BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC NGHIÊN CỨU BỆNH VÀNG RỤNG LÁ CAO SU Corynespora cassiicola (Berk & Curtis) Wei VÀ BIỆN PHÁP QUẢN L[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của tôi và một số kết quả cùng cộng tác với các cộng sự khác;
Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần
đã được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với sự đồng ý và cho phép của các đồng tác giả;
Phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và long biết ơn sâu sắc TS Ngô Vĩnh Viễn và PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng, hai người Thày đã hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và viết luận án này Những nhận xét và đánh giá của thày cô, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nghiên cứu, thực sự là những bào học vô cùng quý giá đối với tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Ban Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong những năm qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật, Bộ môn Bệnh cây nơi tôi đang công tác, bạn bè đồng nghiệp gần xa đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Bộ Khoa học và Công nghệ, đã cấp kinh phí cho tôi thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước” Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để phòng trừ bệnh vàng rụng lá cao su tại Đông Nam Bộ” năm 2012-2014
Xin cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Phước, Chi cục Trồng trọt và BVTV Bình Phước, các hộ nông dân trồng cao su tiểu điền tại Bình Phước đã tham gia làm thí nghiệm và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận án này
Cuối cùng, xin cảm ơn bố mẹ, tình cảm yêu thương của chồng con, các anh chị em đã động viên, hỗ trợ tinh thần trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Tổng quan về cây cao su 5
1.3 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.4 Những nghiên cứu trong nước 28
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Nội dung nghiên cứu 42
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 42
2.3 Vật liệu nghiên cứu 42
2.4 Phương pháp nghiên cứu 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65
3.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh vàng rụng lá cao su tại bình phước 65
3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm c Cassiicola gây bệnh vàng rụng lá cao su 79
3.4 Nghiên cứu các biện pháp quản lý bệnh vàng rụng lá cao su 107
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 161
Trang 6DRC
Dvt
ĐN
Deoxyribonucleic acid Dry rubber content Dòng vô tính Đồng Nai
LSD
PCR
Sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất Phản ứng chuỗi trùng hợp (polymerase chain reaction)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích cao su tại Bình Phước phân theo huyện, thị 37 Bảng 1.2 Diện tích nhiễm bệnh vàng rụng lá cao su tại Bình Phước 38 Bảng 1.3 Diện tích nhiễm bệnh vàng rụng lá trên giống RRIV 4 (Bình Phước,
2010) 39
Bảng 3.1 Kết quả phân lập nấm C cassiicola từ các dạng triệu chứng bệnh khác
nhau (Viện BVTV, 2012) 67 Bảng 3.2 Một số triệu chứng đốm lá, vàng lá và rụng lá trên cao su 68
Bảng 3.3 Kết quả lây bệnh nhân tạo b ng các nguồn nấm C cassiicola phân lập
được trên cao su (Bình Phước, 2012) 70
Bảng 3.4 Hình thái, kích thước bào từ các mẫu phân lập nấm C cassiicola (Viện
BVTV, 2012) 71
Bảng 3.5 Danh sách mẫu nấm C cassiicola hại cao su phân tích trình tự (Năm
2012) 73 Bảng 3.6 Giải trình tự và tìm kiếm các chuỗi gần gũi trên Ngân Hàng Gen
(GenBank) 75
Bảng 3.7 So sánh trình tự vùng ITS của các mẫu nấm C cassiicola 77 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm C
cassiicola (Viện BVTV – 2012) 79
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm C cassiicola trên môi
trường PDA (Viện BVTV – năm 2012) 81
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của độ pH đến sự phát triển của nấm C cassiicola trên môi
trường PDA (Viện BVTV – 2012) 83
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến sự phát triển của nấm C
cassiicola trên môi trường PDA (Viện BVTV – 2012) 84
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến sự hình thành bào tử nấm C
cassicola trên các môi trường dinh dưỡng (Viện BVTV – 2012) 85
Bảng 3.13 Khả năng nảy mầm của bào tử nấm C cassiicola phân lập từ các giống
cao su khác nhau (Viện BVTV, 2013) 86
Trang 8Bảng 3.14 Khả năng xâm nhiễm gây bệnh của nấm C cassiicola trên lá cao su ở độ
tuổi khác nhau (Viện BVTV, 2013) 87
Bảng 3.15 Khả năng tồn tại của nấm C cassiicola trên tàn dư lá bệnh (Viện Bảo
vệ thực vật, 2012-2013) 89
Bảng 3.16 Hậu bào tử hình thành từ các mẫu phân lập nấm Corynespora cassiicola
trên cao su và các cây ký chủ khác (Viện BVTV, 2015) 90
Bảng 3.17 Danh sách cây ký chủ nhiễm nấm C cassiicola (Bình Phước, 2012 –
2016) 93
Bảng 3.18 Đặc điểm hình thái của nấm Corynespora cassiicola trên một số cây ký
chủ chính tại Việt nam (Viện BVTV, năm 2012-2015) 94
Bảng 3.19 Khả năng gây bệnh của các nguồn nấm C cassiicola phân lập từ các cây
ký chủ khác nhau (Viện BVTV, 2013) 97 Bảng 3.20 Diễn biến bệnh vàng rụng lá cao su tại Bình Phước năm 2012, 2013 101 Bảng 3.21 Mức độ nhiễm bệnh vàng rụng lá của một số giống cao su trồng tại Bình
Phước (năm 2012) 103 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của tuổi cây đến bệnh vàng rụng lá cao su 104 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của điều kiện đất trồng đến bệnh vàng rụng lá cao su (Bình
Phước, năm 2012) 106 Bảng 3.24 Kết quả điều tra bệnh vàng rụng lá trên một số dòng/ giống cao su trong
vườn ươm tại công ty Cao su Lộc Ninh – Bình Phước ( 8/2012) 107 Bảng 3.25 Hiệu quả của biện pháp thu dọn tàn dư đến mức độ bệnh vàng rụng lá
cao su tại Bình Phước (năm 2013 - 2014) 109 Bảng 3.26 Ảnh hưởng của phân bón đến mức độ bị bệnh vàng rụng lá cao su tại
Bình Phước (Đồng Xoài – Bình Phước, 2013) 111
Bảng 3.27 Khả năng đối kháng của vi khuẩn, xạ khuẩn với nấm Corynespora
cassiicola trong điều kiện in vitro (Viện BVTV, 2015) 114
Bảng 3.28 Khả năng đối kháng của các chủng nấm đối kháng với nấm C cassiicola
(Viện BVTV, 2013-2014) 116
Bảng 3.29 Hiệu quả hạn chế nguốn nấm C cassiicola tồn tại trên lá cao su rụng của
chế phẩm nấm Trichoderma (Viện BVTV, 2013) 118
Trang 9Bảng 3.30 Hiệu quả hạn chế nguồn nấm C cassiicola tồn tại trên lá cao su rụng của
chế phẩm Trichoderma (Bình Phước, 2014) 119 Bảng 3.31 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đến khả năng ức chế nấm C
cassiicola trong điều kiện in vitro (Viện BVTV, 2012) 122
Bảng 3.32 Hiệu lực phòng trừ bệnh vàng rụng lá cao su của một số thuốc hoá BVTV
trong điều kiện vườn ươm (Đồng Xoài-Bình Phước, 2012) 124 Bảng 3.33 Hiệu lực phòng trừ bệnh vàng rụng lá cao su của một số thuốc hoá
BVTV trên vườn cao su kinh doanh (Đồng Xoài-Bình Phước, 2013) 125 Bảng 3.34 Ảnh hưởng của thời điểm xử lý thuốc đối với bệnh vàng rụng lá cao su
tại Bình Phước (Quảng Hưng, Đồng Phú, 2013) 127 Bảng 3.35 Ảnh hưởng của các công cụ phun thuốc đến bệnh vàng rụng lá cao su
(Bình Phước, 2013) 128
Bảng 3.36 Kết quả phân tích nấm C cassiicola ở lớp lá rụng của mô hình PTTH tại
Bình Phước (Viện BVTV, 2013) 130 Bảng 3.37 Hiệu quả phòng trừ của mô hình PTTH đối với bệnh vàng rụng lá cao su
tại Bình Phước (2013) 131 Bảng 3.38 Thành phần bệnh hại trên cao su trong mô hình QLTH bệnh vàng rụng
lá tại Bình Phước (2013) 132 Bảng 3.39 Năng suất mủ cao su trong mô hình quản lý tổng hợp bệnh vàng rụng lá
cao su tại Bình Phước (2013 - 2014) 133 Bảng 3.40 Hiệu quả kinh tế của mô hình quản lý tổng hợp bệnh VRL so với sản
xuất ngoài mô hình tại Bình Phước (2013) 134
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chu kỳ bệnh của nấm C cassiicola 14
Hình 1.2 Đặc điểm hình thái nấm C cassiicola 14
Hình 1.3 Hậu bào tử tạo ra trong điều kiện in vitro và in vivo 19
Hình 3.1 Triệu chứng bệnh vàng rụng lá trên vườn ươm 69
Hình 3.2 Triệu chứng bệnh vàng rụng lá trên cao su vườn khai thác 69
Hình 3.3 Triệu chứng các bệnh hại khác trên lá 69
Hình 3.4 Đặc điểm hình thái nấm C cassiicola trên môi trường nhân tạo PDA 72
Hình 3.5 PCR nhân vùng ITS b ng cặp mồi ITS4 và ITS5 của 10 mẫu Corynespora phân lập trên cao su 75
Hình 3.6 Phân tích phả hệ dựa trên trình tự toàn bộ vùng ITS của các mẫu nấm 78
Hình 3.7 Sự sinh trưởng của nấm C cassiicola trên các môi trường nuôi cấy khác nhau 80
Hình 3.8 Sự sinh trưởng của nấm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau 82
Hình 3.9 Bào tử nấm C cassiicola nảy mầm sau 12 h trên môi trường PDA86 Hình 3.10 Bào tử nảy mầm và xâm nhiễm vào mô lá cây cao su 88
Hình 3.11 Nấm C cassiicola phân lập từ mẫu lá rụng 3 tháng 89
Hình 3.12 Hậu bào tử tạo ra từ các mẫu phân lập cao su 92
Hình 3.13 Triệu chứng bệnh do nấm C cassiicola gây ra trên các cây ký chủ (A) Ớt; (B) Xoài; (C) Đu đủ; (D) Sắn; (E) Hồ tiêu; (F) Dây sữa bò; (G) Quả cà chua nhiễm nấm; (H) cây cao su thực sinh nhiễm bệnh vàng rụng lá trên vườn 94
Hình 3.14 Hình thái tản nấm C cassiicola của các cây ký chủ trên môi trường dinh dưỡng PDA 96
Trang 11Hình 3.16 Lây nhiễm nhân tạo nấm C cassiicola giữa các cây ký chủ
khác nhau 99
Hình 3.17 Diễn biến bệnh vàng rụng lá cao su tại Bình Phước năm 2012 101
Hình 3.18 Diễn biến bệnh vàng rụng lá cao su tại Bình Phước năm 2013 102
Hình 3.19 Tương quan giữa TLB và ẩm độ tại Bình Phước 102
Hình 3.20 Tương quan giữa TLB và lượng mưa tại Bình Phước 102
Hình 3.21 Mức độ bệnh vàng rụng lá trên các dvt khác nhau 104
Hình 3.22 Đánh giá khả năng chống chịu bệnh vàng rụng lá cúa các giống cao su trong điều kiện vườn ươm 108
Hình 3.23 Xử lý bón phân ngoài mô hình 112
Hình 3.24 Xử lý gom lá rụng vào giữa hàng cao su trong mô hình 112
Hình 3.25 Khả năng đối kháng nấm C.cassiicola của các dòng VSV 115
Hình 3.26 Khả năng đối kháng nấm C cassiicola của Trichoderma spp 117
Hình 3.27 Gom lá cao su rụng và tưới chế phẩm chứa nấm đối kháng Trichoderma 120
Hình 3.28 Khả năng ức chế nấm C cassiicola của một số thuốc hóa BVTV ở các nồng độ khác nhau 123
Hình 3.29 Xử lý thử thuốc hóa BVTV sau 6 ngày 123
Hình 3.30 Xử lý thuốc BVTV tại Tiến Hưng – Đồng Xoài – Bình Phước 126 Hình 3.31 Công cụ phun rải thuốc 129
Hình 3.32 Mô hình quản lý bệnh vàng rụng lá cao su 135
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây cao su (Hevea brasiliensis Muel-Arg) là loại cây trồng đa mục
đích, chu kỳ kinh doanh dài (trên 20 năm), có vai trò rất lớn về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng Mủ cao su có giá trị kinh tế cao, đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ Tiêu thụ cao su tăng mạnh vào năm
2010 (8,6%) và giảm xuống (4,6%) năm 2011, tăng (6,2%) vào năm 2012 và đến năm 2015 tổng nhu cầu tiêu thụ cao su trên thế giới đạt 29,1 triệu tấn và tăng lên 30,3 triệu tấn năm 2016 (ANRPC, 2016)
Diện tích cao su nước ta ngày càng tăng, là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Theo Tập đoàn Cao su Việt Nam (2015), năm 2000 cả nước đạt 412,0 nghìn ha, đến năm 2015 đạt 981,0 nghìn ha, tăng gấp đôi so với năm 2000 Việt nam đứng thứ 1 thế giới về năng suất (1.695 kg/ha), thứ 5 về sản lượng (1.017.000 tấn) và thứ 4 thế giới về xuất khẩu (1,14 triệu tấn) (ANRPC, 2015)
Bệnh vàng rụng lá cao su (Corynespora cassiicola) là một trong những
đối tượng bệnh hại quan trọng trên cây cao su Trong những năm gần đây bệnh trở nên nghiêm trọng và ngày càng gia tăng cả về mức độ, phạm vi và số
lượng các dòng vô tính cao su cao sản nhiễm bệnh Nấm Corynespora
cassiicola (C cassiicola) có khả năng gây bệnh quanh năm ở tất cả các giai
đoạn sinh trưởng của cây, không chỉ gây bệnh trên lá mà nấm còn gây bệnh trên cả cuống lá và chồi Cây gốc ghép bị nhiễm bệnh sẽ chậm phát triển và không đạt được tiêu chuẩn gốc ghép theo đúng thời vụ (Jacob, 2006) Bệnh nặng phải giảm cường độ hoặc ngưng thu hoạch mủ (Nguyễn Anh Nghĩa, 2016), gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho ngành trồng cao su ở nhiều nước (Nguyễn Tuấn Lộc, 2013) Ở nước ta, bệnh xuất hiện lần đầu vào tháng 8 năm
1999 tại trại Thực nghiệm Cao su Lai Khê, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam Đến năm 2010 bệnh vàng rụng lá đã phát sinh và gây hại các vùng
Trang 13tích bị nhiễm bệnh lên tới 15.000 ha Vườn cao su nhiễm bệnh sẽ bị rụng lá nhiều đợt, cây chậm sinh trưởng, đôi khi bị chết ở vườn cao su kiến thiết cơ bản và giảm sản lượng đối với vườn cây đang ở thời kỳ khai thác, nhiều hộ phải ngưng cạo hoàn toàn bởi vườn cây trụi lá, sản lượng mủ cạo kém (Phan Thành Dũng, 2010)
Tại Bình Phước, là một tỉnh có diện tích lớn nhất và là một trong những cây trồng chủ lực đóng góp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tính đến cuối năm 2016, diện tích cao su toàn tỉnh là 234.979
ha, phân bố ở hầu hết các huyện thị trong tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở các huyện Hớn Quản, Đồng Phú, Bù Đăng, Chơn Thành, Lộc Ninh, Phú Riềng, Bù Gia Mập, trong đó diện tích được tái canh là 4.283 ha trên diện tích cao su thanh lý, diện tích cho sản phẩm là 166.895 ha cho sản lượng là 304.253 tấn (Chi cục Trồng trọt và BVTV Bình Phước, 2016)
Bệnh vàng rụng lá cao su bắt đầu xuất hiện ở Bình Phước vào khoảng đầu tháng 6 năm 2010, sau đó bệnh phát triển lây lan rộng với diện tích bị nhiễm lúc cao điểm là 8.024 ha Bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây từ vườn ươm đến vườn khai thác Triệu chứng bệnh
lá các đốm tròn hoặc đốm hình xương cá dọc theo gân lá, xung quanh có quầng vàng Bệnh làm vườn cao su bị rụng lá, sinh trưởng phát triển kém, năng suất mủ giảm, đối với cây bị nhiễm bệnh nặng có thể gây chết cây, đặc biệt là trong thời kì vườn ươm và kiến thiết cơ bản
Cho đến nay mặc dù có một số nghiên cứu về triệu chứng bệnh, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và thực hiện một cách có hệ thống về đặc điểm sinh học, sinh thái, sự tồn tại, lây lan và biện pháp phòng trừ bệnh
Đề tài “Nghiên cứu bệnh vàng rụng lá cao su Corynespora cassiicola (Bert
& Curtis) Wei và biện pháp quản lý tổng hợp tại Bình Phước‖, được thực
hiện nh m xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp quản lý có hiệu quả bệnh vàng rụng lá, góp phần phát triển ngành cao su bền vững
Trang 142 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
- Xác định được nguyên nhân, đặc điểm sinh học, sinh thái và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền bệnh vàng rụng lá cao su, làm cơ sở khoa học xây dựng các giải pháp phòng chống bệnh hiệu quả cho cây cao su tại Bình Phước
- Đề xuất các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả và thân thiện với môi trường
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung dẫn liệu về bệnh vàng rụng lá cao su, đặc điểm sinh học, sinh
thái, sự tồn tại của nấm Corynespora cassiicola và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát sinh, phát triển, gây hại của bệnh trong điều kiện tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phòng chống bệnh có hiệu quả
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định được nguyên nhân gây
bệnh vàng rụng lá cao su, đồng thời làm sáng tỏ sự gây bệnh của nấm C
cassiicola hại cao su trong điều kiện sản xuất
- Đề tài đã đề xuất quy trình tổng hợp phòng chống bệnh có hiệu quả và
an toàn môi trường, góp phần phát triển bền vững ngành trồng cao su ở Bình Phước
Trang 154 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nấm Corynespora cassiicola
- Bệnh vàng rụng lá cao su
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh vàng rụng lá cao su tại
Bình Phước, đặc điểm sinh học, tính gây bệnh, phổ ký chủ của nấm
C cassiicola
Nghiên cứu quy luật phát sinh gây hại của bệnh tại Bình Phước, các
biện pháp phòng trừ và đề xuất quy trình quản lý bệnh tổng hợp
5 Những đóng góp mới của luận án
- Bổ sung dẫn liệu khoa học mới về triệu chứng, đặc điểm sinh học, sự
tồn tại của nấm C cassiicola trên tàn dư lá bệnh và quá trình xâm nhiễm gây
bệnh của nấm trên lá cao su
- Xác định được hậu bào tử của nấm C cassiicola trong điều kiện in
vitro Xác định được thêm 12 cây trồng là ký chủ của nấm trong điều kiện tự
nhiên trong đó có cây sắn là cây trồng xen phổ biến trên vườn cao su tiểu điền
- Bổ sung thông tin về diễn biến và các yếu tố ảnh hưởng tới phát sinh
phát triển của bệnh vàng rụng lá cao su trên đồng ruộng
- Xác định một số chủng vi sinh vật đối kháng nấm C cassiicola và sử
dụng chúng để xử lý nguồn bệnh trên đồng ruộng
- Chỉ rõ thời điểm xử lý bệnh và hiệu quả hạn chế bệnh của các biện
pháp phòng trừ, xây dựng và ứng dụng thành công quy trình quản lý tổng hợp
bệnh vàng rụng lá trên cây cao su
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh vàng rụng lá cao su là bệnh hại quan trọng trên cây cao su ở các vùng trên thế giới Trên đồng ruộng, bệnh gây hại trên cây cao su trong vườn ươm, vườn kiến thiết cơ bản và cả vườn kinh doanh Triệu chứng bệnh biểu hiện với mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng giống, nguồn gốc cây giống, tuổi cây khi bị nhiễm bệnh, cũng như phụ thuộc vào kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, bảo vệ vườn cây Mặc dù vậy triệu chứng chung nhất của bệnh là các vết đốm lá hình tròn, hình xương cá sát gân lá sau đó lá bị vàng và rụng
Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới chỉ rõ bệnh vàng rụng lá cao su gây hại ở tất cả các bộ phận của cây như lá, cuống lá và chồi Bệnh có khả năng lan truyền nhanh và gây hại nặng nếu sử dụng cây giống bị nhiễm bệnh ngay từ vườn ươm, kỹ thuật canh tác cũng như kỹ thuật bảo vệ thực vật không được quan tâm (Chee, 1988; Dũng, 2011) Hiện nay, do sự thay đổi khí hậu thất thường cũng như sự trao đổi thương mại các sản phẩm số lượng dòng
vô tính bị nhiễm bệnh tăng lên nhiều
Theo các nhà khoa học đã chỉ rõ để hạn chế được thiệt hại do bệnh gây
ra đòi hỏi phải nắm vững và hiểu biết đầy đủ về chúng, xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm sinh học, sinh thái, sự tồn tại, lan truyền của nấm gây bệnh cũng như quy luật phát sinh gây hại Từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp bệnh vàng rụng lá có hiệu quả và an toàn
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÂY CAO SU
1.2.1 Nguồn gốc xuất xứ
Cây cao su có nguồn gốc trong lưu vực sông Amazone – Brazil và các vùng
kế cận, vào các năm 1493 – 1496 nhà thám hiểm Christopher Columbus và các thủy thủ trong khi khám phá vùng đất châu Mỹ đã phát hiện ra cao su từ những quả bóng làm b ng nhựa cây của thổ dân đảo Hitta (Đặng Văn Vinh, 2000) Đến nay
b ng nhiều con đường cao su đã được di thực và trồng ở các vùng khác nhau
Trang 17Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ Tổng diện tích cao su toàn thế giới trên 10 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi chiếm 5%, mặc dù vậy vùng châu Mỹ, quê hương của cây cao
su chỉ trồng chưa đến 2% diện tích cao su thế giới Indonesia là quốc gia có diện tích cao su lớn nhất thế giới (29%), tiếp theo là Thái Lan (24%), Malaysia (9%), Trung Quốc (8%), Ấn Độ (6%) và Việt Nam (6%) Những nước xuất khẩu cao su lớn nhất là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Việt Nam,
Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Liberia và Coted‟Ivoire
9 m, do đó tầng dày đất tối thiểu trồng cao su yêu cầu phải đạt trên 0,7 m
Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách, khi trưởng thành lá có màu xanh đậm ở mặt trên lá và màu nhạt hơn ở mặt dưới
lá Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn, màu sắc, hình dáng, kích thước lá thay đổi khác nhau giữa các giống cây, phần cuối phiến lá chét
có tuyến mật trong giai đoạn lá non, vừa ổn định
Hoa cao su thuộc loại đơn tính, thụ phấn chéo (hoa đực và hoa cái mọc riêng rẽ trên cùng một cây), hoa đực và hoa cái không chín cùng một lúc mà thường hoa đực chín trước một ngày
Quả cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày, cứng trong có chứa các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài
Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, có vân, bên trong có nhân gồm phôi nhũ và cây mầm
Trang 181.2.3 Giá trị kinh tế của cây cao su
Cây cao su chiếm vị trí quan trọng trong nền nông, lâm nghiệp nước ta
và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như lấy mủ, lấy gỗ, bảo vệ đất
và chống xói mòn Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam ước đạt 1,66 tỷ USD trong năm 2016 Bên cạnh đó, Việt Nam còn xuất khẩu 1,5 tỷ USD các sản phẩm từ cao su như lốp xe, linh kiện cao su, băng tải và 1,2 tỷ USD các sản phẩm từ gỗ cao su Ngoài sản phẩm chính là mủ, mỗi hecta cao su hàng năm
có thể cung cấp khoảng 450 kg hạt, có thể ép được 56 kg dầu phục vụ cho công nghiệp chế biến sơn, xà phòng, thức ăn chăn nuôi và làm phân bón rất tốt (Hiệp hội Cao su Việt Nam, 2012)
Sau chu kỳ kinh doanh mủ, cây cao su còn cho một lượng gỗ tương đối lớn (bình quân từ 130 – 258 m3/ha) phục vụ cho chế biến đồ gỗ gia dụng và xuất khẩu Gỗ cao su có thớ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn được đánh giá như là loại gỗ “thân thiện với môi trường” và giá trị tương đương gỗ nhóm III Hiện nay tùy theo nguồn gốc giống, mật độ vườn cây và trình độ thâm canh, 1 ha cao su ở 20 – 21 năm tuổi có thể đạt sản lượng gỗ từ 162 – 389 m3, trong đó trữ lượng gỗ thân chính chiếm khoảng 75 – 77% (Nguyễn Trường An, 2013)
Ngoài ra phát triển cao su góp phần phát triển cả hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường học, bệnh viện, cơ sở dịch vụ, chế biến,…đặc biệt là nhà ở cho người lao động luôn luôn được phát triển song song cùng với việc phát triển các vườn cao su
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.3.1 Những nghiên cứu về các bệnh rụng lá trên cao su
Một trong các yếu tố ảnh hưởng lớn tới sản xuất cao su là bệnh hại
trong đó có các bệnh rụng lá: Bệnh rụng lá mùa mưa (Phytophthora spp.) gây giảm 30 – 50% năng suất, bệnh rụng lá do nấm Colletotrichum sp gây ra làm giảm 7 - 45% sản lượng, bệnh phấn trắng (Oidium heveae) làm giảm 14 -
Trang 19Bệnh rụng lá mùa mưa (Phytophthora meadii)
Bệnh rụng lá mùa mưa được phát hiện lần đầu tiên vào đầu thế kỷ 20 tại Ấn Độ, Sri Lanka và Myanmar (1905), tới năm 1966 bệnh xuất hiện ở Malaysia Tại Bahia (Brazil) bệnh rụng lá mùa mưa có mức độ tàn phá tương đương với bệnh cháy lá Nam Mỹ Tác nhân gây bệnh được xác định là do loài
nấm Phytophthora meadii, nấm tồn tại ở phạm vi nhiệt độ từ 5 - 35°C, thích
hợp nhất ở 25 - 28°C, triệu chứng đặc trưng là trên cuống lá có cục mủ màu đen hoặc trắng, tại trung tâm vết bệnh màu nâu hoặc xám và rụng khi lá còn xanh gồm cả 3 lá chét và cuống lá (Chee, 1990)
Bệnh héo đen đầu lá và rụng lá (Colletotrichum gloeosporioides)
Bệnh héo đen đầu lá do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra
Nấm này cũng gây rụng lá, nấm phát triển mạnh ở 28°C, ẩm độ 80-100% Bệnh xuất hiện lần đầu tiên ở Malaysia (1905), sau đó xuất hiện ở Châu Phi (1920), châu Mỹ (1926) Hiện nay bệnh gây hại ở các vùng trồng cao su, chủ yếu trên vườn ít tuổi, phổ biến vào mùa mưa Bệnh gây hại nặng ở giai đoạn
lá non (Manju, 2014)
Bệnh phấn trắng (Oidium heveae)
Theo Jacob et al (1992), bệnh phấn trắng (Oidium heveae) được Harris
báo cáo đầu tiên vào năm 1925 Bệnh phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 25-30°C,
lá non mẫn cảm hơn với bệnh Sau khi nấm xâm nhiễm 7-10 ngày, bào tử nấm hình thành Nếu lá không bị rụng, toàn bộ phiến lá bị biến dạng và chuyển sang màu vàng nhạt Bệnh phấn trắng làm rụng lá gây chết cành ở cả vườn ươm và vườn kiến thiết cơ bản, bệnh cũng làm giảm khả năng sinh trưởng và sản lượng mủ ở vườn kinh doanh, do mất diện tích quang hợp và cây phải tập trung dinh dưỡng để tái tạo tầng lá mới
Sự phát sinh, phát triển của bệnh liên quan chặt chẽ với môi trường, nhất là nhiệt độ và ẩm độ Năm có nhiệt độ cao và ẩm độ cao kèm theo sương mù bệnh sẽ gây hại nặng hơn
Trang 201.3.2 Nghiên cứu về bệnh vàng rụng lá (Corynespora cassiicola)
1.3.2.1 Lịch sử phát hiện, phân bố và thiệt hại của bệnh vàng rụng lá cao su C cassiicola
Bệnh vàng rụng lá cao su do nấm Corynespora cassiicola gây ra đã được
ghi nhận lần đầu trên cây cao su thực sinh tại Sierra Leone (châu Phi) năm
1936 (Wei, 1950) Sau đó bệnh này được phát hiện gây hại trên cao su trong vườn ươm tại Viện Nghiên cứu Cao su Ấn Độ vào năm 1958 (Ramakrishnan and Pillay, 1961) Bệnh tiếp tục được phát hiện ở Malaysia năm 1961, Nigeria vào năm 1969 (Awoderu, 1969), Indonesia vào năm 1980, Thái Lan
năm 1985 (Pongthep K.,1987), Sri Lanka năm 1985 – 1986 (Liyanage et al., 1986) và Trung Quốc năm 2007 (Pu et al., 2007) Cuối những năm 1980, nhiều nước châu Phi đã phát hiện được bệnh vàng rụng lá cao su C
cassiicola Tới những năm 1980, hai dòng vô tính cao su năng suất cao là
RRIC 103 và RRIM 725 đã bị nấm này gây hại nặng ở tất cả các vùng sản xuất cao su Mức độ bệnh tăng lên cùng với sự ghi nhận nhiều dòng vô tính được coi là kháng và chống chịu cũng trở nên mẫn cảm với bệnh này
(Jayasinghe and Silva, 1996) Tới nay nấm C cassiicola đã lan truyền và gây
hại ở tất cả các nước sản xuất cao su thuộc châu Á và châu Phi, gây tổn thất lớn cho sản xuất cao su
Nấm C cassiicola chưa ghi nhận được tại miền nam châu Mỹ (Déon et al., 2012) Chỉ duy nhất một báo cáo đề cập tới triệu chứng bệnh vàng rụng lá C
cassiicola trên cao su trồng tại lục địa Mỹ Ở tại vùng này, C cassiicola chỉ gây
hại nhẹ trên cao su nhưng đã gây hại nghiêm trọng trên các cây trồng khác
Trên các vườn cao su kinh doanh, sự lây nhiễm, gây hại của nấm C
cassiicola mới được ghi nhận khoảng 20 năm trở lại đây (Jacob, 2006) Sự
xuất của bệnh do nấm C cassiicola trên lá ở các vườn cao su sản xuất đã
được ghi nhận ở Kodumon, Chittar, Shaliacary và Cheruvally tại Ấn Độ
Trang 211990) Nghiên cứu phân bố của bệnh vàng rụng lá cao su tại Trung Quốc, Wei (2012) cho r ng, trong điều kiện khí hậu hiện nay, diện tích phù hợp cho bệnh phát triển lên tới 72% tổng diện tích canh tác cao su, trong đó 48,6% diện tích được dự báo sẽ có điều kiện tối ưu cho bệnh phát triển, gồm diện tích đất trồng cao su ở Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hà Khẩu ở Vân Nam, phía nam của Đài Loan và Yunxiao ở Phúc Kiến Nếu xảy ra biến đổi khí hậu, sự
phân bố của C cassiicola ở Trung Quốc dự kiến sẽ mở rộng về phía bắc Tác
giả khuyến cáo việc giám sát và cảnh báo sớm cần được tăng cường trong các vùng phù hợp cho bệnh phát sinh và phát triển
Ban đầu, bệnh vàng rụng lá Corynespora được xem như là một bệnh
gây hại không nghiêm trọng trên cao su, chỉ xuất hiện trên một vài dòng vô tính cao su (George and Edathil, 1980) Những thiệt hại do bệnh này gây ra không được đánh giá tới những năm 1980
Tại Sri Lanca: Dịch bệnh nặng nhất được ghi nhận vào năm 1985, sau
đó lan nhanh và phá hủy 4.000 ha vào năm 1989 (Liyanage et al., 1989)
Chính phủ nước này đã phải bồi thường cho những người trồng cao su bị thiệt hại trên 5 triệu USD
Tại Malaysia: Kamar và Hidir (1994) tiến hành điều tra mức độ nhiễm
bệnh vàng rụng lá Corynespora ở các vùng trồng cao su Johore và
Terengganu của Malaysia trong năm 1993 đã ghi nhận thấy sự nhiễm bệnh khác nhau của các dòng vô tính, các dòng GT1 và RRIM 600 mặc dù được cho là kháng bệnh nhưng vẫn biểu hiện triệu chứng
Tại Indonesia: Trong những năm 1980, gần 1200 ha cao su bị nhiễm
bệnh vàng rụng lá Corynespora trong đó 400 ha phải thanh lý, thiệt hại kinh
tế khoảng 200 tỷ RP Bệnh đã lây lan tới Aceh năm 1990, East Java năm 1993
và hầu hết các vùng trồng cao su năm 1994 (Sinulingga et al., 1996) Khoảng
70% diện tích trồng cao su của Indonesia ghi nhận sự xuất hiện và gây hại của bệnh ở các mức độ khác nhau Cây non bị nhiễm bệnh sẽ bị chậm 2 năm để chuyển sang thời kỳ kinh doanh
Trang 22Tại Ấn Độ: Bệnh xuất hiện trên cao su kinh doanh ở một số vùng trồng tại Ấn Độ từ 1969 tới năm 1976, nhưng gây hại không nghiêm trọng (George
and Edathil, 1980) Tới năm 1996, bệnh vàng rụng lá cao su do nấm C
cassiicola đã bùng phát tại miền ven biển thuộc Takamata, gây hại chủ yếu
trên dòng RRII 105, làm giảm sản lượng cao su khai thác đến 50% (Rajalakshmy and Kothandaraman, 1996) Năm 1999, tỷ lệ nhiễm bệnh lên tới 50 -70% ở Karnataka và miền Bắc vùng Malabar Chiến dịch phòng trừ bệnh đã được tiến hành trên 10.000 ha cao su, dưới sự tài trợ của Ngân hàng thế giới, nhưng tới năm 2001 bệnh vẫn gây hại ở mức độ trung bình đến nặng
ở một số vùng (Jacob et al., 2004; Manju et al., 2001)
Tại Thái Lan: Tác giả Chanurag (2000) ghi nhận bệnh gây hại tại Trung tâm nghiên cứu cao su Songkhla và các vùng phía Nam, Đông và phía Bắc Thái lan trên các dòng vô tính Songkhla 36, PR 255, PR 305 và RRIT 251
Tại Trung Quốc: Bệnh vàng rụng lá Corynespora xuất hiện ở một số
vườn cao su tại tỉnh Hải Nam và Vân Nam, miền nam Trung Quốc Trong tổng số 32 mẫu cao su bị bệnh thu thập từ 15 vườn cao su cả kinh doanh và vườn ươm tại tỉnh Hải Nam và Vân Nam, 21 mẫu đã phát hiện được nấm
Corynespora (Pu, 2007)
1.3.2.2 Triệu chứng bệnh vàng rụng lá cao su
Triệu chứng bệnh vàng rụng lá trên cao su lần đầu tiên được ghi nhận tại Ấn độ vào năm 1958, trong vườn ươm tại Viện Nghiên cứu Cao su Ấn Độ (RRII) ở Kottayam tỉnh Kerala (Ramakrishnan and Pillay, 1961)
Triệu chứng biểu hiện trên cây trong vườn ươm thường là những vết chết hoại hình tròn trên lá với đường kính 1 – 8 mm, các vết bệnh thường đơn
lẻ, ít khi liên kết với nhau Trung tâm vết bệnh có màu nâu sáng hay trắng với vòng tròn màu nâu tối ở xung quanh, bao quanh vết bệnh là vùng quầng sáng màu vàng Phần mô của trung tâm vết bệnh bị khô rụng tạo ra những lỗ thủng trên lá Lá non bị co lại ở phần đầu lá Lá non ở tầng trên bị rụng, cây bị hại nhiều hơn, lá thường bị rụng trong điều kiện khô hạn (Jacob, 2006;
Trang 23Rajalakshmy et al (1981) mô tả triệu chứng bệnh vàng rụng lá C
cassiicola đối với cây cao su trồng trong bầu Triệu chứng chủ yếu là các vết
bệnh có hình tròn hoặc không có hình dạng nhất định và có kích thước rất thay đổi Những cây cao su gốc ghép gieo từ hạt thu từ những cây bị bệnh thường bị nhiễm bệnh và lá cây có màu đỏ, lá bị rụng (Jacob, 2006) Quá trình rụng lá làm ảnh hưởng nặng tới sinh trưởng của cây non
Theo Jayasinghe (2000), đối với cây thực sinh, mầm bệnh tấn công trên các lá non và gây rụng lá Quá trình rụng lá diễn ra liên tục và ra lá mới ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Cây thực sinh trong giai đoạn vườn ươm bị nhiễm bệnh thường chậm phát triển và không đạt được đường kính gốc ghép đúng thời hạn
Trên vườn cao su kinh doanh vết bệnh là các đốm màu nâu trên phiến
lá Trên giống mẫn cảm, thường gặp các vết bệnh hình tròn điển hình hoặc không có hình dạng nhất định với quầng vàng bao quanh Vết bệnh chạy dọc gân chính và gân phụ giống như hình xương cá hoặc đường ray tàu hỏa, những triệu chứng này xuất hiện do nấm tiết ra độc tố tại vị trí nhiễm, độc tố lan dọc theo các gân lá và làm đổi màu của gân lá Vì độc tố lan nhanh hơn sợi nấm nên nó phá hủy mô và hạn chế sự phát triển của nấm Nếu bị nhiễm nấm trên gân chính, lá non bị biến dạng và sau đó rụng đi, nếu nhiễm trên gân phụ thì sự tồn tại của lá non tùy thuộc vào mức độ nhiễm và tạo ra hình dạng đường ray xe lửa hay xương cá Triệu chứng này ghi nhận trên dòng vô tính RRIM 600 và GT1 nhưng kích thước vết bệnh nhỏ hơn so với dòng vô tính
RRII 105 và PB 260 (Jayasinghe et al., 2005)
Jacob (2006) cũng đã quan sát thấy ở vườn sản xuất, biểu hiện triệu chứng bệnh trên cây cũng giống như đối với cây ở vườn ươm Triệu chứng bệnh ban đầu cũng là sự xuất hiện của một vài đốm tròn hay những vết bệnh không định hình trên lá non, lá có màu xanh sáng Triệu chứng dễ nhận thấy
là các vết bệnh dạng xương cá Khi bệnh nặng lá chuyển thành màu vàng, sau
đó chuyển sang màu nâu đồng và cuối cùng lá có thể bị rụng Một số lá biến dạng, mô bệnh khô và rụng tạo ra những lỗ thủng trên lá bệnh Nếu lá đã
Trang 24thành thục và các vết bệnh rất nhỏ thì lá có thể tồn tại đến thời gian rụng lá Ngoài phiến lá, cuống lá và chồi cũng bị nhiễm bệnh Các chồi non còn xanh
dễ bị nhiễm bệnh hơn Dấu hiệu bệnh đầu tiên là vết nứt dạng hình thoi dọc theo cuống lá và chồi, chồi bị bệnh có màu đen nâu, chồi bị chết Khi bệnh gây hại trên cuống lá cao su, toàn bộ lá chét bị rụng khi còn xanh Cành bị rụng lá có dạng tương tự như các sừng hươu (stag–horn) Đôi khi bệnh có thể làm cho cây bị chết Triệu chứng của bệnh vàng rụng lá thay đổi lớn trong vòng 4 năm trở lại đây, đã gây nhiều trở ngại cho nhận diện và chẩn đoán
bệnh ban đầu (Evueh et al., 2011)
1.3.2.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái học của nấm Corynespora cassiicola (Berk & Curtis) Wei
Đặc điểm phân loại
Nấm được mô tả đầu tiên bởi Berk & Curtis 1868 với tên gọi
Helminthosporium cassiicola, tới năm 1950 nấm được gọi là Corynespora cassiicola (Berk.& Curtis) Wei
Tên khoa học: Corynespora cassiicola (Berk & Curtic.) Wei
Tên khác: Helminthosporium cassiicola Berkeley & Curtis;
Helminthosporium vignicola (Kawamura) Olive
Helminthosporium papaya Syd
Cercospora melonis Cooke
Corynespora melonis (Cooke) Lindau;
Cercospora vignicola Kawamura
(Nguồn : http://www.mycobank.org)
Trang 26Đặc điểm sinh học, sinh thái nấm C cassiicola
Về hình thái và hình dạng bào tử trên vết bệnh cũng như trên môi trường nhân tạo có sự dao động rất lớn Bào tử trên lá có màu nâu nhạt với dạng hình lưỡi liềm hay thẳng chứa nhiều vách ngăn Chiều dài biến thiên lớn (22 - 300 µm), đôi khi đạt 700 µm Chiều rộng biến thiên từ 5 - 10 µm Bào tử dạng đơn, đôi khi dạng chuỗi dính với nhau ở 2 đầu (Ellis and Holiday, 1971) Trên môi trường PDA, PSA khuẩn lạc có màu xám đến nâu (Liyanage and Jayasinghe, 1986)
Theo Chee (1988), nuôi cấy nấm C cassiicola trong điều kiện 3 ngày
chiếu sáng rồi đến 3 ngày tối ở 260C trên môi trường PSA, nguồn nấm phân
lập từ cao su (Hevea brasiliensis) tạo ra số lượng bào tử đặc biệt lớn Mười tám nguồn nấm C cassiicola thí nghiệm sinh trưởng trên môi trường PSA
không giống nhau về hình thái của tản nấm Bào tử này mầm trong vòng 4h, ống nảy mầm thường mọc ở cuối bào tử
Phạm vi nhiệt độ từ 25 – 300C, ẩm độ 100%, bào tử nảy mầm trong 3 giờ và phát triển ống mầm ở vị trí n m giữa hai vách, nhưng phổ biến nhất ở hai đầu của bào tử Nhiệt độ từ 15 – 200C, bào tử nảy mầm sau 12 giờ và khi nhiệt độ trên 35 – 400C bào tử không nảy mầm được Ẩm độ trên 96% và nếu không có nước tự do hiện diện thì bào tử vẫn có thể nảy mầm được nhưng thời gian kéo dài hơn 24 giờ (Liyanage and Jayasinghe, 1986)
Peiris et al (2015) đã thấy có sự khác nhau về hình thái và đặc tính sinh
bào tử của các mẫu phân lập trên các cây ký chủ: Cao su, cà, đu đủ và cà chua Nuôi cấy trên môi trường, tản nấm phát triển có dạng hơi xốp, màu sắc tản nấm biến thiên từ màu xanh hơi vàng đến màu xám Các mẫu nấm phân lập từ cao su cho sợi nấm có chiều rộng biến thiên từ 3,20 đến 3,58 μm trong
đó các mẫu nấm phân lập từ các ký chủ khác chiều rộng sợi nấm từ 6,00 đến 7,80 μm Sợi nấm phân nhánh và có vách ngăn với bào tử phân sinh hình thành ở đầu sợi nấm Chiều dài bào tử biến thiên từ 15 đến 275 μm, chiều rộng từ 3,75 đến 12,50 μm Hình dáng bào tử từ thẳng, cong đến hình trụ Các
mẫu nấm C cassiicola phân lập từ cao su chủ yếu có bào tử mảnh, thẳng,
Trang 27Chee (1988) cho biết các nguồn nấm C cassiicola sinh trưởng thích hợp
ở điều kiện 4 giờ chiếu sáng/ngày trong 7 ngày, và 5 - 6 giờ chiếu sáng xen kẽ với tối sẽ sinh bào tử nhiều nhất Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh
trưởng của sợi nấm C cassiicola là 25 – 270C Sự sinh trưởng của tản nấm có thể đo được trong phạm vi nhiệt độ từ 20 – 300C Ở 150
C và 32± 20C, sự sinh trưởng của nấm có thể nhận thấy nhưng không thể đo được thậm chí ở thời điểm sau 7 ngày nuôi cấy Ở 350C, không quan sát thấy sợi nấm sinh trưởng Khả năng sinh bào tử cao nhất ở nhiệt độ từ 25 – 270
C
Trong điều kiện nghiên cứu ở Hà Nam (Trung Quốc) khoảng nhiệt độ 25 – 300
C, pH 5 - 6 ảnh hưởng tới sự nảy mầm của bào tử Bào tử nấm C
cassiicola phân lập từ dưa chuột có thể nảy mầm sau 2 giờ trong điều kiện có
giọt nước, nhiệt độ 300C, tỷ lệ nảy mầm đạt cao hơn sau 6 giờ Bào tử xâm
nhiễm b ng cách xâm nhập trực tiếp hoặc qua khí khổng (Tian et al., 2006) Cũng tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) các nghiên cứu của Zang et al
(2010) đã xác định nhiệt độ từ 25 – 300C thích hợp cho sợi nấm phát triển, nhưng nấm phát triển thích hợp nhất ở 30°C Nấm phát triển tốt trong khoảng
pH từ 4 - 8 Sợi nấm phát triển tốt nhẩt trong môi trường chứa đường maltoza Bào tử nảy mầm trong khoảng nhiệt độ từ 25 – 35°C, nhưng thích hợp nhất ở 30°C Sự khác biệt của pH không ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của bào
tử, nhưng trong môi trường chứa đường fructoza tỉ lệ nảy mầm của bào tử thấp
Tác giả Nguyen et al (2008) khi nghiên cứu đặc điểm hình thái các nguồn nấm C cassiicola từ các vườn cao su tại Malaysia cho thấy có sự khác
nhau về hình thái tản nấm và bào tử nấm
Theo Fernado (2012), nấm Corynespora cassiicola có thể sinh bào tử trên
môi trường PDA ở 10 – 350C, cao nhất 300C, bào tử sinh nhiều nhất khi nuôi cấy
12 ngày Bào tử sinh ống mầm ở cả hai đầu, tỷ lệ nảy mầm thấp nhất 1,5 x 10 bào tử/ml Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử trong khoảng từ 15 -
350C, ẩm độ trên 90%, dưới sự tác động của ánh sáng cực tím (254 nm)
Trang 28Các mẫu phân lập C cassiicola trong cùng một vùng sinh thái khác
nhau về hình thái, màu sắc khuẩn lạc, phát triển và sản sinh bào tử, khả năng
gây bệnh (Darmono et al., 1996; Déon et al., 2012; Dixon et al., 2009; Jayasinghe and Silva, 1996; Qi et al., 2009; Romruensukharom et al., 2005)
Kumar and Jacob (2005) nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khác
nhau đến sinh trưởng và khả năng sinh bào tử của 6 nguồn nấm C cassiicola
phân lập từ cao su Trong các axit amin, priline hỗ trợ nấm sinh trưởng và sinh bào tử tốt nhất, tiếp theo là glycine Trong số các chất dinh dưỡng khoáng thì magie hỗ trợ sinh trưởng cho nấm tốt nhất và tiếp theo là canxi Trong số các nguyên tố vi lượng kẽm hỗ trợ sinh trưởng của nấm tốt nhất và
tiếp theo là đồng Tất cả 6 nguồn nấm C cassiicola sinh trưởng rất tốt trên
môi trường có bổ sung lactose và sinh trưởng kém trên môi trường tinh bột
Nấm C cassiicola có thể nuôi cấy trên nhiều môi trường khác nhau,
với pH thay đổi tùy môi trường Tuy nhiên môi trường PDA là môi trường tối
ưu cho sự phát triển của nấm, môi trường PSA là môi trường thích hợp cho sự
hình thành bào tử (Liyanage et al., 1986)
Khả năng tồn tại của nấm C cassiicola
Trên đồng ruộng, khi không có cây ký chủ, nấm gây bệnh cây có thể tồn tại để duy trì và cung cấp nguồn bệnh cho quá trình lây nhiễm ở vụ sau C cassiicola cũng được chứng minh là nấm truyền qua hạt trên đậu tương nhưng
trên cây rau thì chưa được báo cáo Nấm có thể sống trên các loại cây trồng còn sót lại trên đồng ruộng cũng như trên xác bã cây trồng và xác bã giun
tròn Boosalis and Hamilton (1957) ghi nhận nấm C cassiicola gây bệnh thối
rễ và thân cây đậu tương qua đông và có thể tồn tại trong đất ít nhất 2 năm
Bệnh nặng hơn ở những ruộng đậu tương trồng 2 vụ liên tiếp
Nấm có thể tồn tại trên tàn dư từ vụ này sang vụ khác trên đồng ruộng tới trên 10 tháng và là nguồn lây nhiễm ban đầu, nấm tồn tại trong đất và trên hạt giống của các cây vừng bị nhiễm bệnh Sự lan truyền thứ cấp trên đồng ruộng thông qua sự phát tán bào tử trong không khí và nước, từ các lá và tàn
Trang 2950C 1, ẩm độ không khí 60%, tỷ lệ hạt nhiễm bệnh giảm chậm từ 89,8% tới
62% trong 10 tháng (Hansen et al., 1994)
Nấm dễ thích nghi với điều kiện môi trường để hình thành nòi mới vượt qua tính kháng của các dòng vô tính cũng như phản ứng khác nhau với
thuốc trị bệnh Tính độc của C cassiicola ngày càng phát triển đa dạng và rất thay đổi, khả năng gây độc của C cassiicola trên các dòng vô tính là khác
nhau, tuỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng (Jayashinge, 2000)
Pernezny và Simone (1993) khi nghiên cứu về nấm C cassiicola gây ra
bệnh đốm tròn trên một số loài rau đã thông báo về khả năng sống sót và lan rộng của loài nấm này trên đồng ruộng Nấm có thể tồn tại tới 2 năm trên tàn
dư cây trồng Phổ kí chủ rộng của loài nấm này cũng tạo điều kiện cho sự
sống sót của nấm Các mẫu phân lập nấm C cassiicola thường có thể lây
nhiễm cho những loài ký chủ khác nhưng không phải luôn xảy ra với tất cả các trường hợp
Theo các nghiên cứu của Manju (2014, 2016), tại Ấn Độ bệnh vàng rụng lá cao su xuất hiện thường xuyên trên vườn cao su trong mùa khô sau khi hình thành lá mới và tăng dần từ tháng 3 đến tháng 4 Tác nhân gây bệnh tồn tại trên cây bị nhiễm bệnh trong suốt cả năm với mức độ khác nhau Những lá bị nhiễm bệnh là nguồn bệnh đầu tiên cho quá trình xâm nhiễm mới trong điều kiện thích hợp Ngoài ra, nấm có thể tồn tại trên tàn dư lá rụng từ mùa này sang mùa khác dưới dạng sợi nấm dưới vỏ cành bị nhiễm bệnh
Hậu bào tử là dạng cấu trúc ngủ nghỉ cho phép nấm tồn tại trong trường hợp điều kiện tự nhiên bất thuận hoặc không có ký chủ (Meronuck and Pepper, 1968) Hậu bào tử còn là nguồn bệnh ban đầu cho sự lây lan gây bệnh của nấm (Agrios, 2005) Rất ít nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của hậu bào
tử của nấm C cassiicola Olive et al (1945), Sarma and Nayudu (1971) đã ghi nhận hậu bào tử nấm C cassiicola trên nghệ tây (C sativus), đậu dải (Vigna sinensis) và cà tím (Solanum melongena) Ricardo (2012) đã nghiên cứu việc tạo hậu bào tử của 15 mẫu nấm C cassiicola trên nhiều cây trồng
Trang 30như: Nghệ tây, sơ ri, bí xanh, đậu tương, cà chua, đu đủ, hoa ngũ sắc, xà
lách…trong điều kiện in vitro và in vivo Tác giả đã ghi nhận có 6 mẫu trong tổng số 15 mẫu phân lập tạo ra hậu bào tử trong cả hai điều kiện in vitro và in
vivo, đó là 3 mẫu phân lập từ nghệ tây (C sativus), 1 mẫu phân lập từ cây ngũ
sắc (L camara), 1 mẫu phân lập từ sơ ri (Malpighia glabra) và 1 mẫu phân lập từ dạ hương ngưu (Venonia cinerea) trong đó hậu bào tử sản sinh nhiều là mẫu C cassiicola phân lập từ cây Sơ ri (M glabra) và nghệ tây (Cucumis
sativus), thấp nhất là mẫu phân lập từ cây dạ hương ngưu (V cinerea) và hoa
ngũ sắc (Lantana camara) Hậu bào tử được hình thành theo 3 cách: phần
cuối sợi nấm (terminal), xen vào giữa sợi nấm (intercalary) và tạo dạng hình chuỗi (chain) với 5 hậu bào tử (hình 1.3 )
Hình 1.3 Hậu bào tử tạo ra trong điều kiện in vitro và in vivo
A Tạo ra từ đầu sợi nấm; B và C Tạo ra từ giữa sợi nấm; D Tạo hình chuỗi
Trang 31Phổ ký chủ của nấm C cassiicola
Trong tự nhiên sự lan truyền và hình thành dịch bệnh phụ thuộc vào sự tồn tại và số lượng của nguồn ký sinh gây bệnh, sự có mặt của ký chủ trên đồng ruộng và sự thuận lợi của các yếu tố môi trường cho sự phát triển của dịch bệnh Sự tồn tại và lan truyền của các nấm gây bệnh cây trong tự nhiên không những phụ thuộc khả năng bảo tồn, duy trì sức sống của nấm mà còn phụ thuộc vào khả năng xâm nhập gây bệnh trên nhiều loại cây trồng của nấm Phổ ký chủ của nấm càng rộng, độc tố của nấm cao thì khả năng tồn tại, lan truyền gây bệnh của nấm trên đồng ruộng càng lớn
Là một loài ký sinh đa thực, nấm C cassiicola gây hại trên nhiều loại
cây trồng ở 70 nước trên thế giới Tại khu vực Thái Bình Dương đã ghi
nhận được sự hiện diện của nấm C cassiicola ở trên 20 nước Nấm đã được
phát hiện gây hại trên lá, thân, quả, rễ của trên 300 loài cây thuộc 145 chi ở
53 họ thực vật (Farr and Rossman, 2014; http://nt.ars-grin.gov/ fungaldatabases)
Nấm C cassiicola được ghi nhận gây bệnh trên đậu tương và đậu đỏ lần đầu tiên vào năm 1945 với tên gọi Helminthosporium vignae (Olive et al.,
1945) Đến nay, nấm đã được ghi nhận là tác nhân gây bệnh trên cao su, cà chua, dưa chuột, vừng, hồ tiêu, đậu ma, cà, ớt, rau chân vịt, mướp tây, trầm hương, dạ hoa, hương thảo, bạch đàn, xô đỏ, ngô đồng, bông ở Trung Quốc,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Brazin… (A Li Chai, 2014; Butler et al 2016; Chase et
al., 2012; Chee, 1990; Conner et al 2013; Fakhruddin, 2013; Fernando et al.,
2013; Fulmer et al., 2012; Galbieri et al., 2014; Koenning et al., 2006; Lee, 2013; Li, 2014; Lisboa, 2016; Oliveira et al., 2007; Patrick et al 2015; Rajib, 2012; Reis, 2014; Sharma, 2012; Wei, 2012; Wei et al 2014)
Theo Peiris et al (2015) các nguồn nấm C cassiicola phân lập từ các
cây ký chủ khác nhau có khả năng lây nhiễm chéo rất cao Tuy nhiên khả năng gây bệnh của các nguồn nấm phụ thuộc vào độc tố cũng như khả năng
Trang 32chuyên tính của các nguồn nấm Một số nguồn nấm C cassiicola có khả năng
gây bệnh cho nhiều loại ký chủ, một số nguồn chỉ có thể gây bệnh khi cây có
vết thương Một số nguồn nấm C cassiicola có độc tính cao có thể gây bệnh
trên nhiều cây ký chủ, một số khác lại chỉ biểu hiện trên một số ký chủ riêng
biệt (Cutrim, 2003; Pernezny & Simon, 1993) Nguồn nấm C cassiicola phân
lập từ dưa chuột có thể lây nhiễm chéo cho nhiều loại ký chủ khác nhau, trong
đó nguồn nấm phân lập từ cây xà lách chỉ lây bệnh được cho một số cây
(Oliverira et al 2007) Nguồn nấm C cassiicola phân lập từ cây xô đỏ (Salvia
splendens) chỉ lây nhiễm cho cây xô đỏ mà không lây nhiễm được cho dưa
chuột, hồ tiêu (Furukawa, 2008)
Silva et al (1998) khi đánh giá về khả năng lây nhiễm của 16 nguồn nấm C.cassiicola phân lập trên cao su ở Sri Lanka và 5 nguồn phân lập từ các
cây ký chủ khác ở Australia đã nhận thấy, nguồn nấm phân lập từ đu đủ có khả năng lây nhiễm trên cà chua và cao su, không lây nhiễm được trên đậu hà lan và cây cà Nguồn nấm phân lập từ cây mimosa và bạc hà có khả năng lây nhiễm cho cây cà, cao su, cà chua nhưng không lây nhiễm được trên đậu Hà lan Các nguồn nấm phân lập từ các dòng vô tính cao su ở Sri Lanca đều lây nhiễm được cho tất cả các cây ký chủ trừ cây cà
Nấm C cassiicola phân lập từ đậu lông (Calopogonium mucunoides), cây
cỏ Synedrella nodiflora, dưa chuột, đậu tương và cà chua gây bệnh nặng trên cà chua và cà nhưng gây bệnh trung bình trên vừng và bông (Onesirosan et al., 1974) Cutrim (2003) đã sử dụng các nguồn nấm C cassiicola phân lập từ các
cây ký chủ khác nhau để lây nhiễm nhân tạo trên lá cây sơ ri, nguồn nấm phân lập từ cây đỗ quyên, cà chua, quả bí và sơ ri biểu hiện triệu chứng điển hình trên
lá sơ ri trong khi nguồn nấm phân lập từ hồ tiêu và đu đủ không gây bệnh trên lá
sơ ri Một nghiên cứu khác cho thấy 15 nguồn nấm C cassiicola phân lập từ
nhiều cây ký chủ khi lây nhiễm trên 12 cây ký chủ khác nhau cho sự khác nhau
Trang 33Ở Malaysia, nguồn nấm C cassiicola phân lập từ cao su chỉ gây bệnh
cho cao su mà không lây nhiễm trên ớt, ca cao, đu đủ, dưa chuột, xà lách, đậu tương và cây dầu cọ (Dung, 1999; Chee, 1988)
Tại Indonesia, nguồn nấm C cassiicola phân lập từ đu đủ có thể lây
bệnh trên một số giống cao su nhưng không lây nhiễm được cho đậu tương và
sắn (Suwarto et al., 2000)
1.3.2.4 Nghiên cứu về các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh vàng rụng lá cao su
Dịch bệnh vàng rụng lá cao su do nấm C cassiicola được báo cáo ở
nhiều nước trồng cao su ở Châu Á Có ba yếu tố cơ bản tạo ra sự bùng phát của dịch bệnh, đó là sự có mặt của tác nhân gây bệnh, thời tiết thuận lợi và cây ký chủ ở giai đoạn mẫn cảm nhất với tác nhân gây bệnh Các yếu tố môi trường như ẩm độ cao, nhiệt độ từ 28-30°C, trời nhiều mây với lượng
mưa trung bình thuận lợi cho sự nảy mầm của bào tử nấm C cassiicola
Trong điều kiện đó, lá non dễ dàng bị nhiễm bệnh (Sailajadevil, 2006;
Situmorang et al., 1996)
Tại các nước trồng cao su ở Châu Á, nơi trồng nhiều những dòng cao su vô tính mẫn cảm với tác nhân gây bệnh, nấm có thể vượt qua tính kháng của các dòng vô tính cũng như thích ứng khác nhau với thuốc trừ bệnh, để hình thành
những chủng mới trong điều kiện ngoại cảnh thuận lợi Tính độc của nấm C
cassiicola có nhiều thay đổi, khả năng gây độc của C cassiicola trên các dòng vô
tính là khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng (Jayashinge, 2000)
Sự lan truyền và phát tán bào tử nấm C cassiicola trên đồng ruộng
được xác định b ng bẫy bào tử đặt ở vùng giữa của tán cao su Kết quả cho thấy sự phóng thích bào tử bắt đầu vào lúc 8 giờ sáng và đạt đỉnh cao vào 12 h trưa, vào ban đêm bào tử phóng thích ít hoặc không có sự phát tán Độ ẩm và gió ảnh hưởng lớn tới sự lan truyền bào tử nấm Tuy nhiên số bào tử đếm được cao hay thấp còn tùy thuộc vào điều kiện tiểu khí hậu và vùng tán cao su
Trang 34thích hợp cho sự lây nhiễm và phát triển của nấm bệnh (Chee, 1988; Manju,
2006; Manju, 2011; Radziah et al., 1996)
Triệu chứng bệnh phát triển có liên quan đến lượng mưa, nhiệt độ và độ
ẩm Mưa vào buổi sáng tạo điều kiện để triệu chứng phát triển trên các lá từ 2-53 ngày tuổi, lá rụng từ 2-51 ngày sau khi các vết bệnh xuất hiện, bào tử phát tán trong suốt cả ngày và đêm, cao điểm vào giữa trưa (Purwantara and Pawirosoemardjo, 1991) Cao su trồng ở vùng thấp bị bệnh nặng hơn
(Situmorang et al., 1984)
Nấm C cassiicola phát sinh gây hại mạnh trên cao su từ lúc cây bắt đầu
mọc lá đến lúc lá có màu xanh nhạt Trong thời gian bệnh gây hại, ở những vườn
bị bệnh, lá non khô rụng với nhiều vết bệnh hình tròn Bệnh xảy ra đầu tiên trên những cây gần đường hoặc gần những khu vực trống trải Những cành tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thường bị bệnh rất nặng, lá có biểu hiện bị cháy và chuyển thành màu nâu tái Nấm có thể tồn tại trên chồi đến năm sau và bắt đầu gây bệnh khi lá mới mọc Thân cây gãy rơi xuống đất cũng là nguồn gây bệnh (Jacob,
2006; Evueh et al., 2011) Một số vùng bị nhiễm bệnh nặng, quá trình rụng lá lặp
lại nhiều lần dẫn đến cây khô, chết (Jacob, 1997)
Trên cây cao su, nấm C cassiicola gây hại quanh năm, nấm xâm nhập
chủ yếu ở mặt dưới lá qua lớp biểu bì và khí khổng, ngoài ra nấm còn tiết ra enzyme cellulase giúp phân huỷ tế bào Trong suốt quá trình sinh trưởng nấm tiết ra độc tố gây độc cho cây cao su, chỉ với một lượng nhỏ độc tố ở gân chính của lá cũng đủ gây rụng lá (Chee, 1988)
Triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau phụ thuộc vào tuổi cây, chủng
loại giống và vùng trồng (Jayasinghe et al., 1996)
1.3.3 Những nghiên cứu về các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh vàng rụng lá cao su
1.3.3.1 Biện pháp giống
Biện pháp hiệu quả và kinh tế nhất để phòng trừ bệnh là phát triển và trồng các dòng cao su vô tính chứa gen kháng bệnh Sử dụng dòng vô tính
Trang 35Theo Ho et al (1974), có thể ngăn chặn sự bùng phát của bệnh do nấm
C cassiicola b ng cách trồng cao su ở những vùng có điều kiện môi trường
không thuận lợi cho sự phát triển của tác nhân gây bệnh, sử dụng các dòng cao su kháng bệnh, cũng như trồng nhiều dòng hoặc đa dòng ở những vùng có nguy cơ lây bệnh cao
Chee (1988) xây dựng phương pháp đánh giá bệnh vàng rụng lá b ng cách điều tra, theo dõi chặt chẽ bệnh trên vườn kiểm định bệnh và lá cắt rời
Tác giả cho r ng các dòng vô tính khác nhau phản ứng với bệnh do nấm C
cassiicola khác nhau Hiện nay các phương pháp tuyển chọn dòng vô tính
với các bệnh lá được áp dụng phổ biến ở các nước trồng cao su
Tính kháng của các dòng vô tính cao su được đánh giá dựa vào kích thước, số lượng vết bệnh, quá trình lây nhiễm, chỉ số bệnh, sự phát triển triệu chứng dạng xương cá, phát triển của sợi nấm, rụng lá trên đồng ruộng Ngoài
ra để đánh giá tính kháng, lá cao su được lây nhiễm nhân tạo với dung dịch bào tử nấm, kích thước vết bệnh được đo trong 4 ngày Dòng vô tính GT1 được đánh giá kháng bệnh với cả 4 nguồn nấm trong đó dòng vô tính PB 260 nhiễm cao Các dòng vô tính PB235 và RRIC 100 kháng từng phần Ở Ấn Độ, đánh giá giống chống chịu với bệnh vàng rụng lá được thực hiện tại Trại giống Nettana, Karnataka, các dòng vô tính trồng trong trại đều nhiễm với bệnh này, trong đó các dòng vô tính RRIM 600, IAN 45/873, KRS 25, GT1
có khả năng chống chịu (Manju, 2010)
Tại Indonesia, các dòng vô tính nhiễm bệnh nặng bao gồm PPN 2658, PPN 2444 và PPN 2447 Trong điều kiện phòng thí nghiệm, dòng vô tính BPM 1 và PR 261 chuyển từ dòng vô tính kháng cao sang kháng trung bình
Trang 36Theo Pu et al (2007), ở Trung Quốc khi nhân giống vô tính, việc sử dụng
nguồn cây giống sạch bệnh là biện pháp chủ yếu để phòng trừ bệnh rụng lá do
nấm C cassiicola Các tác giả cũng đánh giá và kết luận dòng vô tính RRIM600
rất mẫn cảm với bệnh, RRIC121, RRIM600, KRS225, RRIC12 mẫn cảm mức trung bình, GT1, PB86 và PB213 chống chịu bệnh ở mức trung bình
1.3.3.2 Biện pháp canh tác
Phòng trừ bệnh hại cây trồng b ng kỹ thuật canh tác bao gồm những nguyên lý của việc né tránh, ngăn cản hoặc trừ diệt tác nhân gây bệnh Dịch
bệnh do nấm C cassiicola trên cao su có thể được khống chế b ng việc trồng
các dòng vô tính cao su trong điều kiện môi trường không thích hợp cho nấm phát triển, hoặc trồng các dòng vô tính chống chịu với bệnh, trồng nhiều dòng
vô tính trong vùng có nguy cơ cao (Ho et al., 1974)
Tại các vườn cao su thiếu dinh dưỡng, hệ vi sinh vật đất suy giảm, nấm
C cassiicola có điều kiện phát triển gây bệnh và phát tán rất nhanh trong mùa
mưa khi ẩm độ của không khí bão hoà Bón đủ phân hữu cơ và NPK cho vườn cao su sẽ hạn chế bệnh phát triển (Liyanage, 1987)
Trồng các dòng, giống cao su chống chịu bệnh, hủy bỏ cây bị bệnh nặng và chết hoàn toàn, làm sạch đất để trồng cây mới Vệ sinh vườn cao su thường xuyên
để phòng trừ kịp thời Nên bón thêm phân chuồng để tăng hàm lượng vi sinh vật trong đất nh m hạn chế nấm bệnh và bón cân đối NPK nên tăng 17-20% phân kali
ở vườn cao su bắt đầu bị bệnh Bón cân đối NPK theo qui trình từng nước và phụ
thuộc đất trồng cao su (Jayasinghe et al.,2006; Manju, 2011b)
1.3.3.3 Biện pháp sinh học
Những năm gần đây, vi sinh vật đối kháng được sử dụng rộng rãi để
phòng trừ bệnh hại trên cao su Các tác nhân sinh học như Bacillus subtilis,
Rhizobium spp., Streptomyces spp., Pseudomonas fluorescens, Trichoderma harzianum, T viride đã được đánh giá khả năng đối kháng với nhiều tác nhân
gây bệnh trên cao su trong điều kiện phòng thí nghiệm (Vanitha et al.,1994;
Trang 37+ Sử dụng nấm đối kháng
Theo Jayasuriya (1997) một số nấm đối kháng Trichoderma
harzianum, T koningii, T viride, T hamatum, Gliocladium viens, Aspergillus niger, Penicillium spp đã hạn chế sự gây hại của các tác nhân gây bệnh trên
lá cao su
Manju (2011a) cho biết Trichoderma viride ức chế sự phát triển của nấm trong điều kiện invitro và ngoài đồng ruộng T harzianum, Bacillus
subtilis and Pseudomonas fluorescens có hiệu quả ức chế nấm trong điều kiện
invitro, chưa ghi nhận hiệu quả ở điều kiện đồng ruộng
+ Sử dụng vi khuẩn đối kháng
Sử dụng các chế phẩm Bacillus subtilis, Pseudomonas chlororaphis, P
fluorescens để nhúng rễ và phun lên lá cây diệp hạ châu thân xanh
(Phyllanthus amarus) đã giảm bệnh cháy thân cây gây ra bởi nấm C
cassiicola Chúng làm tăng hoạt động của các enzym peroxidase, polyphenol oxidase, chitinase và 1 3-β-glucanase của cây tới 10 ngày sau lây nhiễm với
nấm C cassiicola Philip et al (2005) phân lập vi khuẩn nội sinh từ rễ, thân,
cành, lá, hoa cây cao su và đã chọn được một số chủng có hiệu quả ức chế
nấm C cassiicola trong điều kiện nhà lưới
1.3.3.4 Biện pháp hóa học
Năm 1958, báo cáo đầu tiên về khuyến cáo sử dụng thuốc hóa học để
trừ bệnh Corynespora trên lá cao su đối với cây trong vườn ươm đã được
công bố Phun hỗn hợp booc đô (1%) hoặc Zinep (0,24%) với hai lần phun và cách nhau ba tuần trong mùa bệnh (Ramakrishnan and Pillay, 1961)
Có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các hoạt chất bảo vệ thực
vật đối với nấm C.cassiicola trong điều kiện invitro và đồng ruộng
Wheverton (2016) khẳng định hoạt chất Carbendazim, Thiophanate metyl có
hiệu quả ức chế nấm C cassiicola gây đốm lá đậu tương trong điều kiện
invitro Nhiều nghiên cứu thử nghiệm các thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ
Trang 38bệnh do nấm C cassiicola gây ra trên nhiều loại cây trồng và đều cho kết quả
khả quan Choudhary (2014) cho thấy hỗn hợp Carbendazim 50WP (0,1%) và Thiram 75WP (0,15%) xử lý hạt vừng có hiệu quả hạn chế bệnh cháy lá vừng
do nấm C cassiicola với tỷ lệ bệnh tương ứng 11,15% và 9,91% trong đó đối
chứng là 38,69 %
Trong điều kiện vườn ươm, Fernando et al (2010a) ghi nhận khi phun
carbendazim 0,5g/l cách nhau 7-10 ngày hoặc các hoạt chất khác như Mancozeb, Metalaxyl 8% + Mancozeb 64%, Captan + Propineb 3g/l cách nhau 7 ngày có hiệu quả quản lý bệnh vàng rụng lá trong điều kiện vườn ươm, trong đó các hoạt chất như tebuconazole, hexaconazole ít hiệu quả hơn
Tại Ấn Độ, cả hai loại thuốc trừ nấm có tác động thấm sâu và tiếp xúc
đã được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và những vườn ươm bị bệnh Đối với thí nghiệm trên môi trường nhân tạo, Carbendazim nồng độ 25 ppm hoàn toàn ngăn cản khả năng sinh trưởng của tác nhân gây bệnh Trong số những loại thuốc đưa ra thử nghiệm thì Mancozeb 0,2%, Carbendazim 0,5% và hỗn hợp của Metalaxyl với Mancozeb 0,2% rất có hiệu quả trong phòng trừ bệnh trên vườn ươm Phun Mancozeb một lần/tuần là có hiệu quả phòng trừ bệnh
và chi phí thấp nhất (Joseph, 2002)
Jill (2016) đã thử nghiệm quản lý bệnh do nấm Corynespora trong điều
kiện vườn ươm cho thấy hiệu quả giảm bệnh từ 92,51% tới 98,08% khi phun thuốc 4 lần (1 tuần/lần) với các hoạt chất Propineb, Chlorothalonil và Copper hydroxide
Hỗn hợp của Benomyl và Thiram (Benlate T) khi phun có hiệu quả phòng trừ bệnh ở cây vườn ươm nhưng chỉ giữ được 50% số lá ở những cây trong vườn sản xuất thuộc dòng vô tính RRIC 103 Một số loại thuốc trừ nấm khác cũng có hiệu quả phòng trừ bệnh như Chlorothalonil, Thiademmefon, Tridemorph, Mancozeb, Orthocide và Propineb (Chee, 1990)
Đối với cây cao su ở vườn sản xuất, nhiều tác giả cho biết, cần tiến hành
Trang 39của Karnataka, Ấn Độ, sử dụng máy phun với thể tích lớn và phun 2 lần cách nhau từ 2-3 tuần, liều lượng 2000 lít/ha b ng các loại thuốc như Mancozeb 0,2%, Carbendazim 0,05% hoặc Booc đô 1% trong giai đoạn rụng lá sẽ cho hiệu quả phòng trừ bệnh, trong đó mancozeb và carbendazim cho hiệu quả cao nhất Trong thực tiễn việc phun với thể tích lớn ở vườn cao su sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn như tốn công lao động, thiếu thiết bị phun từ dưới mặt đất cũng như khả năng duy trì hoặc thấm sâu của thuốc trên bề mặt lá (Jacob, 2004)
Các hoạt chất Mancozeb, Chlorothalonil, Carbendazim, Tridemorph, Hexaconazole, hỗn hợp Metalaxyl + Mancozeb, Benomyl và Thiram, Propineb + Oxadixyl, Mancozeb + Carbendazim, Hexaconazole + Captan, Difenoconazole cũng được báo cáo có hiệu quả phòng trị bệnh (Manju, 2000,
2006; Jayasinghe et al., 2006; Chee, 1990) Phun thuốc trừ nấm 4-6 lần, mỗi
lần cách nhau 1 tuần cho hiệu quả phòng trừ bệnh cao Tuy nhiên, phòng trừ bệnh b ng thuốc hóa học không phải là phổ biến ở Indonesia do chi phí cao
Sử dụng thuốc hóa học kết hợp với biện pháp gây rụng lá nhân tạo và quản lý dinh dưỡng để phòng trừ bệnh rụng lá cao su Một hỗn hợp của Benomyl (500 g/ha) và bổ sung phân hữu cơ (cao gấp 4 lần) để lá mọc nhanh trước mùa bệnh Gây rụng lá không có hiệu quả quản lý bệnh trong vườn kinh
doanh (Hashim et al., 1996)
Liyanage et al (1987) khuyến cáo sử dụng các hoạt chất Benomyl,
Mancozeb, Orthocide và Propineb có hiệu quả khi sử dụng định kỳ 5 ngày/lần Tuy nhiên bệnh lại tái phát khi dừng phun thuốc Phun Mancozeb (500g/ha) hoặc Chlorothalonil (500g/ha) 1 tuần/lần bổ sung thêm Tridemorph 75EC 150ml/ha có khả năng làm tăng hiệu quả của thuốc trên vườn cao su kinh doanh
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.4.1 Những nghiên cứu về các bệnh rụng lá trên cây cao su
Theo Phan Thành Dũng và cs (2011), các đối tượng gây hại trên cao su tại Việt Nam bao gồm: nhóm bệnh hại lá (bệnh phấn trắng, bệnh héo đen đầu
Trang 40lá, bệnh đốm mắt chim, bệnh lá rụng mùa mưa, bệnh do nấm Corynespora); nhóm bệnh hại thân cành (bệnh nấm hồng, bệnh do Botryodiplodia, bệnh khô
ngọn khô cành, nứt vỏ); bệnh mặt cạo (bệnh loét sọc mặt cạo, bệnh khô mủ); bệnh rễ (bệnh rễ nâu)
Bệnh phấn trắng
Tại Việt Nam, mùa bệnh phấn trắng phổ biến vào giai đoạn cây cao su
ra lá mới từ tháng 1-3 hàng năm Bệnh gây rụng lá nhiều lần làm chậm thời gian khai thác và giảm sản lượng 10-50% ở vườn cao su kinh doanh, chậm sinh trưởng và làm chết cây ở vườn cao su kiến thiết cơ bản (KTCB) cũng
như ở vườn nhân và ươm Đa số dòng vô tính (dvt) cao su cao sản đang được
khuyến cáo trong nước đều mẫn cảm với bệnh phấn trắng, trong khi các dvt kháng bệnh thường có sản lượng thấp
Bệnh rụng lá mùa mưa
Bệnh xuất hiện vào mùa mưa ở vùng đất đỏ Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số vùng miền Trung (Phan Thành Dũng, 2000) Đây là bệnh chính gây hại cho cây cao su ở các vùng Tây nguyên Triệu chứng đặc trưng nhất là cuống lá có cục mủ màu đen hoặc trắng tại trung tâm vết bệnh màu nâu hoặc xám và lá bệnh rụng còn xanh gồm cả 3 lá chét và cuống Chồi xanh đốm bệnh hình bầu dục và có mầu nâu đen, nếu bệnh nặng có thể gây chết chồi Phòng trừ b ng Ridomil 72MZ 0,3 - 0,4%, Boocdo 1% đã hạn chế được bệnh Cục Trồng trọt cũng khuyến cáo dòng vô tính LH82/158 do Viện Nghiên cứu Cao su tạo ra có khá chống chịu với bệnh rụng lá mùa mưa do
nấm Phytophthora gây ra
Bệnh héo đen đầu lá và rụng lá
Tại Việt Nam bệnh chỉ xuất hiện vào mùa mưa và gây hại cho vườn nhân giống và vườn kiến thiết cơ bản Do bệnh xảy ra vào mùa mưa (tháng 6 - 10) khi lá đã ổn định nên ít có tác hại cho cây cao su khai thác Bệnh gây hại chồi và lá non, làm lá vàng, rụng lá và chết chồi dẫn đến chậm sinh trưởng,