Để hoàn thành khóa Luận Văn Tốt Nghiệp một cách thành công và tốt đẹp. Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể giảng viên trường Đại học Giao Thông Vận Tải thành phố Hồ Chí Minh và các Thầy Cô khoa Kinh Tế Vận Tải đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong quá trình học tập tại trường. Với vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình thực hiện khóa Luận này mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới Thạc sĩ Lê Thị Hồng Huế – người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, đưa ra những lời khuyên, chỉ dẫn mang tính khoa học vô cùng quý giá để em thực hiện và hoàn thành khóa Luận văn Tốt Nghiệp. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến những người đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện bài Luận văn vừa qua để từ đó giúp em có một nền tảng kiến thức về kinh tế để hoàn thành khóa luận văn một cách hoàn chỉnh nhất.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
Khái niệm phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
-Phân tích được hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó
-Phân tích như là một hoạt động thực tiễn, vì nó luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra quyết định PTKD như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh để từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu cho mỗi doanh nghiệp
-Như vậy, phân tích kết quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) là đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối hệ qua lại giữa các số liệu, biểu hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng phương pháp khoa học Chỉ ra những mặt tích cực, tiêu cực từ đó đưa ra phương pháp khắc phục, khai thác khả năng tiềm thàng của doanh nghiệp, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Mục đích
-Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế là nhằm xác định tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tốt nhất những tiềm năng ấy, nó bao gồm:
Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh ngiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế
Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán các nhân tố ảnh hưởng đế từng chỉ tiêu phân tích
Phân tích chi tiết các trọng tâm, trọng điểm để xác định tiềm năng của các doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức, quản lý, điều hành và sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất, các điều kiện sản xuất
Đề xuất các biện pháp về kỷ thuật, tổ chức để khai thác tốt tiềm năng trong doanh nghiệp áp dụng trong thời gian tới nhằm pháp triển sản xuất, nâng cao hiệu quả, đảm bảo các lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động
Làm cơ sở cho những kế hoạch chiến lược về phát triển kinh tế trong tương lai
-Các mục đích này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia, cái sau phải dựa vào kết quả của cái trước Đồng thời các mục đích này cũng quy định nội dung của công tác phân tích hoạt động kinh tế.
Ý nghĩa
-Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Giúp cho doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh cũng như thế yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục Nó còn là công cụ cải tiến công tác quản trị trong doanh nghiệp
-Phân tích hoạt động kinh tế có vai trò trong việc đánh giá, xem xét việc thực hiện các chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Xem xét việc thực hiện các mục tiêu hoạt động kinh doanh, những tồn tại, nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra biện pháp khắc phục nhằm tận dụng một cách triệt để thế mạnh của doanh nghiệp Kết quả phân tích hoạt động kinh doanh là những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạch định chiến lược phát triển và phương án hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả
-Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó có vai trò và tác dụng đối với doanh nghiệp trong chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh của mình Thông qua việc phân tích từng hiện tượng, từng khía cạnh của quá trình hoạt động kinh doanh, phân tích giúp doanh nghiệp điều hành từng mặt hoạt động cụ thể với sự tham gia cụ thể của từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp Phân tích cũng là công cụ quan trọng để liên kết mọi hoạt động của các bộ phận cho hoạt động chung của doanh nghiệp được nhịp nhàng và đạt hiệu quả cao
-Tài liệu phân tích kinh doanh còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài, khi họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay đối với doanh nghiệp nữa hay không
-Là một nhà kinh doanh, bao giờ chúng ta cũng phải quan tâm đến hiệu quả và mong muốn đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao Để đạt được điều đó chúng ta cần có cách nhìn nhận một cách chính xác, để đưa ra được các quyết định đúng đắn Để có nhận thức đúng đắn đó, người ta sử dụng công cụ quan trọng đó là phân tích hoạt động kinh tế Nó chính là công cụ quan trọng để quản lý khoa học, có hiệu quả các hoạt động kinh tế Nó cũng là hình thức biểu hiện của chức năng tổ chức và quản lý của nhà nước Nhờ đó, làm cho doanh nghiệp phát triển không ngừng với hiệu quả kinh tế cao… và ngược lại.
Đối Tượng
-Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh suy đến cùng chính là kết quả kinh doanh
-Nội dung phân tích chính là quá trình tìm cách lượng hóa những yếu tố của quá trình cung cấp, sản xuất, tiêu thụ và mua bán hàng hóa thuộc các lĩnh vực sản xuất, thương mại dịch vụ
-Phân tích hoạt động kinh doanh còn nghiên cứu tình hình sử dụng các nguồn lực: vốn, vật tư, lao động và đất đai, những nhân tố nội tại của doanh nghiệp hoặc khách quan từ phía thị trường và môi trường kinh doanh
-Phân tích hoạt động kinh doanh đi vào phân tích những kết quả đã đạt được từ những hoạt động liên tục và còn tiếp diễn của doanh nghiệp, dựa vào kết quả phân tích để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn lẫn dài hạn thích hợp.
Nguyên tắc phân tích
Phân tích hoạt động kinh tế dù ở phạm vi nào cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Phân tích bao giờ cũng xuất phát từ việc đánh giá chung, sau đó mới phân tích chi tiết từng khía cạnh của hiện tượng kinh tế
- Phân tích phải thực hiện trong mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa các hiện tượng kinh tế
- Phân tích phải đảm bảo tính toàn diện, khách quan, triệt để
- Phân tích trong sự vận động của các hiện tượng kinh tế
- Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để thực hiện các mục đích phân tích.
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
-Kết quả hoạt động của đơn vị ta nghiên cứu là tổng hợp kết quả hoạt động của các đơn vị thành phần tạo nên Khi chi tiết kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị sản xuất theo các đơn vị thành phần sẽ cho phép ta đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động của mỗi đơn vị thành phần
-Mặc khác, kết quả hoạt động của mỗi đơn vị do nững nguyên nhân khác nhau, tác động không giống nhau Mọi điều kiện về tổ chức, kỹ thuật của mỗi đơn vị không giống nhau nên biện pháp khai thác tiềm năng ở các đơn vị cũng không như nhau, cần phải chi tiết để có những biện pháp riêng phù hợp với từng đơn vị riêng biệt
-Tác dụng nữa của chi tiết theo địa điểm là qua phân tích ta tìm được những điển hình, từ đó rút ra kinh nghiệm cho các đơn vị khác Đồng thời xác định được mức độ hợp lý trong việc phân phối nhiệm vụ giữa các đơn vị
-Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là kết quả của một quá trình Ở các thời kì khác nhau có những nguyên nhân khác nhau và cùng một nguyên nhân nhưng nó tác động đến hiện tượng kinh tế với những mức độ khác nhau Vì thế tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng thời kì khác nhau Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ta tìm được nguyên nhân ở mỗi thời kỳ, xác định thời kỳ mà hiện tượng kinh tế xảy ra tốt nhất,
7 xấu nhất, xác định được nhịp độ phát triển của hiện tượng kinh tế Tùy theo đặc tính của quá trình, nội dung của chỉ tiêu và mục đích phân tích mà ta chọn thời gian cần chi tiết Có thể chọn cá quý, các tháng, sáu tháng, … làm thời gian chi tiết
-Từ việc nghiên cứu hiện tượng kinh tế đã chi tiết theo thời gian, ta có thể rút ra được một vài quy luật nào đó theo thời gian Từ đó xác định nguyên nhân thường xảy ra ở các thời gian có tính quy luật Qua đó, ta có biện pháp khai thác các tiềm năng, hạn chế các tác động xấu của các nhân tố sao cho hợp với quy luật
1.6.1.3 Theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu
-Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ phận hợp thành cho ta biết rõ kết quả của chỉ tiêu nghiên cứu được tạo ra do tác động của bộ phận nào, chỉ tiêu nào Mỗi bộ phận hợp thành có những xu hướng biến động riêng và chịu tác động những nguyên nhân riêng, cần phairchi tiết theo các bộ phận để nghiên cứu sau ở mỗi bộ phận ta coi đó là các nhân tố, các chỉ tiêu cá biệt ảnh hưởng đến chỉ tiêu tổng thể đang nghiên cứu
-Tóm lại, phương pháp chi tiết có ba hình thức, các hình thức này bổ sung cho nhau Trong phân tích, muốn đạt yêu cầu toàn diện và triệt để ta cần sử dụng đồng thời cả ba hình thức này Chỉ tiêu nghiên cứu càng được chi tiết nhiều, liên tục thì sự phát triển càng sâu sác và đầy đủ
- Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm để đánh giá chung, đánh giá khái quát tình hình biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp so sánh đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện có tính so sánh, xem xét đánh giá rút ra được kết luận về hiện tượng quá trình kinh tế Khi sử dụng phương pháp so sánh ta cần nắm chắc 3 nguyên tắc sau:
1.6.2.1 Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh
-Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được lựa chọn để làm căn cứ so sánh, được gọi là kỳ gốc so sánh Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp Các gốc so sánh có thể là:
- Tài liệu của năm trước (kỳ trước hay kế hoạch) nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu
- Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự đoán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự đoán và định mức
- Các chỉ tiêu trung bình của ngành, của khu vực kinh doanh; nhu cầu hoặc đơn đặt hàng của khách hàng nhằm khẳng định vị trí của các DN và khả năng đáp ứng nhu cầu
-Các chỉ tiêu của kỳ được chọn để so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết quả kinh doanh đã đạt được
-Ðể thực hiện phương pháp này có ý nghĩa thì điều kiện kiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng trong so sánh phải đồng nhất Trong thực tế, chúng ta cần quan tâm cả về thời gian và không gian của các chỉ tiêu và điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế
-Về thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán và phải thống nhất trên 3 mặt sau:
+ Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế
+ Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính toán
+ Phải cùng một đơn vị đo lường
-Khi so sánh về mặt không gian: yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau
1.6.2.3 Kỹ thuật so sánh Ðể đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, người ta thường sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:
- So sánh bằng số tuyệt đối: là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế Nó là cơ sở để tính toán các loại số liệu khác So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ phân tích so với kỳ gốc Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế
Nhiệm vụ cụ thể
-Đánh giá giữa kết quả thực hiện so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực hiện kỳ trước, so với các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội ngành và các thông số, thị trường
-Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch
-Phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu tư dài hạn -Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích
-Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt động của doanh nghiệp
-Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất các biện pháp quản trị
Các báo cáo được thể hiện bằng lời văn, bảng biểu và bằng các loại đồ thị
-Chỉ số là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng nghiên cứu Khi xây dựng trị số chung trước hết ta phải chuyển các phân tử khác nhau và phức tạp về 1 dạng đồng nhất, và khi dùng chỉ tiêu nghiên cứu biến động của một nhân tố nào đó của hiện tượng phức tạp thì phải cố định các nhân tố khác Ngoài ra, một ứng dụng quan trọng của chỉ số trong phân tích là dùng chỉ số để phân tích chỉ tiêu bình quân Chỉ tiêu bình quân chịu biến động của 2 nhân tố cơ bản là bản thân chỉ tiêu nghiên cứu biến động và sự thay đổi kết cấu của tổng thể Việc phân tích số toàn bộ thành chỉ số có hai cách:
-Là phương pháp nên lên ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu trong quá trình các nhân tố biến động và tác động lẫn nhau Mỗi nhân tố có quyền số khác nhau Thông thường nhân tố chất lượng có quyền số ở kỳ nghiên cứu còn nhân tố số lượng có quyền số ở kỳ gốc Nếu có nhiều nhân tố, ta sắp xếp theo nguyên tắc của phương pháp liên hoàn và quyền số cũng lần lượt chuyển dần từ kỳ gốc sang kỳ nghiên cứu
Phương pháp biến động riêng biệt:
-Phương pháp này nói lên biến động của chỉ tiêu nghiên cứu do ảnh hưởng riêng biệt của từng nhân tố cấu thành và ảnh hưởng do cùng biến động cùng tác động lẫn nhau giữa các nguyên tố, quyền số được lấy ở kỳ gốc
-Việc đặt ra nội dung phân tích phải căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đề ra Vì vậy cần xác định rõ mục tiêu phân tích để lựa chọn thích hợp các loại hình phân tích có hiệu quả thiết thực nhất
CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
-Sản lượng là chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất của doanh nghiệp Mỗi ngành kinh tế có một quá trình sản xuất nhất định, kết quả của mỗi ngành đều biểu hiện cụ thể ở sản lượng và chất lượng sản phẩm riêng biệt Chẳng hạn là ngành công nghiệp, nông nghiệp thì sản lượng là hàng hóa với giá trị sử dụng nhất định
-Cũng như mọi ngành sản xuất vật chất, sản lượng của doanh nghiệp vận tải là một chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất của doanh nghiệp Cụ thể có sản lượng hàng hóa, hành khách được phục vụ đươc dịch chuyển trong không gian và chất lượng phục vụ của doanh nghiệp vận tải đối với sản phẩm đó
-Chỉ tiêu sản lượng là chỉ tiêu cơ sở tính toán các chỉ tiêu khác của quá trình sản xuất kinh doanh như: chi phí, lao dộng, tiền lương, tài chính, sử dụng nguồn vốn cố định, các chỉ tiêu quan hệ ngân sách,
Mục đích của việc phân tích chỉ tiêu sản lượng:
-Đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu sản lượng, thể hiện bằng mức độ thực hiện kế hoạch sản lượng hoặc theo mức tăng trưởng về chỉ tiêu sản lượng thực hiện
-Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các mặt và ở mỗi mặt chỉ ra ưu, khuyết điểm, những nguyên nhân chủ quan, khách quan đã tác động đến tình hình thực hiện này
-Nghiên cứu năng lực của doah nghiệp, xác định mức độ lợi dụng khả năng phát hiện tiềm năng chưa được khai thác
-Đề xuất biện pháp về tổ chức, kỹ thuật để khai thác các tiềm năng của doanh nghiệp, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng phục vụ, thay dổi cơ cấu sản xuất… từ đó xác định được con đường của doanh nghiệp trong tương lai và cả quy mô và cơ cấu sản xuất Ý nghĩa:
-Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng rất quan trọng và cần thiết Kết quả phân tích chỉ tiêu sản lượng là cơ sở phân tích cho các chỉ tiêu khác Nếu việc phân tích đạt yêu
19 cầu: đầy đủ, khách quan, triệt để và thực hiện được các mục đích trên sẽ tạo điều kiện xác định được nguyên nhân gây ra tình hình thực hiện chỉ tiêu kết quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh Tạo điều kiện để quản lý doanh nghiệp thấy được tình hình thực tế cũng như tiềm năng của doanh nghiệp Từ đó có những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp
-Nếu không phân tích hoặc phân tích không đạt yêu cầu thì không thấy được tình trạng thực tế của doanh nghiệp, nên không có những quyết định có căn cứ khao học Như vậy, khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao trong tương lai của doanh nghiệp
-Doanh thu phản ánh quy mô, hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ tổ chức chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi lẽ đạt được mức doanh thu như vậy chứng tỏ doanh nghiệp đã lấy được lòng tin cậy của khách hàng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thái độ phục vụ tốt, sự đảm bảo về an toàn cho hàng hóa, tiến độ vận chuyển đúng tiến độ, giá cả hợp lý, …
Mục đích của việc phân tích hoạt động doanh thu:
- Đánh giá khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động khác
- Xác định các nhân tố, các guyên nhân ảnh hưởng đến doanh thu
- Xác định xu hướng phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai Ý nghĩa của việc phân tích hoạt động doanh thu:
- Tìm rõ nguyên nhân giúp người quản lý thay được kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Thấy được khả năng của doanh nghiệp, mạnh, yếu từ hoạt động nào Từ đó có biện pháp thích ứng để đẩy mạnh một số hoạt động còn yếu cũng như duy trì và nâng cao một số điểm mạnh hoạt động của cảng
Tổng doanh thu: ∑ 𝑫𝑻= DT BH,CCDV + DTHĐTC +DTKhác (đồng)
1.8.3 Chỉ tiêu chi phí theo khoản mục chi phí và yếu tố chi phí
-Chi phí là một trong những chỉ tiêu chất lượng quan trọng, nó phản ánh tổng hợp mọi kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi mọi ưu nhược điểm trong quá trình tổ chức quản lý kinh doanh, trong quá trình sử dụng các yếu tố lao động, vật tư, tài sản cố định, trình độ ứng dụng khoa học, kỹ thuật đều tổng hợp vào chi phí Chi phí phản ánh trình độ kỹ thuật quản lý: lao động, vật tư, tài sản cố định, …
-Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện hằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí được phân loại trên nhiều gốc nhìn khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng
-Nhằm để thấy rõ bộ phận quản lý trong công việc chỉ tiêu để quản lý hoạt đông sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm qua, ta cần pahir đi vào phân tích tình hình thực hiện chi phí quản lý doanh nghiệp để thấy được cơ cấu quản lý tổ chức trong công việc chỉ tiêu, điều hành công ty Từ đó, nhận xét đánh giá những khoản chi tiêu nào được tiết kiệm, khoản nào bội chi để từ đó có biện pháp khắc phục nhằm giảm tói thiểu chi phí quản lý cũng như việc giảm tổng chi phí nói chung
-Một doanh nghiệp xí nghiệp phát huy mọi tiềm năng trong việc sản xuất kinhh doanh thì bộ phận quản lý gián tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hành, sắp xếp các hoạch định công tác để từ đó mới đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì bộ phận gián tiếp có vai trò quan trọng nên việc xem xét, đánh giá các khoản chỉ tiêu của quản lý doanh nghiệp ta cần quan tâm để thấy được điều hành quản lý của doanh nghiệp
1.8.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí (khoản mục chi phí)
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY NĂM 2021
Giới thiệu tổng quan về Công ty
2.1.1 Giới thiệu về Công ty
Tên giao dịch: CÔNG TY CỔ PHẦN XẾP DỠ VÀ DỊCH VỤ CẢNG SÀI GÒN Tên giao dịch quốc tế: SAI GON PORT STEVEDORING AND SERVICE
JOINT STOCK COMPANY Địa chỉ: Số 1B Trương Đình Hợi, Phường 18, Quận 4, TP.HCM
Website: http://www.sasteco.vn/
Hình 2.1 : logo công ty Vốn điều lệ đăng ký: 40.500.000.000 đồng (Bốn mươi tỷ năm trăm triệu đồng) Vốn điều lệ thực góp: 40.500.000.000 đồng (Bốn mươi tỷ năm trăm triệu đồng) Ngày trở thành công ty đại chúng: 01/10/2010
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Minh Trí - Chức vụ: Tổng giám đốc Giấy CNĐKKD số: 0310346174 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp lần đầu ngày 30/9/2010 cấp thay đổi lần thứ 5 ngày 27/04/2016
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tiền thân: Là Xí nghiệp Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn
Năm 2008: Thành lập trên cơ sở sáp nhập các bộ phận bốc xếp, giao nhận, cơ giới và một phần các bộ phận chuyên môn từ các công ty xếp dỡ cũ của Cảng Sài Gòn
Ngày 04/08/2010, Công ty CP Chứng khoán Phương Đông đã tổ chức thành công cuộc đấu giá bán cổ phần lần đầu ra bên ngoài tại 194 Nguyễn Công Trứ Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh, với số lượng cổ phần đưa ra đấu giá là 405.000 cổ phần, giá đấu thành công bình quân là 10.102 đồng/cổ phần
Ngày 15/09/2010, Công ty tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ cảng Sài Gòn
Ngày 30/09/2010, Công ty chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0310346174 với mức Vốn điều lệ là 40.500.000.000 đồng
Ngày 01/10/2010, Công ty được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận hồ sơ công ty đại chúng
Năm 2011: Thay đổi người đại diện theo pháp luật và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ hai
Năm 2012: Góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Logistics Tân Thuận Phong
Năm 2013: Thành lập Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn tại Bà Rịa - Vũng Tàu
Năm 2015: Góp vốn thành lập Công ty cổ phần Dịch vụ Hàng Hải Tân Hưng Phúc
Ngày 11/08/2016, Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ cảng Sài Gòn được Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu ký số 80/2016/GCNCP-VSD, với tổng số lượng chứng khoán đăng ký là 4.050.000 cổ
29 phiếu, mệnh giá là 10.000 đồng/cổ phiếu và cấp mã chứng khoán cho Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ cảng Sài Gòn là SAC
2.1.3 Giới thiệu về chức năng và hoạt động của công ty
- CÔNG TY CỔ PHẦN XẾP DỠ & DỊCH VỤ CẢNG SÀI GÒN (viết tắt là
SASTECO) là đơn vị chịu trách nhiệm xếp dỡ, giao nhận và đóng gói hàng hóa tại Cảng Sài Gòn Có năng lực Xếp dỡ và đóng gói các loại hàng hóa trên 11 triệu tấn/năm
- Tiền thân là Xí nghiệp Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn thành lập ngày 01 tháng
08 năm 2008 Xí nghiệp Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn đã thực hiện nhiều dự án xếp dỡ đóng gói
- Đến ngày 01 tháng 10 năm 2010 Xí nghiệp Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn chính thức thành lập CÔNG TY CỔ PHẦN XẾP DỠ & DỊCH VỤ CẢNG SÀI GÒN (viết tắt là SASTECO) tên giao dịch tiếng Anh: SAIGON PORT STEVEDDRING & SERVICE J.S CO.,
- Cổ đông lớn nhất của Công ty là CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG SÀI GÒN với hơn 51% Cổ phần, ngoài ra còn có vốn góp của hai nhà đầu tư chiến lược là CÔNG TY
CỔ PHẦN VẬT TƯ NÔNG SẢN HÀ NỘI (Apromaco), CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT
TƯ KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP CẦN THƠ và Vốn góp của CB-CNV trong Công ty cùng các nhà đầu tư khác
- Ngày 08 tháng 11 năm 2016, Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn đã chính thức giao dịch cổ phiếu SAC tại sàn giao dịch chứng khoán UPCOM Đây là buổi ra mắt đầu tiên của cổ phiếu SAC trên thị trường chứng khoán sau 6 năm thực hiện mô hình quản lý Công ty Cổ phần và đạt được nhiều thành công trong kinh doanh Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của Công ty
- Với trị trí địa lí thuận lợi, CÔNG TY CỔ PHẦN XẾP DỠ & DỊCH VỤ CẢNG SÀI GÒN có khả năng tiếp cận nhanh với những chuyến hàng hóa cập và rời Cảng đảm bảo về thời gian thực hiện xếp dỡ Về hoạt động của công ty bao gồm
- BỐC XẾP ĐÓNG GÓI HÀNG HÓA
- DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO BÃI
- CHO THUÊ PHƯƠNG TIỆN THIẾT BỊ CƠ GIỚI
- DỊCH VỤ CUNG ỨNG TÀU BIỂN
- DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN
- Mong muốn ngày càng hoàn thiện hơn Dịch vụ của mình, Công ty thường xuyên tổ chức đào tạo, nâng cao tay nghề của CB-CNV đồng thời đổi mới và cải tiến những máy móc thiết bị hỗ trợ nhằm đáp ứng yêu cầu Xếp dỡ hàng hóa
- Hoạt động với nguyên tắc “Chính trực - Tận tâm – Hiệu quả” CÔNG TY CỔ PHẦN XẾP DỠ & DỊCH VỤ CẢNG SÀI GÒN không ngừng nỗ lực để mang lại sự hài lòng cho khách hàng với Dịch vụ Xếp dỡ chuyên nghiệp
31 2.1.4 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các phòng ban
Hình 2.2: sơ đồ cơ cấu các phòng ban của công ty
Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn hoạt động theo “Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần Xếp dỡ và Dịch vụ Cảng Sài Gòn” đã được Đại hội đồng cổ đông Công ty thông qua ngày 21/4/2016 Cụ thể như sau:
- Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): là cơ quan quyền lực cao nhất Công ty;
- Hội đồng quản trị (HĐQT): là cơ quan quản lý của Công ty, do ĐHĐCĐ bầu ra và có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm sau khi được ĐHĐCĐ thông qua, chỉ đạo và giám sát hoạt động của Công ty thông qua Ban Tổng giám đốc
Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2021
2.2.1 Đánh giá chung kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2021
Năm 2021, trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực suy giảm do tác dộng của dịch bệnh Covid-19, sản lượng hàng hóa các khu vực giảm mạnh dẫn đến thị trường bị thu hẹp, mặt khác các đơn vị hoạt động cùng ngành nghề càng tạo ra cạnh tranh gay gắt trong thị phần kinh doanh Mặc dù trong năm 2021, được sự quan tâm của các cơ quan quản lý, công với sự ủng hộ của các đối tác, sự sâu sát của Hội đồng quản trị tạo điều kiện thuận lợi để Công ty vượt qua khó khăn thách thức Qua bảng 2.1 về phân tích tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Cổ Phần Xếp Dỡ và Dịch Vụ Cảng Sài Gòn giai đoạn 2020-2021 ta có các đánh giá như sau
Về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:Ta thấy năm 2020 doanh thu thuần và cung cấp dịch đạt 86,461,682,920 đồng, con số này được tăng lên vào năm 2021 lên đến 105,746,319,527 đồng, tương ứng tỷ lệ đạt 122,3% so với năm trước và giá trị tăng lên là 19,284,636,607 đồng Nguyên nhân tăng lên là do công ty bổ sung thêm
35 nguồn nhân lực chính quy trực tiếp tham gia sản xuất của công ty, thêm vào đó trong thời gian dịch bệnh diễn ra lượng hàng hóa thông qua cần xếp dỡ của cảng cũng không bị ảnh hưởng nghiệm trọng, trong khi đó công ty tổ chức phương án “ 3 tại chỗ “ cho công nhân làm việc và nghỉ ngơi tại công ty vì thế nâng cao được hiệu quả công việc trong thời kì khó khăn đó Công ty không phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu nên ta thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dich vụ chính là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dich vụ
Về giá vốn bán hàng và cung cấp dịch vụ Ta thấy giá vốn bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2021 tăng 121,26 % so với năm 2020 Cụ thể năm 2021 là 93,845,926,873 đồng tăng 16,456,397,503 đồng so với năm 2020 là 77,389,529,370 đồng Nguyên nhân giá vốn tăng như vậy là do chí phí nhân công cũng như chi trả tiền cho các bên liên quan và công ty con tăng lên theo sảng lượng xếp dỡ qua cảng.
Bảng 2.1 : Đánh giá chung kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Năm 2021 Đvt: Đồng
STT Chi Tiết Năm 2020 Năm 2021
1 DT bán hàng và cung cấp dịch vụ 86,461,682,920 105,746,319,527 19,284,636,607 122.30
2 DT thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
3 Giá vốn hàng bán và cung cấp dịch vụ 77,389,529,370 93,845,926,873 16,456,397,503 121.26
4 LN gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 9,072,153,550 11,900,392,654 2,828,239,104 131.17
5 DT hoạt động tài chính 2,247,528,547 1,848,352,160 -399,176,387 82.24
7 Trong đó: Chi phí lãi vay - - - -
11 Chi phí quản lý doanh nghiệp 12,718,985,861 6,223,688,159 -6,495,297,702 48.93
12 LN thuần từ hoạt động kinh doanh -1,399,303,764 7,525,056,655 8,924,360,419 -537.77
16 Tổng LN kế toán trước thuế 647,717,758 7,196,926,161 6,549,208,403 1111.12
17 Chi phí thuế TNDN hiện hành 102,629,004 1,106,161,117 1,003,532,113 1077.83
18 (Lợi ích)/chi phí thuế TNDN hoãn lại - - - -
Năm 2020 lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 9,072,153,550 đồng, đến năm 2021 thì số này tăng lên 11,900,392,654 đồng, tức là tăng 2,828,239,104 đồng, đạt 131,17% Chỉ tiêu này tăng tỉ lệ thuận với chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cũng cấp dịch vụ và việc tốc độ tăng của giá vốn ( 121,26% ) thấp hơn tốc dộ tăng của doanh thu ( 122,3% ) cho ta thấy công ty đang kinh doanh tốt và được tối ưu hóa lợi nhuận
Doanh thu hoạt động tài chính của công ty cũng là 1 khoản có ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty Doanh thu hoạt động tài chính có giảm mạnh giữa 2 năm như sau, ở năm
2020 từ 2,247,528,547 đồng giảm còn 1,848,352,160 đồng vào năm 2021, tương ứng giảm 17,76 %, sự giảm này là do yếu tố như lãi tiền gửi, tiền cho vay giảm mạnh, ngoài ra thì do lợi nhuận cổ tức được chia cũng có sự thay đổi dẫn đến doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty giảm đáng kể
Về chi phí quản lý doanh nghiệp ta thấy chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty có sự giảm mạnh, cụ thể là giảm 6,495,297,702 đồng trong vòng 2 năm từ 2020 là 12,718,985,861 đồng đến năm 2021 là 6,223,688,159 đồng, ứng với mức giảm là 48.93% Sự giảm này là do việc doanh nghiệp đã giảm đi khoản trích lập dự phòng và được thể hiện rõ ở chỗ công ty đã thu hồi đáng kể được các khoản phải thu ngắn hạn khó đòi và cho thấy đây là tín hiệu tốt nhằm tăng doanh thu của công ty
Qua các chỉ tiêu trên đã phân tích thì ta thấy lợi nhuận thuần từ hoạt động của kinh doanh tăng mạnh trong 2 năm Vào năm 2020 lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là (1,399,303,764) đồng, đến năm 2021 thì tăng đến 7,525,056,655 đồng, ứng với giá trị tăng tuyêt đối là 8,924,360,419 đồng, tăng 537,7% so với năm trước Sự tăng trưởng mạnh này là nhờ vào công ty đã vực dậy mãnh mẽ trong thời gian dịch bệnh khó khăn để tăng doanh thu bán hàng đáng kể và nhờ vào các chính sách tài chính cũng như quản lý hợp lý của công ty
Về thu nhập khác thì công ty tăng từ 2,048,143,078 đồng năm 2020 lên 5,240,215,217 đồng vào năm 2021, ứng với mức tăng tuyệt đối là 3,192,072,139 đồng, tăng 255.85%
39 so với cùng kì Bên cạnh đó về chi phí khác thì công ty có xu hướng tăng mạnh, cụ thể tăng từ 1,121,556 đồng năm 2020 lên đến 5,568,345,711 đồng vào năm 2021, sự tăng này là do công ty đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất như là “ ngáng C để kéo tole, ngáng banh để kéo sắt khoanh “ Thêm vào đó là tăng chi phí đơn giá của một số mặt hàng để đảm bảo đười sống cho công nhân và chí phí phục vụ sản xuất “3 tại chỗ” như tiền ăn, phòng chống dịch, chi phí sinh hoạt
Như vậy do thu nhập khác tăng nhưng chi phí khác cũng tăng cao không kém nên phần lợi nhuận khác bị giảm đáng kể, nhưng may đây là một yếu tố tốt ảnh hưởng không nhiều đến cơ cấu tổng doanh thu của công ty
Về tổng lợi nhuận kế toán trước thuế của công ty thì năm 2020 đạt 647,717,758 đồng, đến năm 2021 thì con số này tăng lên 7,196,926,161 đồng, ứng với mức tăng tuyệt đối là 6,549,208,403 đồng, đạt 1111.12% Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2021 dần bước qua thời kì kinh tế khó khăn do dịch covid, các quốc gia đã mở cửa thông thương trở lại, những nút thắt trong chuỗi cung ứng toàn cầu được tháo gỡ vì thế lượng hàng hóa thông qua cảng đã phục hồi đáng kể Nhờ vậy lợi nhuận thuần của công ty cũng đã được cải thiện mạnh mẽ, đây là dấu hiệu đáng mừng cho công ty cũng như các doanh nghiệp cùng ngành trong cả nước
Về chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành năm 2020 công ty phải nộp cho nhà nước là 102,629,004 đồng, nhưng đến năm 2021 thì tiền thuế công ty phải nộp đã được tăng lên 1,106,161,117 đồng, tăng 977,83 % Sự tăng này nhờ vào doanh thu của công ty được cải thiện nên số tiền thuế nộp cho nhà nước cũng tăng Trong đó công ty đã được nhà nước quan tâm giảm 30% thuế theo nghị định 92/2021/NĐ-
CP cho doanh nghiệp Đây là sự hỗ trợ kịp thời của nhà nước đến doanh nghiệp thể hiện sự lắng nghe người dân cũng như sự quyết tâm của Chính phủ, Quốc hội trong việc đồng hành cùng người dân
Với sự ảnh hưởng của lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty tăng từ 545,088,754 đồng vào năm 2020 lên đến 6,090,765,044 đồng vào năm 2021 Giá trị tuyệt đối tăng lên là
Những thuận lợi và khó khăn của công ty năm 2021
-Công ty vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ có hiệu quả của Ban lãnh đạo Cảng Sài Gòn và các cảng trực thuộc Cảng Sài Gòn và các cổ đông chiến lược trong việc tạo điều kiện để Công ty luôn có việc làm, tạo doanh thu và thu nhập ổn định cho người lao động
-Đội ngũ công nhân lành nghề, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp; cùng với các trang thiết bị được đầu tư, cải tiến, sửa chữa phù hợp với việc làm tất cả các loại hàng nên được khách hàng đánh giá rất cao về năng suất làm hàng, chất lượng dịch vụ của Công ty
-Lực lượng Trang thiết bị, công cụ chuyên dụng trong bốc dỡ hàng container, hàng rời, siêu trường siêu trọng, đóng bao túi hàng rời tại chỗ…đã giúp cho Cty thực hiện dịch vụ tốt mọi lúc, mọi nơi…
-Là đơn vị được cổ phần hóa từ đơn vị trực thuộc Cảng Sài Gòn – 01 trong 03 cảng có sản lượng hàng hóa thông qua lớn nhất cả nước Công ty là đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ bốc xếp, giao nhận, vận chuyển hàng hóa tại cảng biển, là đơn vị đứng đầu trong việc cung cấp dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại các cảng biển khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
-Công ty với đối ngũ công nhân lành nghề, được đào tạo bài bản với bề dày kinh nghiệm lâu năm làm việc tại Cảng Sài Gòn, cùng với các trang thiết bị xếp dỡ chuyên dùng tại cảng biển và không ngừng được cải tiến nhằm đáp ứng với từng loại hàng, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu quả cho khách hàng
-Công ty luôn có mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương, các cảng trong khu vực và cả nước Qua thực tế sử dụng dịch vụ do Cty cung cấp, các khách hàng, đại lý tàu biển luôn đánh giá cao chất lượng dịch vụ của Công ty
-Chịu sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị có cùng ngành nghề tại các khu vực truyền thống, cũng như các khu vực mới cung cấp dịch vụ
-Tình hình Covid - 19 diễn ra phức tạp kéo theo một số hoạt động công ty hoạt động chưa hiệu quả mang theo đó là doanh thu một số hoạt động giảm
-Đa số cán bộ công nhân viên ở công ty đều có trách nhiệm thì vẫn còn một số công nhân viên có ý thức chưa tốt nên làm việc thực sự chưa hiệu quả dẫn tới hiệu quả hoạt động của toàn công ty chưa đạt mức tốt nhất