1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận Dạy học văn bản nghị luận ở trường trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại

68 3,4K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa luận Dạy học văn bản nghị luận ở trường trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại
Tác giả Nguyễn Thị Phương Loan
Người hướng dẫn ThS. Bùi Minh Đức
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 345 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn ấy, với yêu cầu giảng dạy và với tư cách là một người GV trong tương lai, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học phổ thông theo đặc t

Trang 1

Tác giả khoá luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trântrọng nhất tới các thầy cô.

Do năng lực của người nghiên cứu có hạn nên khoá luận chắc chắnkhông tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo,góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2008

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Phương Loan

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu trong khoá luận là trung thực Khoá luận này chưa từng được công

bố trong bất cứ công trình nào Nếu những lời cam đoan trên là sai tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2008

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Phương Loan

Trang 3

Mục lục

Trang

Mở

Đầu

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Mục đích nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Bố cục của khoá luận

Nội dung

Chương 1: Đặc trưng của văn nghị luận

1.1 Khái niệm văn nghị luận

1.2 Phân loại văn nghị luận

1.3 Đặc trưng của thể loại văn nghị luận

1.3.1 Nêu lên ý kiến, thể hiện quan điểm, thái độ của người viết trước một vấn đề của cuộc sống

1.3.2 Thuyết phục người đọc bằng hệ thống lí lẽ và cách lập luận chặt chẽ, hùng hồn

Chương 2: Dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại

2.1 Vai trò của việc dạy văn theo đặc trưng thể loại

2.2 Định hướng dạy văn nghị luận theo đặc trưng thể loại

2.2.1 Bước thứ nhất: Đọc-hiểu cấu trúc văn bản

2.2.2 Bước thứ hai: Đọc-hiểu nội dung văn bản

2.3 Phương pháp dạy văn nghị luận

Trang 4

2.3.1 Phương pháp đọc diễn cảm

2.3.2 Phương pháp tái tạo, tái hiện

2.3.3 Phương pháp đàm thoại gợi mở

2.3.4 Phương pháp giảng bình

Chương 3: Thiết kế thể nghiệm dạy học văn bản nghị luận theo đặc trưng thể loại

3.1 Mục đích thể nghiệm

3.2 Nội dung thể nghiệm

3.3 Văn bản dạy thể nghiệm

3.4 Giáo án thể nghiệm

Bài 1: Chiếu cầu hiền

Ngô Thì Nhậm Bài 2: Một thời đại thi ca

Hoài Thanh

Trang 5

Mở Đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Phương pháp dạy học văn đặt vấn đề tìm hiểu những điều kiện sưphạm và tính quy luật của quá trình đào tạo và giáo dục thẩm mĩ, tìm hiểumục đích và nhiệm vụ môn văn, nghiên cứu nội dung và phương thức dạy họcvăn trong nhà trường Khoa học về phương pháp dạy học văn phát hiện mốiquan hệ khách quan giữa mục đích - nội dung - phương pháp và hình thức tổchức dạy học văn, góp phần đáp ứng những đòi hỏi về phương pháp và cáchthức giảng dạy

Khoa học về phương pháp dạy học văn là những chỉ dẫn sư phạm có ýnghĩa quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả giáo dục thẩm mỹ, góp phần hìnhthành cuộc sống văn hoá cho HS

Tính khoa học của bộ môn này thể hiện chính ở sự chính xác, sự phùhợp, sự cập nhật với trình độ nhận thức của đối tượng dạy học (HS) và vớithời đại lịch sử cụ thể Tức là ở những giai đoạn phát triển khác nhau của nềngiáo dục thế giới mà có phương pháp dạy học phù hợp Do đó đối với nềngiáo dục của một nước nói chung, đối với việc dạy học văn nói riêng, đổi mớiphương pháp dạy học văn là một điều tất yếu để có một được chất lượng dạyhọc văn hiệu quả

Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là một vấn đề mang tính thời sựcủa nước ta hiện nay Các nhà chiến lược giáo dục đã và đang đưa ra nhiềuphương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn để góp phầnđưa nền giáo dục nước ta bắt kịp sự phát triển của giáo dục thế giới Hệ thốngcác phương pháp dạy học văn đó có thể nói là đã khá phong phú, đa dạng,song dạy học văn theo đặc trưng thể loại vẫn là phương pháp dạy học căn bản

Vì vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần xây dựng và hoànthiện lí luận dạy học về mặt đặc trưng thể loại, đặc biệt là thể nghị luận

1.2 Chương trình SGK trước đây trình bày các văn bản văn học theotiến trình lịch sử, nặng về văn học sử, minh họa cho văn học sử Cách trình

Trang 6

bày này có ưu điểm là giúp GV và HS có cái nhìn khái quát về sự phát triểncủa văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử Nhưng nó cũng làm hạn chếkhả năng tự học của HS, bởi HS học văn bản nào thì viết văn bản ấy màkhông có mối liên hệ với các văn bản khác cùng thể loại

Chương trình SGK Ngữ văn mới lựa chọn văn bản tác phẩm theo thể loại

và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại Chương trình vẫn dựa vào tiếntrình lịch sử văn học dân tộc và thế giới, nhưng ở mỗi giai đoạn (thời kì) sẽlựa chọn ra các thể loại văn học tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bảnmẫu cho việc dạy đọc-hiểu Do đó, GV và HS không chỉ có cái nhìn khái quát

về văn học Việt Nam và những tinh hoa của văn học thế giới mà còn có cáinhìn sâu sắc về mặt thể loại Học một văn bản thuộc thể loại này sẽ có kiếnthức công cụ để tìm hiểu các văn bản khác cùng thể loại Các văn bản nghịluận, do đó, cũng đựơc trình bày theo trục thể loại này Vì vậy, nắm được đặctrưng của thể loại nghị luận và các phương pháp dạy học văn nghị luận phùhợp là yêu cầu tất yếu

1.3 Theo thống kê, chúng tôi nhận thấy nghị luận là thể loại có nhiềuvăn bản đang được dạy trong nhà trường THPT Tuy nhiên, trong thực tế cókhông ít GV tiến hành những giờ dạy văn bản nghị luận khô khan, ít kíchthích hứng thú cho HS Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do họ chưanắm thật chắc đặc trưng của thể loại nghị luận kéo theo việc không có phươngpháp dạy phù hợp Do vậy, như một tất yếu, điều này ảnh hưởng không nhỏđến quá trình giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ cho HS Cũng do đó, GV và

HS sẽ không có cái nhìn đầy đủ về nền văn học Việt Nam

Từ thực tiễn ấy, với yêu cầu giảng dạy và với tư cách là một người GV

trong tương lai, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại” với mong

muốn đóng góp một cách tiếp nhận có hiệu quả với văn bản nghị luận Và đâycũng là bước chuẩn bị cho việc giảng dạy văn sau này của chúng tôi

2 Lịch sử vấn đề

Trang 7

Mặc dù quan điểm biên soạn chương trình SGK theo trục thể loại mớiđược hiện thực hoá chính thức từ năm học 2006 -2007 ở trường THPT, songtrước đó đã có một số tác giả tìm hiểu vấn đề dạy học văn theo đặc trưng thểloại, trong đó có thể nghị luận Có thể kể đến những tác giả sau:

- Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” đã chỉ ra những đặc trưng của thể loại nghị luận và cách giảng

dạy văn nghị luận, nhưng chủ yếu là chỉ ra những yêu cầu cần đảm bảo trongtiết dạy văn nghị luận

- Tác giả Đàm Gia Cẩn trong bài viết “Giảng văn nghị luận theo đặc trưng loại, thể” chủ yếu đưa ra một số yêu cầu về nội dung bài giảng văn

chính luận và chỉ ra những điểm cần lưu ý khi giảng bài văn nghị luận vănhọc Trước đó, tác giả cũng đã chỉ ra các đặc trưng của thể loại này

- Tác giả Trần Đình Chung biên soạn một cuốn sách cho GV cấp

Trung học cơ sở có tên “Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt” Trong đó có một chương riêng về dạy học văn bản

nghị luận Mặc dù mục đích chủ yếu là định hướng cho GV cấp THCS songcuốn sách này cũng là tài liệu tham khảo cần thiết cho GV THPT ở đây, tácgiả đã nêu lên những đặc trưng của phương thức nghị luận và một số yêu cầu

cụ thể của phương pháp dạy học văn bản nghị luận dân gian, trung đại và hiệnđại

- Ngoài ra còn có một số tác giả khác như Nguyễn Đăng Mạnh, TrầnĐình Sử cũng có một số bài viết về văn nghị luận và dạy học văn nghị luận

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên dù chưa nhiều

về số lượng nhưng đã giải quyết được một phần rất có ý nghĩa về mặt phươngpháp, đã có đựơc những định hướng chung nhất, cải thiện được tình hình khókhăn về mặt phương pháp dạy học văn nghị luận cho GV văn Tiếp tục pháttriển theo hướng mà các nhà nghiên cứu trên đã khẳng định, người viết tiến

hành việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện hơn về vấn đề “dạy học văn bản nghị luận theo đặc trưng thể loại” ở trường THPT

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận ở trườngTHPT nói riêng và dạy học văn nói chung

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người viết xác định những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những đặc trưng của thể loại văn nghị luận

- Xác định phương pháp dạy học văn nghị luận theo đặc trưng thể loại

- Thiết kế giáo án thể nghiệm hai văn bản nghị luận trong chương trìnhSGK Ngữ văn 11:

+ “Chiếu cầu hiền” – Ngô Thì Nhậm, SGK Ngữ văn 11, tập 1

+ “Một thời đại trong thi ca” – Hoài Thanh, SGK Ngữ văn 11, tập 2

5 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Phương pháp dạy học tác phẩm văn nghị luận trong SGKNgữ văn THPT

- Tư liệu: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểuvốn tư liệu bằng tiếng Việt

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đốichiếu

- Phương pháp thực nghiệm

7 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận gồm 3 chương:

Chương 1: Đặc trưng của văn nghị luận

Chương 2: Dạy học văn bản nghị luận ở trường THPT theo đặc trưng thểloại

Chương 3: Thiết kế thể hiện dạy học văn bản nghị luận theo đặc trưngthể loại

Nội dung

Chương 1

Trang 9

Đặc trưng của văn nghị luận

1.1 Khái niệm văn nghị luận

Nói đến văn học nghệ thuật, người ta thường chỉ nghĩ đến những sángtác bằng tưởng tượng, bằng hư cấu như: thơ, truyện, kịch mà ít nghĩ đến văn

nghị luận Từ điển “Bách khoa toàn thư” của Mĩ định nghĩa: “Văn học là những sản phẩm viết của xã hội bằng văn xuôi hoặc thơ Theo nghĩa rộng, văn học bao gồm tất cả các kiểu viết theo lối hư cấu hoặc không hư cấu nhằm mục đích xuất bản” Cũng theo phân loại của từ điển này văn nghị luận được

xếp vào dạng thức không hư cấu Văn nghị luận là một thể văn đặc biệt, khácvới các thể văn hư cấu kể trên ở chỗ, nếu trong thơ, tác giả dùng nhiều đếntưởng tượng và lấy ngôn từ hàm súc, tinh tế, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh,giàu nhạc điệu để biểu hiện cảm xúc của mình; và trong truyện, kịch, tác giảlấy việc xây dựng thế giới hình tượng nhân vật làm trung tâm để miêu tả cuộcsống, con người, để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình; thì trong vănchính luận, tác giả không dùng hư cấu - một hoạt động cơ bản của tư duy hìnhtượng, không dựa vào trí tưởng tượng mà dựa vào tư duy lôgic, bằng ngônngữ trực tiếp của mình để trình bày một thái độ, một quan điểm, một tư tưởngnào đó nhằm thuyết phục người đọc, người nghe đồng ý, đồng tình, đồng cảmvới vấn đề và cách giải quyết vấn đề của mình

Nếu văn hư cấu nhằm kích thích trí tưởng tượng, liên tưởng, xây dựng ócquan sát tinh tế với tình cảm chân thực, những khám phá đa dạng, hồn nhiên

về cuộc sống, con người thì văn nghị luận lại nhằm hình thành và phát triểnkhả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách mạchlạc, sáng sủa, rõ ràng, giàu sức thuyết phục, diễn tả những suy nghĩ và nêu ýkiến riêng của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong vănhọc, nghệ thuật

Ta có thể thấy rõ sự khác biệt của văn hư cấu và văn nghị luận qua hai ví

dụ sau:

Ví dụ 1:

Trang 10

“Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào [ ]

Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối Các cửa nhà đã đóng im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng [ ]

Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau sáng lấp lánh, lẫn với những vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân

Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông Vũ trụ thăm thẳm bao la với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lúc sau: hai chị em lại nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên trõng hàng của chị Tí ”

(Hai đứa trẻ – Thạch Lam)

Ví dụ 2:

“Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lo thấy nước nhục mà không biết thẹn Làm tướng triều đình phải đầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn; hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng

áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc, và lại vợ con bìu díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được

Trang 11

đầu giặc, chó săn tuy khoẻ không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!”

(Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn)

Đọc hai đoạn văn đưa ra trên đây, người đọc có thể dễ dàng nhận ra đâu

là văn hư cấu, đâu là văn nghị luận

Ví dụ 1 là đoạn văn lấy ra từ truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

Đây là đoạn văn dùng hư cấu, tưởng tượng để tả lại khung cảnh của một phốhuyện nghèo lúc chiều tối và khi đêm xuống Bức tranh thiên nhiên lúc chiều

tối được nhà văn khắc hoạ qua những hình ảnh so sánh đầy màu sắc: “phương tây đỏ rực như lửa cháy” “đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại”, cùng những âm thanh rộn rã, đặc trưng của làng quê nghèo: “tiếng trống thu không”, “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng”, và những đường nét mộc mạc, thôn quê: “dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời” Và đây là những hình ảnh phố huyện lúc đêm về: “đêm mùa hạ

êm như nhung và thoảng qua gió mát”, rồi “vòm trời với hàng ngàn ngôi sao ganh nhau sáng lấp lánh” Tất cả những hình ảnh đó đều là những hình ảnh

chân thực, tiêu biểu cho khung cảnh thiên nhiên làng quê Bắc Bộ Việt Nam.Tuy nhiên, phải là người có óc quan sát tinh tế thì mới thấy được

Ngược lại với đoạn văn trên, đoạn văn ở ví dụ 2 lại là một đoạn văn nghịluận đặc sắc ở đây, người viết tập trung nêu lên ý kiến, thể hiện quan điểm,thái độ của mình trước một vấn đề của cuộc sống, đó là: vai trò, trách nhiệmcủa tướng sĩ đối với triều đình, đối với sự an nguy của đất nước Lời văntrong đoạn văn ở ví dụ 2 đanh thép, hùng hồn với hàng loạt cặp câu phủ định.Trần Quốc Tuấn đã đặt ra rất nhiều tình huống, lật đi lật lại vấn đề một cáchthấu đáo, kỹ càng bằng những lý lẽ và dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng Cáchlập luận này một mặt thể hiện điều ông đang day dứt là rất đáng quan tâm, rấtquan trọng, mặt khác dồn người nghe vào tình trạng “không thể chối cãi”,không thể không công nhận những gì ông nói, tức là đã bị thuyết phục hoàntoàn

Trang 12

Như vậy, có thể khẳng định, nếu quan niệm văn học là nghệ thuật ngôn

từ thì những áng văn nghị luận cũng là một sản phẩm văn học nghệ thuật đíchthực Vì là những thể loại văn học khác nhau, nên mỗi lối viết văn lại có sựvận dụng ngôn từ theo một phương thức biểu đạt khác nhau, nhằm mục đíchkhác nhau, và do đó, chúng có những đặc điểm riêng, cách nói riêng Nếu nhưvăn miêu tả, kể chuyện chỉ qua một số từ ngữ mà lột tả và làm sống dậy trướcmắt người đọc thần thái của sự vật, sự việc thì văn nghị luận lại tiêu biểucho cách nói hùng hồn và giàu sức thuyết phục Nếu như văn hư cấu tác độngnhiều vào trí tưởng tượng, kích thích óc quan sát thì văn nghị luận tác độngmạnh mẽ vào nhận thức lí tính, nâng cao khả năng lập luận, rèn luyện tư duylôgic cho người viết

Nói tóm lại, văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tìnhcảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về các vấn đề vănhọc, chính trị, đạo đức, lối sống và được trình bày bằng một thứ ngôn ngữtrong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyếtphục

1.2 Phân loại văn nghị luận

Căn cứ vào nội dung, người ta có thể xếp những bài văn nghị luận ra làmhai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong đó, nghị luận văn học lànhững bài nghị luận về một vấn đề văn học nào đó: một chi tiết, một hình ảnhnghệ thuật; một tác giả, một tác phẩm; một vấn đề lí luận văn học còn nghịluận xã hội (ta thường gọi là văn chính luận) là những bài nghị luận về mộtvấn đề chính trị, đạo đức, lối sống nào đó

Căn cứ vào các giai đoạn văn học, người ta chia thành ba loại: nghị luậndân gian, nghị luận trung đại, nghị luận hiện đại Tất nhiên, vì ở những giaiđoạn lịch sử cụ thể khác nhau mà ba loại văn nghị luận này sẽ có hình thứcbiểu đạt, mục đích biểu đạt khác nhau, song chúng đều giống nhau là ở chỗ làcùng sử dụng phương thức nghị luận, tức là trong văn bản của mỗi loại nàyđều có tính tranh biện, tranh luận đúng sai về một vấn đề

1.3 Đặc trưng của thể loại văn nghị luận

Trang 13

1.3.1 Nêu lên ý kiến, thể hiện quan điểm, thái độ của người viết trước một vấn đề của cuộc sống.

ở nước ta, văn nghị luận là một thể loại văn giàu truyền thống, có giá trị

và tác dụng to lớn trong trường kì lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữnước Có thể nói, trong suốt quá trình lịch sử đó, văn nghị luận là nơi phảnánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả dân tộc

Đó là lòng yêu nước nồng nàn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” (Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn) Đó là

lòng tự hào, tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế ngang bằng của dân tộc với đếquốc phương Bắc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có”

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Đó là tư tưởng trọng người hiền tài, đãi kẻ sĩ: “hiền tài là nguyên khí của đất nước Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp” thể hiện rõ trong bài văn bia khắc ở Văn

miếu Quốc Tử Giám do Thân Nhân Trung soạn thảo (1442)

Đó còn là những nhận thức thẩm mĩ của cha ông ta về vẻ đẹp và ý nghĩa

của văn chương nghệ thuật: “Đối với thơ văn, cổ nhân ví như khoái chá, ví như gấm vóc; khoái chá là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là màu rất đẹp trên đời, phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng mà không vứt bỏ, khinh thường Đến như thơ văn thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả

Trang 14

vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được Chỉ có thi nhân là có thể xem mà biết sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon

ấy thôi” (Lời Tựa “Trích diễm thi tập” – Hoàng Đức Lương).

Hay là sự trân trọng vai trò của những người có tài, có đức và tư tưởng

“chiêu hiền đãi sĩ” của vua Quang Trung trong Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm soạn thảo: “Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền

ắt làm sứ giả cho thiên tử Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài

mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy”

Như vậy, về mục đích biểu đạt, văn nghị luận trung đại xuất hiện trongnhững thời điểm khác nhau của đời sống lịch sử đất nước, được viết bởinhững người giữ trọng trách của đất nước để bàn bạc, giải thích, chứng minh,khẳng định những vấn đề chính trị, xã hội liên quan đến đời sống cộng đồng Bước sang thế kỉ XX, đội ngũ sáng tác văn chương nghệ thuật không còngiới hạn hầu như là những người thuộc tầng lớp quý tộc, vua quan, tướnglĩnh như thời trung đại nữa mà mở rộng ra mọi tầng lớp nhân dân Chính vìthế, văn học nói chung, văn nghị luận nói riêng có sự phát triển vượt bậc hơnbao giờ hết Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận, văn luận xuất sắc vớinhững áng văn nghị luận bất hủ, mà tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh với bản

Tuyên ngôn độc lập (1945)- lời tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ

cộng hoà với toàn thể nhân dân và thế giới Cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh lànhững chí sĩ yêu nuớc đồng thời là những nhà chính luận cự phách như: PhanBội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Nguyễn AnNinh Tiếp đó là những nhà cách mạng, nhà văn hoá lớn như: TrườngChinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng rất nhiều nhà viếtvăn nghị luận nổi tiếng sau đó như: Hải Triều, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh,Xuân Diệu, Chế Lan Viên

Đó là tiếng nói đau đớn của một chí sĩ cách mạng trước sự mất mát thui

chột đi nền luân lí xã hội: “Xã hội luân lí ở nước ta thì tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều Một

Trang 15

tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được, cho nên không cần cắt nghĩa làm gì” (Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh).

Đó còn là những lời bình tinh tế của Hoài Thanh – nhà phê bình văn họcnổi tiếng của nền văn học hiện đại Việt Nam – về tinh thần thơ mới và bi kịchtâm hồn của các nhà Thơ mới (1932 -1945):

“Thi nhân ta cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước Chữ

“ta” với họ to rộng quá Tâm hồn họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ “tôi” Đừng có tìm ở họ cái khí phách ngang tàng của một thi hào đời xưa như Lý Thái Bạch, trong trời đất chỉ biết có thơ Đến chút lòng tự trọng cần có để khinh cảnh cơ hàn, họ cũng không có nữa:

Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ Không biết trong khi rên rỉ như thế, Xuân Diệu có nghĩ đến Nguyễn Công Trứ, một người đồng quận, chẳng những đã đùa cảnh nghèo mà còn lấy cảnh nghèo làm vui.

Nhưng chúng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy

đủ nhất cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền,điên cuồng rồi tỉnh,đắm say vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta.

Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế Cùng lòng tự tôn, ta mất cả cái bình yên thuở trước.

Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khinh bỏ như cô phụ trên bên Tầm Dương, vẫn còn có thể dựa vào một cái gì đó không di dịch Ngày nay, lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hoè phủ trên thi tứ Phương tây đã trao trả hồn ta lại cho ta Nhưng ta bàng

Trang 16

hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ.

Đó, tất cả những bi kịch đương diễn ngấm ngầm, dưới những phù hiệu

dễ dãi, trong hồn người thanh niên ”

(Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh)

Đó là những bài nghị luận văn học đầy súc tích, tài hoa, uyên bác

Các nhà chính luận, văn luận nói trên đề cập đến nhiều vấn đề vừa mangtính thời sự, vừa mang tính khoa học lâu dài trong xã hội hiện đại Nhưng dùbàn luận đến những vấn đề nào thì mục đích chung của người viết nghị luậnhiện đại vẫn là hướng sự quan tâm của đông đảo người đọc đến những vấn đề

có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đối với đời sống cá nhân và cộng đồng, từ

đó xây dựng nhận thức và hành động tích cực của họ trong hoạt động thựctiễn của mình Vì vậy văn nghị luận thời hiện đại trở thành một trong nhữngphương tiện tuyên truyền và học tập, cổ vũ và phấn đấu tích cực cho mọingười

1.3.2 Thuyết phục người đọc bằng hệ thống lí lẽ và cách lập luận chặt chẽ, hùng hồn

Để bài văn có sức thuyết phục cao, người viết phải đưa ra những lí lẽ,những lập luận tiêu biểu, phù hợp, những bằng chứng xác đáng Lí lẽ và lậpluận giúp người đọc hiểu, còn bằng chứng làm người ta tin vào vấn đề ngườiviết nêu ra Và khi người đọc hiểu và tin, tức là đã bị thuyết phục Đây là mụcđích và là động lực cao nhất khi người viết viết một bài nghị luận

1.3.2.1 Lí lẽ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm của bài

viết Mỗi bài văn nghị luận là một đề xuất ý kiến, là trình bày tư tưởng, quan

điểm của người viết trước một vấn đề văn học hoặc cuộc sống Vẻ đẹp của bàivăn nghị luận thể hiện ở chất trí tuệ Chất trí tuệ thể hiện ở hệ thống luậnđiểm Cho nên luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận Luận điểmthể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết đối vớimột vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ Luận điểm của bài văn nghị luận

Trang 17

thường được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với những phánđoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định Chẳng hạn như:

- Cuộc sống không có tình bạn như trái đất không có mặt trời

- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

- Xin lập khoa luật

- Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới

- Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

Luận điểm là điểm tựa lớn nhất của toàn bộ bài viết Nó thể hiện rõ nhấtmục đích, quan điểm của người viết Vì vậy, một bài văn nghị luận không cóluận điểm cũng giống như một cơ thể sống không có linh hồn vậy

“Trong một bài văn nghị luận, luận điểm là một hệ thống: có luận điểm chính (dùng làm kết luận của bài, là cái đích của bài viết) và luận điểm phụ (dùng làm luận điểm xuất phát hay luận điểm mở rộng)” (Ngữ văn 8, tập 2,

NXBGD, H, 2004, tr.75) Khi đó, luận điểm chính trong văn bản nghị luậntương đương với chủ đề của văn bản Trong văn bản nghị luận, vì tác giả luônmong muốn nói trực tiếp quan điểm, tư tưởng, thái độ, mục đích của mình tớingười nghe nên chủ đề không cần giấu kín như các văn bản nghệ thuật khác,

mà lộ rõ, thậm chí nó thể hiện ngay ở nhan đề của văn bản

Tất cả những điều nói trên là để khẳng định vai trò của luận điểm trongbài văn nghị luận Nhưng bài văn nghị luận có luận điểm chưa phải là yếu tốquyết định bài văn đó hay mà quan trọng hơn là luận điểm của bài văn ấy cóđộc đáo, có mới mẻ, có sâu sắc hay không? Nếu chỉ dừng lại ở chỗ có luậnđiểm mà luận điểm đó đã cũ, là những cái hiển nhiên ai cũng biết thì bài vănrất dễ rơi vào nhàm chán, đơn điệu Nói khác đi, luận điểm trong bài văn nghịluận phải là ý hay Tức là nó phải mới, phải riêng, phải đúng, phải sâu Nóvừa đáp ứng được yêu cầu có cơ sở đạo lý và khoa học vững chắc, vừa có sứcthuyết phục với người đọc, người nghe Muốn vậy, luận điểm phải xuất phát

từ đời sống thực tế và từ kho tàng tư tưởng, đạo lí của dân tộc và nhân loại;người viết phải học tập, trau dồi kinh nghiệm và phải gắn liền đến đời sống

thực tế “Một hiện tượng sống thì bao giờ cũng là phong phú, đa chiều, đa

Trang 18

dạng, đa diện vì thế đa nghĩa Cho nên người ta nói một áng văn hay là một áng văn không có đáy, nghĩa là khai thác mãi cũng không cạn ý, cũng không hết ý Và mỗi độc giả, do vốn sống, vốn văn hoá, trình độ thẩm mĩ khác nhau,

có thể phát hiện ra ở cùng một tác phẩm văn học những vẻ đẹp khác nhau và những ý nghĩa khác nhau Cái gọi là ý mới, ý riêng của người viết bài văn nghị luận văn học chính là ở đấy mà ra” (Nguyễn Đăng Mạnh, Kinh nghiệm viết một bài văn – tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi THPT, NXBĐHQG, H,

2002)

Một thành phần không thể thiếu của luận điểm là luận cứ “Luận cứ là lí

lẽ và dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm” (SGV Ngữ văn 7, tập 2, NXBGD,

H, 2003, tr 28) Ví dụ, để làm rõ luận điểm “Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” nhà báo Nguyễn An Ninh đã nêu ra 4 lí lẽ với hàng loạt dẫn chứng: Lí lẽ thứ nhất (thói học đòi Tây hoá của một bộ phận trí thức đương thời) được dẫn kèm với những dẫn chứng xác đáng (thích bập bẹ năm

ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình; cóp nhặt những thói tầm thường của phong hoá châu âu; trang trí và kiến trúc lai căng; từ bỏ tiếng mẹ đẻ và văn hoá cha ông) Lí lẽ thứ hai (tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị) đựơc cụ thể bằng hai dẫn chứng (“nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vần đề thời gian”; “từ chối tiếng mẹ đẻ là từ chối sự tự do”) Lí lẽ thứ ba (khẳng định tiếng “nước mình” không nghèo nàn) được chứng minh bằng các dẫn chứng không thể chối cãi (nhiều người “chỉ biết những từ thông dụng mà còn nghèo nàn hơn cả bất kì người phụ nữ và nhân dân An Nam nào”; so sánh với “ngôn ngữ Nguyễn Du”; do con người bất tài hay ngôn ngữ nghèo nàn) Lí lẽ thứ tư đó là mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước ngoài và ngôn ngữ “nước mình”.

“Lí lẽ là những đạo lí, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sự việc, số liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm.

Trang 19

Dẫn chững phải xác thực, đáng tin cậy, không thể bác bỏ” (Ngữ văn 7, tập 2,

SGV, NXBGD, H, 2003, tr.28)

1.3.2.2 Nếu như lí lẽ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ thống luận

điểm thì lập luận là cách thức trình bày lí lẽ Nên yếu tố đặc trưng tiếp theocủa văn nghị luận là lập luận Lập luận là cách tổ chức lí lẽ và dẫn chứng để

làm nổi rõ luận điểm “Lập luận là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục [ ] Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ [ ], lập luận

có ở khắp trong bài văn nghị luận” (Sđd)

Những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài văn hàm chứa trong

đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực Tính lôgic, tính chặt chẽ với những

lí lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển nhiên buộc người nghe không thể khôngcông nhận là đặc điểm của những bài nghị luận này

Để thuyết phục tướng sĩ chăm chỉ luyện tập binh thư yếu lược, Trần

Quốc Tuấn mở đầu bài Hịch tướng sĩ bằng việc nêu lên sự thật lịch sử: đó là

từ xưa đến nay, những trung thần nghĩa sĩ đều hết lòng với chủ tướng Tiếptheo ông trình bày những suy nghĩ của mình hết sức chặt chẽ:

- Ta vốn cùng các ngươi sinh ra và lớn lên trong cùng một hoàn cảnh

- Ta lại đối xử với các ngươi hết sức chu đáo, tận tình

- Thế mà nay các ngươi nhìn thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nướcnhục mà không biết thẹn, , ăn chơi, tiêu khiển thì hậu quả sẽ ra sao

- Nếu các ngươi nghe lời ta dạy bảo thì sẽ có một tương lai tốt đẹp thếnào

Lôgic của bài Hich là thế và ngay trong một đoạn văn cũng có sự chặtchẽ là thế Chẳng hạn, đoạn Trần Hưng Đạo chuyển sang nhận định tình hình

tư tưởng và hoạt động của các tướng sĩ lúc đó mà ông nghiêm khắc phê phán

nhiều mặt: “Nay các ngươi nhìn thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui vẻ phỏng có được không?” Đây là một đoạn văn trọng tâm rất hay, ý văn có lí có tình, lời

Trang 20

văn sắc bén, sôi động, đầy hình ảnh, âm thanh uyển chuyển nhờ lối biền ngẫu.tác giả khơi dậy lòng căm thù giặc rồi chuyển sang phê phán những thói quen,biểu hiện tiêu cực, những tư tưởng và hành động không hợp thời của tướng sĩnặng về cầu an hưởng lạc, thiếu tinh thần cảnh giác đối với mưu đồ đen tối vàsâu xa của giặc, cũng như thiếu tinh thần trách nhiệm đối với tiền đồ của dân

tộc Từ đó, Trần Hưng Đạo đã dựng lên hai viễn cảnh: một viễn cảnh “đen tối” của nước mất nhà tan, một viễn cảnh “sáng chói” trong độc lập, tự do

Như vậy, con đường sống chết đã rõ, lẽ phải trái đã rõ Muốn sống chỉ có conđường duy nhất là phải chuẩn bị chiến đấu chống giặc

Bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn xứng đáng là một mẫu mực về

Người chứng minh rất cụ thể và sáng tỏ ở nhiều phương diện:

- Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân một chút tự do dânchủ nào,

- Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèonàn, thiếu thốn, xơ xác, tiêu điều,

Sau khi chứng minh một cách hùng hồn bản chất vô nhân đạo của bọn

thực dân Pháp, Người khẳng định một sự thật: “Từ mùa thu năm 1940, nước

ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không là thuộc địa của Pháp nữa Sự thật

Trang 21

là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.

Đây cũng là một luận điểm hết sức quan trọng trong hệ thống lập luậncủa tác giả bản Tuyên ngôn Bởi vì xuất phát từ đây mà Người tuyên bố thoát

ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp

Kết luận bản Tuyên ngôn được rút ra như một lẽ tất yếu, một lôgic tự

nhiên, một lẽ phải thông thường, ai cũng phải công nhận: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”

Nghệ thuật lập luận còn phụ thuộc vào việc hành văn, giọng văn, vàocách dùng từ, đặt câu Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùngloại câu mô tả, trần thuật, kể lể sự việc mà chủ yếu dùng loại câu hoặc phủđịnh với nội dung hầu hết là các phán đoán, nhận xét, đánh giá chắc chắn, sâusắc Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến những từ như:

thật vậy, thế mà, tuy nhiên, vả lại, mà còn, có nghĩa là, giả sử, nếu như, trước hết, tóm lại, nói chung gọi là hệ thống từ lập luận Chẳng hạn:

“Hiền tài là nguyên khí của đất nước Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp Bởi lẽ đó

là các bậc thánh đế minh vương không ai không coi việc gây dựng nhân tài, tuyển chọn kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí làm việc quan trọng hàng đầu Kẻ sĩ đối với nước nhà quan trọng như vậy, cho nên cái ý tôn sùng không biết thế nào

là cùng Không những yêu chuộng ban cấp khoa danh lại tôn sùng trao cho tước trật, ban ơn rất nhiều vẫn có thể chưa đủ Không những đề tên ở Tháp Nhạn còn ban danh hiệu bảng vàng”

Như đã nói, văn nghị luận biểu hiện chủ yếu bằng tư duy lôgic nhưngvăn nghị luận không gạt bỏ hình tượng ngôn ngữ gợi cảm Vì hình tượng vàngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm trong bài văn nghị luận biểu hiện nhiệt tình

và thái độ của tác giả trước vấn đề nghị luận Những yếu tố trữ tình đó trongbài văn nghị luận tác động mạnh vào tình cảm người đọc, người nghe, có tácdụng thuyết phục mặt tình cảm, chinh phuc trái tim con người Tình hỗ trợ

Trang 22

thêm cho lí, lí tiếp thêm sức mạnh nhờ có tình, do đó tác dụng thuyết phụctăng lên gấp bội Những bài văn chính luận có giá trị thuyết phục thường lànhững bài kết hợp rất chặt chẽ giữa lí và tình, vì trong thực tế thường khôngthể tách rời lí trí và tình cảm được.

Để viết được một bài văn nghị luận hay là rất khó Tạo nên bài văn nghịluận cần phải có nhiều yếu tố khác nhau Trong đó, luận điểm và lập luận lànhững yếu tố quan trọng, quyết định hàng đầu đến chất lượng bài văn nghịluận Thiếu các yếu tố này không thể tạo nên một bài văn nghị luận đích thực

Trang 23

Chương 2

Dạy học văn bản nghị luận ở trường Trung học phổ thông theo đặc

trưng thể loại

2.1 Vai trò của việc dạy văn theo đặc trưng thể loại

Mục tiêu của SGK Ngữ văn THPT là nhằm trang bị cho HS mặt bằng trithức và năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn chương, nhằm bồi đắp,nâng cao nhu cầu và khả năng hưởng thụ thẩm mĩ cho HS cấp học này; giúp

các em “tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hoá, cảnh vật, cuộc sống, con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong các tác phẩm văn học và trong các văn bản được học” , “có kĩ năng nghe,đọc một cách thận trọng, biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng, tình cảm, và một

số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, để từ đó hình thành ý thức và kinh nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó” (Bộ GD&ĐT, Chương trình SGK THPT môn Ngữ văn, NXBGD,

H, 2005)

Văn bản chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông đã trình bày

mục tiêu cấp học theo Luật Giáo dục quy định: “Giáo dục THPT nhằm giúp

HS củng cố và phát triển những kết quả ở THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông có nhiều hiểu biết về kĩ thuật, hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Tuy nhiên, môn Ngữ văn THPT không tự giới hạn ở mục tiêu riêng vàchung đó Với tư cách là môn học công cụ, môn Ngữ văn THPT còn phảihướng tới mục tiêu hình thành cho HS phương pháp đọc-hiểu các kiểu, loạivăn bản, nhất là các văn bản ở dạng thức sáng tạo nghệ thuật trong và cả

ngoài SGK, nhưng bắt đầu từ SGK phổ thông HS “biết đọc các kiểu văn bản theo đặc trưng kiểu văn bản, nâng cao năng lực tích hợp đọc và viết các văn bản thông dụng”, “khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Tiến tới kiểm tra cách đọc, cách học bằng các bài tập có nội dung cảm

Trang 24

thụ những văn bản ngoài SGK” (Bộ GD&ĐT, Tài liệu bồi dưỡng GV dạy SGK Ngữ văn 11, NXBGD, H, 2005).

Phương thức biểu đạt là cách thức tạo lập và tồn tại của văn bản làmthành các đặc trưng hình thức của các kiểu văn bản phù hợp với mục đíchgiao tiếp Như thế, hình thức của một văn bản thấm đẫm nội dung để đạt tớimục đích giao tiếp mới là hình thức mang tính nội dung Cách thức tạo lập vàtồn tại của văn bản tức là phương thức biểu đạt văn bản đó sẽ tạo thành cáckiểu văn bản với những đặc trưng riêng của nó Khi đã nắm được đặc trưngriêng của từng kiểu loại văn bản thì người học thể tiếp nhận được dễ dàng hơnnhững văn bản văn học cùng thể loại trong chương trình SGK Ngữ văn Điềunày cho thấy, dạy học văn theo đặc trưng thể loại là con đường khoa học đểchiếm lĩnh các văn bản Ngữ văn nói riêng, các văn bản văn học nói chung

Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học văn bản Ngữ văn THPT chính làdạy học văn bản Ngữ văn phù hợp với đặc trưng thể loại Đó được xem như lànguyên tắc dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình SGK cấp học này

2.2 Định hướng dạy văn nghị luận theo đặc trưng thể loại

Nhiệm vụ dạy học chủ yếu của phân môn Văn trong môn học Ngữ văn ởtrường THPT là dạy học Đọc-hiểu văn bản Thể loại văn nghị luận là mộtkiểu văn bản nên dạy học văn nghị luận cũng chính là dạy học Đọc-hiểu vănbản văn nghị luận

Mục tiêu phân tích tác phẩm không đặt ra sự cần thiết phải đi theo mộtquy trình nào bởi lẽ có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Có thể nói mỗi một

cá nhân tiếp nhận là một hướng tiếp cận riêng bởi mỗi người tuỳ trình độ, vốnsống, sở thích mà có khả năng, có cách tiếp nhận khác nhau Nhưng mụctiêu đọc-hiểu văn bản với yêu cầu giúp HS vừa chiếm lĩnh được nội dung vănbản văn học, vừa có kiến thức công cụ về mặt đặc trưng thể loại của văn bảnvăn học đó cho phép nghĩ tới các bước của hoạt động đọc-hiểu này

Tiến trình một giờ dạy học văn bản văn nghị luận có thể diễn ra theo quytrình như sau:

2.2.1 Bước thứ nhất: Đọc-hiểu cấu trúc văn bản

Trang 25

Nội dung của hoạt động này là giúp HS tiếp nhận các dấu hiệu chính vềđặc trưng thể loại văn nghị luận Đó là đọc để phát hiện ra các luận điểm vàcách lập luận của tác giả Tức là đọc để xác định được đó có phải là văn bảnnghị luận hay không, tại sao?

Hoạt động đọc-hiểu cấu trúc văn bản chính là việc thông qua những cáchđọc phù hợp với đặc trưng của thể loại mà từ đó tìm ra những đặc điểm củathể loại đó Nó tương ứng với thao tác GV tổ chức cho HS tiến hành đọc vănbản- bước đầu tiên của quá trình tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức văn học vàcũng là bước đầu tiên của hoạt động Đọc-hiểu văn bản Hoạt động này nằm ởmục thứ nhất của phần Đọc-hiểu văn bản (hay là phần Học văn bản) trongThiết kế bài dạy Như thế, hoạt động đọc hiểu cấu trúc văn bản cần được xem

là khởi điểm của một quá trình dạy học xét từ nguyên tắc tiếp nhận văn bản

Nó có tác dụng mở luồng mạch cho đọc-hiểu sâu các giá trị văn bản, đồngthời là cơ hội rèn kiến thức và kĩ năng nhận biết các kiểu, loại văn bản đây là

kĩ năng được coi là một phần yêu cầu của các đề thi trắc nghiệm Ngữ vănhiện nay

Đây là bước quan trọng mà bất kì giờ Đọc-hiểu văn bản nào cũng phảithực hiện Song, trước đây, do nhận thức sai lầm về bản chất của quá trìnhdạy học mà GV là chủ đạo, là trung tâm, còn HS thụ động lắng nghe và ghichép, mà nhiều GV đã bỏ qua bước này hoặc chỉ thực hiện mang tính chiếu lệ,qua loa, không phát huy được tác dụng của nó

Việc đọc thế nào cho phù hợp với đặc trưng của thể loại nghị luận,chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở những phần sau

2.2.2 Bước thứ hai: Đọc-hiểu nội dung văn bản

Đây là bước tiếp theo của quá trình đọc-hiểu nhằm phát hiện, phân tích,đánh giá văn bản từ các yếu tố nội dung - hình thức nổi bật Khái niệm nộidung văn bản được dùng theo cách hiểu biện chứng về mối quan hệ nội dung

- hình thức, nghĩa là nội dung mang tính hình thức và ngược lại Không có nộidung nào nằm ngoài hình thức của nó

Trang 26

Đọc-hiểu nội dung văn bản nghị luận là đi làm sáng tỏ, cụ thể các luậnđiểm và cách thức tổ chức các luận điểm (lập luận) của văn bản - những nộidung đã được tìm ra một cách khái quát ở bước thứ nhất.

Phương pháp tiến hành hoạt động đọc-hiểu nội dung văn bản sẽ đượctrình bày cụ thể ở những phần sau của bài viết này

2.3 Phương pháp dạy văn nghị luận

Như đã nói ở phần Đặc trưng của văn nghị luận, văn nghị luận là một thểtài đặc biệt, nó mang những đặc điểm riêng, khác biệt so với các văn bản vănhọc mang tính “hư cấu” Do vậy, phương pháp dạy văn nghị luận ngoài việctuân thủ những phương pháp dạy học văn nói chung nó còn sử dụng nhữngphương pháp chung đó theo cách riêng, phù hợp với đặc trưng của mình

2.3.1 Phương pháp đọc diễn cảm

Con đường đi vào tác phẩm nhất thiết phải từ đọc, gắn liền với việc đọc

Để đọc được diễn cảm trước tiên phải đọc đúng, đọc hay Đọc đúng là đọctrung thành với nội dung ý nghĩa văn bản Đọc hay là biết kết hợp sức ngânvang của ngôn ngữ, sự ngừng nghỉ của ngắt nghỉ, phát huy ưu thế của chấtgiọng để phù hợp với giọng điệu cảm xúc của nhà văn và ý nghĩa của vănbản Bắt đúng cái giọng của mạch cảm xúc văn bản sẽ tạo nên những xúccảm, cảm nhận đầu tiên về nội dung tác phẩm

Phương pháp đọc diễn cảm chỉ phát huy tác dụng khi nó phù hợp với đặctrưng thể loại Muốn HS hiểu đúng tác phẩm thì phải đọc đúng và tất nhiêncũng nhờ đọc đúng mà hiểu tác phẩm hơn

Đọc văn nghị luận trung đại sẽ khác với đọc văn nghị luận hiện đại Vănnghị luận trung đại đa dạng về thể tài và mỗi một thể tài lại có những quy

định riêng Đa dạng về thể tài vì có nhiều thể để viết như cáo, hịch, chiếu, biểu, tấu, văn tế

Thời xưa, “chiếu” là thể văn do vua dùng khi ban bố mệnh lệnh, được đón nhận bằng nghi lễ trang trọng (Chiếu dời đô – Lí Thái Tổ, Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm); “hịch” là văn cổ động, thuyết phục, kêu gọi đấu tranh do các bậc tướng soái viết (Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn); “cáo” được vua

Trang 27

chúa hoặc thủ lĩnh viết ra để trình bày một chủ chương hay công bố kết quả

một sự nghiệp tới toàn dân (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi); “tấu” là văn

thư của bề tôi hay thần dân dâng lên vua chúa để trình bày sự việc và kiến

nghị (Bàn về phép học – Nguyễn Thiếp); “văn tế” là loại văn dùng để bày tỏ

lòng tiếc thương với người đã mất vì những công lao, đóng góp có ý nghĩa

của họ (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)…

Các thể tài này tồn tại trong những không gian trang trọng, nên giọngđiệu cần thể hiện rõ ràng, mạch lạc các phần lập luận; vừa phải hùng hồn vừaphải truyền cảm, vừa tha thiết vừa cương quyết; hoặc phải đọc chậm, mang

âm hưởng bi thương, đau xót,thành kính, trang nghiêm…

Để đọc được văn bản nghị luận trung đại đúng với giọng điệu của từngthể tài không phải là điều đơn giản, dễ làm Nó phụ thuộc rất nhiều vào năngkhiếu, chất giọng của người đọc Tuỳ từng điều kiện mà GV có thể tổ chứcđọc theo các hình thức: GV đọc, HS đọc hoặc được truyền lại qua nhữngphương tiện kĩ thuật như đài, đĩa hát, băng nghi âm ở hình thức thứ ba, giọngđiệu sẽ được thể hiện chính xác hơn rất nhiều bởi văn bản nghị luận được đọclại do những nghệ sĩ có năng khiếu và đã qua đào tạo bài bản Tuy nhiên,phương pháp đọc diễn cảm được thực hiện bởi chính đối tượng học (HS)được nhấn mạnh và định hướng hơn Phương pháp này phát triển năng lựccảm thụ nghệ thuật cho HS Nó không những được vận dụng ở giai đoạn tiếpxúc với văn bản mà còn tiếp tục phát huy hiệu quả trong quá trình phân tích, lígiải văn bản

Phương pháp đọc diễn cảm có thể được tiến hành theo các bước như sau:

- Trước hết, GV định hướng để cả lớp tưởng tượng không khí trangnghiêm, trang trọng lúc văn bản văn nghị luận trung đại được thể hiện, đượcban bố, trình bày

- Giọng đọc văn nghị luận thường hùng hồn, hoành tráng nên giọng đọccủa HS nam hoặc thầy giáo thì phù hợp hơn, nên chọn người có giọng khoẻ,trầm ấm, dứt khoát

Trang 28

- Đọc phải có sự thay đổi giọng điệu phù hợp với từng thể loại như từngluận điểm trong mỗi thể loại.

- Trong quá trình đọc, người đọc luôn luôn cố gắng xác lập được khôngkhí giao cảm, giao hoà giữa người nghe với tác giả Người đọc truyền đếncho người nghe điều nhà văn định gửi gắm đến bạn đọc Không tạo đượckhông khí giao cảm giữa nhà văn với người nghe thì việc đọc trở thành mộtđộng tác cơ giới, mất hết ý nghĩa giá trị, mất hết tác dụng thông tin thẩm mĩ.Trong lòng mỗi người dân đất Việt lại nồng nàn một niềm tự hào dân tộc

và thêm yêu non nước này khi những câu văn của Nguyễn Trãi được cất lên:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xung đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có

(Bình Ngô đại cáo)

Đó là một giọng văn sang sảng, thể hiện tư cách làm chủ đất nước, làmchủ vận mệnh của mình của mỗi triều vua Đại Việt Những câu văn biền ngẫucân xứng tạo nên thế vững chắc cho luận đề chính nghĩa của dân tộc ta màNguyễn Trãi đã nêu ra Nếu đọc bằng giọng đều đều, nhạt nhẽo sẽ phá hỏngkết cấu lời văn cũng như tinh thần chứa đựng trong những câu văn đó

Hay như người nghe sẽ thêm phần kính trọng tài năng và nhân cách củaHưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua những lời văn tha thiết, quyết tâm:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” (Hịch tướng sĩ).

Trang 29

Và không ai có thể nghi ngờ tài năng, tinh thần trách nhiệm với đất nước

của vua Quang Trung qua những lời “cầu hiền” đầy khiêm nhường, tinh tế mà thẳng thắn, cương quyết: “Trước đây thời thế suy vi, trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời.

Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chẳng thấy có ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng

để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?” (Chiếu cầu hiền).

Văn bản nghị luận hiện đại là các bài văn của các tác giả hiện đại, đượcviết theo phương thức nghị luận nhằm đặt ra và giải quyết những vấn đề quantrọng trong mọi mặt đời sống xã hội hiện đại Mang những đặc trưng chungcủa thể nghị luận, song, văn bản nghị luận có nhiều điểm khác biệt so với vănbản nghị luận trung đại Do đó, phương pháp đọc để xác định được đặc trưngcủa nghị luận hiện đại sẽ khác với nghị luận trung đại ở nhiều điểm

Văn nghị luận hiện đại không phải không có tính trang trọng khôngmang tính nghi lễ như văn nghị luận trung đại Nó sinh động hơn, mang tínhtranh biện hơn, dân chủ hơn Như thế, đọc văn nghị luận hiện đại phải thểhiện đươc vị thế ngang bằng giữa người viết và người đọc, chứ không phải là

vị thế “bề trên” như thời trung đại Nhưng không vì thế mà nó mất đi giọngđiệu hùng hồn

Các bước tiến hành phương pháp đọc văn nghị luận hiện đại cũng khôngkhác biệt so với nghị luận trung đại Chỉ lưu ý trong việc chọn người thể hiệngiọng đọc, cần chọn người có chất giọng khỏe nhưng phải năng động và hiệnđại hơn

Bài báo Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của nhà

báo, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh được đọc bằng nhiều ngữ điệu khác

Trang 30

nhau, phù hợp với từng luận điểm mà tác giả đưa ra Có 4 luận điểm trong bàiviết này, tương ứng với nó là 4 ngữ điệu khác nhau.

Luận điểm thứ nhất (Phê phán thói học đòi “tây hoá” của những kẻ trí thức, trưởng giả lúc bấy giờ): được đọc bằng giọng mỉa mai, đả kích, trong đó

ẩn chứa một sự lo lắng

Luận điểm thứ hai (Tầm quan trọng của tiếng nói đối với vận mệnh của một dân tộc): đọc bằng giọng hùng hồn, giải thích

Luận điểm thứ ba (Khẳng định tiếng “nước mình” không nghèo nàn):

được thể hiện bằng ngữ điệu phản bác, pha chút châm biếm

Luận điểm cuối cùng: ngữ điệu trở lại giọng tâm tình nhưng dứt khoát.Bằng ngữ điệu, bằng cách đọc phù hợp, các luận điểm, cách lập luận của

bài điếu văn Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác cũng được hiện rõ Hai luận

điểm là hai màu sắc ngôn ngữ khác nhau nhưng xuất phát từ nhau:

Luận điểm 1: (Sự ra đi của Mác): giọng kể trầm lắng, nhẹ nhàng, chậm

dãi như vừa tái thuật, vừa thủ thỉ tâm sự, giãi bày niềm tiếc thương của ghen và gia đình, người thân trước sự ra đi của Mác

ăng-Luận điểm 2: (Những cống hiến to lớn và tầm vóc vĩ đại của Mác): giọng

hùng hồn, ngợi ca, khẳng định, kính trọng, đề cao Mác

Như vậy, đọc là để kích thích trí tưởng tượng, để tái hiện hình ảnh hayduy trì cảm xúc tươi mát trước và trong khi phân tích văn bản Do đó, đọc vănbản theo đúng phương pháp thể hiện được đặc trưng thể loại thường được đặt

ở phần Đọc văn bản, trước khi đi vào Phân tích văn bản

Đọc diễn cảm nếu tách rời các phương pháp khác vẫn chưa thể giúp HSnắm được tác phẩm một cách sâu sắc, toàn diện, có lí lẽ khoa học Tuy nhiênnhư đã nói, mặt mạnh của phương pháp này là khả năng khêu gợi rung cảmthẩm mĩ, trí tưởng tượng và nhiều năng lực tư duy khác nữa

2.3.2 Phương pháp tái tạo, tái hiện

Tái tạo, tái hiện là dựng lại nội dung thông tin mà tác giả đã thể hiệntrong văn bản nghệ thuật Thực chất phương pháp này chính là sự “phục hồi”,tái hiện tri thức đã có sẵn trong văn bản Đặc điểm của phương pháp tái tạo

Trang 31

trong dạy học văn thể hiện ở tính chủ động, thuyết phục bằng ngôn ngữ diễnđạt, ở tính mẫu mực trong minh hoạ, trích dẫn tư liệu ý nghĩa “tái tạo” đốivới HS trong tiếp thu tri thức mới ở dạng có sẵn là chỗ cho các em trực tiếptham gia có ý thức vào quá trình nhận thức thông qua sự hoạt động tư duy củabản thân Phương pháp này không làm thay đổi nội dung kiến thức mà chỉthúc đẩy quá trình tiếp thu và biết vận dụng kiến thức của HS

Với phương pháp này, trong văn bản văn nghị luận, chính là việc GVgiúp học sinh dựng lại hệ thống luận điểm của văn bản Khi HS đựơc trực tiếplàm việc, trực tiếp dựng lại “khung xương” của văn bản thì không những HS

sẽ nhớ lâu, nhớ đúng kiến thức hơn mà còn rèn luyện kĩ năng phân tích, tổnghợp cho các em Phương pháp này rất có tác dụng đối với văn bản nghị luậndài, phức tạp, đòi hỏi sự tư duy, tưởng tượng cao của HS

Để thực hiện phương pháp tái tạo, tái hiện đối với văn bản nghị luận,chúng ta có thể áp dụng các biện pháp như: lập dàn ý hoặc sơ đồ hoá, mô hìnhhoá hệ thống luận điểm

Đoạn trích “Một thời đại trong thi ca” - Hoài Thanh (NV 11- 2) là mộtvăn bản nghị luận có mạch lập luận chặt chẽ, lôgic, khoa học Tuy nhiên, xácđịnh đựơc hệ thống luận điểm một cách chính xác cho văn bản này đối với HS

là một việc làm không phải dễ GV nên tổ chức cho HS đọc kĩ lại văn bản,cùng với sự chuẩn bị ở nhà của các em để định hướng các em khôi phục lại hệthống luận điểm

GV định hướng bằng cách yêu cầu HS xác định văn bản có mấy đoạnvăn, nội dung chính của từng đoạn văn, từ đó xác lập mối liên hệ giữa chúng

bằng việc lập dàn ý cho văn bản Văn bản Một thời đại trong thi ca có thể lập

được dàn ý như sau:

Trang 32

- Luận điểm 2: Sự vận động của cái tôi và bi kịch của nó.

- Luận điểm 3: Giải pháp cho bi kịch của thời đại ấy

Sự vận động của thơ mới xung quanh cái tôi

Giới thuyết chung về

Hành trình xuất hiện và phản ứng tiếp nhận của

xã hội đối với cái tôi.

(“Ngày thứ nhất đáng thương”)

Tinh thần thơ mới

Con đường đi tìm “tinh thần thơ mới”

(Giá các nhà thơ chỗ khác nhau”)

Cái tôi đáng thương

Bi kịch của cái tôi

Giải pháp cho bi kịch của cái tôi(“ Đó ngày mai”)

Trang 33

Biện pháp lập dàn ý, sơ đồ, mô hình hoá còn đắc dụng khi GV tổ chứccho HS phân tích một luận điểm lớn nào đó để tìm ra sự đặc sắc trong nghệthuật lập luận Để phát hiện ra biện pháp lập luận theo lối kết cấu tầng bậc kếthợp so sánh hay biện pháp so sánh tầng bậc (hoặc cũng gọi là so sánh theo

hình thức tăng tiến) của luận điểm thứ hai “Những cống hiến to lớn và tầm vóc vĩ đại của Mác” trong bài điếu văn Ba cống hiến vĩ đại của Mác, GV gợi

dẫn HS tìm ra những dấu hiệu hình thức (những cụm từ, những câu) của vănbản, từ đó có thể sơ đồ hoá, mô hình hoá chúng để việc phân tích luận điểmnày cụ thể, sâu sắc và chính xác hơn GV gợi mở, nêu vấn đề: Để làm nổi bậtnhững cống hiến vĩ đại của Mác, ăng-ghen không chỉ thuật lại các đóng gópcủa Mác mà còn sử dụng một biện pháp nghệ thuật đặc sắc tạo nên hiệu quảthể hiện to lớn Anh (chị) hãy làm rõ điều này bằng việc phát hiện và phântích biện pháp lập luận của Ăng-ghen trong phần thứ hai của bài điếu văn HS: Sẽ làm việc theo nhóm để thảo luận và thực hiện yêu cầu của GV

GV hướng dẫn và hoàn thiện hoạt động này của HS để có được sơ đồ lập luậntrong luận điểm đó của ăng-ghen:

Sau khi sơ đồ hoá luận điểm này, GV có thể mô hình hoá lại luận điểm

để khái quát hơn nữa luận điểm này

Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ.

Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người Nhưng không chỉ có thế thôi

Nhưng đấy hoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Mác

Giống như

Trang 34

2.3.3 Phương pháp đàm thoại gợi mở

Đây không phải là phương pháp mới lạ Nó đã được áp dụng trong giảngdạy Các nhà sư phạm cũng như các GV đều thừa nhận khả năng đặc biệt củaphương pháp này Tuy nhiên, trong thực tế, vị trí của nó vẫn chưa được đềcao đúng mức Phương pháp đàm thoại gợi mở có những khả năng riêng biệt

mà các phương pháp khác khó có được Bằng con đường đàm thoại gợi mở,

GV tạo cho lớp học một không khí tự do tư tưởng, tự do bộc lộ những nhậnthức trực tiếp của mình: mạch kín của giờ dạy được thực hiện dễ dàng Do đó,giờ dạy văn, học văn có được không khí tâm tình, trao đổi thân mật về nhữngvấn đề mà GV nêu lên Mối liên hệ giữa nhà văn, GV và học sinh được hìnhthành ngay trong lớp học, điều mà các giờ dạy học theo phương pháp diễngiảng khó có được

Phương pháp này yêu cầu sử dụng một hệ thống câu hỏi gợi mở, trong đókết quả câu hỏi này sẽ là điều kiện để giải quyết những câu hỏi tiếp theo.Từng câu hỏi sẽ là một “điểm tựa” có tính chất chi tiết và bộ phận hướng vàonội dung cơ bản của văn bản, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng Quá trình giải quyết các câu hỏi là quátrình HS làm ra tri thức cho mình

Đối với văn bản văn nghị luận, tính lôgic trong lập luận là rất cao, vì vậy,

sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để dần dần cho HS tìm hiểu, pháthiện ra các luận điểm và mạch lập luận là rất phù hợp

2.3.3.1 Trước hết, thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt, GV giúp HS phát hiện ra luận điểm của văn bản

Ngày đăng: 07/05/2014, 08:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Đình Chung, Dạy học văn bản Ngữ văn Trung học cơ sở theo đặc trưng phương thức biểu đạt, NXB GD, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn bản Ngữ văn Trung học cơ sở theo đặctrưng phương thức biểu đạt
Nhà XB: NXB GD
4. Phan Trọng Luận (2005), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2005
5. Đỗ Ngọc Thống, Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông, NXB GD, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trunghọc phổ thông
Nhà XB: NXB GD
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình sách giáo khoa Trung học cơ sở môn ngữ văn, NXB GD, H, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình sách giáo khoa Trung học cơ sởmôn ngữ văn
Nhà XB: NXB GD
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn, NXB GD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chươngtrình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn
Nhà XB: NXB GD
1. Đàm Gia Cẩn, Giảng văn nghị luận theo đặc trưng loại, thể Khác
3. Trần Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể Khác
8. Ngữ văn 11, tập 1, NXB GD, H, 2007 Khác
9. Ngữ văn 11, tập 2, NXB GD, H, 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w