Các lý thuyết thương mại và nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tự do hóa thương mại mang lại lợi ích cho các quốc gia. Thương mại tự do tạo ra môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, giúp phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa chủng loại và nâng cao chất lượng hàng hóa, tối đa hóa hiệu quả không có sự biến dạng của thị trường. Tham gia các FTA nhằm thúc đẩy quá trình cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Việt Nam bắt đầu mở cửa và hội nhập quốc tế từ cuối những năm 1990, đánh dấu bằng việc Việt Nam tham gia ASEAN năm 1995, gia nhập AFTA năm 1996. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều thay đổi trong phạm vi khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã chủ động tham gia vào các hiệp định tự do nhằm khai thác các tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế. Liên minh kinh tế Á Âu (EAEU) bao gồm các thành viên đều là những đối tác truyền thống của Việt Nam, tạo điều kiện thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với các nước của liên minh kinh tế Á Âu, đặc biệt là đối tác chiến lược Nga nước có tiềm lực và thế mạnh lớn trong lĩnh vực công nghệ hàng không, kỹ thuật khai thác mỏ, hệ thống đường sắt, tự động hóa và công nghệ sinh học. Vì thế, chúng em đã lựa chọn đề tài “Tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam Liên minh kinh tế Á Âu đến thương mại giữa Việt Nam và Nga” để phân tích và đánh giá tác động của hiệp định này đến thương mại giữa Việt Nam với các nước EAEU, đặc biệt giữa Việt Nam và Nga. 2. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích và đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam EAEU đến thương mại giữa Việt Nam và Nga, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy thương mại giữa hai quốc gia trong bối cảnh thực thi hiệp định thời gian tới. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, hệ thống cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế và tác động của thương mại tự
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI, TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết về tự do hóa thương mại
Các lý thuyết thương mại quốc tế đã chỉ ra tự do hóa thương mại mang lại lợi ích cho các quốc gia như tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong một nước và giữa các nước với nhau, giúp phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa chủng loại và tăng chất lượng của hàng hóa cho người tiêu dùng Cụ thể được nêu trong (Ricardo, 1817; Heckscher & Ohlin, 1991), (Lee, 1995), (Wagner, 2007)
Frankel và Romer (1999) đã xây dựng các thước đo về khoảng cách địa lý của thương mại giữa các quốc gia và sử dụng các thước đo đó để có được các ước tính biến công cụ về tác động của thương mại tự do đối với thu nhập Kết quả cho thấy tự do hóa thương mại có tác động tích cực về mặt số lượng và mạnh mẽ đối với thu nhập mặc dù nó chỉ có ý nghĩa thống kê vừa phải Coe và Helpman (1995) đã nghiên cứu sự phổ biến của nghiên cứu và phát triển (R&D) quốc tế giữa 21 quốc gia OECD và Israel trong giai đoạn 1971-1990 và phát hiện ra rằng tự do hóa thương mại là một kênh chuyển giao công nghệ quan trọng
Cho đến nay, có rất nhiều các nghiên cứu dựa trên các dữ liệu thực chứng về tác động của tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế và thương mại của một quốc gia trên nhiều góc độ khác nhau Có sự thống nhất chung rằng tự do hóa thương mại sẽ tạo thuận lợi cho dòng thương mại hàng hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thay vì sử dụng các hàng rào thuế quan để bảo hộ (Winters, 2004; Ching, Hsiao, Wan&Wang, 2011) Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra các minh chứng cụ thể về tác động tích cực của tự do hóa thương mại đến các quốc gia phát triển (Greenaway, Morgan&Wright, 2002; Wacziarg&Welch, 2008)
Việt Nam và Nga có mối quan hệ có tính chất đặc biệt Có nhiều nghiên cứu về hợp tác về quan hệ thương mại Việt Nam - Nga như trong cuốn sách “ASEAN - Russia: Foundations and Future Propects” của Sumsky và cộng sự (2012) nói rõ về quan hệ Nga
- ASEAN như là những đối tác “tự nhiên”, hai bên có mối quan hệ hợp tác toàn diện dựa trên các lợi ích song phương, cuốn sách cũng đề cập tới mối quan hệ chiến lược giữa Nga và Việt Nam của Mazyrin (2012) dựa trên nhiều khía cạnh, trong đó tập trung vào quan hệ kinh tế - thương mại Các nghiên cứu của Nguyễn Quang Thuấn (2012), Nguyễn An Hà (2011), Nguyễn Cảnh Toàn (2012) đề cập tới mối quan hệ Nga - Việt trong bối cảnh quốc tế mới và trong điều kiện hai bên là thành viên của WTO, quan hệ thương mại giữa hai bên có xu hướng gia tăng tích cực
1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hiệp định tự do thương mại
Dựa trên cơ sở lý thuyết về tự do hóa thương mại, nhóm đã tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hiệp định thương mại tự do đến các quốc gia, nhóm ngành và các phương pháp đánh giá tác động của hiệp định tới thương mại của hai quốc gia
1.1.2.1 Tác động của hiệp định thương mại tự do đến các quốc gia và các yếu tố tác động đến thương mại Đã có nhiều quan điểm về tác động của FTA đối với các nước thành viên và đối với phần còn lại của thế giới (Bhagwati và Krueger, 1995) thông qua tạo lập và chuyển hướng thương mại được Viner (1950) đề cập trong tiếp cận cân bằng một phần của thương mại quốc tế, các tác động này giúp cho việc phân bố hiệu quả lực lượng sản xuất liên ngành trong nền kinh tế góp phần hình thành một cơ cấu kinh tế mới dựa trên các cam kết cắt giảm rào cản thuế quan trong FTA
Fukao, Okubo và Stern (2003) phân tích định lượng về tác động chuyển hướng thương mại của NAFTA bằng cách sử dụng dữ liệu cấp độ 2 chữ số (HS2) và sử dụng khung cân bằng từng phần Urata và Okabe (2007) đưa ra chỉ số thị phần tương đối và chỉ số thương mại tăng lên trong các FTA Còn đối với chỉ số thương mại đo lường mối quan hệ thương mại tăng cường thuần túy, một mặt là mở rộng đối tác thương mại và mặt khác là tăng cường mối quan hệ thương mại thuần túy
Một số nghiên cứu khác cũng đã tập trung phân tích tác động của FTA đến các thương mại của các quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Á (Athukorala, 2005; Amiti & Konings, 2007), kết quả cho thấy việc cắt giảm thuế quan theo các FTA đã buộc các quốc gia thành viên đều phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phân bố lại nguồn lực sản xuất từ các ngành cạnh tranh nhập khẩu sang các ngành có lợi thế so sánh để xuất khẩu
1.1.2.2 Tác động của hiệp định thương mại tự do đến các ngành trong nền kinh tế
Có nhiều nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố và cơ chế tác động của hiệp định thương mại tự do (FTA) Một trong những tác động của tự do hóa thương mại là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bổ các nguồn lực của mỗi quốc gia thành viên trong quá trình thực thi các FTA (Berg&Krueger, 2003) Các ngành trong nền kinh tế luôn có sự tăng trưởng không đồng đều dưới tác động của FTA, dẫn đến việc chuyển dịch và thay đổi cơ cấu kinh tế của các ngành Các quốc gia đều tìm cách phát huy năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng của các ngành có lợi thế so sánh và thu hẹp các ngành không có lợi thế trên cơ sở phân bổ và chuyển dịch các nguồn lực cho các các ngành có thể phát huy hiệu quả (Bhagwatin và Srinivasan, 2002)
1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến phương pháp đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại của hai quốc gia Để đánh giá tác động của FTA đến thương mại giữa các quốc gia, các nghiên cứu thường dựa vào hai nhóm phương pháp để đánh giá tác động của FTA đến dỡ bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hóa và tự do hóa thương mại Ngoài ra, trong các FTA thế hệ mới không chỉ tác động đến tự do hóa thương mại hàng hóa mà còn mở rộng đối với dịch vụ, đầu tư, an toàn vệ sinh và kiểm dịch thực phẩm, các hàng rào kỹ thuật liên quan tới thương mại, và quyền sở hữu trí tuệ (Plummer, Cheong và Hamanaka, 2010)
1.1.4 Các nghiên cứu về liên minh kinh tế Á - Âu và hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU
Năm 2010, Nga, Belarus và Kazakhstan ký kết thành lập liên minh hải quan Á- u (ECU) nhằm hình thành một không gian kinh tế chung, mục đích chính của ECU là tạo ra một thị trường duy nhất với "bốn quyền tự do" gồm di chuyển hàng hóa, vốn, dịch vụ và con người với trọng tâm hàng đầu là tạo ra thị trường điện, dầu và khí đốt chung (Wolczuk và Dragneva, 2017)
Một số nghiên cứu đã đánh giá về triển vọng phát triển của EAEU như Bogulavska
(2015), Ioffe (2014) và Schenkkan (2015), Aslund (2013) và Popescu (2014) Vinokuruv và cộng sự (2015) đã đánh giá về hàng rào phi thuế quan ở ba thành viên ban đầu của EAEU (Nga, Belarus và Kazakhstan) và các ước tính về tác động của việc giảm các rào cản phi thuế này đến các quốc gia trong EAEU David G Tarr (2016) đánh giá tác động của thuế quan, thuận lợi hóa thương mại và các rào cản phi thuế quan thông qua mô hình cân bằng tổng thể (CGE) đối với các thành viên của EAEU
1.1.5 Các nghiên cứu liên quan về thương mại giữa Việt Nam và Nga
Việt Nam và Nga có mối quan hệ có tính chất đặc biệt, thậm chí hơn cả chiến mối quan hệ này là sự kế thừa và phát huy truyền thống của mối quan hệ Việt Nam - Liên
Xô trước đây Có nhiều nghiên cứu về hợp tác về quan hệ thương mại Việt Nam - Nga như trong cuốn sách “ASEAN - Russia: Foundations and Future Propects” của Sumsky và cộng sự (2012) nói rõ về quan hệ Nga - ASEAN như là những đối tác “tự nhiên”, hai bên có mối quan hệ hợp tác toàn diện dựa trên các lợi ích song phương, cuốn sách cũng đề cập tới mối quan hệ chiến lược giữa Nga và Việt Nam của Mazyrin (2012) dựa trên nhiều khía cạnh, trong đó tập trung vào quan hệ kinh tế - thương mại
Thương mại quốc tế và hiệp định thương mại tự do
Ban đầu, thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa hữu hình giữa các nước nhằm mục đích mang lại lợi ích mà hoạt động buôn bán, trao đổi trong nước không có hoặc không bằng Cùng với sự phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây, thương mại quốc tế ngày càng được coi trọng và được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là buôn bán hàng hóa hữu hình mà còn bao gồm cả các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa vô hình, dịch vụ hay đầu tư vì mục đích sinh lợi
Theo ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, theo đó bao gồm các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, từ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch…
Như vậy, có thể thấy thương mại quốc tế có vai trò quan trọng, nó bắt nguồn từ thực tế là không quốc gia nào có thể sản xuất tất cả hàng hóa và dịch vụ mà mọi quốc gia đòi hỏi nhu cầu tiêu dùng của họ phần lớn do sự khác biệt về lợi thế so sánh và hạn chế về nguồn lực Thương mại quốc tế cũng chỉ rõ mối quan hệ cho thấy rằng các nền kinh tế cần xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ có lợi thế so sánh, đồng thời nhập khẩu hàng hóa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất với chi phí cao Điều này, cho thấy thương mại quốc tế có ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế thế giới và tác động đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Các lý thuyết đã giải thích hoạt động thương mại quốc tế là trao đổi hàng hóa có lợi thế giữa các quốc gia từ đó phân bổ lại các yếu tố sản xuất, giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng đầu ra và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Hiệp định thương mại tự do a) Khái niệm
Hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement) được hiểu là các hiệp định hợp tác kinh tế được ký giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản với phần lớn hoạt động thương mại đồng thời thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các nước thành viên với nhau Các rào cản thương mại có thể dưới dạng thuế quan, quota nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác như tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ, …
Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng khác nhau như Hiệp định đối tác kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreement), … nhưng nếu bản chất của các hiệp định đều hướng tới tự do hoá thương mại (bao gồm loại bỏ rào cản và thúc đẩy thương mại), thì đều được hiểu là các FTA FTA khác với các Hiệp định WTO Cụ thể, các Hiệp định WTO thường bao gồm cam kết trong các lĩnh vực thương mại cụ thể như hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư,
… hướng đến thống nhất các quy tắc chung tạo nền tảng cho thương mại toàn cầu, và mới chỉ dừng lại ở việc giảm bớt các rào cản thương mại So với các Hiệp định WTO thì các FTA có mức độ tự do hoá cao hơn, hướng đến không chỉ giảm bớt, mà là loại bỏ hoàn toàn rào cản đối với thương mại Một FTA phải thỏa mãn hai điều kiện như (1) loại bỏ thuế quan và các hạn chế khác đối với hàng hóa trao đổi giữa các nước thành viên và (2) loại bỏ tất cả các phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp từ các nước thành viên b) Hình thức của hiệp định thương mại tự do
Dựa vào số lượng thành viên tham gia đàm phán cũng như phạm vi và nội dung ký kết là một cách phân loại cho thấy sự khác biệt tương đối giữa các FTA Theo cách này, các FTA được chia thành 3 loại gồm FTA song phương, FTA đa phương (FTA khu vực và FTA hỗn hợp) và FTA thế hệ mới
+ FTA song phương: chỉ có hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ ký kết Mục đích của là mở rộng cơ hội hợp tác cho 2 quốc gia nhằm thúc đẩy thương mại song phương và phát triển kinh tế Tuy nhiên, FTA song phương có thể gây ra những xung đột và cạnh tranh về các thỏa thuận thương mại với các quốc gia khác
+ FTA đa phương: được ký kết từ 3 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trở lên, thường là các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thường có vị trí địa lý gần nhau Do FTA này được đàm phán và ký kết bởi nhiều quốc gia nên quá trình đàm phán và thương lượng thường kéo dài hơn nhiều so với một FTA song phương Tuy nhiên, FTA đa phương có tác động toàn diện và sâu rộng hơn
+ FTA thế hệ mới: FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa như đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình, … c) Nội dung của hiệp định thương mại tự do
- Loại bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và phi thuế quan: mỗi quốc gia tham gia trong ký thỏa thuận FTA phải cam kết cắt giảm và xóa bỏ thuế Cho các hàng hóa dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên
- Quy tắc xuất xứ hàng hóa: Là quy định hết sức quan quan trọng không thể thiếu trong FTA Mỗi loại hàng hóa dịch vụ khác nhau sẽ có quy định về mức cắt giảm thuế khác nhau Các mặt hàng được sản xuất trong nước tham gia thỏa thuận được nhận ưu đãi lớn hơn
- Quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan: Loại hàng hóa dịch vụ được đưa vào ký kết phụ thuộc và kết quả hoạt động đàm phán Thông thường 90% thương mại được áp dụng chung cho các FTA Có một số loại thuế nhạy cảm sẽ không được cắt giảm hoặc cắt giảm chậm hơn
- Quy định về thời gian cắt giảm thuế xuất nhập khẩu: FTA phải có phần mục nội dung quy định rõ ràng về lộ trình hay khoảng thời gian áp dụng cắt giảm thuế Các FTA thường có thời gian kéo dài dưới 10 năm
Tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại giữa các quốc gia
- Thúc đẩy tăng năng suất dựa vào hiệu quả tính kinh tế nhờ quy mô: bằng việc cắt giảm thuế quan giữa các nước thành viên đã thúc đẩy các nước mở rộng quy mô sản xuất, cải thiện hiệu quả kỹ thuật công nghệ, tăng năng suất và mở rộng thị trường Việc chuyên môn hóa sản xuất của các doanh nghiệp từng nước giúp các nước tận dụng được lợi thế so sánh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Kết quả là nhiều doanh nghiệp sẽ trở lên cạnh tranh hơn không chỉ trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài Người tiêu dùng ở các nước thành viên cũng sẽ có được lựa chọn nhiều loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà họ có thể mua do thị trường lớn được tạo ra bởi FTA, mà ở đó cho phép các doanh nghiệp bán nhiều hàng hóa hơn trên thị trường
- Thu hút đầu tư nước ngoài: Các nước tham gia FTA đều mong muốn tăng cường xuất khẩu và mở rộng sang các thị trường của các nước thành viên Điều đó giúp cho thương mại nội ngành giữa các thành viên tăng lên cũng sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy tăng đầu tư nội khối
- Nâng cao khả năng cạnh tranh, chuyên môn hóa sản xuất và tính hiệu quả: FTA giảm các hàng rào thương mại cho phép các thành viên có lợi ích từ cạnh tranh trong nội khối, tăng sức ép để cạnh tranh với các đối thủ từ các quốc gia thành viên và nâng cao hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp Điều này khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường hiệu quả đầu tư hơn cho công nghệ và quá trình sản xuất, tổ chức và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả cho quá trình chuyên môn hóa sản xuất các hàng hóa trung gian và cuối cùng
- Các tác động khác của hiệp định thương mại: FTA thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, tăng cường hội nhập quốc tế khu vực và đa phương trong bối cảnh của toàn cầu hóa Các FTA cũng giúp tăng cường hợp tác các vấn đề khác như bảo vệ sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, tạo việc làm và phát triển bền vững Mặt khác, việc tham gia FTA cũng tạo cho các quốc gia thành viên tạo thêm các mối quan hệ ràng buộc về mặt chính trị, ngoại giao Đặc biệt, FTA giúp cho các nước đang phát triển củng cố an ninh chính trị với các đối tác có quan hệ đối tác chiến lược và các nước lớn
Các yếu tố ảnh hưởng tác động của thương mại tự do đến thương mại của hai quốc
1.4.1 Sự tương đồng, mối quan hệ kinh tế và ngoại giao giữa hai quốc gia
Sự tương đồng giữa hai quốc gia trước khi tham gia FTA được thể hiện ở nhiều yếu tố như trình độ phát triển, thu nhập bình quân trên đầu người, cơ cấu kinh tế, nguồn lực sản xuất, vị trí địa lý, Theo nhiều nghiên cứu, giữa các thành viên trong FTA có khoảng cách địa lý xa nhau có khả năng làm cho lợi ích tiềm tàng từ hiệp định không lớn bằng giữa các nước có vị trí gần nhau
Mối quan hệ chính trị, ngoại giao và kinh tế giữa các quốc gia trước khi hình thành FTA cũng là yếu tố quyết định tác động của FTA Mối quan hệ này chặt chẽ, hướng tới mục tiêu cùng có lợi sẽ tạo nền tảng thuận lợi để đảm bảo phát triển quan hệ thương mại tin cậy và lâu dài, đảm bảo các cam kết được thực thi từ đó gia tăng lợi ích của FTA
1.4.2 Quan hệ thương mại, lợi thế so sánh và tính bổ sung trong thương mại quốc tế
Nếu các nước ký kết FTA là các đối tác thương mại lớn của nhau thì việc ký kết một FTA giữa các quốc gia này sẽ đảm bảo gia tăng giá trị thương mại và phúc lợi xã hội do giảm được chuyển hướng thương mại, tăng tạo lập thương mại và giảm chi phí thương mại (Evan và cộng sự, 2006; Trần Văn Thọ, 2002) Quan hệ thương mại giữa các quốc gia trong FTA được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu như kim ngạch, tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng thương mại, chỉ số cường độ thương mại, (Vũ Thanh Hương, 2017)
Khi tham gia vào FTA, một quốc gia cần nhận biết những ngành mà quốc gia có lợi thế so sánh do đây là những ngành có tiềm năng thúc đẩy xuất khẩu, giúp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Lợi thế so sánh càng có sự khác biệt thì cơ hội để mở rộng thương mại giữa các nước và gia tăng phúc lợi xã hội càng lớn sau khi FTA được hình thành Tính bổ sung trong thương mại giữa các nước thành viên FTA cũng là yếu tố tác động tiềm tàng của FTA Cơ cấu thương mại giữa các nước càng bổ sung lẫn nhau thì FTA càng có khả năng thúc đẩy tạo lập thương mại giữa các bên càng lớn (Trần Văn Thọ, 2002; Maliszewska & cộng sự, 2008) Ngược lại, hai quốc gia có cơ cấu thương mại tương tự nhau sẽ có khó khăn trong thúc đẩy thương mại trừ khi hai nước đã có tỷ lệ thương mại nội ngành được thể hiện qua việc phân tích cơ cấu thương mại thông qua chỉ số bổ sung thương mại hay chỉ số tương đồng xuất khẩu
1.4.3 Chính sách tự do hóa thương mại
Chính phủ đảm bảo cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử bằng việc áp dụng hàng rào thuế quan đối với hàng nhập khẩu hoặc trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu Với chính sách này thì các quốc gia sẽ điều chỉnh chính sách thương mại của mình theo hướng giảm thiểu các rào cản thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động thương mại cả bề rộng lẫn chiều sâu
Số lượng các thành viên trong khu vực thương mại tự do càng nhiều thì càng có khả năng tạo ra thị trường quy mô lớn, tăng khả năng khai thác tính kinh tế nhờ quy mô dẫn đến tăng tạo lập thương mại cho các thành viên Tuy nhiên, khi có nhiều thành viên tham gia sẽ có sự khác biệt lợi ích giữa các quốc gia trong quá trình mở cửa và thực hiện chính sách tự do hóa thương mại trong quá trình đàm phán ngày càng lớn, để thống nhất các nội dung của hiệp định sẽ trở lên khó khăn hơn Vì vậy, số lượng của các thành viên chưa đủ để đánh giá tác động của chính sách thương mại tự do trong tương lai mà cần thêm yếu tố liên quan như quy mô nền kinh tế các nước thành viên, theo đó quy mô càng lớn thì sẽ tạo ra được một thị trường càng lớn, gia tăng thương mại càng lớn và có xu hướng giảm chuyển hướng thương mại (Katsioloudes & Hadjidakis, 2007) Quy mô của nền kinh tế được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu như GDP, dân số, kim ngạch xuất nhập khẩu, đầu tư trong nước và nước ngoài
1.4.4 Các chính sách và quy định liên quan đến thương mại của các quốc gia
Hàng rào thương mại giữa các nước là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến dòng thương mại: thể hiện qua mức thuế bình quân giản đơn và gia quyền, mức thuế theo ngành thương mại chính (Vũ Thanh Hương, 2017), sự phức tạp và đa dạng của hàng rào phi thuế quan
Ngoài ra, còn một số chính sách và quy định khác bao gồm: các biện pháp phi thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái, …
1.4.5 Yếu tố co giãn cung cầu và giá cả trong thương mại quốc tế
Khi giá cả của các nước thành viên trong FTA và giá cả của nước bên ngoài FTA với một nước thành viên FTA càng gần nhau thông qua tỷ giá hối đoái thì khả năng tác động tạo lập thương mại của FTA càng lớn do hạn chế được tác động chuyển hướng thương mại Ngoài ra, co giãn cung cầu và cầu nhập khẩu theo giá càng lớn thì góp phần gia tăng tác động tạo lập thương mại và từ đó gia tăng lợi ích cho các nước thành viên FTA Ngoài ra, nếu cầu hàng hóa co giãn với giá thì khi tỷ giá ngoại tệ so với đồng nội tệ tăng lên sẽ làm cho kim ngạch xuất khẩu gia tăng, nếu cầu hàng hóa ít co giãn thì khi tỷ giá tăng sẽ khiến cho kim ngạch xuất khẩu giảm Các nhóm hàng hóa khác nhau có mức độ co giãn cung cầu theo giá cả là không đồng nhất, ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đối với xuất nhập khẩu giữa các thành viên trong hiệp định của sẽ khác nhau
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - LIÊN MINH KINH TẾ Á - ÂU ĐẾN THƯƠNG
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu
2.1.1 Quá trình hình thành và ký kết hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU
Trong bối cảnh mở rộng tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế toàn cầu ,việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và dần trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế Không nằm ngoài xu thế trên, Việt Nam đã và đang rất tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia Các nước tham gia vào hiệp định này sẽ tiến hành xóa bỏ và cắt giảm hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan theo lộ trình có sẵn, từ đó nhằm thiết lập một khu vực mậu dịch tự do Nhận thức rõ điều trên, trong những năm qua Việt Nam ký kết rất nhiều các Hiệp FTA song phương và đa phương, trong đó phải kể đến Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nga phát triển dựa trên cơ sở hợp tác giữa Liên
Xô và Việt Nam trong thời kì chiến tranh lạnh Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam được xem là một trong những đối tác chính của Nga Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, mối quan hệ đối tác giữa Nga và Việt Nam giảm đáng kể, tuy nhiên duy trì mối quan hệ ở một số lĩnh vực như quốc phòng và năng lượng Năm 2001, hai quốc gia đã ký tuyên bố về mối quan hệ đối tác chiến lược và năm 2012, hai nước nâng quan hệ song phương thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam trở thành quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á có tư cách là đối tác chiến lược toàn diện của Nga Ngày 29/05/2015, Liên minh kinh tế Á- Âu được thành lập trên cơ sở của liên minh hải quan (CU) Do đó, việc đàm phán FTA giữa Việt Nam và CU trở thành FTA giữa Việt Nam và EAEU (Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan) Quá trình đàm phán diễn ra từ ngày 18/03/2013 đến 29/05/2015, FTA Việt Nam - EAEU đã chính thức được ký kết vào ngày 29/05/2015 và có hiệu lực từ ngày 5/10/2016
Hiệp định bao gồm các chương về quy tắc xuất xứ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại, thương mại điện tử, Khi hiệp định có hiệu lực thì 90% dòng thuế của hai bên sẽ được cắt giảm hoặc xóa bỏ hoàn toàn
Liên minh kinh tế Á - Âu ( Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan) là một thị trường tiềm năng, có nguồn tài nguyên dồi dào, khoa học phát triển và đời sống ổn định Còn đối với các quốc gia thuộc EAEU thì Việt Nam được xem là cửa ngõ để thâm nhập thị trường Châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN Hợp tác với Việt Nam để EAEU có cơ hội mở rộng hợp tác kinh tế với các quốc gia Đông Nam Á Còn với Việt Nam là cơ hội để tiếp cận với các nước thuộc SNG
Có thể nói, hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với Nga Trong mối quan hệ giữa Việt Nam và EAEU, thì Việt Nam chính là quốc gia kết nối hội nhập của EAEU với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
2.1.2 Mục tiêu của hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU
FTA Việt Nam - EAEU là hiệp định thương mại với phạm vi toàn diện, có mức độ cam kết cao, bảo đảm cân bằng lợi ích cụ thể của từng thành viên Hiệp định này đề cập tới các vấn đề như: quy tắc xuất xứ, thương mại dịch vụ,thương mại hàng hóa, đầu tư, sở hữu trí tuệ, phòng vệ thương mại hóa hải quan, hàng rào kỹ thuật, cạnh tranh pháp lý và thể chế Các mục tiêu của hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU gồm:
- Tạo ra sự thuận lợi hóa và tự do hóa trong thương mại dịch vụ giữa các bên tham gia
- Thương mại hóa không bị hạn chế ở việc cắt giảm hàng rào thuế quan, phi thuế quan và đơn giản hóa thủ tục hải quan
- Hỗ trợ hợp tác kinh tế và thương mại giữa các bên tham gia
- Tạo điều kiện thuận lợi để tăng trưởng và thúc đẩy cơ hội đầu tư giữa các Bên thông qua việc phát triển hơn nữa môi trường đầu tư thuận lợi
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và hiệu quả , đồng thời thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này
- Với các lĩnh vực đã được thỏa thuận trong Hiệp định , cần thiết lập ra một khuôn khổ để tăng cường hợp tác phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin Ở hầu hết các FTA đã ký kết, Việt Nam đều nhận được ưu đãi thương mại nhiều hơn Điều này được thể hiện ở chỗ, Việt Nam được ân hạn và mở cửa theo lộ trình trong khi các nền kinh tế phát triển hơn đã giảm mạnh thuế quan Tuy nhiên, trong khuôn khổ của khu vực thương mại tự do EAEU thì các cam kết và điều khoản thương mại được đều được đảm bảo một cách công bằng cho các bên Thỏa thuận không quy định tự do hóa thuế quan hoàn toàn, bảo vệ thị trường bằng các biện pháp phi thuế quan và rào cản trong lĩnh vực tiêu chuẩn vệ sinh (Fedorov, 2018)
2.1.3 Nội dung chính của hiệp định liên quan đến thương mại hàng hóa
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á- Âu gồm 16 Chương, được chia thành hai nhóm: Nhóm về hàng hóa bao gồm: Quy tắc xuất xứ, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Phòng vệ thương mại… Nhóm khác bao gồm: Đầu tư, Pháp lý và thể chế, Sở hữu trí tuệ, Cạnh tranh và Thương mại điện tử Hiệp định gồm những nội dung chính sau:
A Các cam kết về thuế quan
A.1 Cam kết của Liên minh Kinh tế Á-Âu
Liên minh Kinh tế Á Âu cam kết mở cửa thị trường hàng hóa cho Việt Nam Cam kết có thể chia thành các nhóm sau:
- Nhóm loại bỏ thuế quan ngay sau khi hiệp định có hiệu lực (EIF): gồm 6.718 dòng thuế, chiếm khoảng 59% biểu thuế
- Nhóm giảm ngay 25% so với thuế hiện tại và sau đó giữ nguyên sau khi Hiệp định có hiệu lực: gồm 131 dòng thuế, chiếm khoảng 1% biểu thuế
- Nhóm không cam kết (N/U) - nhóm không bị ràng buộc phải loại bỏ hay giảm thuế quan, tuy nhiên vẫn có thể đơn phương loại bỏ/giảm thuế nếu muốn: gồm 1.453 dòng thuế, chiếm khoảng 13% biểu thuế
- Nhóm loại bỏ thuế quan theo lộ trình cắt giảm từng năm và thuế quan sẽ bị loại bỏ ở năm cuối của lộ trình (muộn nhất là đến 2025): gồm 2.876 dòng thuế, chiếm khoảng 25% biểu thuế
- Nhóm áp dụng biện pháp Phòng vệ ngưỡng (Trigger): gồm 180 dòng thuế, chiếm khoảng 1,58% biểu thuế Đây được xem là biện pháp nửa giống Phòng vệ, nửa giống Hạn ngạch thuế quan: + Sản phẩm áp dụng: bao gồm Dệt may, Da giầy và Đồ gỗ được quy định trong Phụ lục của Hiệp định về các sản phẩm áp dụng Biện pháp phòng vệ ngưỡng
+ Quy tắc áp dụng: mỗi năm sẽ áp dụng một ngưỡng khác nhau
+ Thời gian áp dụng: Thông thường quyết định sẽ có hiệu lực trong tháng; nhưng nếu khối lượng nhập khẩu sản phẩm bị áp dụng biện pháp phòng vệ ngưỡng vượt quá 150% mức ngưỡng thì thời gian áp dụng biện pháp này có thể được kéo dài thêm 3 tháng
Lưu ý: Một trong hai bên tham gia có thể yêu cầu bên còn lại cung cấp các thông tin nhằm làm rõ các điều kiện áp dụng biện pháp phòng vệ này
A.2 Cam kết của Việt Nam
Việt Nam cam kết mở cửa thị trường hàng hóa của cho Liên minh kinh tế Á - Âu:
- Nhóm loại bỏ thuế quan ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực (EIF): chiếm khoảng 53% biểu thuế
Thương mại giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu
Từ ngày 5 tháng 10 năm 2016 hiệp định thương mại tự do Việt Nam và liên minh kinh tế Á - Âu bắt đầu có hiệu lực Hiệp định này nới lỏng việc tiếp cận thị trường trong khuôn khổ thương mại giữa các quốc gia thành viên Đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và kinh tế của doanh nghiệp Việt Nam được chọn là quốc gia đầu tiên để ký kết FTA với EAEU bởi tầm quan trọng về chính trị, cũng như các yếu tố khác Sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam và các nước thành viên EAEU không cạnh tranh với nhau trên thị trường nội địa Điều này là cơ sở để hình thành một khu vực thương mại tự do, đồng thời tạo điều kiện cho các bên tham gia đạt được sự cân bằng lợi ích
Trong giai đoạn 2012 - 2019, giá trị kim ngạch tăng từ 2,71 tỷ USD lên 4,85 tỷ USD Tuy nhiên kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam còn rất khiêm tốn so với tổng kim ngạch thương mại khoảng 1.400 tỷ USD, tương ứng ở mức 0,5% thị phần của các nước trong khu vực này Trong bối cảnh thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU, việc tận dụng hiệu quả FTA sẽ là những động lực thúc mạnh mẽ hơn nữa hợp tác thương mại, đầu tư và công nghiệp giữa Việt Nam với các nước thuộc khu vực EAEU
Hình 2.1 Thương mại giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu
Thương mại giữa Việt Nam và Nga
2.3.1 Tổng quan về thị trường Nga
Theo World bank (2020), Nga là nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới với tổng sản phẩm quốc nội đạt 4,2 nghìn tỷ USD năm 2018, thu nhập bình quân đầu người là 11,584 USD Tính đến tháng 4/2020 kinh tế của Nga đã suy giảm -5,5% Nga có nền kinh tế hỗn hợp và theo đuổi chính sách bảo hộ kinh tế, đồng thời duy trì cách tiếp cận thận trọng đối với đầu tư nước ngoài
Ngày 22/08/2012, Nga trở thành thành viên thứ 156 của WTO Việc ra nhập WTO cho phép các doanh nghiệp Nga tiếp cận nhiều hơn với thị trường nước ngoài và tạo cơ hội cho Nga mở rộng các lĩnh vực thương mại và đầu tư Trong đó, lĩnh vực quan trọng nhất là khai thác, thăm dò tài nguyên và khí đốt
Thuế quan trung bình được áp dụng tại Nga là 3,6%, tuy nhiên nhiều rào cản phi thuế quan đã ảnh hưởng đến luồng thương mại dịch vụ và hàng hóa Ngoại trừ, lĩnh vực năng lượng, tăng trưởng thu hút đầu tư nước ngoài rất thấp do khuôn khổ pháp lý đầu tư còn thiếu
Là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Nga thực hiện cơ chế giải quyết tranh chấp theo WTO Hiện tại, các tranh chấp mà Nga thực hiện chủ yếu liên quan đến các biện pháp bảo vệ thị trường điển hình là một số thông lệ chống bán phá giá của EU chống lại Nga
Nga là một quốc gia rộng lớn với diện tích hơn 17 triệu km phân khúc thị trường đa dạng trải dài trên 11 múi giờ Các thị trường chính của Nga là Moscow và St.Petersburg Tuy nhiên, thị trường ở các thành phố lớn khác như Yekaterinburg, Kazan, Novosibirsk và Vladivostok lại không thể phát triển bằng, nhưng có thể nhanh chóng chuyển sang cung cấp sản phẩm/dịch vụ mới Với thu nhập bình quân đầu người không tăng trong những năm gần đây, người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Nga vẫn nhạy cảm về giá cả, nên việc đàm phán, chọn lựa các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ các quốc gia cung cấp có mức giá và chất lượng phù hợp
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và Nga
2.3.2.1 Chính sách kinh tế và đối ngoại của Nga
Từ năm 2015 trở về trước: Sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới năm 2008, Nga thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững với mục tiêu phát triển nền kinh tế mới ít dựa vào năng lượng, xây dựng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, huy động và sử dụng mọi nguồn lực và dự trữ, tăng năng suất lao động,…Đây được xem là những định hướng trong chính sách kinh tế Nga đến năm 2020 Về mục tiêu cụ thể của chính sách gồm: (1) hoàn thiện kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập hiệu quả với khu vực và thế giới (2) tái cơ cấu thương mại quốc tế và đầu tư theo hướng chuyển từ xuất khẩu nhiên liệu, chú trọng gia tăng liên kết khu vực mậu dịch tự do Á - Âu
Từ năm 2015 đến nay: Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng Ukraine, năm 2016
Nga đưa ra chính sách đối ngoại mới nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia và thực thi các ưu tiên chiến lược quốc gia của Nga, chính sách đối ngoại tập trung vào đảm bảo an ninh quốc gia, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Nga, củng cố nhà nước pháp quyền và các định chế dân chủ Nga chủ trương thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương hoạt động hiệu quả trong khuôn khổ của WTO, cũng như thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực phù hợp với ưu tiên của Nga, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường quan hệ thương mại của Nga trên thị trường thế giới Nga tập trung trong nỗ lực đổi mới công nghệ, đa dạng hóa cơ cấu ngành trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghệ cao và tăng cường hợp tác với các nhà sản xuất nguồn tài nguyên năng lượng hàng đầu, coi trọng tăng cường vị thế của mình ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thúc đẩy quan hệ hợp tác với các quốc gia ở khu vực này Đối với khu vực ASEAN, xuất khẩu chính của Nga gồm tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt, ngoài ra Nga cũng thúc đẩy xuất khẩu sang khu vực này các loại vũ khí, công nghệ hạt nhân, công nghệ năng lượng Nga là đối tác thương mại xếp thứ 8 của ASEAN, mặc dù kim ngạch thương mại còn thấp so với Trung Quốc nhưng hai bên đang tiếp tục thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác quan trọng trong quan hệ đối ngoại trong tương lai, trong đó Việt Nam là đối tác quan trọng của Nga tại ASEAN
2.3.2.2 Quan hệ chính trị và ngoại giao giữa Nga và Việt Nam
Châu Á- Thái Bình Dương được coi là “dòng suối mới” của tăng trưởng kinh tế thế giới Với chiến lược xoay trục, Nga đang có những điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Mục tiêu chiến lược của Nga vẫn sẽ là tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực nhằm củng cố ảnh hưởng và đảm bảo an ninh quốc gia.Việc Nga mở rộng quan hệ với các nước có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, tăng cường ảnh hưởng đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nhất là trong giải quyết các vấn đề an ninh, hợp tác kinh tế khu vực sẽ góp phần tích cực tạo dựng môi trường hóa bình và phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, có thể thấy trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và chính sách tái cân bằng khu vực thì sự trở lại Châu Á của Nga ngày càng rõ ràng Đông Nam Á là một trong những khu vực có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển, nhất là chiến lược hợp tác kinh tế - thương mại của Nga Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược quan trọng là nơi giao nhau giữa các nước Đông Nam Á, kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng từ Á sang Âu và hàng không huyết mạch qua khu vực Biển Đông, có một nền chính trị ổn định và tăng trưởng kinh tế cao.Tăng cường hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong quan hệ chính trị, kinh tế và ngoại giao được coi là một trong những tiền đề quan trọng giúp Nga hiện diện và tạo sự ảnh hưởng của mình tại khu vực ASEAN nói riêng và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Quan hệ Việt Nam và Nga là mối quan hệ hữu nghị, truyền thống và lâu đời, có độ tin cậy cao dựa trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển
2.3.2.3 Chính sách đối ngoại và thương mại của Việt Nam với Nga
Tiếp nối quan hệ Việt - Xô trước những năm 1990, quan hệ Việt Nam và Nga từng bước được khôi phục và phát triển Cụ thể hai nước tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng, hóa chất, điện tử, luyện kim, văn hóa và giáo dục, đặc biệt thúc đẩy thương mại hai bên Đến nay cả Việt Nam và Nga đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào năm 2007 và 2012 Với các điều thuận lợi như ổn định chính trị và an ninh xã hội, một nền kinh tế có độ mở cao và môi trường đầu tư - kinh doanh minh bạch, Việt Nam đang tiếp tục cải cách mạnh mẽ và tạo ra một môi trường kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả các nhà đầu tư từ Nga Nga là đối tác tiềm năng lớn và mạnh trong các lĩnh vực công nghệ hàng không, khai thác mỏ, hệ thống đường sắt, cơ khí chính xác, tự động hóa và công nghệ sinh học
Bên cạnh những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nga và cấu trúc quốc tế, những đặc thù của quan hệ giữa Nga và Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hợp tác giữa EAEU và Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục, Trong số các quốc gia thành viên EAEU, Việt Nam có quan hệ kinh tế và chính trị phát triển mạnh mẽ nhất với Nga Có thể nói rằng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Nga -Việt Nam đã thúc đẩy Nga và các nước EAEU ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam vào năm 2015 Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - EAEU sẽ là một trong những nhân tố thúc đẩy trao đổi thương mại song phương bên cạnh các lĩnh vực hợp tác truyền thống như dầu khí, nguyên nhiên liệu và công nghệ hạt nhân, chủ động phát triển sang phát triển sang các lĩnh vực khác như nông nghiệp, dịch vụ, du lịch và cần có các chính sách thúc đẩy những lĩnh vực mà Nga có lợi thế như đường sắt, năng lượng hạt nhân, công nghệ vũ trụ, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh vùng Siberia và Viễn Đông của Nga trong các lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp nhẹ và du lịch
2.3.2.4 Các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và Nga
Từ khi thực hiện chính sách “đổi mới” cho đến nay, Việt Nam tiếp tục đường lối đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế với chủ trương “Thống nhất theo đuổi trong quan hệ đối ngoại đường lối hợp tác và phát triển độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị; đa dạng hóa, duy trì các mối quan hệ đa dạng; khởi xướng và tăng cường hội nhập” bằng việc đã tham gia ký kết nhiều FTA song phương và đa phương Việt Nam đã tham gia và ký kết
5 hiệp định FTA với tư cách là thành viên ASEAN như FTA ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) năm 2004, FTA ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) năm 2007, hiệp định đối tác kinh tế ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) năm 2008, FTA ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) năm
2009, FTA ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA) năm 2009 Ngoài ra, việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) thay thế AFTA vào năm 2016 được kỳ vọng sẽ mở ra một chương mới của hợp tác trong khu vực cho Việt Nam Đối với Nga, ưu tiên hàng đầu trong chính sách hội nhập kinh tế quốc tế sau cuộc khủng hoảng Ukraine đó là phát triển hợp tác song phương và đa phương với các nước trong khu vực cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và tiếp tục củng cố các cấu trúc hội nhập hiện hành ở khu vực này Sau khi gia nhập WTO, Nga hướng tới việc củng cố cộng đồng này thành một tổ chức khu vực có ảnh hưởng, diễn đàn cho đối thoại chính trị - kinh tế đa phương Nga coi nhiệm vụ then chốt là đẩy mạnh và mở rộng hội nhập trong EAEU EAEU là bước tiến mới về sự hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên, mở ra nhiều triển vọng to lớn cho tăng trưởng kinh tế, tạo nên những ưu việt mang tính cạnh tranh mới và những khả năng mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh giữa các khu vực hiện nay Nó tạo ra tự do luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động được đảm bảo Nga đóng vai trò như là người khởi xướng và động lực hội nhập chính Kinh tế Nga là nền kinh tế lớn nhất trong liên minh, đối với Kazakhstan và Belarus, Nga là thị trường xuất khẩu và nguồn nhập khẩu rất quan trọng Điều này mang lại sức mạnh đàm phán lớn hơn cho Nga trong quá trình đàm phán các vấn đề liên quan đến quy chế kinh tế của liên minh
Như vậy, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và Nga nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo phúc lợi cho người dân đã giúp hai bên tham gia vào khu vực tự do thương mại thông qua FTA Việt Nam - EAEU Bằng việc ký hiệp định thương mại tự do với EAEU, cho thấy Việt Nam tiếp tục theo đuổi chính sách độc lập thực sự trong quan hệ kinh tế - thương mại bên cạnh mối quan hệ chính trị truyền thống Đồng thời, thông qua hiệp định này, Việt Nam mong muốn làm sâu sắc hơn trong quan hệ hợp tác với Nga dựa trên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước trước tình hình quan hệ giữa Nga và phương Tây ngày càng trầm trọng
2.3.3 Thực trạng thương mại giữa Việt Nam và Nga
Năm 2012 đánh dấu mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nga, thương mại giữa hai nước tiếp tục được thúc đẩy và tăng trưởng cao Năm 2019 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 4,502 tỷ USD tăng 84% so với năm 2012 Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Nga đạt 1,617 tỷ USD năm 2012 tăng lên 2,667 tỷ USD năm 2019, với mức tăng tương ứng là 65% và xuất khẩu của Nga sang Việt Nam từ 829 triệu USD năm 2012 tăng lên 1,835 tỷ USD năm 2019, tăng tương ứng 121%
Hình 2.2 Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Nga
Phân tích tác động của FTA Việt Nam - EAEU đến thương mại giữa Việt Nam và
2.4.1 Lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) của Việt Nam và Nga
Có sự khác biệt rõ giữa các nhóm ngành có lợi thế so sánh của Việt Nam dựa vào chỉ số RCA cao Giày dép, mũ (nhóm 12) là nhóm ngành có lợi thế so sánh cao nhất trong cả giai đoạn 2012 – 2019, tiếp đến là nhóm các sản phẩm hàng dệt may (nhóm 11) Lợi thế so sánh của nhóm các sản phẩm giày dép, mũ cao và có xu hướng tăng không ổn định, trong khi lợi thế so sánh của nhóm các sản phẩm thực vật có xu hướng giảm
Hình 2.3 RCA các nhóm ngành của Việt Nam có lợi thế so sánh
Trong khi đó, Nga có lợi thế so sánh trong các nhóm ngành như khoáng sản, dầu mỏ (nhóm 4), sản phẩm gỗ (nhóm 8) với chỉ số RCA cao, ngoài ra Nga cũng có lợi thế so sánh đối với nhóm ngành kim loại cơ bản (nhóm 15) RCA các nhóm ngành có lợi thế của Nga có sự tăng giảm nhẹ trong giai đoạn 2012 - 2019
Hình 2.4 RCA các nhóm ngành của Nga có lợi thế so sánh
So sánh RCA của Việt Nam và Nga trong các ngành có thể nhận thấy rằng Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Nga đối với các ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh cao trong khi Nga không có lợi thế so sánh như giày dép, dệt may, sản phẩm nông sản như chè, cà phê, cacao và hồ tiêu, hàng thiết bị và linh kiện điện tử
2.4.2 Chỉ số định hướng khu vực (RO)
Các ngành có chỉ số RO lớn hơn như: động vật sống và các sản phẩm từ động vật (nhóm 1), các sản phẩm từ thực vật (nhóm 2), giày dép và mũ (nhóm 12), Đây là các nhóm ngành Việt Nam có lợi thế so sánh trong sản xuất và xuất khẩu, các nhóm ngành này chiếm tỷ trọng trung bình là 80,1% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang EAEU, trong đó nhóm 1 chiếm 3,2%, nhóm 2 chiếm 8,4%, nhóm 12 chiếm 8,4% và nhóm 16 chiếm 60,1% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước EAEU Do đó, Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thuộc nhóm ngành có lợi thế cạnh tranh sang thị trường EAEU nói chung và Nga nói riêng trong thời gian tới
Hình 2.5 RO các nhóm ngành của Việt Nam xuất khẩu sang EAEU
2.4.3 Chỉ số cường độ thương mại
Việt Nam và Nga là đối tác thương mại truyền thống và dựa trên hợp tác đối tác chiến lược toàn diện từ năm 2012 Đồng thời, hai nước cũng đã thực hiện gỡ bỏ các rào cản thuế quan theo hiệp định FTA Việt Nam - EAEU mà Nga là thành viên quan trọng Tuy nhiên, giá trị kim ngạch thương mại của Việt Nam và Nga còn rất thấp
Hình 2.6 Chỉ số cường độ xuất khẩu (XII) và cường độ nhập khẩu (MII) của Việt Nam và Nga
Như vậy, trong bối cảnh thực hiện hiệp định FTA Việt Nam - EAEU từ năm 2016 đến nay, mặc dù kim ngạch xuất nhập khẩu của hai bên tăng so với trước khi thực hiện hiệp định nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, kết quả này phù hợp với phân tích thực trạng quan hệ giữa hai nước
XII giữa các nhóm ngành có sự chênh lệch rất lớn Có duy nhất một nhóm ngành lớn hơn 1 trong năm 2019, đó là sản phẩm khoáng sản và dầu mỏ (nhóm 4) nhưng các sản phẩm này chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nga
Trong khi đó tất cả các nhóm hàng khác đều có XII nhỏ hơn 1, thể hiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nga đối với tất cả các sản phẩm của nhóm hàng này đều thấp hơn kỳ vọng so với tiềm năng cũng như mối quan hệ giữa hai quốc gia Sau nhóm
4, các nhóm có XII cao thứ hai gồm các sản phẩm da (nhóm 7), Sản phẩm thực vật như ngũ cốc (nhóm 2), Động vật sống và sản phẩm từ động vật như hàng thủy sản (nhóm 1), Thực phẩm chế biến (nhóm 3), Sản phẩm linh kiện điện tử (nhóm 16) có chỉ số XII từ 0,29 đến 0,99 Đây là những nhóm mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu sang thị trường Nga và EAEU trong thời gian tới, do đó Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm của nhóm ngành này
Hình 2.7 XII của Việt Nam với Nga theo nhóm ngành năm 2019
Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu ITC (2020) Tương tự như XII, MII của Việt Nam với Nga theo nhóm ngành nhìn chung cũng có sự chênh lệch lớn
Hình 2.8 MII của Việt Nam với Nga theo nhóm ngành năm 2019
Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu ITC (2020)
Như vậy, từ chỉ số cường độ thương mại (MII và XII) cho thấy tác động của FTA Việt Nam - EAEU tới thương mại giữa Việt Nam và Nga còn rất nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng quan hệ hợp tác đối tác chiến lược Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh hơn Việt Nam nhập khẩu từ Nga, điều này cho thấy hiệp định tác động đến chuyển hướng thương mại Đối với tác động của hiệp định theo ngành cho thấy một số sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu sang Nga gồm các sản phẩm như điện tử, thực phẩm chế biến và đồng thời Việt Nam cũng nhập khẩu các sản phẩm từ Nga gồm động vật tươi sống, sản phẩm thực vật, …
Đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU đến thương mại Việt Nam và Nga
Từ kết quả phân tích sự thay đổi trong cơ cấu, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga,tiểu luận làm rõ tác động tích cực và một số hạn chế cũng như thách thức khi thực hiện hiệp định trong thời gian tới cụ thể như sau:
2.5.1.1 Hiệp định thương mại giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu và tạo thuận lợi cho thương mại giữa Việt Nam và Nga
FTA Việt Nam - EAEU là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy thương mại giữa hai bên:
- Hiệp định có lộ trình cắt giảm thuế quan trong 10 năm với mức độ cắt giảm thuế quan nhanh và lớn Đến năm 2026, hiệp định sẽ dỡ bỏ lên đến 90% số dòng thuế mà các bên cam kết, các nhóm sản phẩm sẽ được loại bỏ thuế là những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh như thủy sản, một số loại rau quả tươi và chế biến, thịt Điều này làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nga và ngược lại có xu hướng tăng Tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn sau khi hiệp định đi vào hiệu lực cao hơn so với giai đoạn trước khi ký kết, tăng trưởng của nhập khẩu cao hơn xuất khẩu tương ứng là 17,9% so với 14% Cán cân thương mại luôn nghiêng về Việt Nam, cụ thể giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nga cao hơn giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Nga sau khi hiệp định có hiệu lực
- Hiệp định là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục thâm nhập và mở rộng vào thị trường Nga cũng như các nước liên minh kinh tế Á - Âu trong thời gian tới Đây là một thị trường rộng lớn, có sức tiêu thụ cao và tiềm năng cho những mặt hàng xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, Nga là đối tác truyền thống và hợp tác chiến lược toàn diện với Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho tăng cường trao đổi thương mại và đầu tư trong khuôn khổ của hiệp định
2.5.1.2 Thúc đẩy xuất nhập khẩu đối với các hàng hóa có lợi thế cạnh tranh giữa hai quốc gia
Việt Nam và Nga đều có cơ hội mở rộng thị trường đối với những hàng hóa có lợi thế cạnh tranh sang thị trường của nhau Các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam như giày dép, mũ; hàng dệt may, sản phẩm da; sản phẩm nông sản (gồm chè, hạt tiêu, cà phê,…), hàng linh kiện và thiết bị điện tử có lợi thế cạnh tranh Trong khi, các mặt hàng mà Nga có lợi thế như khoáng sản, dầu mỏ; sản phẩm gỗ; kim loại cơ bản,…là đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của Việt Nam Hiệp định Việt Nam - EAEU có hiệu lực và đi vào thực hiện sẽ mang lại những tác động tích cực: giúp hoàn thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng đối với hàng hóa có lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường nhờ vào các cam kết mở cửa thị trường
Cơ cấu trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Nga mang tính bổ sung cao Do đó, khi hiệp định đi vào thực hiện sẽ tác động “tạo lập thương mại” làm gia tăng thương mại giữa hai quốc gia, cụ thể các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có lợi thế so sánh xuất khẩu sang Nga bao gồm các sản phẩm linh kiện điện tử, máy móc và thiết bị cơ khí, hàng giày dép, dệt may và thủy sản, cà phê và chè Trong khi đó, Nga xuất sang Việt Nam các sản phẩm phục vụ cho đầu vào của sản xuất như dầu thô, sắt thép các loại, thiết bị cơ khí và phân bón, đây cũng là mặt hàng mà Nga có lợi thế so sánh Tạo lập thương mại cũng sẽ có tác động tích cực làm tăng phúc lợi xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và Nga trong quá trình thực hiện FTA Việt Nam - EAEU
Ngoài ra, khi có hiệp định này sẽ giúp cho Việt Nam và Nga tăng cường chuyên môn hóa và tính kinh tế nhờ quy mô giúp tăng năng suất và hiệu quả sản xuất đối với các ngành có lợi thế của hai quốc gia
2.5.1.3 Hiệp định thương mại đã thiết lập các quy định rõ ràng về quy tắc xuất xứ, các yêu cầu về rào cản kỹ thuật trong thương mại và biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), kiểm dịch thực vật nhằm kiểm soát chất lượng hàng hóa đối với các nước thành viên trong hiệp định
- Hiệp định thương mại Việt Nam - EAEU tạo cơ sở vững chắc về tiêu chuẩn chất lượng đối với hàng hóa của Việt Nam và Nga khi thực hiện xuất khẩu sang thị trường của nhau Đây là cơ sở pháp lý khi có xảy ra tranh chấp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu giữa doanh nghiệp của các quốc gia thành viên trong hiệp định Các quy định này cũng giúp cho Việt Nam và Nga lựa chọn những hàng hóa ưu tiên, có lợi thế cạnh tranh nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu sang thị trường của nhau với chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp trong quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện
- Để tận dụng được các ưu đãi của hiệp định, Việt Nam cũng đã ban hành các quy định liên quan đến biểu thuế quan ưu đãi Việc thực thi hiệp định cũng được hai bên thúc đẩy thông qua tổ chức các hội thảo, diễn đàn giới thiệu về hiệp định và thị trường của nhau
2.5.1.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EAEU phù hợp với chính sách đối ngoại của Nga và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới
- Hiệp định này thúc đẩy hợp tác với Việt Nam, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các nước của liên minh kinh tế Á - Âu nói chung và Nga nói riêng thâm nhập vào thị trường ASEAN
- Bên cạnh, thúc đẩy thương mại giữa hai bên, hiệp định cũng có hiệu ứng lan tỏa trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài của các thành viên thực hiện hoạt động đầu tư sang nhau nhằm thiết lập cơ sở sản xuất và cung cấp hàng hóa, giảm chi phí giao dịch thương mại tại các thị trường này
- Đồng thời, hiệp định góp phần tạo đồng thuận về chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, đặc biệt với các đối tác lớn và quan trọng như Nga
2.5.2 Một số hạn chế và thách thức khi thực hiện hiệp định
- Cấu trúc kinh tế giữa Việt Nam và Nga không đồng nhất, có sự khác biệt và trình độ phát triển chưa cao Đối với Nga, sau cuộc khủng hoảng Ukraine cũng như mối quan hệ với Mỹ và EU, đồng thời giá nhiên liệu trên thế giới suy giảm đã ảnh hưởng đến kinh tế Nga Ngoài ra, hệ thống thanh toán giữa Việt Nam và Nga thông qua các ngân hàng cho giao dịch thương mại quốc tế còn hạn chế, dẫn đến không đa dạng được các công cụ thanh toán đảm đảm và giảm rủi ro cho doanh nghiệp giữa hai bên
- Thách thức từ rủi ro liên quan đến chuỗi cung ứng toàn cầu trong giai đoạn hậu Covid19 đang hiện hữu và phức tạp hơn trong thời gian tới Sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng có thể dẫn tới việc kết nối với thị trường xuất khẩu không còn ổn định hoặc liền mạch như thời gian trước đây