rong những năm gần đây, mặt hàng điện tử đã đóng góp một phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và xu hướng này có thể được tạo điều kiện thuận lợi nhờ các Hiệp định Thương mại tự do Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xem xét tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam Liên minh Châu Âu (EVFTA) đối với xuất khẩu thiết bị điện tử từ Việt Nam sang EU và đưa ra một số hàm ý chính sách cho cả chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng mô hình SMART để ước lượng sự chuyển biến trong xuất khẩu thiết bị điện tử dưới tác động của EVFTA. Kết quả cho thấy EVFTA tác động tích cực tới xuất khẩu thiết bị điện tử từ Việt Nam sang thị trường EU với hiệu ứng chuyến hướng thương mại lấn át hiệu ứng tạo lập thương mại. Vì vậy, cả chính phủ và doanh nghiệp cần triển khai các biện pháp phù hợp để tận dụng lợi thế từ hiệp định thương mại này. ABSTRACT In recent years, electronics production has contributed to a significant part of Vietnams exports and this trend can be greatly facilitated by the International Free Trade Agreements Vietnam has signed. This study attempts to examine the impact of the European Union Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) on electronic equipment exports from Vietnam to the EU and draw some policy implications for both the Vietnamese government and businesses. The study applied the SMART model to estimate the transformation of electronic equipment products exports under the influence of EVFTA. The results reveal that EVFTA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ TIỂU LUẬN GIỮA KÌ Môn học Chính sách thương mại quốc tế ĐỀ TÀI TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO LIÊN MINH CHÂU ÂU VIỆT NAM (EV.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU
Lớp tín chỉ: TMA301(GD1-HK2-2223).5 Giảng viên hướng dẫn: Ths Vũ Hoàng Việt Nhóm thực hiện: Nhóm 02
Trang 2Nội dung Trang
MỤC LỤC
Mục lục I Danh mục bảng biểu II Tóm tắt III
1 Giới thiệu chung 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1 Các lý thuyết đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại Tự do đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 3
2.1.1 Lý thuyết chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại 3
2.1.2 Mô hình lực hấp dẫn 3
2.1.3 Lý thuyết tác động của thuế đến phúc lợi các nước nhỏ 3
2.1.4 Lý thuyết cân bằng cục bộ 4
2.1.5 Lý thuyết về cân bằng tổng thể 5
2.1.6 Mô hình SMART 5
2.2 Các nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA với hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 6
3 Hiệp định EVFTA và tình hình xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam 8
3.1 Hiệp định EVFTA 8
3.2 Tình hình xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam 9
4 Phương pháp nghiên cứu 12
4.1 Mô hình SMART 12
4.2 Dữ liệu nghiên cứu 13
5 Kết quả 15
5.1 Tác động tạo lập thương mại 16
5.2 Tác động chuyển hướng thương mại 17
6 Kết luận 20
6.1 Kết luận về tác động từ EVFTA 20
6.2 Hàm ý chính sách 21
6.2.1 Hàm ý chính sách đối với chính phủ 21
6.2.2 Hàm ý chính sách đối với doanh nghiệp 22
6.3 Hạn chế của nghiên cứu 23
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình vẽ
Hình 2.1 Lý thuyết cân bằng cục bộ 4
Hình 3.1 Trị giá xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện 10
Bảng Bảng 4.1 Thuế áp dụng cho từng mặt hàng 13
Bảng 4.2 Tên mặt hàng thuộc 5 phân nhóm HS-6 được chọn 14
Bảng 5.1 Tình hình xuất khẩu thiết bị điện tử sau khi EVFTA có hiệu lực 15
Bảng 5.2 Giá trị tạo lập thương mại tính theo từng phân nhóm hàng 16
Bảng 5.3 Giá trị chuyển hướng thương mại tính theo từng phân nhóm hàng 17
Bảng 5.4 Top 10 nước giảm xuất khẩu mặt hàng thuộc phân nhóm 18
Bảng 6.1 Tổng tác động từ EVFTA 20
Trang 4TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, mặt hàng điện tử đã đóng góp một phần đáng
kể vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và xu hướng này có thể được tạo điều kiện thuận lợi nhờ các Hiệp định Thương mại tự do Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xem xét tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) đối với xuất khẩu thiết bị điện tử từ Việt Nam sang EU và đưa ra một số hàm ý chính sách cho cả chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu áp dụng mô hình SMART để ước lượng sự chuyển biến trong xuất khẩu thiết bị điện tử dưới tác động của EVFTA Kết quả cho thấy EVFTA tác động tích cực tới xuất khẩu thiết bị điện tử
từ Việt Nam sang thị trường EU với hiệu ứng chuyến hướng thương mại lấn át hiệu ứng tạo lập thương mại Vì vậy, cả chính phủ và doanh nghiệp cần triển khai các biện pháp phù hợp để tận dụng lợi thế từ hiệp định thương mại này
ABSTRACT
In recent years, electronics production has contributed to a significant part
of Vietnam's exports and this trend can be greatly facilitated by the International Free Trade Agreements Vietnam has signed This study attempts to examine the impact of the European Union - Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) on electronic equipment exports from Vietnam to the EU and draw some policy implications for both the Vietnamese government and businesses The study applied the SMART model to estimate the transformation of electronic equipment products exports under the influence of EVFTA The results reveal that EVFTA positively affects the export of electronic equipment products from Vietnam to the EU market, with trade diversion dominating trade creation effects Therefore, both the government and businesses need to implement appropriate measures to take advantage of this trade agreement
Trang 51 GIỚI THIỆU CHUNG
Thị trường xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Châu Âu là một trong những mối quan hệ kinh tế và thương mại quan trọng nhất của Việt Nam với các nước phát triển trong khu vực Theo Thống kê Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm
2020, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Âu đạt hơn 41 tỷ USD, tăng trưởng 9,5% so với năm trước đó (Linh Sơn, 2021) Theo số liệu thống kê từ Eurostat, năm 2021, giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đến EU đạt 43,2 tỷ Euro, tăng 16,1% so với năm 2020 (Bộ Công thương, 2021) Trong đó, thiết bị điện tử là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đến thị trường Châu Âu
Sự tăng trưởng này là do ảnh hưởng một phần lớn của Hiệp định Thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA), một bước tiến quan trọng trong quan
hệ đối tác kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và EU Hiệp định Thương mại tự
do giữa Liên minh châu u và Việt Nam (EVFTA) được ký kết vào ngày 30 tháng
6 năm 2019 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2020 (Bộ Công Thương, 2020) Việc ký kết EVFTA diễn ra trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức kinh tế, đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và đại dịch COVID-19 Hiệp định này được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên, bao gồm tăng cường quan hệ kinh tế, đầu tư và thương mại giữa EU và Việt Nam, tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, tăng cường bảo vệ môi trường và quyền lao động
Hiện tại, ngành xuất khẩu thiết bị điện tử từ Việt Nam sang Châu Âu đang
có những chuyển biến tích cực và tiềm năng để phát triển trong tương lai Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, năm 2021, kim ngạch xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam đạt 50,82 tỷ USD, tăng 14,03% so với năm 2020 và chiếm trên 15,11% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước (Thủy Trần, 2022) Trong đó, Châu Âu là thị trường tiêu thụ đứng thứ hai với tổng giá trị xuất khẩu đạt 787,45 triệu USD (An Nghiệp, 2022) Các sản phẩm thiết bị điện tử chủ lực
Trang 6được xuất khẩu từ Việt Nam sang Châu Âu bao gồm điện thoại di động, máy tính bảng, máy ảnh, thiết bị viễn thông và các thiết bị điện tử khác
Mục tiêu của nghiên cứu này là chỉ ra tác động mang tính định lượng của EVFTA đối với xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam sang thị trường EU Nội dung nghiên cứu tập trung phân tích về tác động tạo lập thương mại và tác động chuyển hướng thương mại của EVFTA đến xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam sang thị trường EU bằng mô hình SMART
Trong khi có nhiều nghiên cứu thực hiện nhằm chỉ ra tác động của Hiệp định EVFTA đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng,
cụ thể hơn là một số mặt hàng chủ lực trong giao dịch giữa hai bên, các nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định này đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng thiết bị điện tử sang thị trường EU của Việt Nam còn hạn chế Xuất phát từ thực tiễn này, nghiên cứu được thực hiện nhằm đưa ra những phân tích mang tính hệ thống dựa trên cơ sở khoa học, từ đó đánh giá các tác động của Hiệp định EVFTA đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng thiết bị điện tử sang thị trường Châu Âu của Việt Nam Từ đó, nhóm đưa ra những hàm ý và đề xuất cho chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tận dụng tối đa những cơ hội mà Hiệp định mang lại
Trang 7
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các lý thuyết đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại Tự do đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
2.1.1 Lý thuyết chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại
Theo Jacob Viner (1950), tạo lập thương mại được hiểu là khi lượng hàng hóa được sản xuất trong nước giảm xuống và được thay thế bằng hàng hóa nhập khẩu từ các nước trong FTA Tiêu dùng trong nước được đáp ứng bằng hàng hóa nhập khẩu Điều này xảy ra khi hàng hóa được sản xuất trong nước kém hiệu quả trong khi nước đối tác trong FTA có khả năng sản xuất với hiệu quả cao hơn, do
đó việc nhập khẩu làm giảm giá thành sản phẩm Chuyển hướng thương mại diễn
ra việc khối lượng hàng hóa được nhập khẩu từ các quốc gia không thuộc FTA giảm xuống và được thay thế bằng hàng hóa được sản xuất bởi các quốc gia thuộc FTA Tổng chi phí hàng hóa trở nên rẻ tương đối dưới tác động của thuế quan thấp (Jacob Viner, 1950) Có thể thấy, thông qua tác động tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại, chi phí sản xuất hàng hóa trở nên rẻ hơn so với khi các quốc gia không tham gia vào FTA
2.1.2 Mô hình lực hấp dẫn
Tinbergen (1962) xây dựng mô hình đánh giá tác động của Thương mại Tự
do dựa trên quy mô nền kinh tế và khoảng cách giữa hai quốc gia Trong đó mô hình cơ bản giữa hai nền kinh tế i, j được biểu diễn theo công thức:
𝐹𝑖𝑗 = 𝐶𝑌𝑖𝑌𝑗
𝐷𝑖𝑗Trong đó, Fij là trao đổi thương mại giữa quốc gia i và j, Yi và Yj lần lượt
là GDP của quốc gia i và j; Dij là khoảng cách giữa hai quốc gia; C là hằng số
2.1.3 Lý thuyết tác động của thuế đến phúc lợi các nước nhỏ
Phân tích về tác động của thuế quan đến phúc lợi các nền kinh tế trên thế giới, Steve M Suranovic (2010) cho rằng có sự đối lập giữa các quốc gia lớn và quốc gia nhỏ Cụ thể, đối với các quốc gia nhỏ, khi áp dụng thuế nhập khẩu, phúc lợi nền kinh tế giảm, mức thuế càng tăng cao thì phúc lợi giảm càng lớn Ngoài
Trang 8ra, thuế quan góp phần phân phối lại thu nhập giữa người sản xuất, người nhận chi tiêu của chính phủ và người tiêu dùng trong đó thặng dư tiêu dùng ngày càng giảm hoặc gây ra thâm hụt tiêu dùng nếu thuế ngày càng tăng
2.1.4 Lý thuyết cân bằng cục bộ
Trong cuốn “Principles of Economics”, Marshall (1890) phân tích mối quan hệ giữa cung-cầu trong điều kiện các yếu tố khác không đổi từ đó xác định giá cả của một loại hàng hóa Tuy nhiên, việc xác định giá cả thông qua đường cung và đường cầu và bỏ qua tác động của các yếu tố bên ngoài đặc biệt là giá cả các hàng hóa liên quan được coi là một lỗ hổng trong lý thuyết này
Trong đó:
D: đường cầu nước nhập khẩu
S: đường cung nước nhập khẩu
Pa: Giá nhập khẩu của nước được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA
Pb: Giá nhập khẩu của nước nằm ngoài FTA
Pbt: Giá nhập khẩu sau thuế của nước nằm ngoài FTA
Trước khi tham gia FTA, nhu cầu tiêu dùng trong nước là Qd1 và khả năng sản xuất trong nước là Qs1 Như vậy, để đáp ứng nhu cầu trong nước cần phải nhập khẩu (Qd1-Qs1) hàng hóa từ nước ngoài Tuy nhiên, sau khi tham gia FTA và được nhận ưu đãi thuế quan, nhu cầu tiêu dùng trong nước di chuyển tăng
từ Qd1 sang Qd2 do giá cả hàng hóa giảm dưới tác động của việc giảm thuế quan
Hình 2.1 Lý thuyết cân bằng cục bộ
Trang 9Trong khi đó, sản xuất trong nước di chuyển giảm từ Qs1 về Qs2 (Qd2-Qs2) là
số lượng hàng hóa cần phải nhập khẩu để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước
Để thấy rõ hơn tác động của FTA, cần quan tâm đến các vấn đề về thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất, tổn thất xã hội theo lý thuyết của Marshall Hình trên cho thấy khi tham gia vào FTA, thặng dư sản xuất là a, thặng dư tiêu dùng là tổng a+b+c+d Nếu không tham gia FTA tổn thất do thuế gây ra là c+e
2.1.5 Lý thuyết về cân bằng tổng thể
Nếu như Marshall chỉ xem xét ảnh hưởng của giá cả đến cầu của chính hàng hóa đó thì Walras (1874) cân nhắc đến cả giá cả các hàng hóa liên quan khi phân tích cung-cầu hàng hóa Ông cho rằng giá cả một hàng hóa chỉ cân bằng khi giá cả thị trường của tất cả các hàng hóa đạt trạng thái cân bằng Ví dụ, sự thiếu hụt thép không chỉ dẫn đến sự tăng lên trong giá cả của thép mà còn ảnh hưởng đến các ngành sản xuất yêu cầu loại vật liệu này Tuy nhiên, việc phân tích tác động của FTA đối với xuất nhập khẩu dựa trên lý thuyết của Walras tương đối khó khăn do lượng dữ liệu được yêu cầu là tương đối lớn
Trang 102.2 Các nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA với hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Nguyễn Bình Dương (2016) đã phân tích tác động của EVFTA đối với thương mại song phương của Việt Nam Bằng cách sử dụng mô hình Lực hấp dẫn
và phân tích dữ liệu bảng, nghiên cứu chỉ ra rằng việc cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ FTA sẽ có tác động tích cực đến thương mại song phương giữa Việt Nam và EU
Võ Thanh Thu và cộng sự (2018) đã thực hiện phân tích với mô hình WITS-SMART và dự đoán một số sản phẩm may mặc có thể ảnh hưởng nhiều khi EVFTA hoàn toàn có hiệu lực, đồng thời chỉ ra xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU sẽ tăng khoảng 42% so với năm gốc (2016) Các nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hoàng (2020 & 2021) cũng áp dụng mô hình SMART để ước lượng tác động của EVFTA đến xuất khẩu mặt hàng nông sản và thủy sản Việt Nam Kết quả cho thấy EVFTA có tác động tích cực đến xuất khẩu cả hai mặt hàng trên Trong đó, đối với sản phẩm nông sản, tổng giá trị xuất khẩu tăng hơn 37.532 triệu USD cùng hiệu ứng chuyển hướng thương mại lấn át, gấp 1,5 lần hiệu ứng tạo lập thương mại
Nghiên cứu về tác động của Hiệp định EVFTA với xuất khẩu hàng dệt may từ Việt Nam đến Vương quốc Anh với dữ liệu trong giai đoạn 2010 - 2019,
Hà Văn Hội và Nguyễn Tiến Minh (2022) đã sử dụng mô hình SMART kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính Kết quả nghiên cứu chỉ ra hiệp định này có tác động tích cực, góp phần tăng sản lượng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đến Anh Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam có thể chỉ kéo dài ngắn hạn, khi Anh kí kết hiệp định thương mại với các quốc gia khác trong tương lai Hà Công Anh Bảo (2016) sử dụng mô hình SMART để đánh giá các tác động thương mại từ thuế ưu đãi kết hợp phân tích mô hình hồi quy với dữ liệu thu thập từ phỏng vấn các doanh nghiệp để kiểm định tác động xuất phát từ những yêu cầu của thị trường EU đối với sản phầm gỗ của Việt Nam sau khi EVFTA được kí kết
Trang 11Nhóm nghiên cứu của Phan Thu Trang (2023) đánh giá tác động của EVFTA đến các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm nông sản thông qua phân tích
số liệu thống kê thứ cấp về chính sách cắt giảm thuế với từng mặt hàng nông sản
và sự thay đổi sản lượng xuất khẩu được ghi nhận trong năm 2021 so với 2020 Nghiên cứu đưa ra kết luận hiệp định FTA thế hệ mới này đã giúp tăng kim ngạch xuất nhập khẩu sản phẩm nông sản
Paul Baker (2014) thông qua việc sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) kết hợp mô hình cân bằng cục bộ đã ước tính một số tác động có thể phát sinh và dự báo tốc độ tăng trưởng GDP có thể tăng 7-8% đến năm 2025 Xuất khẩu của Việt Nam đến thị trường EU có thể tăng khoảng 50% đến năm 2020 và còn tăng hơn nữa đến năm 2025
Sau thời điểm Hiệp định EVFTA có hiệu lực vào năm 2020, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của hiệp định này đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đến thị trường EU Tuy nhiên, mô hình được đa phần các nghiên cứu sử dụng là mô hình SMART và không có nhiều nghiên cứu xem xét tác động của EVFTA đến xuất khẩu mặt hàng thiết bị điện tử, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam từ năm 2019 đến nay
Trang 123 HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM
3.1 Hiệp định EVFTA
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một Free Trade Agreement thế hệ mới giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU EVFTA được coi là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Một là, Hiệp định cho phép các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU được giảm hoặc miễn thuế quan Theo đó, EU cam kết xóa bỏ tới 85,6% dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực (Bộ Công Thương, 2022) Đối với khoảng 0,8% số dòng thuế còn lại sẽ được áp dụng hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%
Hai là, Hiệp định EVFTA bảo vệ các nhãn hiệu và tên gọi xuất xứ của các sản phẩm của EU và Việt Nam Điều này giúp các doanh nghiệp đảm bảo quyền
sở hữu trí tuệ và ngăn chặn việc sao chép sản phẩm giả mạo
Ba là, EVFTA tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp EU và Việt Nam trong việc đầu tư, bao gồm quy định về đầu tư, bảo vệ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư Tính đến tháng 20/7/2021, có 25 nước EU đầu tư vào Việt Nam với 2.229 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 22,2 tỷ USD, chiếm 5,6% tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam Đầu tư của EU đã có mặt tại 55 tỉnh, thành phố của Việt Nam (Đặng Linh, 2021)
Bốn là, Hiệp định thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu và các cơ quan chức năng của hai bên trong các lĩnh vực kỹ thuật và khoa học The EU – Viet Nam Energy Facility do Liên minh Châu u và Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) đồng tài trợ trong khuôn khổ Giai đoạn II của Dự án Năng lượng Tái tạo và Hiệu quả Năng lượng do Deutsche Gesellschaft für Internationale thực hiện hợp tác chặt chẽ với Bộ Công Thương Việt Nam (Delegation of the European Union to Vietnam,2020) Một phần trong
Trang 13khoản phân bổ tài trợ dự kiến trị giá 346 triệu euro của EU hỗ trợ ngành năng lượng tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2020, đây là khoản đóng góp tài trợ lớn nhất do EU cung cấp cho đến nay để hỗ trợ năng lượng bền vững trên thế giới (GIZ, 2021)
Năm là, Hiệp định EVFTA có quy định rất nghiêm ngặt về các chuẩn mực lao động và môi trường, giúp đảm bảo rằng các doanh nghiệp của cả hai bên đều tuân thủ các quy định này Theo Hiệp định, Việt Nam phải cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo quyền lợi của người lao động, trong khi EU cam kết giúp Việt Nam nâng cao chuẩn mực môi trường
Sáu là, Hiệp định EVFTA cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong trường hợp các vấn đề phát sinh, giúp các doanh nghiệp của cả hai bên giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả Nghị viện Châu Âu đã phê chuẩn hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam EVIPA xây dựng cơ quan giải quyết tranh chấp thường trực thay thế cho cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo vụ việc trong hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã kí với các nước thành viên EU (Trần Thị Hải An, 2020)
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh châu Âu (EVFTA) chính là kết quả của chặng đường dài nỗ lực, cố gắng và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và chính phủ với mục tiêu nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Châu Âu lên một tầm cao mới nói riêng và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, góp phần vào công cuộc đổi mới và hiện đại hoá đất nước
3.2 Tình hình xuất khẩu thiết bị điện tử của Việt Nam
Theo Công văn 3699/TCHQ-TXNK năm 2022 (Tổng cục Hải Quan, 2022), thiết bị điện tử là những thiết bị có cấu tạo cơ bản bao gồm các linh kiện bán dẫn và các mạch điện tử tích hợp, hoạt động theo các nguyên lý điều khiển của mạch điện tử Trong hệ thống mã HS, mặt hàng thiết bị điện tử thuộc chương 85: Máy điện và thiết bị điện và các bộ phận của chúng; máy ghi và tái tạo âm
Trang 14thanh, máy ghi và tái tạo hình ảnh và âm thanh truyền hình, bộ phận và phụ kiện của các loại máy trên Chi tiết các mặt hàng thuộc chương HS 85 được liệt kê trong phần Phụ lục
Những năm gần đây, ngành công nghiệp điện tử luôn nằm trong nhóm những ngành chủ lực, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và là thước đo
sự phát triển công nghệ - kỹ thuật của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, nhóm hàng điện thoại và linh kiện đã trở thành nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất kể từ năm 2013 (Tổng cục thống kê, 2022a) Ngoài ra, mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện cũng ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và có ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ đến tăng trưởng chung của xuất khẩu cả nước (Tổng cục thống kê, 2022b)
Hình 3.1 Trị giá xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện
2011-2022
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong giai đoạn 2011 - 2020, trị giá xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy tính
và linh kiện tăng liên tục, từ 4,7 tỷ USD lên 51,0 tỷ USD Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện đạt 36,3 tỷ USD, chính thức vượt mặt hàng dệt may (đạt kim ngạch 32,8 tỷ USD) trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2021) Đến năm 2020, mặc
dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh của dịch Covid-19 nhưng nhóm hàng này vẫn có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, ước tính trị giá xuất đạt 44,6 tỷ USD,
Trang 15chiếm tỷ trọng 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, vượt xa hàng dệt may cả về giá trị, tốc độ tăng và tỷ trọng (Tổng cục thống kê, 2021) Đến Quý I năm 2022, trị giá xuất khẩu của nhóm hàng này ước tính đạt 13,2 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ 2021, xuất khẩu chủ yếu tới các thị trường EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc (Tổng cục thống kê, 2022b)
EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam và là điểm đến đầu tiên của nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực Năm 2018, EU nhập khẩu 13,12 tỷ USD điện thoại từ Việt Nam, chiếm một phần ba giá trị xuất khẩu điện thoại toàn cầu của Việt Nam (Delegation of the European Union to Viet Nam, 2018)
Trong năm 2022, điện thoại các loại và linh kiện xếp vị trí đầu tiên trong các mặt hàng xuất khẩu sang EU với tổng trị giá 6,5 tỉ USD, chiếm 13,87% trong tổng giá trị Giá trị xuất khẩu mặt hàng này tới thị trường EU chỉ thấp hơn tới thị trường Trung Quốc (16,26 tỉ USD) và thị trường Hoa Kì (11,88 tỉ USD) Ngoài
ra, mặt hàng máy tính và linh kiện trở thành mặt hàng có trị giá xuất khẩu sang
EU lớn thứ hai với 6,35 tỷ USD, chiếm 13,56% tổng giá trị (Tổng cục thống kê, 2023) Có thể thấy trong thời gian gần đây, thị trường EU đang dần trở thành thị trường xuất khẩu chủ yếu cho mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện của Việt Nam
Trang 164
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4.1 Mô hình SMART
Ba mô hình được sử dụng rộng rãi trong đánh giá tác động của FTA đến tình hình xuất nhập khẩu các quốc gia được cho là mô hình lực hấp dẫn, mô hình cân bằng tổng thể và mô hình SMART Mô hình lực hấp dẫn của Tinbergen (1962) xác định giá trị xuất khẩu thông qua các yếu tố quyết định tổng cung, tổng cầu và khả năng tiếp cận thị trường của từng quốc gia được đặc trưng bởi GDP, khoảng cách giữa hai quốc gia, thuế Tuy nhiên, mô hình không xét đến tác động của các hàng rào cũng như hỗ trợ do FTA trực tiếp mang lại như các hàng rào kỹ thuật, thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại Vì vậy việc sử dụng mô hình SMART chỉ có ý nghĩa phân tích tác động thuế trong khi với mặt hàng thiết bị điện tử, tác động về thuế của EVFTA là không nhiều khi
mà trước đó đa phần các mặt hàng thuộc nhóm này đều được hưởng khoản thuế 0% do MFN và SPS mang lại Trong khi đó mô hình cân bằng tổng thể CGE được coi là mô hình hoàn hảo để đánh giá tác động của FTA tuy nhiên việc sử dụng mô hình này đòi hỏi nguồn dữ liệu tương đối lớn về tất cả các nước liên quan ở cấp độ vĩ mô và ngành
Mô hình SMART dựa trên giả thiết hàng hóa của quốc gia này không thể được thay thế hoàn hảo bằng hàng hóa của quốc gia khác giúp đánh giá sự khác biệt của hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước Châu Âu 27 Ngoài ra, việc sử dụng mô hình SMART cho phép đánh giá hiệu ứng tạo lập thương mại, chuyển dịch thương mại và sự thay đổi doanh thu thuế quan trước và sau khi EVFTA có hiệu lực Tuy nhiên, những sự thay đổi được chỉ ra do sự thay đổi trực tiếp từ thuế trong khi như đã phân tích mặt hàng thiết bị điện tử không có sự thay đổi nhiều về thuế trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực Do đó, mô hình SMART chỉ có ý nghĩa phân tích tác động trực tiếp và gián tiếp do thuế tạo ra Dựa trên mô hình nghiên cứu SMART, nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết như sau:
H1: Thuế tác động mạnh đến hiệu ứng tạo lập thương mại
Trang 17H2: Thuế tác động nhẹ đến hiệu ứng chuyển dịch thương mại
4.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu đầu vào được sử dụng để chạy mô hình SMART liên quan đến trị giá giao dịch thương mại của một số mặt hàng thiết bị điện tử xuất khẩu từ Việt Nam sang EU, mức thuế quan đang được áp dụng cùng với kịch bản cắt giảm thuế quan về 0% Dữ liệu đã nếu trên được SMART hỗ trợ trích xuất tự động từ các nguồn liên kết: Cơ sở thống kê dữ liệu thương mại tiêu dùng của Liên Hợp Quốc (UN’s COMTRADE), Trade Map, thuế MFN được thu thập từ UNCTAD, cơ sở dữ liệu về hội nhập của WTO (WTO’s IDB) Đồng thời nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại HS của Tổ chức Hải quan thế giới để lựa chọn ngẫu nhiên 5 mã hàng thuộc nhóm thiết bị điện tử Trong đó, 2 phân nhóm HS-6 không có sự thay đổi về thuế bao gồm HS 851712,
851762 và 3 phân nhóm HS-6 có sự thay đổi về thuế bao gồm HS 852859,
Trang 18Bảng 4.2 Tên mặt hàng thuộc 5 phân nhóm HS-6 được chọn
851712 Điện thoại cho mạng di động tế bào hoặc mạng không dây khác
851762 Máy tiếp nhận, chuyển đổi và truyền hoặc tái tạo giọng nói, hình ảnh
hoặc dữ liệu khác, bao gồm cả thiết bị chuyển mạch và định tuyến (không bao gồm bộ điện thoại, điện thoại dùng cho mạng di động hoặc mạng không dây khác)
852859 Màn hình, không gắn với thiết bị thu truyền hình (không bao gồm ống
tia âm cực và loại chỉ sử dụng hoặc chủ yếu dùng trong máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 8471)
852871 Thiết bị thu dùng cho truyền hình, có hoặc không gắn với máy thu
sóng vô tuyến hoặc thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh, không được thiết kế để gắn với màn hình hoặc màn hình video
852872 Thiết bị thu dùng cho ti vi, màu, có hoặc không gắn với máy thu sóng
vô tuyến hoặc thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh, được thiết kế để tích hợp với màn hình hoặc màn hình video