Cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư. Khoảng cách thu nhập này đã tạo nên sự phân hóa xã hội hết sức sâu sắc giữa các nhóm xã hội dẫn tới sự khác nhau về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội trong đó có sự tiếp cận các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe giữa các giai cấp xã hội, giữa đàn ông và phụ nữ, giữa người trẻ và người già, người giàu và người nghèo, giữa người sống ở thành thị và người sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa,… vẫn còn tồn tại. Nội dung sau đây sẽ giới thiệu sơ lược về hệ thống cơ sở y tế; thực trạng dịch vụ y tế ở ĐBSCL trong những năm qua; những tồn tại và thách thức trong hệ thống y tế; giải pháp để phát triển dịch vụ y tế .
Trang 1Hồ Vũ Linh Đan Trần Thị Thơm Nguyễn Thị Như Nguyễn Thị Ngọc Mai
CẦN THƠ –2013
Trang 2i
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Số bệnh viện và giường bệnh từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung
ương ở Việt Nam năm 2010
Trang 3ii
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG i
DANH SÁCH HÌNH i
MỤC LỤC ii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2
2.1 Thực trạng hệ thống cơ sở y tế 2
2.1.1 Các cơ sở khám chữa bệnh 2
2.1.2 Giường bệnh 4
2.1.3 Nguồn nhân lực y tế 5
2.1.4 Trang thiết bị kỹ thuật và quản lý 7
2.1.5 Mạng lưới y tế cơ sở 8
2.1.6 Thuốc và vắc xin 9
2.2 Những thành tựu đạt được và thuận lợi trong phát triển hệ thống y tế 10
2.2.1 Những thành tựu đạt được 10
2.2.2 Những thuận lợi 11
2.3 Những tồn tại và thách thức trong hệ thống y tế 11
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 14
CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ 16
4.1 Về tài chính và đầu tư 16
4.2 Đảm bảo nguồn nhân lực y tế 16
4.3 Phát triển khoa học, công nghệ 17
4.4 Đảm bảo cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế 17
4.5 Tăng cường hợp tác quốc tế 18
4.6 Tăng cường năng lực quản lý y tế 18
4.7 Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 41
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nguồn lực đầu tư và cơ sở hạ tầng còn hạn chế Nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân ngày một gia tăng, trình độ dân trí ngày càng được cải thiện, mô hình bệnh tật thay đổi theo hướng gia tăng các bệnh không lây nhiễm, chấn thương, tai nạn Thực tế như vậy càng đòi hỏi các bệnh viện, các cơ sở khám chữa bệnh phải nâng cao chất lượng về chuyên môn và dịch vụ
Trong những năm qua, ngành y tế đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng khám, chữa bệnh, trong đó tập trung đầu tư nguồn lực tài chính, phát triển nhân lực y
tế, chuẩn hóa các hướng dẫn chuyên môn như hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, hướng dẫn quy trình kỹ thuật, hướng dẫn quy trình chăm sóc, xây dựng chuẩn quốc gia về y
tế xã, tiêu chí nông thôn mới, chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, thiết lập hệ thống kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm y học cấp quốc gia, thành lập trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm và các văn bản hướng dẫn
Việc áp dụng các phương pháp và mô hình chất lượng trong bệnh viện đang được nhiều bệnh viện quan tâm Đã có một số bệnh viện đi tiên phong trong việc áp dụng các phương pháp và mô hình quản lý chất lượng, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế, thời gian vừa qua, Bộ Y tế Việt Nam đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ cả về kỹ thuật và tài chính của nhiều tổ chức, đối tác y tế trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Từ năm 2006-2007 Tổ chức Y tế Thế giới đã hỗ trợ đào tạo về quản lý chất lượng cho Việt Nam và nhiều hoạt động khác
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư Khoảng cách thu nhập này đã tạo nên sự phân hóa xã hội hết sức sâu sắc giữa các nhóm xã hội dẫn tới sự khác nhau về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội trong
đó có sự tiếp cận các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe giữa các giai cấp xã hội, giữa đàn ông và phụ nữ, giữa người trẻ và người già, người giàu và người nghèo, giữa người sống ở thành thị và người sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa,… vẫn còn tồn tại
Nội dung sau đây sẽ giới thiệu sơ lược về hệ thống cơ sở y tế; thực trạng dịch vụ y tế
ở ĐBSCL trong những năm qua; những tồn tại và thách thức trong hệ thống y tế; giải
pháp để phát triển dịch vụ y tế
Trang 52
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG
2.1 Thực trạng hệ thống cơ sở y tế
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2013) thì cơ cấu tổ chức bộ máy hệ thống y tế hiện nay từng bước được hoàn thiện và dần ổn định ở cả Trung ương và địa phương Sau một thời gian mạng lưới y tế huyện bị phân chia thành 3 đơn vị, nay tổ chức tuyến cơ sở đã được điều chỉnh và dần ổn định Trung tâm y tế được thành lập thống nhất trên địa bàn cấp huyện thực hiện hai chức năng y tế dự phòng, khám chữa bệnh và quản lý các trạm
y tế xã/ phường; nơi có điều kiện tách riêng bệnh viện và trung tâm y tế chỉ thực hiện chức năng y tế dự phòng và quản lý các trạm y tế xã/phường Việc triển khai thực hiện nghị định số 43/2005/NĐ – CP về cơ chế tự chủ dù còn một số hạn chế cần khắc phục nhưng đã tạo điều kiện để phát triển và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ sở y
tế công lập
2.1.1 Các cơ sở khám chữa bệnh
Theo số liệu thống kê đến năm 2010, toàn quốc có 13.598 cơ sở với 252.747 giường bệnh Có 1.071 bệnh viện từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung ương, cụ thể: tuyến Trung ương có 44 bệnh viện với 20.610 giường bệnh; tuyến Tỉnh có 376 bệnh viện với 105.803 giường; tuyến Huyện có 615 bệnh viện với 55.190 giường bệnh; các cơ sở thuộc Bộ, ngành khác có 36 bệnh viện và bệnh viện phục hồi chức năng (không kể Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) với 9.415 giường bệnh
Bảng 1 Số bệnh viện và giường bệnh từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung ương
ở Việt Nam năm 2010
Trang 63
155 bệnh viện, năm 2010 giảm 01 và số lượng này là 157 không đổi trong 02 năm
2011 và 2012 Phòng khám khu vực giảm nhanh về số lượng từ 113 (năm 2009) xuống còn 92 (năm 2010), số lượng đã tăng dần qua các năm sau đó (102 phòng năm 2012) Trong khi đó, số lượng bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng hầu như không biến động qua các năm Trong cơ cấu cơ sở khám chữa bệnh, số trạm y tế xã, phường,
cơ quan, xí nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên xét về số lượng, từ năm 2009 đến năm 2012, số lượng chỉ tăng 14 trạm, bình quân tăng 4,67 trạm/năm Nhìn chung, số lượng cơ sở có tăng lên (ngoại trừ phòng khám khu vực) nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu y tế, đặt biệt là vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa
Bảng 2 Số cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế từ năm 2009 đến 2012
Hình 1 Tổng số cơ sở khám chữa bệnh ở các tỉnh ĐBSCL năm 2012
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
Trang 74
2.1.2 Giường bệnh
Năm 2012, thống kê dân số của ĐBSCL là 17390,5 nghìn người Với 30.785 giường bệnh, tỷ lệ giường bệnh trên 1000 dân là 1,77 (tức là với mỗi 1000 dân thì chỉ có thể cung ứng 1,77 giường bệnh phục vụ) Có thể thấy, với nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế cũng như diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh thời gian qua,
số lượng giường bệnh như trên là rất hạn chế và không đủ để đáp ứng Số liệu cụ thể cho từng địa phương ở khu vực ĐBSCL được trình bày ở Hình 2 Theo đó, các tỉnh có
tỷ lệ giường bệnh trên 1000 dân cao như Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang (khoảng 03 giường bệnh/1000 dân) Các tỉnh còn lại nhìn chung đạt tỷ lệ trên 02 giường bệnh/1000 dân, ngoài trừ Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ Mật độ dân số cao là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu giường bệnh phục vụ như hiện nay
Hình 2 Số giường bệnh phục vụ/1000 dân ở các tỉnh ĐBSCL năm 2012
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
Hình 3 thể hiện tỷ lệ giường bệnh phục vụ ở từng cơ sở của các tỉnh ĐBSCL Theo đó, bệnh viện là nơi chiếm tỷ lệ cao nhất (74,93%), cung ứng ¾ số giường bệnh phục vụ, đối với các bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng thì tỷ lệ này chỉ là 0,56% Còn lại, 20,54% giường bệnh phục vụ thuộc các trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, và 3,97% giường thuộc các phòng khám khu vực Có thể thấy, hầu hết các ca bệnh điều trị nội trú đều ở bệnh viện, trong khi đó ở bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng lại quá ít dẫn đến tình trạng quá tải thường xuyên diễn ra
Trang 85
Hình 3 Tỷ lệ giường bệnh phục vụ ở từng cơ sở
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
2.1.3 Nguồn nhân lực y tế
2.1.3.1 Mạng lưới đào tạo cán bộ y tế
Mạng lưới các trường đào tạo nhân lực y tế đã được mở rộng Hiện nay, 60/63 tỉnh thành có cơ sở đào tạo từ bậc Trung học y tế trở lên, cụ thể: 17 cơ sở đạo tạo tiến sĩ ngành Y dược (10 trường, 07 Viện), 14 trường Đại học Y Dược (chiếm 8% số trường đại học trong cả nước), 33 trường Cao đẳng y tế (chiếm 14% các trường cao đẳng trong cả nước) Bậc đào tạo trung cấp y tế có 42 trường
Nhìn chung, chất lượng nhân lực y tế đã tăng lên Nhiều cán bộ y tế đã được đào tạo nâng cao trình độ ở bậc sau đại học như Bác sỹ nội trú, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2, thạc sỹ và tiến sỹ Đội ngũ khoa học kỹ thuật được tăng cường, thực hiện được nhiều
kỹ thuật hiện đại… Ngành y tế phối hợp với với ngành giáo dục và đào tạo đã cải tiến chương trình đào tạo, mở thêm nhiều mã ngành mới, ở cả trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp; tăng cường đào tạo sau đại học
Tuy nhiên vấn đề nguồn nhân lực y tế cũng gặp phải những khó khăn và hạn chế sau:
Có sự mất cân đối về cơ cấu và phân bổ nhân lực y tế, thiếu nhân lực y tế ở một
số chuyên ngành (như y tế dự phòng, giải phẫu bệnh, tâm thần, lao…) và vùng nông thôn, vùng khó khăn Nhân lực y tế có trình độ cao chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị và các trung tâm lớn Tình trạng dịch chuyển nhân lực y tế từ tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành phố lớn, các bệnh viện tuyến trên là báo
Trang 9 Tình trạng thiếu nhân lực làm việc ở các chuyên ngành y học dự phòng, cận lâm sàng, nhi, lao, phong, tâm thần là hiện hữu và có nguy cơ gia tăng, nếu không có chính sách thích hợp trong đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ
2.1.3.2 Số lượng cán bộ y tế
Theo thống kê y tế năm 2010, tổng số cán bộ y tế ở khu vực ĐBSCL là 344.876 người, trong đó bác sỹ (kể cả Ths, TS.) là 62.555 người, dược sỹ (kể cả Ths, TS) là 7.876 người, số còn lại là y sỹ, dược sỹ trung cấp, y tá, dược tá, lương y, xét nghiệm viên, kỹ thuật viên y, kỹ thuật viên dược Các thành phố lớn, những nơi có điều kiện y tế được quan tâm đầu tư sẽ thu hút được lực lượng lớn cán bộ phục vụ Thành phố Cần Thơ là
ví dụ điển hình, nếu xét về số giường bệnh trên 1000 dân thì đây là địa phương có tỷ lệ thấp nhất, nhưng nếu xét về số lượng cán bộ trên 1000 dân thì đây là nơi có tỷ lệ cao nhất và khá cách biệt với các địa phương còn lại Cụ thể, tỷ lệ này ở Cần Thơ là 5,0 (tức là 05 cán bộ phục vụ cho 1000 dân), Bến Tre là 4,4, Vĩnh Long là 4,3, khá chênh lệch so với các địa phương như Tiền Giang, Sóc Trăng, Cà Mau chỉ với tỷ lệ là 2,3 Số liệu từng tỉnh được trình bày cụ thể ở Hình 4
Hình 4 Số cán bộ trên 1000 dân ở các tỉnh ĐBSCL
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
Trang 102.1.4 Trang thiết bị kỹ thuật và quản lý
Trong những năm qua, hệ thống bệnh viện đã được củng cố, nâng cấp và đầu tư phát triển tương đối đồng đều từ tuyến huyện, tuyến tỉnh đến Trung ương cả về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế đến năm 2010 được xây dựng với sự tham gia và đóng góp của các Bộ, ngành và các đơn vị liên quan, bao gồm các mục tiêu chủ yếu, những giải pháp tổng thể thuộc lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng, nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật thiết bị y tế
Tại các bệnh viện, trang thiết bị thường do chính quyền trung ương mà đại diện là Bộ
y tế cung cấp theo các chương trình mục tiêu Khi máy móc thiết bị hư hỏng thì bệnh
Trang 118
viện tự phải bỏ tiền để sửa chữa – nguồn kinh phí chủ yếu được ứng từ khoán chi cho bệnh viện, và đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế công Bởi lẽ, trang thiết bị y tế chi phí rất cao trong khi kinh phí phân cấp lại quá eo hẹp Tuy nhiên, tình hình này cũng đã được cải thiện hơn vì trong những năm vừa qua, bệnh viện đã được trang bị thêm nhiều máy móc thiết bị phục vụ chuyên môn từ nguồn trái phiếu của Chính phủ
Về xử lý chất thải y tế, trong những năm vừa qua các bệnh viện không những tăng về
số lượng mà còn được nâng cao cả về chất lượng phục vụ Tuy nhiên, quá trình hoạt động của hệ thống bệnh viện còn gặp nhiều bất cập, các bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương luôn trong tình trạng quá tải, kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng còn hạn hẹp,
hệ thống xử lý chất thải độc hại nguy hiểm chưa hoàn thiện, chưa đảm bảo theo yêu cầu quy định của Luật môi trường nhất là hệ thống xử lý nước thải, lượng nước thải được sinh ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số bệnh nhân, gây ra tình trạng ô nhiễm ngày càng phức tạp
Tuy nhiên, trong lĩnh vực trang thiết bị y tế còn một số vấn đề đáng quan tâm đó là:
Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực trang thiết bị y tế còn hạn chế;
Thiếu thông tin đầy đủ về trang thiết bị y tế hiện có và công suất sử dụng theo tuyến làm cơ sở để quản lý nhà nước
Hỗ trợ các cơ sở y tế đầu tư hiệu quả trong lĩnh vực này
Đánh giá công nghệ y tế nhằm lựa chọn công nghệ có chi phí thấp, hiệu quả cao, phù hợp với nhu cầu vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Các chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế và vật tư tiêu hao trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới vẫn chưa đầy đủ
Chưa có chiến lược phù hợp với năng lực và nhu cầu nội địa
Chất lượng của các trang thiết bị y tế sản xuất trong nước chưa ổn định độ chính xác bền vững và tin cậy còn thấp
2.1.5 Mạng lưới y tế cơ sở
Trong những năm qua, ngành y tế đã tập trung củng cố hệ thống y tế xã, phường và y
tế thôn bản Đến 2010, 98,4% số xã có Trạm y tế hoạt động, 87,44% số thôn bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động, có 67,8% số xã có bác sĩ, 96,2% số xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh Số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế chiếm tỷ lệ 73,8% (xem Bảng 3)
Trang 12Sử dụng thuốc (đặc biệt kháng sinh) không hợp lý đang dẫn đến kháng thuốc trong cộng đồng, tăng tác động có hại của thuốc, cũng như tăng chi phí thiết yếu cho mua thuốc Tình trạng tự mua thuốc không có đơn của bác sĩ rất phổ biến do quy chế bán thuốc theo đơn chưa được thực hiện nghiêm túc Phác đồ điều trị chuẩn chưa được xây dựng và cập nhật nên thiếu tiêu chuẩn để kiểm soát đơn thuốc do bác sĩ chỉ định Thiếu dược sĩ đại học ở tuyến huyện để tư vấn dùng thuốc an toàn hợp lý Bác sĩ chưa có cơ
sở thống kê về tình hình kháng thuốc để làm căn cứ khi kê đơn thuốc, do xét nghiệm vi sinh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ
Việt Nam đã sản xuất được nhiều loại vắc-xin: lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm não Nhật Bản, viêm gan B, sởi, tả thương hàn Với tài trợ của GAVI, Việt Nam đang áp dụng vắc-xin phối hợp 5 trong 1 (bạch hầu- ho gà- uốn ván- viêm gan B- Hib)
Trang 1310
trong giai đoạn 2010- 2015 Năm 2010, Chính phủ đã đưa vắc-xin vào danh sách các sản phẩm sẽ được hỗ trợ đặc biệt trong chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng Chương trình tiêm chủng mở rộng các vắc-xin cơ bản đã thực hiện rất thành công, vắc-xin trong nước về cơ bản đã cung ứng đủ cho Chương trình tiêm chủng mở rộng, tuy nhiên do kinh phí hạn hẹp nên vẫn còn một số vắc-xin mới chưa đưa vào tiêm chủng mở rộng (Bộ Y tế, 2013)
2.2 Những thành tựu đạt được và thuận lợi trong phát triển hệ thống y tế
y tế cơ sở
Đạt các chỉ tiêu cơ bản về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe sinh sản, Dân số - KHHGĐ Mạng lưới Y học cổ truyền tiếp tục được củng cố đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân Thực hiện tốt hoạt động khám chữa bệnh cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi Tiếp tục thực hiện tốt chương trình Đem lại ánh sáng cho người mù nghèo, chương trình hiến máu tình nguyện Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa y tế: duy trì tốt các mô hình xã hội hóa ở địa phương, các cơ sở y tế công lập tiếp tục được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao năng lực, đảm bảo tốt vai trò chủ đạo trong hệ thống y tế và hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho các cơ sở y tế ngoài công lập, các cơ sở y tế ngoài công lập ngày càng phát triển và từng bước phát triển quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động Việc huy động vốn của các cơ sở y tế công lập đã và đang từng bước thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư trang thiết bị, phát triển các dịch
vụ kỹ thuật Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp ngành y tế
ổn định và đi vào nề nếp (Sở Y tế tỉnh An Giang, 2013)
Công tác thanh kiểm tra được tăng cường, phát hiện xử lý, uốn nắn kịp thời những sai sót yếu kém trong các lĩnh vực hoạt động của Ngành và hoạt động hành nghề Y, Dược
tư nhân