề, thì có sự thiếu công bằng Vì để phát triển công ty, cần những những người thực sự có năng lực, để đưa công ty vượt qua khó khăn và tiến xa hơn Vậy nên trong các công ty Nhật, những người trẻ sẽ có ít cơ hội để thăng tiến, vượt chức so với người già hơn, có nhiều năm làm việc hơn Đôi khi cơ chế này tạo nên một hệ thống lãnh đạo lão làng nhưng năng lực không bằng người trẻ

3.3 Công đoàn

Công đoàn được thành lập sau Thế chiến 2 do những yếu tố sau: (1) thói gia trưởng của các chủ công ty sau chiến tranh; (2) điều kiện làm việc đa dạng, ngăn cản sự phát triển của cơ cấu lương dựa trên bằng cấp kỹ thuật và hiệu quả công việc; (3) sự quan tâm của các thành viên công đoàn tới những công việc và thu nhập đảm bảo do chế độ phúc lợi xã hội không đầy đủ của chính phủ

Như vậy, nếu so sánh với nước khác trong tổng thế cấu trúc quản lý công ty, ta thấy ở Nhật thì chế độ tuyển dụng suốt đời là phổ biến còn ở Mỹ thì người ta thường tuyển dụng theo hợp đồng từng năm Ở Nhật thì thăng tiến theo tuổi còn ở Mỹ thì thăng tiến theo thực

Trang 10

lực Còn công đoàn ở Nhật được tổ chức theo đơn vị công ty còn công đoàn ở Mỹ được tổ chức theo ngành

4 Vấn đề thất nghiệp

4.1 Tình trạng thất nghiệp thời bấy giờ

- Bong bóng vỡ tan, song hành với việc khủng hoảng kinh tế là việc nhiều công ty lâm vào cảnh phá sản, và một vấn đề cần chú trọng để giải quyết nhất lúc bấy giờ, là nạn thất nghiệp 1.20

- Nhật Bản luôn tự hào là một nước có tỷ lệ thất nghiệp thuộc loại thấp trên thế giới (luôn duy trì ở mức 2%)

- Tỉ lệ thất nghiệp lúc bấy giờ là 4,2 % 1.21 Đây có thể được coi là vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật từ sau chiến tranh

- Tình hình hiện nay, tác giả đã nhìn nhận và đánh giá về vấn đề thất nghiệp, dự báo sẽ tăng như “sự tan chảy của tuyết” 1.22

- Ông cũng khẳng định tỉ lệ thất nghiệp lúc bấy giờ của Nhật đã đến mức báo động, bác

bỏ những quan điểm lạc quan của các chủ tịch tập đoàn kinh tế 1.23

Với con mắt của một kinh tế học, ông có cái nhìn nhận khác với giới chính trị Dường như ông nhìn nhận được vấn đề cũng như mức độ cấp bách của vấn đề thất nghiệp, nên ông không tán thành với sự lạc quan của giới chính trị

4.2 Nguyên nhân thất nghiệp

- Khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, các doanh nghiệp, công ty đương nhiên bị ảnh hưởng dẫn đến phá sản nên nhân viên đương nhiên không có việc làm Có quan điểm cho

rằng thất nghiệp là do không có máy móc, thiết bị lao động, nên không làm việc được 1.24

- Nghiên cứu chính trị dậm chân tại chỗ Sự am hiểu về kinh tế về chính trị có sự chênh

lệch Các nhà chính trị không nắm rõ về kinh tế để có thể giúp cho đất nước 1.25

4.3 Giải pháp cho vấn đề thất nghiệp

- Tăng năng suất, xóa bỏ “câu lạc bộ những mối quan hệ tốt” 1.26

- Các công ty mở rộng tuyển dụng ra bên ngoài, không chỉ tuyển nội bộ 1.27

- Phá bỏ hệ thống tuyển dụng của Nhật, cải tổ thị trường lao động 1.28

Tiểu kết:

Tóm lại, thời kì nền công nghiệp bị hoang phế, bị hủy hoại là một thời kì mà Nhật Bản phải đương đầu với nhiều bế tắc, khó khăn Đó là sự suy thoái của nền công nghiệp, gây thiệt hại cho ngân hàng, kéo theo các công ty phá sản, hậu quả dẫn đến vấn nạn thất nghiệp nghiêm trọng trong xã hội

Trang 11

II Sự tàn phá tinh thần

1 Thiếu thốn của chủ nghĩa “Elite” - Giáo dục và chủ nghĩa “Elite”:

1.1 Thiếu thốn của chủ nghĩa “Elite”:

Chủ nghĩa “Elite” có thể tạm dịch là “Chủ nghĩa ưu tú” (tiếng Anh: “Elitism”) Đây là thuật ngữ dùng để chỉ quan điểm rằng: Những người theo nòi giống cao quý, có trí tuệ cao,

có nhiều tài sản, có kinh nghiệm hoặc được đào tạo bài bản trong nhiều lĩnh vực, sẽ tạo thành một nhóm gọi là “Elite” Những người trong nhóm “Elite” này sẽ có sức ảnh hưởng

và tiếng nói có trọng lượng hơn đối với chính quyền và được đưa ra làm tiêu chuẩn cho xã hội

- Nước Nhật theo Nho giáo: Đặt nặng giáo dục Việc là phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân là thông qua trình độ học vấn của họ

- Hậu chiến: Tốt nghiệp đại học là quân tử, không tốt nghiệp đại học là tiểu nhân 2.1

=> Bố mẹ đẩy con cái đi học đại học Xã hội Nhật Bản toàn “quân tử”

- Tuy nhiên, những “quân tử” này thì hoàn toàn không hành động giống các quân tử theo đúng nghĩa

“Trên tàu điện “quân tử” ngồi đọc truyện tranh, dù thấy người gia hay phụ nữ dắt theo trẻ nhỏ cũng không nhường ghế.” 2.2

- Họ ngại phải đối mặt với “Noblesse oblige”: 2.3

“Noblesse oblige” là một cụm từ tiếng Pháp dịch ra theo nghĩa đen là “Sự rằng buộc của giới cao quý” Cụm từ này được sử dụng để chỉ khái niệm về những trọng trách đi kèm với quyền lợi và sự tôn kính mà những chức danh, địa vị cao quý đem lại

=> Người Nhật ghét bị gọi là “ưu tú” 2.4

Tuy nhiên ở trong xã hội bình đẳng, không có những người “ưu tú” mà lại ngại đối mặt với “Noblesse oblige” thì tác giả cho rằng: “Thật là nực cười” 2.3

“Người thanh niên chen lấn xô đẩy, lao lên tàu điện ngầm, nếu phải nhường ghế và nói

“Tôi ổn” thì tâm trạng trở nên khó chịu.” 2.3

=> Trong xã hội Nhật Bản thiếu đi sự quan tâm giữa người với người, dẫn đến sự đi xuống về đạo đức và tinh thần

1.2 Yếu kém về kỹ năng của sinh viên đại học:

- Tác giả so sánh sinh viên một trường đại học tư lập đứng đầu ở Kansai và sinh viên của Đại học Harvard (Cambridge, Mỹ) và Đại học UCLA (Đại học California tại Los Angeles, Mỹ) như sau:

Sinh viên trường ĐH ở Nhật Sinh viên trường ĐH ở Mỹ

- Tuy nghe giảng rất chăm chú nhưng

sau đó chỉ có 2 - 3 người đặt câu hỏi,

số còn lại chỉ biết nghe một cách thụ

động 2.5

- Kỹ năng viết luận và chính tả kém

- Do phần lớn là các lưu học sinh nên học tập hết sức nghiêm túc 2.9

- Sau giờ học, sinh viên trật tự đi một mình đến phòng học của môn kế tiếp, mỗi người đi một hướng khác nhau

Trang 12

2.6

- Ra khỏi lớp học là ngay lập tức bàn về

chủ đề bóng chày, thời trang, manga,

Xung quanh trường học thì rất nhiều

nơi chơi pachinko 2.7

- Trong giờ nghỉ trưa thì các câu lạc bộ

hoạt động, gây ồn ào, ầm ĩ 2.8

2.10

=> Tác giả cho rằng đây mới là đại học

=> Sinh viên Nhật học tập không được tập trung, kỹ năng thảo luận và viết luận kém, tham gia vào các hoạt động ngoài học tập ở trường đại học nhiều hơn là học

- Tác giả có nói rằng: Nếu ra câu hỏi “Trường đại học = university, có đúng không?” vào đề thi vào đại học thì tất cả những ai trả lời “đúng” sẽ bị đánh trượt hết 2.11

1.3 Sinh viên không có tham vọng:

- Học sinh được nhồi nhét kiến thức nhiều nhưng chỉ học thuộc lòng, tư duy kém, khả năng đưa ra quyết định kém

- Thi đầu vào đại học dễ => Tỷ lệ đầu vào cao hơn Tuy nhiên ứng xử trong học tập của sinh viên kém lại kém đi: “Trong lớp không học, không suy nghĩ mà nói chuyện riêng oang oang.” 2.12

- Sinh viên không có niềm kiêu hãnh về địa vị của bản thân

=> Dù có học lên cao thế nào cũng không đủ để trở thành “ưu tú”

=> Không thể phủ nhận được tương lai xám xịt nếu không đưa ra được những cải cách cho giáo dục

2 Sự tàn phá đạo đức nghề nghiệp:

- Sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng, trên các mặt báo ngày ngày tràn lan các thông tin về những việc làm bất chính của quan chức, nhân viên ngân hàng, nhà kinh doanh, bác sĩ,

=> Nửa sau của những năm 1980: Đạo đức nghề nghiệp bị thoái hóa

2.1 Tàn phá đạo đức nghề nghiệp ở tầng lớp quan chức:

- Trước chiến tranh: Quan chức mang địa vị cao, trong thời kỳ đương nhiệm nắm quyền lực to lớn, đến lúc về hưu được nhận lương đảm bảo cho sinh hoạt cuộc sống về sau 2.13

- Sau chiến tranh: Nhiều đặc ân của quan chức bị tước mất, chỉ còn được coi như công chức 2.14

=> Quan chức trở nên thờ ơ, ích kỷ, mất khả năng chỉ đạo Có quyền hạn nhưng chỉ lạm dụng để vụ lợi cho bản thân

2.1 Tàn phá đạo đức nghề nghiệp của “tam giác sắt” ảnh hưởng tới kinh tế:

- Trong kinh tế Nhật Bản, giới chính trị, giới quan chức và giới tài chính là 3 trụ cột sắt liên kết với nhau, điều hành toàn bộ nền kinh tế

=> 3 trụ cột này tạo nên “Tam giác sắt” của Nhật Bản

Trang 13

- Trong tam giác sắt này giới chính trị có quyền lực lớn nhất, tuy nhiên do suy đồi đạo đức nên đã điều tiết kinh tế Nhật Bản theo hướng sai lầm, hơn nữa lại vẫn tự tin về thành công của kinh tế Nhật Bản 2.15

- Có nhiều người vẫn tin rằng, người Nhật vẫn có thể mạnh mẽ đi lên ở thế kỉ XXI như cách họ đã làm từ đống đổ nát sau chiến tranh Có thể dễ hiểu vì sao họ có niềm tin như vậy, nhưng xét với Nhật Bản hiện tại thì sự kỳ vọng này đã trở thành một yêu cầu khó có thể thực hiện được

2.2 Sự xuất hiện của các đạo sĩ 宗教家(shuukyouka):

- Trong khoảng thời gian suy đồi về đạo đức là khủng hoảng tư tưởng, các đạo sĩ 宗教

家 (shuukyouka) bắt đầu xuất hiện 2.16

- Họ là thay thế của chính trị gia, có người còn mang tố chất chính trị gia hơn cả các chính trị gia Nhật Bản thời bấy giờ

- Tuy nhiên, Nhật Bản là đất nước vô thần nên các đạo sĩ này cũng mang tính chất phi tôn giáo

Trong chủ nghĩa vô thần “thực tiễn”, sự tồn tại của thần thánh không bị phủ nhận, nhưng

có thể được xem là không cần thiết, không mang lại mục đích sống, không gây ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày Có lẽ đây là ý mà tác giả nhắm tới khi nói “Nhật Bản vô thần”, nhất là trong thời điểm sức ảnh hưởng của tôn giáo đã mờ dần tại Nhật sau CTTG II

- Nếu những chính trị gia như họ nhận được sự ủng hộ tích cực thì sẽ là một biến động

lớn trong giới chính trị, là đạo sĩ phi tôn giáo tính như tổ chức tôn giáo Aum (オウム

真理教) thì tình hình lại vô cùng nguy hiểm, dễ phát sinh bao loạn.

Tổ chức tôn giáo Aum ( オウム真理教) được thành lập vào năm 1984, gồm xấp xỉ 1950

thành viên (2007) Đây là tổ chức đã gây ra vụ việc đổ Sarin (một chất độc thần kinh cực mạnh) vào năm 1995 tại nhiều ga tàu điện ngầm ở Tokyo vào giờ cao điểm, gây ra cái chết cho 12 người, làm 50 người bị thương nặng và hơn 1000 người bị ảnh hưởng tới thị giác Tại thời điểm bấy giờ, đây được coi là vụ tấn công khủng bố nội địa lớn nhất tại Nhật từ sau CCTG II

3 Đi xuống của tư tưởng:

3.1 Nho giáo và tác động của Nho giáo đến giáo dục:

3.1.1 Trước CTTG II:

- Người Nhật tự do trong vấn đề tôn giáo Ở Nhật Bản có nhiều tôn giáo chính: Thần đạo, Phật giáo, Nho giáo và cận đại được tiếp nhận thêm cả Thiên Chúa giáo, thời điểm đó lại còn nhiều tôn giáo mới khác được hình thành 2.17

- Thời Tokugawa (1603 - 1867): Nho giáo trở thành luân lý cốt lõi của giai cấp võ sĩ

- Từ Minh Trị Duy Tân đến hết CTTG II, Nho giáo được áp dụng hà khắc trong giáo dục đạo đức ở các trường học, trẻ em được truyền đạt Nho giáo ở cả nhà trường và gia đình 2.18

3.1.2 Sau CTTG II:

Sau khi bại trận trong CCTG II, Nhật Bản phải chịu sự chiếm đóng của quân Đồng minh

Tư lệnh tối cao của các lực lượng Đồng minh (do Douglas MacArthur đảm nhiệm, ở Nhật

Trang 14

chức vụ này được gọi tắt là GHQ) bấy giờ được coi như thế lực hoàng gia mới bởi nhiều chính trị gia Nhật Bản, thậm chí còn được so sánh với chính quyền Mạc Phủ

- GHQ đã tiến hành nhiều cải cách đối với chính phủ Nhật như: Phi vũ trang hóa, giải tán tư bản tài chính, cải cách đất đai, cải cách giáo dục, 2.19

=> Khi GHQ cấm các loại hình giáo dục đạo đức này ở trường học thì nhận được sự đồng tình của người Nhật Bản

=> Những năm 1990: Hầu hết người dân Nhật Bản không còn sự tôn kính đối với Nho giáo 2.20

- Giáo dục trước chiến tranh mang tính toàn thể, quốc gia; giáo dục sau chiến tranh mang tính tự do, cá nhân

- Nguyên nhân: Nền giáo dục sau chiến tranh được tiếp thu bởi tầng lớp tri thức chịu ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo cũ nên không thể hiểu sâu sắc và chính xác về tư tưởng mới

=> Mang tính chủ quan, đậm tính cá nhân cao, ích kỷ

3.2 Chủ nghĩa dân tộc mất dần:

Sau khi bại trận trong CTTG II bị tước sức mạnh vũ trang, Nhật Bản tìm đến Mỹ để nhận

sự bảo hộ Các căn cứ quân sự của Mỹ bắt đầu xuất hiện tại Nhật Bản Theo lời của nguyên Thủ tướng Nhật Bản Yasuhiro Nakasone (nhiệm kỳ 1982 - 1987), Nhật Bản đã trở thành “tàu sân bay không thể chìm” của Mỹ

4 Nền móng cho năm 2050 không có sức sống:

4.1 Phương pháp phân tích xã hội theo quy tắc Pareto:

Vilfredo Federico Damaso Pareto (1848 - 1923) là một nhà công nghiệp, nhà kinh tế học,

xã hội học và triết học người Ý Những đóng góp tiêu biểu nhất cho kinh tế vĩ mô là khái niệm về Hiệu quả Pareto và Quy luật Pareto Ngoài ra, ông cũng có nhiều đóng góp trong xã hội học và toán học

- Pareto đã chia tính cách con người ra làm 6 nhóm yếu tố (residue) căn bản, xét trên yếu tố mạnh nhất để phân loại người:

1) Mong muốn hợp vào tổng thể mới

2) Khuynh hướng ưu tiên toàn thể hơn cá nhân

3) Khuynh hướng biểu hiện tình cảm qua hành động

Trang 15

4) Khuynh hướng ưa giao tiếp

5) Khuynh hướng bảo toàn liêm chính và tài sản bản thân

6) Ham muốn tình dục

Khái niệm “residue” ở đây được hiểu là chất đọng lại vào tiềm thức của con người sau mỗi kinh nghiệm, có thể gọi là các “lắng đọng xã hội” Pareto đã chia các residue này ra thành 6 nhóm có liên quan phần nào đến một số bản năng và khuynh hướng tình cảm của con người

=> Theo đánh giá của các nước khác thì năm 2050 chính trị gia ở Nhật sẽ còn tệ hơn hiện tại 2.23

- Đạo sĩ: Vì Nhật Bản vô thần (vô thần “thực tiễn”, như đã giải thích ở mục 2.2.) nên

những đạo sĩ chẳng qua chỉ là sự giả mạo tôn giáo mang tính trần tục Những tổ chức

tôn giáo bạo lực cực đoan mới giống như các hậu duệ của Aum ( オウム真理教) rất

có khả năng được trang bị vũ khí, nếu gây bạo loạn sẽ rất nguy hiểm

Tiểu kết:

Trong chương này, Morishima đã đề cập đến các vấn đề tàn phá về tinh thần, tư tưởng, suy đồi đạo đức của xã hội Nhật Bản sau chiến tranh Từ những vấn đề này, thông qua các phương pháp phân tích xã hội, tác giả đã dựng nên viễn cảnh 2050 ảm đạm và xám xịt trên mọi phương diện của đời sống nếu như trong vòng 50 năm tới Nhật Bản không thay đổi được những chính sách về giáo dục đạo đức hiện tại

Morishima cho rằng, điểm mấu chốt đi đến thất bại trong nhiều phương diện của xã hội Nhật Bản nằm ở tư tưởng, lối suy nghĩ sai lệch, bảo thủ, mang tính cá nhân ích kỷ; luôn

Trang 16

chỉ biết tạm hài lòng với những gì đã đạt được, không có chí tiến thủ; e ngại việc những trọng trách đi kèm nên không muốn trở nên “ưu tú”

5 Dự đoán nhân khẩu trong tương lai:

- Xuất hiện tình trạng đại giảm dân số với tình trạng nông thôn quá ít người trong khi thành phố quá đông

+ Nếu việc giảm dân số là do người già tự sát thì tốt biết bao, nhưng nó không xảy ra, và dù đã tính cả người cao tuổi thì tổng dân số vẫn không hề cao Như thế việc giảm sinh cùng già hóa sẽ đồng thời xảy ra

+ Các cặp đôi đã kết hôn ở Nhật tránh thai rất tốt nên hạn chế được tối đa khả năng sinh con Nhưng từ nay nếu vẫn còn tiếp diễn việc hạn chế sinh thì vấn đề này sẽ còn tồi tệ hơn

Trang 17

III Sự tàn phá tài chính:

1 Nguyên nhân nền tài chính bị phá hỏng:

Trong tác phẩm của mình, tác giả Morishima Michio đã chỉ ra hai nguyên nhân mấu chốt để đưa tài chính Nhật Bản vào con đường suy thoái:

“Việc các cơ quan tài chính lâm vào tình trạng thảm khốc là do 2 nguyên nhân từ cả hai phía trong và ngoài nước gây nên Đối với nguyên nhân trong nước thì ai cũng rõ đó là do bong bóng đất đai, còn nguyên nhân bên ngoài nước là do Nhật đã bị vấp ngã trong việc quốc tế bộ phận tài chính, cái mà người ta gọi là Big Bang.” 3.1

Tác giả cũng đưa ra quan điểm thẳng thắn rằng dù người ta vẫn còn phải tranh cãi việc hai nguyên nhân này có độc lập hay liên quan tới nhau hay không, nhưng thông qua việc vạch trần nguyên nhân gây tàn phá tài chính này thì người ta nhận thấy sự vô sỉ lẫn bỉ ổi của người Nhật thời kì đó 3.2

2 Sự khao khát và sùng bái đất đai của người Nhật:

- Là quốc đảo bị tách ra từ một lục địa nên Nhật luôn khao khát đất đai 3.3

- “Luận tiến Bắc” và cuộc chiến với Nga 3.4

- “Luận tiến Nam” và cuộc chiến xâm lược giành thuộc địa trong chiến tranh Đại Đông

Á 3.5

=> Ma lực của những vùng đất đối với Nhật là rất lớn Chúng đã khiến nhiều người Nhật phải đổ máu Bây giờ nhìn nhận lại, nhiều người đặt ra câu hỏi tại sao Nhật Bản lại hi sinh nhiều đến thế vì đất đai ?

- Trước khi đến với nguyên nhân đầu tiên, tác giả đã phân tích về sự sùng bái đất đai và đưa ra nhận định rằng: “Dù thế nào thì nguồn gốc của sự sùng bái đất đai của người Nhật cũng rất sâu sắc Nếu như không hiểu được điều này thì khó mà lý giải được

hiện tượng bong bóng bất động sản.” Như thế, nhà văn đã chỉ ra cho người đọc thấy

rằng nguồn gốc sâu xa của hiên tượng bong bóng bất động sản chính là do sự sùng bái đất đai vốn có từ lâu đời của người Nhật 3.6

3 Bong bóng bất động sản:

3.1 Bong bóng bất động sản là gì?

- Bong bóng bất động sản là hiện tượng giá bất động sản tăng quá mức sơ với giá trị thực của nó Song đây lại không phải sự tăng trưởng tự nhiên mà là sự tăng trưởng giả tạo do đầu cơ vào mua bán đất đai 3.7

+ Ta có thể giải thích hiện tượng này qua ví dụ sau: Một người thấy giá đất tăng nhanh thì mua một khu đất, sau đó bán cho người khác với giá cao hơn, một người khác lại mua lại khu đất ấy với giá cao hơn nữa, cứ thế, giá của khu đất bị độn lên gấp nhiều lần so với giá thực sau mối cuộc mua bán, và ai cũng giữ niềm tin rằng giá đất sẽ còn tăng cao, mình sẽ được lời

- Bong bóng cứ phình to ra, đến khi nào không còn ai muốn mua khu đất đó nữa vì giá quá đắt thì lúc đó bong bóng vỡ Bong bóng vỡ sẽ khiến giá bất động sản chững lại rồi tụt nhanh chóng, kèm theo những vấn đề liên quan đến tài chính, hệ thống các ngân

hàng, các doanh nghiệp,

Trang 18

3.2 Bong bóng bất động sản ở Nhật:

3.2.1 Bối cảnh:

- Từ năm 1970 đến những năm 1980, các doanh nghiệp thi nhau mua đất 3.8

- Đầu 1980, mất cân bằng giữa việc huy động vốn vay ngân hàng và huy động vốn bằng phát hành cố phiếu bằng thời giá 3.9

- Mọi người đổ xô đi mua đất, dường như ta có thể nhìn thấy vòng xoay điên cuồng của giá đất tăng 3.10 3.11

3.2.2 Bong bóng vỡ:

- Năm 1990: Bong bóng vỡ tan

- Mọi người ồ ạt bán đất với giá rẻ nhưng vẫn không gỡ được nợ 3.12

- Ngân hàng giữ trong tay những khoản nợ không hoàn trả được hay còn gọi là nợ xấu 3.13

- Việc suy đồi đạo đức nghề nghiệp diễn ra, đặc biệt trong giới cầm quyền 3.14 3.15 3.16

=> Kéo theo việc bong bóng vỡ là hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp cũng phải gánh hậu quả nghiêm trọng, nền kinh tế cũng theo đó mà bị suy thoái Không những thế, vấn

đề đạo đức cũng bị “xuống cấp” trầm trọng, đặc biệt là trong tam giác cầm quyền: Quan liêu - Chính trị - Tài chính

4 Big Bang phiên bản Nhật:

- “Áp lực gỡ bỏ hàng rào quốc tế trong giới tài chính đã trở nên mạnh mẽ Rất nhiều trở ngại đã được loại bỏ Đến tháng 4 năm 1998, Nhật đã xóa bỏ được các giao dịch tiền tệ nước ngoài chỉ được thực hiện thông qua các ngân hàng đã được cấp phép giao dịch nước ngoài Đó chính là Big Bang.” 3.17

=> Các giao dịch xuyên biên giới được tự do hóa theo Luật ngoại hối theo chương trình tái cơ cấu hệ thống tài chính Nhật tên là Big Bang

- Mặt tích cực: hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, cơ hội cho các công ty 3.18

- Mặt tiêu cực: giảm xuất khẩu, đồng yên tăng giá 3.19

=> Nhật Bản đã gỡ bỏ hàng rào thuế quan để mở rộng con đường hội nhập với thế

giới Big Bang chính là chương trình mà trong đó chứa những chính sách được đề ra nhằm cải cách hệ thống tài chính, quốc tế hóa đồng yên, đưa Tokyo trở thành một thị trường tài chính quốc tế ngang hàng với London hay New York Tuy nhiên, những chính sách này đã đi ngược lại kì vọng, đẩy Nhật Bản lún sâu vào cuộc đại suy thoái

Trang 19

IV Sự tàn phá giáo dục

IV.I Tình hình giáo dục sau chiến tranh

1 Ảnh hưởng của cải cách giáo dục sau thế chiến II:

Theo một khảo sát đặc biệt thì mọi người nghĩ rằng sự giao thoa văn hóa Mỹ -Nhật trong giáo dục sẽ đánh một dấu mốc lịch sử, làm thay đổi nhân khẩu của Nhật

1.1 Giáo dục trước và sau chiến tranh (1946):

- Trước chiến tranh: 4.1.1

+ Giáo dục giống như thứ xúc tiến sự thống nhất, lòng trung thành và lòng yêu nước Đạo đức dân tộc bị chính phủ nhìn nhận một cách phiến diện

+ Nền giáo dục bị hạn chế

- Sau chiến tranh:

+ Do sự chiếm đóng của quân đội, thể chế giáo dục bị thay đổi Các cơ quan giáo dục thì được xem là nơi giáo dục tiêu chuẩn cao vì dân vì nước hơn là nơi giáo dục chuyên môn

để đào tạo nhân tài Suy nghĩ quốc gia là quan trọng cũng bị gạt bỏ, cốt lõi của giáo dục trờ thành chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân 4.1.2

+ 1946: Bắt đầu học theo nền giáo dục sau chiến tranh

+ 1953: Kết thúc nền giáo dục trước chiến tranh

=> Nhật mất 8 năm để quá độ lên nền giáo dục kiểu mới, theo chính sách nhà nước thì sau chiến tranh 17 năm có thể thấy những người toàn diện thuộc nền giáo dục kiểu mới

Như thế, sau chiến tranh, nền giáo dục của Nhật dần dần thay đổi dưới các chính

sách của GHQ Trong khoảng nửa thế kỉ sau cải cách, nền giáo dục Nhật đã vấp phải rất nhiều khó khăn

2 Vai trò cúa giáo dục - Quy tắc Durkheim:

- Theo Durkheim: “Vai trò của giáo dục là để thanh thiếu niên có thể bước vào xã hội của người lớn một cách trôi chảy Tùy theo xã hội của người lớn như thế nào mà tìm

ra cách giáo dục trẻ, cũng thế mà xã hội người lớn phải thay đổi để ứng với cách giáo dục trẻ.”

- Với Nhật Bản:

Trang 20

+ Những đứa trẻ khi mới bước vào xã hội người lớn thì bị mất phương hướng 4.1.6 + Những nhân viên mới vào bị cưỡng ép phải thay đổi theo những quy tắc của công ty qua “các khóa huấn luyện nhân viên mới” mà nó đi ngược lại với những giá trị đạo đức đã được học dưới mái trường 4.1.7

+ Cuối những năm 1980, tầng lớp những người trẻ tuổi của Nhật đã tìm cách điều chỉnh

xã hội người lớn cho phù hợp với giáo dục của trẻ Tuy nhiên, việc đó cũng không

IV.II Tình hình giáo dục Nhật Bản cuối những năm 1980

1 Mối quan hệ giữa tỉ lệ học lên cao và chất lượng giáo dục ĐH

1.1 Các giáo sư không nên quá coi trọng vấn đề nghiên cứu mà nên chuyên tâm vào giảng dạy 4.2.1

1.2 Càng học lên cao thì chất lượng giáo dục càng kém

- Quá nhiều người vào ĐH (~ 40% số người được sinh ra) 4.2.2

- Chương trình học khó → tốt nghiệp mà không biết mình đã học gì → bằng mất giá trị đánh giá năng lực sinh viên → phỏng vấn tuyển dụng cũng khó 4.2.2

- Bộ Giáo dục: thực hiện giáo dục theo phương châm “học càng nhiều càng tốt” 4.2.3

1.3 Các trường ĐH tư bị coi thường:

- Trường phổ thông: Liên kết và làm dự bị cho các trường ĐH đế quốc 4.2.4

1.3.1 Đầu thời Taisho

- Trường phổ thông: thiếu: chỉ có 8 trường 4.2.5

- ĐH tư: xét trường hợp trường Doshisha nơi bố tác giả từng theo học 4.2.6

+ Quy mô nhỏ: 3 khoa, chủ yếu quy tụ dân địa phương theo học

+ Giảng viên cũng là giảng viên ở các trường khác

1.3.2 Sau khi Lệnh ĐH và Lệnh giáo dục cấp ba được ban hành (1918)

Trang 21

+ Bị coi là mối nguy hiểm từ phương Tây

2 Sự tăng trình độ học vấn – một vấn nạn nữa

2.1 Phê phán thực trạng giáo dục Nhật Bản

- Đang xảy ra sự tăng trình độ học vấn → kéo dài thời gian đi học trong cuộc đời người 4.2.10

- Phương pháp học nhồi nhét kiến thức, không làm cho sinh viên đào sâu suy nghĩ 4.2.11

Việc không suy nghĩ sâu khi học càng làm cho sinh viên trở nên thụ động và lười biếng, thụ động thì sẽ không thể bắt kịp diễn tiến cuộc sống bên ngoài nên càng muốn tiếp tục được đi học để tránh phải đối diện với thực tế cuộc sống chăng?

2.2 Suy nghĩ của tác giả về phương pháp giáo dục hiệu quả

- Thời gian học tốt nhất là tầm tuổi thanh thiếu niên 4.2.12

- Phương pháp học tốt nhất là thảo luận với bạn bè 4.2.12

- Mục tiêu giáo dục:

+ Khai phá tố chất của người học 4.2.12

+ Khiến cho học sinh tập trung vào vấn đề mình quan tâm 4.2.12

Do tiếp xúc nhiều với nền giáo dục Anh, phương pháp của tác giả cũng tương đối giống với phương pháp giáo dục ĐH ở các nước Âu Mỹ khi đề cao tính tự học và sự chủ động của sinh viên

- => Đề xuất: Xây dựng nên những ngôi trường tập hợp những sinh viên có khả năng tự đặt và giải quyết vấn đề → đóng góp cho nền chính trị đất nước, tăng trình độ học vấn cho sinh viên 4.2.13

- 2 điều gây cản trở đề xuất: 4.2.14

+ Bố mẹ nuôi con theo kiểu: an toàn, thực tế

+ Cách nghĩ: học → tăng kiến thức

Do đó, nếu muốn cải cách tận gốc như thế kia thì sẽ phải thay đổi từ cách suy nghĩ của người Nhật

3 Đề án cải cách giáo dục của tác giả

3.1 Cắt giảm số lượng môn học bằng cách gộp môn

- Thực trạng giáo dục

+ Có quá nhiều môn học riêng biệt, thiếu sự liên kết 4.2.15

+ Sinh viên không chuyên tâm vào môn học mà chỉ ghi chép và học thuộc những gì thầy cô nói, không đào sâu suy nghĩ 4.2.16

+ Người Nhật: học vấn = nhiều kiến thức → chỉ tập trung học thuộc 4.2.17

+ Việc đặt ra câu hỏi “tại sao” không được hoan nghênh 4.2.18

- Phương hướng giải quyết

+ Tích hợp một số môn vào thành 1 môn 4.2.19

+ Giảm số lượng môn thi vào ĐH 4.2.20

+ GV hướng dẫn sinh viên tự học 4.2.21

+ HS tự chọn môn học 4.2.21

Trang 22

+ Ngoại ngữ mang tính thiết thực hơn 4.2.22

- Bất cập của đề án: chưa phân loại được sinh viên: xếp những người có năng lực tư duy khác nhau vào cùng một lớp → những người tư duy tốt sẽ lười tư duy 4.2.23

3.2 Giảm tỉ lệ học lên ĐH

- Tỉ lệ vào ĐH: 40 -> 12 – 15%; 25 – 28% còn lại vào những trường không phải ĐH (trường nghề, cao đẳng, ) 4.2.24

- 5% số người học trường nghề sẽ được bổ túc để ra trường với tấm bằng ĐH 4.2.25

Cạnh tranh vào ĐH sẽ bớt gay gắt, áp lực cũng được giảm bớt khi những người trượt

ĐH và vào trường nghề sẽ vẫn còn cơ hội học tiếp nếu thực sự ham học hỏi

- Chia ĐH thành ĐH lý thuyết và ĐH thực hành: ĐH lý thuyết dạy nhanh hơn và chương trình học cao hơn (tương đương chương trình đào tạo tiến sĩ hiện nay) 4.2.26

Đây chính là phương hướng căn bản để giải quyết sự thiếu thực hành, chỉ chú trọng

lý thuyết của các trường ĐH ở Nhật bấy giờ

- Chương trình học: người học và chương trình học thiếu tính vị tha → phí thời gian không cần thiết 4.2.26

+ Sự phân biệt này cũng đã tồn tại nên phân biệt thêm cũng không sao

4 Liệu Nhật Bản có thể phục hồi được không?

- Chỉ thế thì chưa đủ 4.2.29

- Đề án có được thực hiện thì cũng chưa chắc đã được thực hiện đúng 4.2.29

4.1 Đề án cải cách của tác giả

4.1.1 Đề án của tác giả: viết trong cuốn “Anh Quốc và Nhật Bản” (xuất bản năm 1977):

- Nội dung: Cắt giảm hoặc cắt bỏ những môn giáo dục tổng quát

Những môn giáo dục tổng quát là những môn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau hoặc những kĩ năng có thể áp dụng trong mọi ngành nghề mà sinh viên phải học ngoài môn chuyên ngành để đạt được sự hiểu biết toàn diện

+ Học 2 năm chuyên môn rồi mới học tiếp 2 năm các môn giáo dục tổng quát 4.2.30 + Bỏ hẳn các môn giáo dục tổng quát, sinh viên chỉ cần 2 năm học chuyên môn là tốt nghiệp được 4.2.31

- Lợi ích của đề án cải cách

+ Sinh viên: Đỡ tốn thời gian cuộc đời; với những môn giáo dục tổng quát thì không phải học nếu không thích hoặc biết nó cần thiết để mà học tử tế 4.2.32

+ Trường học: thừa chỗ → giải quyết được vấn đề nhập học 4.2.33

Trang 23

+ Doanh nghiệp: tìm được người trẻ hơn giữa những người có cùng bằng cử nhân 4.2.34

+ Cha mẹ sinh viên: đỡ gánh nặng học phí 2 năm 4.2.35

+ Bộ Giáo dục: giảm gánh nặng tài chính → có tiền thành lập các trường cao học 4.2.36

- Dự đoán hiệu quả cải cách 4.2.37

+ Nâng cao chất lượng các học giả, nhân viên công ty, quan chức,

+ Nhưng không nâng cao được chất lượng các chính trị gia

4.1.2 Sự khác biệt giữa đề án và thực tế

- Thực tế cải cách 4.2.38

+ Các trường ĐH tổng quát đang mất dần

+ Nhiều trường đại học trở thành viện đại học

- Điểm khác biệt căn bản: Chương trình vốn chỉ để học 2 năm thì kéo dài thành 4 năm 4.2.39

+ Sinh viên không tự giác và tập trung học, chỉ tận hưởng cuộc sống sinh viên

+ Giáo viên thường tổ chức du lịch dưới hình thức seminar

- Lý giải nguyên nhân 4.2.40

+ Bộ Giáo dục: chưa trải nghiệm thực tế giờ học ở trường ĐH

+ Các đại diện của các trường, với tư cách là thành viên trong hội đồng cải cách, thì chỉ bảo vệ lợi ích các giảng viên, không quan tâm đến lợi ích sinh viên

4.2 Đánh giá vấn đề giáo dục chính trị

- Chính trị gia cần phải quan tâm và hoạt động vì lợi ích tập thể 4.2.41

- Phương pháp giáo dục chính trị tốt: không phải từ các giờ học ở trường mà từ giáo dục gia đình, tôn giáo, các CLB, 4.2.42

Tác giả chưa chỉ ra được cụ thể điều cần thực hiện dù đã so sánh với giáo dục ở Anh

- Hiện trạng chính trị ở Nhật: kém

+ Đánh giá của sứ giả Âu Mỹ 4.2.43

+ Tác giả: chính trị thời này không khác gì chính trị thời Tokugawa 4.2.44

- Nguyên nhân:

+ Chế độ Thiên Hoàng → không ai dám nêu ý kiến trái chiều 4.2.45

+ Chế độ thế tập (không thuộc gia đình hoàng tộc thì không lên nắm quyền được)

4.2.46

+ Sự thờ ơ chính trị của người dân 4.2.47

- Hệ quả:

+ Nhật Bản không được coi trọng 4.2.48

+ Kinh tế không nhận được lợi ích gì khác ngoài lợi ích kinh tế 4.2.49

Tiểu kết:

Bằng việc nêu ra thực trạng về một nền giáo dục Nhật Bản đương thời với lượng kiến thức quá nhiều mà tư duy lại bị coi nhẹ, tác giả đã mạnh dạn đưa ra một đề án cải cách vô cùng táo bạo mà đến giờ vẫn chưa được thực hiện: cắt giảm số năm học xuống 2 năm

Trang 24

B Phương án cứu trợ duy nhất – Cộng đồng chung châu Á

I Giới thiệu đề án

1 Sự cần thiết của việc có cái nhìn chung về các vấn đề lịch sử

- Để ngăn chặn suy thoái nghiêm trọng sau bong bóng cần có đề án chính trị cỡ lớn, trong đó tốt nhất là thành lập “Cộng đồng chung châu Á” 5.1

- Phản ứng của mọi người trước đề án 5.2

+ Nhật: không có/ ít quan tâm

+ Hàn, Trung: nhiều

- Thực trạng quan hệ Nhật – Trung: Nhật cố phớt lờ, lý giải lịch sử một cách mập mờ

→ Chủ tịch Giang Trạch Dân (Trung Quốc): không thể xây dựng quan hệ đôi bên được 5.3

2 Đề án: Cộng đồng chung Đông Bắc Á → cơn gió lớn

- Nhật cần có sự đổi mới về chính trị để thúc đẩy Nhật Bản, nhưng ở Nhật chưa có chính trị gia nào làm được Họ đang hiểu nhầm về chính trị 5.4

- Tách Okinawa thành một quốc gia riêng, đặt thủ đô của cộng đồng ở Okinawa 5.7

- Không bao gồm các nước Đông Nam Á vì khác biệt về tính dân tộc, tôn giáo, ý thức còn sót lại từ thời chiến tranh 5.8

2.2 Việc cần làm:

- Công nghiệp, sản xuất

+ Lập các dự án kiến thiết do Nhật Bản hỗ trợ vốn và kĩ thuật 5.9

+ Khai phá tài nguyên tiềm tàng ở Trung Quốc 5.10

+ Xây dựng đường sắt, bảo dưỡng thành phố cảng Hồng Kong làm nơi chuyển hàng 5.10

Tuy Nhật Bản có rất nhiều thành tựu đáng nể, đặc biệt về kĩ thuật nhưng việc coi mối quan hệ này chỉ là trợ giúp 1 chiều từ phía Nhật Bản thì sẽ không thể xây dựng cộng đồng bền vững

- Giáo dục: rất quan trọng nhưng giáo dục như bây giờ thì không được 5.11

+ Hiện trạng giáo dục: chỉ học kiến thức, thiếu năng lực tư duy

+ Chỉ có thể vừa vận hành Cộng đồng chung vừa học

- Thống nhất đơn vị tiền tệ 5.12

Trang 25

- Quân đội: 5.13

+ Các thành viên đội tự vệ quân sẽ tham gia vào quân đội của cộng đồng

+ Trong bối cảnh Nhật đang tham dự đội quân Liên Hợp Quốc – có những nước châu Á đang chiến đấu với đội quân Liên Hợp Quốc: Nhật cần làm trung gian hòa giải 2 bên

2.3 Lợi ích thành lập cộng đồng

- Giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ 5.14

- Vực dậy Nhật Bản đang suy thoái 5.15

- Nếu không thành lập cộng đồng được → Nhật bị cô lập, suy thoái 5.16

2.4 Điều gây cản trở sự thành lập CĐ

- Người Nhật thích người da trắng, ghét người châu Á 5.17

- Vấn đề lịch sử với Trung Quốc, Hàn Quốc 5.18

Tiểu kết:

Trong phần này, tác giả đưa ra đề án “Cộng đồng chung châu Á” để giải quyết khủng hoảng của Nhật Bản Tác giả đã đi từng bước rất cụ thể để ta có thể thấy được ý nghĩa cũng như cách thức thực hiện đề án Morishima cũng đã chỉ ra sự cản trở lớn về tính dân tộc của Nhật Bản khi không thích người châu Á và không giải quyết triệt để các vấn đề lịch sử trong khu vực Đến bây giờ, giữa Nhật Bản với Hàn Quốc và Trung Quốc vẫn thỉnh thoảng xảy ra những vụ tranh cãi về vấn đề lịch sử Tuy mang tên là “Cộng đồng chung châu Á” nhưng thực chất lại chỉ bao gồm các nước Đông Bắc Á, ngoài ra lại chưa bao quát hết được các vấn đề khác của cộng đồng như ngôn ngữ, thương mại, hơn nữa lại đặt Nhật Bản như trung tâm cộng đồng từ đó đưa ra cái nhìn hơi phiến diện và ích kỉ vì lợi ích Nhật Bản Đề

án tuy còn thiếu sót vì không phải một bài nghiên cứu hoàn chỉnh về xây dựng một cộng đồng, nhưng cũng đã đi vào trọng tâm và có thể có nhiều đóng góp

Trang 26

Ii Trở ngại tới phương án cứu trợ

- Câu chuyện về Tojo:

+ Tōjō Hideki (30/12/1884 – 23/12/1948) là một đại tướng của Lục quân Đế quốc Nhật Bản và là thủ tướng thứ 40 của Nhật Bản trong suốt phần lớn thời gian của Chiến tranh thế giới thứ hai, từ 18 tháng 10 năm 1941 đến 22 tháng 7 năm 1944 Ông là một trong những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa dân tộc và là người ủng hộ chiến tranh với Trung Quốc và các quốc gia khác, ông bị tuyên án tử hình vì các tội ác chiến tranh sau Chiến tranh thế giới thứ hai và bị xử tử hình bằng hình thức treo cổ sau một cuộc bỏ phiếu của các thẩm phán Tòa án quân sự quốc tế vùng Viễn Đông (International Military Tribunal of the Far East).( )

+ Tojo – đại diện cho phát xít Nhật một thời - là nhà độc tài tàn nhẫn, từng nắm nhiều chức vụ và gây nhiều tội ác chiến tranh 6.1 6.2

+ Tojo xuất hiện trong nhiều phim ảnh và phim tài liệu.6.3

+ Morishima hy vọng Nhật Bản sẽ không đi vào vết xe đổ của phát xít Nhật khi xưa

- Cơn ác mộng mang tên cuộc chiến tranh chính nghĩa:

+ Cuộc chiến tranh giữa Nhật –Trung/Việt Nam Nhật đã gây ra nhiều tội ác

+ Nhật đã biện minh cho lý do xâm lược của mình là chiến tranh chính nghĩa và tìm cách phớt lờ đi 6.4

+ Tuy nhiên tội ác chiến tranh mà phát xít Nhật gây ra là không thể xóa nhòa và vẫn in sâu vào tâm trí mọi người và được ghi lại như một sự kiện lịch sử 6.5

- Nhật Bản là đất nước như thế nào?

+ Morishima cho rằng : “Nhật Bản là đất nước của những nhà độc tài” 6.6

- Liệu Lịch sử Nhật Bản đơn độc không? Bánh xe lịch sử không thể bị đảo ngược + Nhật Bản cho rằng đó là cuộc chiến tranh công lý

+ Trước chiến tranh trẻ em Nhật được dạy những điều tốt đẹp về sử Nhật 6.7

+ Morishima cho rằng giáo dục yêu nước là giáo dục cách đối mặt với sự thật lịch sử, phải học hỏi từ lịch sử 6.8

Tiểu kết:

Trên thực tế quan hệ giữa Nhật – Trung – Hàn vẫn rất căng thẳng sau chiến tranh, hơn nữa những tội ác mà phát xít Nhật để lại vẫn không phai nhòa Trong khi đó Nhật Bản lại có ý che dấu lịch sử đó Chính vì vậy biện pháp cứu trợ khó có thể thực hiện được Đồng thời Morishima cũng mong rằng Nhật sẽ thay đổi cách giáo dục lịch sử một cách đúng đắn, phải để cho con em họ nhận thức và đối mặt với lịch sử cũng như học hỏi rút kinh nhiệm từ lịch sử

Trang 27

PHẦN BA: TỔNG KẾT

Qua tác phẩm “Tại sao Nhật Bản chìm đắm”, Morishima Michio đã cho chúng ta một cái nhìn bao quát nhất về tình hình Nhật Bản thập niên những năm 1990 : khủng hoảng sâu sắc và toàn diện về cả kinh tế, chính trị, xã hội sau khi kinh tế bong bóng vỡ vào đầu thập kỷ, và cả chính phủ lẫn các nhà nghiên cứu đều đang loay hoay tìm lối ra cho Nhật Bản thoát khỏi suy thoái Trong bối cảnh đó liệu con đường nào sẽ giúp Nhật Bản thoát khỏi khó khăn?, và liệu Nhật Bản có trở lại với sự “thành công” như trước không? chính là những câu hỏi Morishima đã đặt ra khi viết tác phẩm này Dựa trên những phân tích của mình, Morishima

đã đưa ra đề án cứu trợ nhưng đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn trong việc thực hiện đề

án đó

Trên thực tế sau khi bước vào thiên niên kỷ mới, tuy tình hình Nhật Bản có cải thiện nhưng vẫn không mấy sáng sủa khi tăng tưởng kinh tế vẫn ì ạch, hơn nữa lại bị ảnh hưởng nặng nề do khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008) Tuy nhiên sau đó đến nay Nhật Bản đã bắt đầu phục hồi trở lại Về phần phương án cứu trợ của Morishima, tuy chưa thực sự thực hiện được, nhưng những hiệp định song phương, đa phương đã giúp cộng đồng kết hợp thành một khối, thể hiện qua cơ chế thị trường cũng như giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các bên, cũng phần nào cho thấy cách suy nghĩ của tác giả là đúng đắn và đi trước thời đại

Trang 28

TRÍCH DẪN TÀI LIỆU

(Các trích dẫn tài liệu trong tác phẩm “Tại sao Nhật Bản chìm đắm”)

A Thực trạng suy thoái của Nhật Bản

I Sự tàn phá công nghiệp:

1.1 Tr 87: 銀行融資とエクィティ・ファイナンスの間の不均衡は、いわゆる日本型金融ーそれは戦時中に始められ、戦後一層精巧なものに仕上げられたーに壊滅的打撃を与え た。

Sự thiếu cân bằng giữa tài chính ngân hàng và Equity finane, đã giáng một đòn chí tử vào cái được gọi là tài chính theo kiểu Nhật Bản, mô hình vốn bắt đầu trong thời chiến và được rèn giũa công phu hơn sau chiến tranh

1.2;1.3 Tr 87: 企業が投資需要を満たすために銀行から長期融資を受けることは新株を発行して投資資金を入手するのに費用の上で対抗できないから銀行の長期融資は採算に合わなくなったのである。

Các doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu đầu tư, đã vay trường kì từ ngân hàng, phát hành cổ phiếu mới, dù đã nhận đc tiền đầu tư nhưng về mặt kinh phí thì không thể đương đầu được nên các khoản vay dài hạn từ ngân hàng đã ko còn phù hợp với lợi nhuận thu được

1.4 Tr 87: 金融荒廃の先頭を切って日本長期信用銀行が壊滅したのは決して驚くべきことではない。むしろ不均衡への対抗策をとらず、長銀が破滅するのを対岸の火災視していた大蔵省、日銀、 それから誰よりも長銀幹部怠惰振りに驚くのが当然である。

Việc các ngân hàng tín dụng kì hạn dài của Nhật bị phá hủy cũng không có gì ngạc nhiên Thà rằng lý do là không có biện pháp đối phó với sự mất cân bằng, mà ở đây, có ngạc nhiên truớc việc Bộ Tài Chính, ngân hàng Nhật coi sự biến mất của các ngân hàng này là tai họa ở chỗ khác, sự luời biếng của giám đốc các ngân hàng này cũng là điều đương nhiên

1.5 Tr 87 - 88: そうすると銀行と企業をつなぐ靱帯が切れて、企業集団がばらばらになってしまう。企業が資金獲得に銀行詣すことがなくなるからである。

Theo đó, sợi dây ràng buộc giữa ngân hàng và doanh nghiệp bị cắt đứt, các tập đoàn doanh nghiệp cũng trở nên tách biệt Các doanh nghiệp không cần đến ngân hàng vay vốn nữa

1.6 Tr 79: 銀行の手許には返済されない貸出金すなわち不良貸出しと、安い値段でしか処分できない担保すなわち不良資産が残った。

Trong tay ngân hàng lúc này còn lại nợ xấu, tức là nợ không trả được và tài sản thế chấp, tức là tài sản chỉ có thể bán với giá rẻ mạt

Trang 29

Tr 88: 銀行がカを失うことによって、戦後の企業集団構造にも大きいひびが入ってしまったのである。

Vì các ngân hàng bị mất quyền lực nên đã xuất hiện một vết nứt lớn trong cấu tạo tập đoàn doanh nghiệp sau chiến tranh

1.7 Tr 88: このように銀行融資とエクイティ・ファイナンスの間の不均衡は、単に金融分野に大影響を与えただけでなく、産業構造にも大影響を与える。

Cứ như vậy, sự mất cân bằng giữa tài chính ngân hàng và Equity finane không chỉ gây ảnh hưởng tới lĩnh vực tài chính mà còn gây ảnh hưởng lớn tới cấu tạo doanh nghiệp

1.8 Tr 98: 戦後は、戦争を企んだか、それに協力したという罪が財閥にかぶせられ、

巨大会社は小さく分割され、財閥家族はそれまでは自分たちのものであった会社の経営にタッチできなくなった。

Sau chiến tranh, các Zaibatsu (tài phiệt) bị quy tội gây ra hoặc đồng phạm trong âm mưu chiến tranh, các công ty khổng lồ bị chia nhỏ, gia đình tài phiệt không thể đụng chạm tới việc quản lý công ty của mình

1.9 Tr 98: その後独占禁止法が制定されて企業間の株式相互持合いは禁止ないし制限されたが、細分された旧財閥企業は小企業に分離分散してしまうのでなく、直接的には分離されているが間接的にはつながっているという、いわゆる「分離不可能」(indecomposable) な一体を保ち続けた。

Sau đó, luật chống độc quyền được ban hành, việc nắm giữ cổ phiểu lẫn nhau giữa các doanh nghiệp tuy không bị cấm mà chỉ bị hạn chế nhưng các doanh nghiệp tài phiệt cũ vốn đã bị phân chia thì nay không bị chia thành các doanh nghiệp nhỏ Dù trực tiếp phân chia nhưng chúng lại gián tiếp nối vào với nhau, hay còn gọi là thể không thể chia tách đang được duy trì

1.10 Tr 98: その結果、財閥は企業集団として生き延びたのである。各財閥は製造工業会社の他に、金融会社(銀行、信託銀行、保険会社等)を持っているとともに商事会社を持っていた。そして銀行は同じ企業集団所属各社のメイン・バンクとなり、投資のための融資を容易にし、商社は生産会社の取引を容易にするとともに各社に貴重な情報を提供しました。

Kết quả, các tập đoàn tài phiệt vẫn sống sót, tồn tại với tư cách là các tập toàn doanh nghiệp Các tập đoàn tài phiệt này ngoài các công ty sản xuất công nghiệp, còn có công ty tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm…) và công ty thương mại Các ngân hàng trở thành ngân hàng chính của các công ty cùng tập đoàn doanh nghiệp, dễ dàng trong việc cung cấp vốn đầu tư, các công ty thương mại ngoài việc dễ dàng giao dịch, mua bán với công ty sản xuất thì còn cung cấp nguồn thông tin quý báu tới công ty

Tr.88: 企業集団の形をとって連絡を保ちつつ発展してきた旧財閥諸企業は、ばらばらになって行動するか、よその旧財閥系諸会社と連携して行動することもあり得るようになったのである。

Trang 30

Các tập đoàn doanh nghiệp tài phiệt cũ hoạt động tách biệt, phát triển theo hình thức tập đoàn, nhưng vẫn liên kết với các công ty thuộc tập đoàn tài phiệt cũ

1.11 Tr 91: 日本の会社運営は、(一)終身雇用、(二)年功序列、(三)企業別労働組合を三本柱としている。その中でも重要なのは(一)と(二)である。

Việc quản lý công ty của Nhật có 3 trụ cột chính: (1) tuyển dụng suốt đời, (2) cơ chế thâm niên, (3) công đoàn lao động riêng biệt theo từng doanh nghiệp Trong đó, quan trọng là (1)

và (2)

1.12 Tr 92: そういう人達にとって一番の関心事は、その仕事が終身保障されたものかどうかである。したがって、例えば大学教師の職は、終身雇用の権利を得るまでの初期の下級職(アメリカでは助教授の期間、イギリスでは講師職の最初の数年

間 )の時代を過ぎれば、終身職である。

Với những người này, điều họ quan tâm nhất là, công việc này có đảm bảo làm suốt đời hay không Theo đó, ví dụ về nghề nghiệp của giảng viên đại học, nếu trải qua thời kì cấp thấp trong thời kì đầu (ở Mỹ là thời kì trợ giảng, ở Anh là những năm đầu của giảng viên), đến khi nhận được quyền lợi làm việc suốt đời, thì đó là công việc suốt đời

1.13 Tr 92: もちろん終身職であるということは年功序列で自動的に毎年昇給したり、地位があがったりすることを意味しない。

Tất nhiên, công việc làm suốt đời này trong chế độ thâm niên thì sẽ được tăng lương hàng năm và không có ý nghĩa trong việc tăng địa vị

Tr 94: 大きい大学には、研究上の種々な便益があるから、一生移動せず、一生教授にもならないでいる人が、必ず、しかもかなりの人数いる。

Ở những trường đại học lớn, vì có nhiều lợi nhuận từ việc nghiên cứu, nên nhiều người dù cả đời không lên chức giáo sư, không thăng tiến thì cũng không chuyển việc

1.14 Tr 108: 日本では会社を渡り歩く人は会社への忠誠心のない者と悪く見られる。

Ở Nhật, những người chuyển công ty bị nhìn nhận xấu là không có lòng trung thành với công

ty

1.15 Tr 94:日本では、新卒者を雇用する時に調節するから、よその会社からの引き抜きや転職は例外的にしか行なわれない。

Ở Nhật, vì có sự điều chuyển nhân viên khi tuyển thêm người mới tốt nghiệp nên việc chuyển công ty hay tuyển dụng thêm từ công ty khác rất hiếm khi xảy ra

1.16 Tr 92:日本では採用された大学職員は、助手、講師、助教授、教授の順序で昇進する。昇進の条件は建前としては、その地位にふさわしい学問的業績をあげていることだが、本音の条件はその地位にふさわしい年齢に達していることである。その地位にふさわしい内容のものであると見なすことによって、本音の条件さえ満たしてれ建前の条砦自明的に満たされたことになる。

Trang 31

Ở Nhật, viên chức thăng tiến theo thứ tự trợ lý, trợ giảng, giảng viên, giáo sư Điều kiện để thăng tiến là có trình độ học vấn phù hợp với vị trí đó nhưng điều kiện thực sự là đạt tới độ tuổi phù hợp với chức vị Nếu có nội dung phù hợp với vị trí thì chỉ cần đáp ứng điều kiện thực sự thì cũng sẽ đáp ứng điều kiện nguyên tắc

1.17 Tr 107: そのようなクラプは、能率の良い人が悪い人に自発的に援助の手を差し出すか、足踏みして待つのでなければ成立しない。

Câu lạc bộ như thế này, những người giỏi sẽ dang tay cứu trợ những người người kém một cách tự nguyện, nếu không đứng yên tại chỗ chờ đợi thì sẽ không thành lập được

1.18 Tr 95: 日本では終身雇用と年功序列が不可分の関係にあり、同年に入社したものは一斉(あるいはほぼ一斉)の昇進(給与面でも地位面にあり、同年にでも)するのに、(中略)

Ở Nhật, chế độ tuyển dụng suốt đời và chế độ thâm niên có quan hệ không thể tách rời Những người vào công ty cùng năm, sẽ được thăng tiến (cả tiền lương và chức vị) cùng kiểu (hoặc gần như cùng kiểu)

1.19 Tr 96: 人間に能力差(業績差)がある以上、それを無視した仲良しクラブ的昇進は組織を非効率にするだろう。

Sự thăng tiến kiểu câu lạc bộ những mối quan hệ tốt đã bỏ qua sự khác biệt về năng lực của mỗi người, dẫn đến sự làm việc phi hiệu quả trong các tổ chức

1.20 Tr 71: こういう倫理的混乱がもたらす、一番深刻な問題は失業問題であるだろう。それは目下第一級の大問題の取り扱いを受けていないが、近い将来に日本の最大の問題になるであろうと思われる。

Vấn đề nghiêm trọng nhất mà sự hỗn loạn đạo đức như vậy mang đến là vấn đề thất nghiệp Vấn đề này hiện tại thì chưa được ưu tiên giải quyết hàng đầu, nhưng trong tương lai gần, nó

sẽ trở thành vấn đề hàng đầu

1.21 Tr 72: 今は失業率は四 二パーセントである。

Hiện nay, tỉ lệ thất nghiệp là 4,2%

1.22 Tr 71: そして日本が今までの繁栄から転げ落ちるのも、現在の見かけではそれほど大きくない失業が、やがて急速に雪ダルマのように拡大するからにある。

Do đó Nhật Bản là một đất nước rơi từ sự hưng thịnh, tuy bây giờ trông có vẻ to tát nhưng vấn đề này sẽ sớm phình ra như người tuyết

1.23 Tr 72: 欧米諸国から比べて四.二パーセントという数字は低い。それは日本経済が健在な証拠であると会長が主張したのである。そういう主張は昔よく聞いた話で、ミセス・サッチャーが首相であった頃には、日本経済の失業率が低いのは数値が低くなるように日本の指数が構成されているからだ、という主張をよく聞かされ

Ngày đăng: 07/04/2023, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w