LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng Luận văn thạc sĩ Hóa học “TUYỂN CHỌN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN PHẢN ỨNG HÓA HỌC -VÀ PHI KI
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn thạc sĩ Hóa học “TUYỂN CHỌN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN PHẢN ỨNG HÓA HỌC
-VÀ PHI KIM HÓA HỌC 10 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Phạm Thị Hồng Minh
Trang 2Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy cô - Giảng viên trườngĐ.H Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và đem lại cho tôi những kiến thức bổtrợ vô cùng có ích trong những năm học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạosau Đại học trường Đ.H Tây Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khóa họcđược hoàn thành tốt đẹp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở các trường THPT Lê Quý Đôn,Hùng Vương, Trần Đại Nghĩa, EaSup, EaRok trong tỉnh Đak Lak đã có những ýkiến đóng góp quý báu
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc cũng như các thành viêntrong lớp Cao học Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học đã luôn bên tôi, độngviên và khuyến kích tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Phạm Thị Hồng Minh
Trang 3Hệ thống bài tậpPhương trình hóa họcSách giáo khoaTrung học phổ thôngThực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ đề tài 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC 4
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới 4
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 4
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn Hóa học 5
1.2 Bài tập hóa học 6
1.2.1 Khái niệm BTHH 6
1.2.2 Tác dụng của BTHH 7
1.2.3 Phân loại BTHH 8
1.2.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH 8
Chương 2 TUYỂN CHỌN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC PHẦN PHẢN ỨNG HÓA HỌC VÀ PHI KIM HÓA HỌC 10 NÂNG CAO TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
2.1.Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng 25
2.2 Quy trình xây dựng 27
2.3 Giới thiệu về hệ thống bài tập 31
2.4 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải 31
Trang 52.4.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phản ứng hóa
học và phi kim lớp 10 32
2.4.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng chương 33
2.5 Hệ thống bài tập hỗ trợ tự học phần phản ứng hóa học và phi kim hóa học 10 nâng cao 50
2.5.1 HTBT phản ứng hóa học 50
2.5.2 HTBT nhóm halogen 59
2.5.3 HTBT nhóm oxi 74
2.5.4 HTBT tổng hợp 88
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 100
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 100
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 100
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 100
3.4 Quy trình thực nghiệm sư phạm 100
3.4.1 Trao đổi với giáo viên về hướng dẫn học sinh sử dụng HTBT và phương pháp tiến hành TN 100
3.4.2 Khảo sát kết quả TNSP về mặt định tính và định lượng 101
3.5 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Bảng điểm bài kiểm tra 15 phút 103
Bảng 3.2 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm kiểm tra 15 phút .103
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 15 phút 104
Bảng 3.4 Bảng điểm bài kiểm tra 1 tiết 105
Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm kiểm tra 1 tiết .105
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 1 tiết 106
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích điểm kiểm tra 15 phút 104
Hình 3.2 Đồ thị tổng hợp kết quả bài kiểm tra 15 phút 104
Hình 3.3 Đồ thị đườn lũy tích điểm kiểm tra 1 tiết 106
Hình 3.4 Đồ thị tổng hợp kết quả bài kiểm tra 1 tiết 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão thì nhàtrường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người họccũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tựhọc cho học sinh (HS) là một công việc có vị trí cực kì quan trọng trong nhà trườngTHPT Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thứckhác nhau thì mỗi HS mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoahọc, về đời sống xã hội
Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm
quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ:“ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.
Hoá học là một môn học tương đối trừu tượng Việc sử dụng các BTHHtrong quá trình dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao, HS tiếp thu bài nhanh chóng,hứng thú với bài học, ghi nhớ nội dung bài học lâu hơn, Tuy nhiên, trong thực tế,việc sử dụng BTHH để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS còn hạn chế Các giáoviên (GV) lên lớp chủ yếu với phương pháp thuyết trình, rất ít người sử dụngBTHH hoặc nếu có sử dụng thì chưa thường xuyên và chưa mang tính hệ thống.Mặc dù tốn rất nhiều thời gian ở trên lớp nhưng hiệu quả của việc lĩnh hội tri thứccủa HS chưa cao
Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn Hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thờigian ôn tập, hệ thống hoá lí thuyết và giải bài tập về phần phản ứng hóa học và phikim chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ
và vận dụng những kiến thức mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc tự học ở nhàcủa HS là rất quan trọng và cần thiết Đó chính là lí do để tôi chọn đề tài :
“TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN PHẢN
Trang 8ỨNG HÓA HỌC VÀ PHI KIM HÓA HỌC 10 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT” với mong muốn nâng cao hiệu quả của việc sử dụng BTHH nhằm bồi
dưỡng năng lực tự học cho HS tạo tiền đề cho việc học tập của các em sau này
2 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng HTBT phần Phản ứng hóa học và phi kimHóa học 10 nâng cao trường THPT nhằm hỗ trợ việc tự học cho HS
3 Nhiệm vụ đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tự học
- Xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần Phản ứng hóa học và phi kim Hóahọc 10 nâng cao trường THPT
- Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả
- Nghiên cứu cách sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ việc tự học cho HS trongquá trình dạy học
- TNSP để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đềxuất từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu :
Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu :
HTBT phần Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nâng cao trường THPT.Cách sử dụng HTBT phần Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nângcao trường THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức được giới hạn trong 3 chương : “Phản ứng hóa học” ,
“Nhóm Halogen ” và “Nhóm Oxi” Hóa học 10 nâng cao trường THPT
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT hỗ trợ HS tự học phần
Phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10 nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượngdạy học Hóa học hiện nay ở trường THPT
Trang 97.Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết :
- Nghiên cứu lí luận về việc tự học của HS
- Nghiên cứu lí luận về việc hỗ trợ HS tự học
- Nghiên cứu về cách sử dụng bài tập nhằm hỗ trợ việc tự học cho HS THPT7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
- Điều tra thực tiễn về hỗ trợ việc tự học cho HS
- Phương pháp thăm dò, trao đổi ý kiến với giáo viên dạy Hóa học ở THPT vềnội dung, hình thức diễn đạt, sử dụng BTHH theo hướng hỗ trợ việc tự học cho HS
- Thực nghiệm sư phạm : Đánh giá hiệu quả, tính khả thi của HTBT và các
- Đề tài đã đề cập đến nội dung và phương pháp hỗ trợ việc tự học của HS
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống phần Phản ứng hóa học và phikim Hóa học 10 nâng cao để hỗ trợ HS tự học
- Giúp HS rèn luyện các kĩ năng giải BTHH góp phần nâng cao chất lượngdạy học Hóa học ở trường THPT
- Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình dạy và học Hóa học
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP
HÓA HỌC 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới
Trong xã hội đầy biến động như ngày nay với sự toàn cầu hóa ngày càngtăng, sự phát triển của khoa học kĩ thuật và sự tăng vọt của thông tin thì việc học cái
gì và học như thế nào trở nên hết sức cần thiết
John Dewey (1859 - 1952), triết gia người Mĩ, phát biểu "HS là mặt trời, xungquanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" Một loạt các phương pháp dạy học theoquan điểm, tư tưởng này đã được đưa vào thực nghiệm: "Phương pháp tích cực",
"Phương pháp hợp tác", "Phương pháp cá thể hoá" … Nói chung đây là các phươngpháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc
mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV là người trọng tài, đạodiễn thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học
T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 củathế kỷ XX đã cho rằng " Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập vàđặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướngdẫn HS tự học"
“Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982
đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Quan điểm và tư tưởng tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam được phátđộng, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch Hồ chí Minhvừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo Người từng nói
“còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Khi nói chuyện
với các Đảng viên hoạt động lâu năm ( 09/12/1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự : “ tôi
Trang 11năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Không học thì không theo kịp, công việc
nó sẽ gạt mình lại phía sau”
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn - “ Vua tự học”- là một tấm gương sáng về tựhọc ở nước ta Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiêncứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơbản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học.Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tựhọc, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”
Giáo sư Ngô Bảo Châu- nhà toán học nổi tiếng ở trong nước cũng như trên
thế giới- nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam đã nói : “ Mỗi ngày tôi tự nhủ mình cần học thêm một điều gì đó Đương nhiên không phải lúc nào cũng đi bộ mà cũng có lúc phải chạy” đăng trên tạp chí VnEpress ngày 08/3/2011.
Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :
“Biển học vô bờ” – GS.TSKH.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và cáctác giả đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn
ở trường THPT và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất ? ”
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên,NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ởViệt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”
Năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nàocho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luậtgiúp người học thấy được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biếtcách giải quyết nhiều loại khó khăn trong quá trình tự học
Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chungnhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn Hóa học
Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người họcphải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng thực
Trang 12nghiệm, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tậpđộc lập sáng tạo
Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thậpthông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽhiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theonhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quátrình học Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức vàhoàn thiện nhân cách của con người
Để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unesco đề ra : Học để học cách học, học đểlàm, học để sáng tạo và học để chung sống với người khác thì người học phải tuântheo công thức 4H: Học- Hỏi- Hiểu- Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc,học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dungtheo như tinh thần GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “Học và dạy
là khi có một “người giải” Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạothành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
BÀI TẬPNhững điều kiện
Những yêu cầu
NGƯỜI GIẢIPhép giải
Phương tiện giải
Trang 13Thuật ngữ “BTHH” bao hàm cả khái niệm “bài toán hóa học” và có thể coiBTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, nhữngphép toán và thí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và
phương pháp hóa học.
1.2.2 Tác dụng của BTHH
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất, để dạy HStập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất, tập nghiên cứukhoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức củachính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.Đanilôp nhận định: “ Kiến thức sẽ được nắm vững thật sự, nếu HS có thể vận dụngthành thạo chúng vào việc hoành thành những bài tập lí thuyết và thực hành”
BTHH rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằngphương trình phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức và PTHH, kỹ năng thựchành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hoá chất,
BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hìnhthành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực,lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làmbài tập định lượng
BTHH giúp phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HScần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt,ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo.Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất,hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS
BTHH giữ vai trò rất quan trọng, nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Tuy nhiên, không phải một bài tập “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là người sử dụng nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán nhưng không giải thay cho HS, phải để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH mới thật sự có ý nghĩa trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS.
Trang 141.2.3 Phân loại BTHH
Dựa vào hình thức kiểm tra-đánh giá, BTHH được chia làm 2 loại là bài tậptrắc nghiệm tự luận (thường quen gọi là bài tập tự luận) và bài tập trắc nghiệmkhách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm)
Phân loại chi tiết BTHH ở trường phổ thông :
+ Bài tập thực nghiệm định lượng: xác định độ tan của các chất, nồng
độ của dung dịch, xác định thành phần phần trăm các chất,
Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt vì trong bất kì loại bài tậpnào của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều bàitập của cách phân loại khác Mỗi cách phân loại bài tập ở trên đều có những mặtmạnh và mặt yếu của nó, mỗi cách phân loại đều nhằm phục vụ cho những mụcđích nhất định và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn phân loạiBTHH
1.2.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH
1.2.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải BTHH
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau :
a) Nghiên cứu đề bài
+ Đọc kỹ đề bài.
+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồcho dễ sử dụng)
Trang 15+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.
+ Viết PTHH của các phản ứng có thể xảy ra
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xétmột vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là
ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trìnhluận giải tốt, tức là GV đã dạy kiến thức cho HS bằng bài tập Thông qua đó HSkhông chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suyluận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác
c) Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải mộtcách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn làđặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phươngtrình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đếnkết quả bằng cách khác không? tối ưu hơn không ? tính đặc biệt của bài toán là gì ?Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thểcủng cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phải hiểu
và làm cho HS hiểu: không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng cònlại một cái gì để suy nghĩ Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thểhoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâusắc hơn
1.2.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH
Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắncần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiềuhình thức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ
dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theonghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức
Trang 16sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùngkiến thức ấy để giải quyết các bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệbiện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:
1.2.5 Xu hướng phát triển của BTHH
Theo định hướng xây dựng SGK mới của Bộ giáo dục và Đào tạo (2002) thì
xu hướng phát triển chung của BTHH hiện nay là:
- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích không nặng về tính toán mà tậptrung vào rèn luyện và phát triển các kĩ năng, thao tác làm thí nghiệm cho HS, cácnăng lực tư duy của HS
- BTHH phải chú ý tới việc mở rộng kiến thức và có sự liên hệ với thực tiễn,
có sự ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Các BTHH định lượng được xây dựng trên cơ sở không phức tạp hóa bởicác thuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học
- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển các bài tập tự luận,tính toán sang bài tập trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường
- Đa dang hoá các loại bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ
đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm
Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tưduy của HS ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi cótính chất lí thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là những bài tập có tính chấtrèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, độclập của HS
Trang 17tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế
hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”
Từ các quan điểm về tự học nêu trên, có thể đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.3.2 Các hình thức tự học
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang [Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy học đại cương, Tập 1, NXB GD,Hà Nội] thì việc tự học có thể diễn ra theo 2 cách sau :
* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
- Tự học hoàn toàn (không có GV): học thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực
tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổngkiến thức, khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tựhọc của mình
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập như học bài hay làm bàitập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông
Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả họcbài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảnggiải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, khôngnhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cáchxây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn
Trang 18cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềmtrên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn vàkhông biết hỏi ai
* Tự học có sự hướng dẫn
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,nội dung và phương pháp phù hợp Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận được sựhướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV
Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày
kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiếnthức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGKthì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và saukhi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vậndụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoàiviệc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để pháthiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giákết quả
Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quy
định của Bộ Giáo dục - đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian
từ 2- 3 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diệnnếu để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Tôi cho rằng có thể tận dụng thờigian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những
kĩ năng tự học cụ thể Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dàiphức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất lànên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS đểchiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chươngtrình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua cácphương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điệntử,
Trang 191.3.3 Chu trình tự học
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, địnhhướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong cáctình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầucủa mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn vàthầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khithầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửasai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.3.4 Vai trò của tự học
Eward Gibbon cho rằng: “Mọi người đều hấp thụ được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác tạo ra, còn một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình
tự tạo cho mình”
Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau :
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người
- Tự học khắc phục nghịch lí : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn.Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn :
+ “Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đườngquan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn
Tự học
Trang 20+“Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy : “Không thầy
đố mày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” pháttriển khả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục
và thể dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảmđến mức thấp nhất giá thành đào tạo
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trírất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết địnhchất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
1.4 Thực trạng về việc sử dụng HTBT và việc tự học của học
sinh ở trường THPT
1.4.1 Mục đích điều tra
1.4.1.1 Về phía học sinh
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tốgiúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tácđộng đến hiệu quả của việc tự học
1.4.1.2 Về phía giáo viên
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trongdạy học hóa học
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT : mức độ thành công, nhữngkhó khăn gặp phải khi dạy BTHH
- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tựhọc, tự làm bài tập
1.4.2 Đối tượng điều tra
Trang 21Tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng: HS và GV hóa học
- Tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 40 GV hóa học ởcác trường THPT ở Tp.BMT, huyện EaSúp, Buôn Đôn, Krông Ana và học viên lớpcao học Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học K20 tỉnh Đaklak Số phiếu thuhồi được là 40 phiếu
- Tôi cũng đã gởi phiếu điều tra đến 670 HS (16 lớp) ở các trường THPTkhác nhau ở Tp Buôn Ma Thuột, huyện EaSúp, huyện Buôn Đôn, huyện KrôngAna Số phiếu thu hồi được là 598 phiếu
1.4.3 Mô tả phiếu điều tra
1.4.3.1 Phiếu điều tra cho học sinh
Gồm 16 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:
a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH (câu 1, câu 9, câu 4)b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS (câu 2, câu 3, câu 6)c) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập (câu 5, câu7) và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập (câu 8)
d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học (câu 10, câu
11, câu 12)
e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học (câu 13, câu 14)f) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học (câu 15) và cácyếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học (câu 16)
1.4.3.2 Phiếu điều tra cho giáo viên
Gồm 11 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV (câu 2, câu 3, câu 4, câu 5,câu 6, câu 7)
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trongdạy học hóa học (câu 1)
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, nhữngkhó khăn gặp phải khi dạy BTHH (câu 8, câu 9)
Trang 22- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tựhọc, tự làm bài tập (câu 10, câu 11)
1.4.4 Kết quả điều tra
1.4.4.1 Phiếu điều tra cho học sinh
Gồm 16 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:
a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
Câu 1: Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
Câu 9: HS chưa thích giờ bài tập ở những điểm:
Về vấn đề này HS đã nêu nhiều ý kiến khác nhau Tôi tổng kết được một số
ý kiến đáng lưu ý như sau:
- Thời gian dành cho giờ bài tập ít trong khi đó số lượng bài tập nhiều
- Nhiều dạng bài tập nên GV không thể giải chi tiết hết từng dạng
- Ít có bài tập tương tự từ dễ đến khó
- Bài tập tương tự không có đáp số
- Kiến thức rộng, khó bao quát
- Bài tập khó, dữ kiện phức tạp nên không biết bài toán thuộc dạng nào
Câu 4: Thái độ của HS khi gặp một bài tập khó
Tham khảo lời giải trong sách bài tập 106 17,7
b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
Câu 2: Thời gian HS dành để làm BTHH trước khi đến lớp
Trang 23Đọc, tóm tắt, ghi nhận những chỗ chưa hiểu 127 21,2
c) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu
tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
Câu 5 : Thời gian GV dành để giải bài mẫu ở lớp
Số ý kiến Tỉ lệ %
Đủ để theo dõi nhưng chưa kịp ghi chép 208 34,7
Câu 7 : Những khó khăn mà HS gặp phải khi giải BTHH
Số ý kiến Tỉ lệ %
- Các bài tập lộn xộn không theo dạng 372 62,2
- Các bài tập không được xếp từ dễ đến khó 239 39,9
- Không có đáp số cho bài tập tương tự 108 18,0
Câu 8 : Yếu tố giúp HS giải tốt bài tập
Số ý kiến Tỉ lệ %
Trang 24- Em xem lại bài tập đã giải 381 63,8
- Em từng bước làm quen và nhận dạng bài tập 351 58,8
d) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
Câu 10 : Sự đầu tư để học tốt môn Hóa học
Số ý kiến Tỉ lệ % Xếp hạng
Học thêm (ở nhà GV hoặc trung tâm) 285 47,6 1
Dành nhiều thời gian tự học có sự
Câu 11 : Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc kiểm tra
Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức 304 50,8Tập thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời 101 16,9Rèn luyện thêm khả năng suy luận logic 203 33,9Nội dung đang học thường đề cập trong các kì thi 558 93,3e) Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
Câu 13 : HS sử dụng thời gian tự học
Số ý kiến Tỉ lệ %
Để chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn 315 52,7
Câu 14 : Cách thức tự học của HS
Số ý kiến Tỉ lệ %
Học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV 316 52,8
Trang 25Chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thích thú 289 48,3f) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tácđộng đến hiệu quả của việc tự học
Câu 15: Những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình tự học
Số ý kiến Tỉ lệ % Xếp hạng
Thiếu sự hướng dẫn cụ thể cho việc học tập 489 81,8 1
Câu 16 : Những tác động đến hiệu quả của việc tự học
Số ý kiến Tỉ lệ % Xếp hạngNiềm tin và sự chủ động của HS 245 40,9 3
Sự tổ chức, hướng dẫn của thầy 427 71,4 1
1.4.4.2 Phiếu điều tra cho giáo viên
Câu 5 : Nguồn gốc của HTBT mà thầy cô đã sử dụng thêm
Trang 26- HS tự giải sau khi học xong bài học 27 35,1
- GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự 32 41,5
- GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự
b) Cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy họchóa học
Câu 1 : Mức độ quan trọng của những nội dung dạy học hóa học
TB
Xếphạng
Câu 8 : Số lượng bài tập trung bình mà thầy cô hướng dẫn giải trong 1 tiết học
(32 2) (20 3) (14 4) (11 5)
3,177
Câu 9 : Những khó khăn mà thầy cô gặp phải trong khi dạy BTHH
TB
Xếphạng
Trang 27hỗ trợ HS tự học
c) Biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự làm bài tập
Câu 10: Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học
- Có bài giải mẫu cho từng dạng 0 1 5 27 44 4,5 3
- Có đáp số cho các bài tập tương tự 0 4 17 25 31 4,1 5
- Có bài tập tổng hợp để HS hệ thống
1.4.5 Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra
- Số HS thích giờ bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị kĩ cho tiết bài tập.Nguyên nhân chủ yếu là do HS không biết nhận dạng, chưa nắm phương pháp giảitừng dạng, không giải được bài tập dẫn đến chán nản
- Số lượng bài tập và số HS làm được bài tập không cao; HS chưa có thóiquen tìm các bài tập tương tự để giải ở nhà
- Thời gian dành cho việc theo dõi và ghi chép các bài tập ở lớp chưa đủ
- Các bài tập xếp lộn xộn, không theo dạng là khó khăn chính khiến HSkhông giải được bài tập
- HS có mong muốn GV giúp HS từng bước nhận dạng, giải kỹ bài mẫu chotừng dạng và cho các bài tập tương tự để các em giải thành thạo một dạng bài tập
- Hầu hết GV đều nhìn nhận vai trò quan trọng của BTHH trong dạy học hóahọc và cho rằng rất cần thiết phải xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học
Trang 30Chương 2 TUYỂN CHỌN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC PHẦN PHẢN ỨNG HÓA HỌC VÀ PHI KIM HÓA
HỌC 10 NÂNG CAO TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1.Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng
2.1.1 Đảm bảo tính logic, khoa học
Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung.Điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống kiến thức, thiếtlập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng; dùng phương pháp khái quát hoá đểdiễn đạt kiến thức; tập trung vào kiến thức trọng tâm,
Tính logic được hiểu đơn giản chính là hợp lí Hợp lí trong cả việc lựa chọnnội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT và hợp lí trong việc trìnhbày các kiến thức đó HTBT phải được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng
2.1.2 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng và tính hệ thống của các dạng bài tập
- Thông qua HTBT, HS tái hiện hầu hết các kiến thức cần nhớ
- Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp, đa dạng hóa các loại hình bài tập nhưbài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm
- Sắp xếp các dạng bài tập một cách liên tục và hợp lí trong việc trình bàycác kiến thức
2.1.3 Đảm bảo tính vừa sức
- Vừa sức về độ khó : Bài tập cao hơn khả năng của HS một chút là rất tốt.Nếu dễ thì HS dễ ỷ lại, còn nếu khó quá thì HS lại bỏ giữa chừng GV cần chú ýđưa những bài tập có thể hệ thống và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướnggiải quyết để HS không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đócho bài tập tương tự có kèm theo đáp số)
- Vừa sức về số lượng : Nếu nhiều bài tập quá thì HS không giải hết, ngánngẩm, chán nản và gây ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủkín chương trình và không đủ để hỗ trợ HS tự học
Trang 312.1.4 Phù hợp với điều kiện thực tế
Đối với địa bàn thực nghiệm (đặc biệt là huyện Ea Súp, Buôn Đôn nói riêng
và tỉnh Đăk Lăk nói chung) thì điều kiện kinh tế còn khó khăn nên số lượng HS cómáy vi tính và số lượng HS sử dụng máy vi tính có nối mạng internet chưa nhiều,các loại sách giáo khoa, đặc biệt sách tham khảo còn hạn chế Vì thế GV photoHTBT hỗ trợ tự học và phát cho HS sử dụng là phù hợp nhất
2.1.5 Tạo điều kiện thuận lợi cho HS tự học
Để HS tự học một cách thuận lợi, HS cần được hướng dẫn học tập cụ thể và
có thông tin phản hồi (đáp án các câu hỏi trắc nghiệm và bài tập giúp HS tự kiểm trakết quả tự học) Vậy HTBT hỗ trợ tự học cần phải :
- Có phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng
- Có bài giải mẫu
- Có các bài tập tương tự để HS tự giải
- Có đáp số cho bài tập tương tự
2.1.6 Bám sát nội dung dạy học
Tôi đã vào căn cứ vào hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng Hoáhọc 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng HTBT
2.1.7 Chú trọng kiến thức trọng tâm
HTBT cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng HS (kể cảtrung bình và yếu) đều nắm được những kiến thức cơ bản cần nắm, kết quả học tậpđược nâng cao
2.1.8 Gây hứng thú cho người học
- BTHH gắn liền với các kiến thức khoa học về Hoá học hoặc các môn họckhác, gắn với thực tiễn sản xuất hoặc đời sống, …
Trang 32- HTBT chứa đựng các bài tập có thể giải theo nhiều cách, trong đó cách giảingắn gọn nhưng đòi hỏi HS phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết thì mớigiải được.
2.2 Quy trình xây dựng
Bước 1: Nghiên cứu chuẩn kiến thức kĩ năng của phần phản ứng hóa học và phi kim Hóa học 10
Dựa vào chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông Hóa
học 10 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tôi tìm hiểu nội dung về kiến thức và
kỹ năng mà HS cần đạt được khi học phần phản ứng hóa học và phi kim
Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm
Sau khi tìm hiểu nội dung về kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khihọc phần phản ứng hóa học và phi kim, tôi tiến hành xác định kiến thức trọng tâm
mà HS bắt buộc phải nắm vững khi học phần này
Bước 3: Lập ma trận hai chiều
Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, tôitiến hành lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính,một chiều là các cấp độ nhận thức của HS ( nhận biết, thông hiểu và vận dụng ) Trongmỗi ô là số lượng câu hỏi, số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng củamỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung
Vận dụng
Cơ bản
NângcaoBài
Trang 33Vận dụngCơ
bản
Nângcao
- Tính khối lượng, nồng độ dung dịch của
- Tính khối lượng, nồng độ dung dịch của
Vận dụngCơ
bản
NângcaoBài tập
Trang 34- Xác định CT nguyên tử, phân tử 0 0 4 2 6
- Tính khối lượng, nồng độ dung
dịch của các chất tham gia hoặc sản
- Tính khối lượng, nồng độ dung
dịch của các chất tham gia hoặc sản
Trang 35TỔNG HỢP
Nội dung
số câuhỏiBiết Hiểu
Vận dụngCơ
bản
Nângcao
- Tính khối lượng, nồng độ dung dịch của
- Tính khối lượng, nồng độ dung dịch của
Bước 4: Sưu tầm, biên soạn, chọn lọc bài tập hóa học
Bài tập hiện nay rất nhiều (SGK, sách bài tập, sách tham khảo, internet),nhưng một số bài chưa phù hợp với trình độ HS Mỗi vùng, mỗi miền, mỗi trườngcần có HTBT riêng phù hợp với HS ở trường đó, miền đó, vùng đó Khi sưu tầm,biên soạn, GV cần lưu ý một số tiêu chí sau :
(1) Nội dung kiến thức phải phủ kín chương trình
(2) Khắc sâu trọng tâm, nghĩa là có dày có mỏng, có đậm có nhạt (phần kiếnthức trọng tâm hơn thì hỏi nhiều hơn và ngược lại)
(3) Số lượng phải phù hợp vì nhiều quá thì HS không giải hết nhưng nếu ítquá thì không đủ để hỗ trợ HS học tốt
Bước 5: Tham khảo ý kiến GV
Trang 36Tôi đã tiến hành tham khảo ý kiến thầy hướng dẫn, một số giảng viên giảngdạy lớp Sau đại học, một số bạn trong lớp Cao học, một số GV giảng dạy bộ mônHóa ở trường phổ thông về HTBT nhằm tìm hiểu thêm những chỗ còn hạn chế đểkịp thời chỉnh sửa, bổ sung.
Bước 6: Chỉnh sửa, hoàn thiện bài tập
Sau khi tham khảo ý kiến GV, tôi chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện HTBT
2.3 Giới thiệu về hệ thống bài tập
HTBT được xây dựng dựa trên 8 nguyên tắc đã đặt ra ở phần 2.1 và 6 bướccủa quy trình xây dựng ở phần 2.2 Khi xây dựng HTBT, tôi đã chú ý để nội dungkiến thức phải phủ kín chương trình, khắc sâu trọng tâm Để tạo điều kiện thuận lợi
HS tự học, tôi đã :
- Phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng
- Soạn bài giải mẫu
- Đưa ra các bài tập tương tự để HS tự giải
- Cho đáp số cho bài tập tương tự
- Sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó
- Đưa ra các câu hỏi tổng hợp để kiểm tra kiến thức sau khi HS học xong một
số bài học, chương nào đó
Tôi đã đưa ra phương pháp chung của từng dạng bài tập Đối với mỗi bài học
có những điều cần lưu ý thêm tôi lại bổ sung thêm vào Theo quan điểm của tôi, hỗtrợ tốt nghĩa là HS tiến bộ, giải được nhiều bài tập hơn trước đó chứ không phải làgiải hết
2.4 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải
2.4.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phản ứng hóa học và phi kim lớp 10
Dạng 1: Lập PTHH
Dạng 2: Viết PTHH của dãy biến hóa
Phương pháp :
Trang 37- Vận dụng tính chất hóa học, phương pháp điều chế để hoàn tất phươngtrình ứng với mỗi mũi tên là 1 phản ứng.
- Khi viết PTHH cần ghi rõ điều kiện của phản ứng
Dạng 3: Viết PTHH điều chế chất
Dạng 4: Phân biệt, tinh chế và tách các chất
Phân biệt : Dựa vào dấu hiệu phản ứng : tạo kết tủa, sủi bọt khí, đổi màu …
C M
D
C M
Dạng 7: Các bài tập liên quan đến hiệu suất phản ứng
n: Số mol của chất tan V: thể tích dung dịch (l)
D: khối lượng riêng của dung dịch (g/ml)
M : KLPT của chất tan
Trang 38Dạng 8: Các bài tập tổng hợp
2.4.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng chương
2.4.2.1 Chương 4 “ Phản ứng hóa học”
Dạng 1: Xác định số oxi hóa Nhận biết phản ứng oxi hóa – khử
*Phương pháp: Trong các hợp chất, oxi luôn có số oxi hóa là -2(trừ F 2 O); hiđro
có số oxi hóa là +1
- Xác định số oxi hóa ( dấu ghi trước số)
+ Trong đơn chất, số oxi hóa của nguyên tố bằng 0
+ Tổng đại số số oxi hóa của các nguyên tử trong một phân tử bằng 0
+ Tổng đại số số oxi hóa của các nguyên tử trong một ion phức tạp bằng điệntích của ion đó
+ Khi tham gia hợp chất, số oxi hóa của một số nguyên tố có trị số không đổi
Đối với hợp chất hữu cơ, số oxi hóa của cacbon được tính như sau:
+ Tính số oxi hóa trung bình của nguyên tử cacbon trong phân tử
+ Nếu một số nhóm trong hợp chất hữu cơ có sự thay đổi trước và sau phảnứng thì cần xác định số oxi hóa của cacbon trong từng nhóm
- Nhận biết phản ứng oxi hóa – khử:
Nếu trong một phản ứng có chứa một hoặc nhiều nguyên tố có số oxi hóa thay đổi thì phản ứng đó là phản ứng oxi hóa – khử.
Chất khử là chất nhường electron: M M + ne -n
Chất oxi hóa là chất thu electron: +n
M + ne M
Ví dụ 1 : Xác định số oxi hóa của :
a Lưu huỳnh trong các hợp chất : CuS, Cu2S2, Na2S2O3
b Crom trong các hợp chất sau: K2CrO4, K2Cr2O7, Cr2O3
Lượng chất sản phẩm = Lượng chất đó trên PTPƯ x Hiệu suất100
Lượng chất phản ứng = Lượng chất đó trên PTPƯ x 100
Hiệu suất
Trang 39+ Phản ứng oxi hóa – khử nội phân tử là phản ứng hóa học trong đó chất oxi hóa và
chất khử là những nguyên tử khác nhau nằm trong cùng một phân tử
+ Phản ứng tự oxi hóa – khử là phản ứng hóa học trong đó chất oxi và chất khửcùng là một loại nguyên tử trong hợp chất
Phản ứng oxi hóa khử nội phân tử
Trang 402 Ion – electron: Viết các chất điện li mạnh dạng ion; các chất không điện
li hoặc điện li yếu, các chất khí hoặc chất kết tủa dưới dạng phân tử.
- Phản ứng có axit (H + ) tham gia : thêm H + vào vế thừa oxi, thêm H 2 O vào vế thiếu oxi.
Ví dụ : Cân bằng phản ứng oxi hóa – khử sau:
FeSO4 + KMnO4 + H2SO4 → Fe2(SO4)3 + K2SO4 + MnSO4 + H2O
Bước 1: Tách các ion, xác định các nguyên tố có sự thay đổi số oxi hóa:
Bước 2: Cân bằng phương trình các nửa phản ứng:
Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở hai vế của nửa phản ứng
4
SO +8H2O10FeSO4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5Fe2(SO4)3 + K2SO4 +2MnSO4 + 8H2O
- Phản ứng có kiềm (OH - ) tham gia: vế nào thừa oxi thêm H 2 O, vế thiếu oxi thêm OH -
Ví dụ : Hãy cân bằng phản ứng oxi hóa – khử sau: