TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ O0O TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TÊN ĐỀ TÀI TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO LIÊN MINH CHÂU ÂU VIỆT NAM (EVFTA) ĐẾN XUẤT KHẨU THU.
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết về lợi thế so sánh
Tiếp cận theo phương pháp kết quả xuất khẩu ( Isla Balassa)
Chỉ số lợi thế so sánh RCA( Revealed Comparative Advantage) tính toán lợi thế so sánh bộc lộ Hệ số này do nhà kinh tế học Balassa đề xuất vào năm 1965 để đo lường lợi thế so sánh theo số liệu xuất khẩu như sau:
EXA: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của nước X
EX : Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước X
EWA : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A toàn cầu
EW : Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu
Mức độ lợi thế so sánh thông qua hệ số RCA được thể hiện ở Bảng 1
Bảng 1: Mức độ lợi thế so sánh thông qua hệ số RCA
STT Nhóm Mức độ lợi thế so sánh
1 0 < 𝑅𝐶𝐴 ≤ 1 Không có lợi thế so sánh
2 1 < 𝑅𝐶𝐴 ≤ 2 Lợi thế so sánh thấp
3 2 < 𝑅𝐶𝐴 ≤ 4 Lợi thế so sánh trung bình
4 𝑅𝐶𝐴 ≥ 4 Lợi thế so sánh cao
Rào cản kỹ thuật
Hàng rào kỹ thuật có thể hiểu là các quy định của Nhà nước đối với những nhóm hàng, mặt hàng nhất định muốn nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu hoặc điều kiện có liên quan được đưa ra trong các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ tục đánh giá sự phù hợp, kiểm dịch động thực vật, bảo vệ môi trường, và các quy định về nhãn mác hàng hóa,…
Tiêu chuẩn kỹ thuật: là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của các đối tượng này
Quy chuẩn kỹ thuật: là quy định về mức giới hạn của các đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu cần thiết khác
Thủ tục đánh giá sự phù hợp: là bất kỳ một thủ tục nào được áp dụng, trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định rằng các yêu cầu liên quan trong các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật có được thực hiện hay không
Các hình thức thủ tục đánh giá sự phù hợp:
• Chứng nhận sản phẩm sau khi giám định
• Hệ thống quản lý chất lượng
• Các thủ tục chứng nhận năng lực
Biện pháp kiểm dịch động thực vật: Là các biện pháp các nước áp dụng để bảo vệ:
• Cuộc sống của con người hoặc vật nuôi khỏi các rủi ro do lương thực gây ra do sử dụng chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, độc tố hoặc các tổ chức gây bệnh
• Sức khoẻ con người khỏi các bệnh lây nhiễm từ vật nuôi hoặc cây trồng
• Vật nuôi và cây trồng khỏi các loại sâu dịch bệnh
Quy định kiểm dịch động thực vật: là các quy định mà việc đặt ra và áp dụng chúng nhằm mục đích cơ bản là đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm ngăn chặn các bệnh tật lâylan qua động vật và thực vật không cho nhập và một quốc gia.
Lý thuyết về hiệp định thương mại tự do ( FTA)
Mặc dù không có một định nghĩa về FTA nhưng GATT có giải thích về khái niệm khu vực mậu dịch tự do như sau: “A free trade area shall be understood tomean a group of two or more customs territories in which the duties and otherrestrictive regulations of commerce (except, where necessary, those permitted under Articles XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) are eleminated on substantially all thetrade between the constituent territories in products originating in such territories”(GATT, 1947) Theo đó, một khu vực mậu dịch tự do là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó(ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) Việc ký kết các FTA là cơ sở để hình thành nên các khu vực mậu dịch tự do như vậy, do đó mặc dù GATT không có một định nghĩa trực tiếp nhưng ta có thể gián tiếp hiểu rằng các khu vực mậu dịch tự do được thành lập khi hai hoặc nhiều lãnh thổ hải quan ký kết các FTA với nhau và trong đócó các quy định về cắt giảm thuế và dỡ bỏ các hàng rào thương mại khác
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một thỏa thuận thương mại được ký kết giữa hai hoặc nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ nhằm xóa bỏ các rào cản thương mại thuế quan hoặc phi thuế quan giữa các bên tham gia ký kết
- Chủ thể tham gia ký kết:
Không chỉ giới hạn trong phạm vi giữa các nước với nhau mà các vùng lãnh thổ cũng là chủ thể tham gia ký kết, ta có thể dùng một khái niệm tổng quát hơn làcác nền kinh tế Một ví dụ là Đài Loan đã ký kết ECFTA với Trung Quốc đại lụcmặc dù Đài Loan chỉ được xem là một vùng lãnh thổ nhưng có sự độc lập về kinh tế và chính trị
- Mục tiêu ký kết FTA: Để xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm cả các hàng rào thuế quan (giảm thuế nhập khẩu) và phi thuế quan (hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật…), thương mại được hiểu ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi quan hệ trong thương mại hàng hóa mà còn cả các hoạt động thương mại liên quan đến dịch vụ
- Các mục đích ngoài thương mại:
Mặc dù mục đích chính là để tạo thuận lợi thương mại nhưng việc ký kết FTA đối với một số nước còn mang ý nghĩa chiến lược khác như: các động cơ chính trị, nâng cao vị thế, kiểm soát nước khác, tiếp cận thị trường khu vực… điều này thường thấy trong chiến lược hội nhập của các nước lớn như: Hoa Kỳ, Trung Quốc…
- Tiến trình hình thành một FTA:
Tiến trình đàm phán FTA thường đi qua 5 bước: nghiên cứu khả thi, đàm phán, ký kết, phê chuẩn, có hiệu lực (WTO center- VCCI) Tuy nhiên tiến trình này do các bên tự thỏa thuận với nhau và không có một quy tắc cụ thể chung nào cho việc này Thời gian các bên thỏa thuận cũng khác nhau tùy từng FTA cụ thể
Mặt hàng thủy sản tại Việt Nam
Lợi thế so sánh các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU Các mã và mô tả hàng hóa có liên quan được đưa vào phân tích trong Bảng 2 Các mã này là một phần của Hệ thông mã hóa và mô tả hàng hóa hài hòa của Tổ chức Hải quan Thế giới (HS), sử dụng cả mã bốn chữ số (HS4).Với các biến động trong dòng thương mại thủy sản ở Việt Nam có thể được quan sát ở cấp độ HS4
Bảng 2: Mô tả sản phẩm mã HS
Mã HS Mô tả sản phẩm
0302 Cá tươi hoặc ướp lạnh, trừ phi- lê cá (fillets) và các loại thịt cá khác thuộc nhóm 03-04
0303 Phi-lê cá và các loại thịt cá khác (đả hoặc chưa xay nghiên băm), tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh
0304 Phi-lê cá và các loại thịt cá khác (đả hoặc chưa xay nghiên băm), tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh
Cá làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đả hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khôi; bột mịn bột thô và bột viên làm tứ cá, thích hợp dùng lảm thức ăn cho người
0306 Động vật giáp xác, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật giáp xác hun khói, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; động vật giáp xác chưa bóc mai, vỏ, đã hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đã hoặc chưa ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối, hoặc ngâm nước muối; bột thô, bột mịn và viên của động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho người
0307 Động vật thân mềm, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật thân mềm hun khói, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và viên của động vật thân mềm, thích hợp dùng làm thức ăn cho người
0308 Động vật thủy sinh không xương sống trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, làm khô, muối hoặc ngâm
12 nước muối; động vật thủy sinh không xương sống hun khói trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và viên của động vật thủy sinh không xương sống trừ động vật giáp xác và động vật thân mềm, thích hợp dùng làm thức ăn cho người
Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ cá hoặc các loài động vật có vú sống ở biển, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt hóa học
1604 Cá đã được chế biến hay bảo quản; trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối chế biến từ trứng cá
1605 Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản
Bảng 3: Kết quả tính toán RCA của các mặt hàng thủy ( Mã HS4)
Số liệu ở Bảng 3 cho thấy, các sản phẩm của nhóm hàng 0301, 0302, 0308 là những nhóm hàng không có lợi thế so sánh của Việt Nam
Nhóm hàng 0303, 0305, 1504, 1604, là những nhóm hàng chỉ có lợi thế so sánh thấp hoặc trung bình và đang bị mất dần lợi thế so sánh.Vào năm 2020, nhóm hàng HS 0303 chỉ có chỉ số RCA = 0.88, nhóm hàng HS 1504 từ có lợi thế so sánh trung bình (RCA =2.63) xuống tới không có lợi thế so sánh (RCA - 0.69), hay như nhóm hàng HS 1604 chỉ số RCA
14 của nhóm giảm dần từ 2011-2020, khi năm 2011, chỉ số RCA=3.74 (nằm trong nhóm hàng có lợi thế so sánh trung bình), tuy nhiên, đến năm 2020, thì RCA chỉ đạt 2.49 (nằm trong nhóm lợi thế so sánh thấp)
Các nhóm hàng còn lại bao gồm: 0304, 0306, 0307,1605 là những nhóm hàng có lợi thế so sánh cao của Việt Nam
Nhóm sản phẩm mã HS 0304 bao gồm chủ yếu là cá phi lê, trong đó cá tra là mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam.Trong giai đoạn 2011-2020, các sản phẩm trong nhóm này vẫn chiếm lợi thế cao trên thế giới, hay nói cách khác là nhóm hàng mang mã HS 0304 là nhóm hàng có lợi thế so sánh trên thế giới Năm 2011 chính là giai đoạn đỉnh của nhóm hàng này, khi mã HS này có chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu RCA đạt 20.57 cao nhất trong
10 năm trở lại đây, đến năm 2016-2017, các chỉ số nhóm tuy giảm nhưng vẫn là 1 con số khá cao trên thế giới Tiếp đến năm 2018, RCA đang tăng nhẹ 0.94 so với năm 2017, thì sang đến năm đại dịch 2019 và 2020 lại tiếp tục có xu hướng giảm
Nhóm hàng HS 0306 bao gồm những sản phẩm chính, như: cua, tôm Trong tổng nhập khẩu giáp xác của châu Âu năm 2019, khoảng 87% có nguồn gốc từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Nhìn chung, nhóm này cũng có xu hướng giảm về chỉ số RCA và đang dường như mât dần lợi thế so sánh ở nhóm hàng này Năm 2011 vẫn là năm có chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu hữu cao nhất Hết giai đoạn 2011-2016, chỉ số này đang có dấu hiệu “lao dốc” Đến năm 2020, RCA của mã này lại có xu hướng tăng nhẹ sau sự sụt giảm sau nhiều năm Năm 2015, Việt Nam đứng thứ 5 trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu thuỷ sản HS 0306 nhiều nhất vào EU Bốn quốc gia đứng trước Việt Nam bao gồm: Ecuador, Ân Độ, Achentina và Bangladesh, điều này cho thấy Việt Nam đang có dấu hiệu mất dần lợi thế trên thị rường EU do bị cạnh tranh lớn về mặt hàng thuỷ sản mã HS 0306
Nhóm mã HS 0307 bao gồm chủ yếu các loài nhuyễn thể, như: mực ống, bạch tuộc, mực nang còn vỏ hoặc lột vỏ, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối
Số liệu trong bảng 3 cho thấy sự xuống dốc các sản phẩm trong mã HS 0307, các sản phấm này đang mất dần lợi thế so sánh qua các năm đến năm 2020 chỉ số RCA giảm xuống 3.02 Giảm sâu nhất trong giai đoạn 2011-2020 là năm 2019 với chỉ số RCA bằng 2.91 Các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam đang ở nhóm hàng có lợi thế so sánh cao (chỉ số RCA năm
2011 đạt 8.81) xuống nhóm hàng có lợi thế so sánh trung bình (đến năm 2019 với chỉ số RCA đạt 2.91) Đổi với bạch tuộc đông lạnh, châu Âu chu yếu nhập khẩu từ Maroc (381 triệu Mauritania (203 triệu USD), một số giá trị nhỏ hơn nhập khẩu từ Senegal, Indonesia và Mexico Trong khi mực nang và bạch tuộc chiếm 50% tổng kim ngạch nhập khẩu nhuyễn thể của châu Âu (năm 2019), thì Việt Nam đang bị cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng này và lợi thế của nước ta về nhóm hàng này đang mất dần và có xu hướng giảm về lợi thế so sánh Lý giải cho sự giảm này là do ảnh hưởng từ thẻ vàng của EU cảnh cáo đối với Việt Nam, điều này đã khiến cho 100% các lô hàng mực, bạch tuộc xuất khẩu sang EU sẽ bị giữ lại để kiểm tra nguồn gôc khai thác Việc giữ lại sẽ tốn nhiều chi phí cho doanh nghiệp, lại mất nhiều thời gian khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng mã HS 0307 gặp khó khăn trong sản xuất, xuất khẩu sang thị trường EU
Nhóm mã HS 1605: nhóm hàng 1605 chủ yếu bao gồm mặt hàng tôm chế biến và bảo quản cũng là một trong những nhóm hàng thuỷ sản có lợi thế so sánh cao của Việt Nam Trong đó, tôm chế biến và bảo quản chiếm khoảng 23% tổng nhập khẩu tôm nước ấm của châu Âu Giai đoạn 2011-2020, nhóm hàng này luôn có chỉ số RCA > 4, thể hiện lợi thế so sánh cao Nếu so với các nhóm hàng mang mã HS 0304, 0306, 0307 đều đạt đỉnh vào năm 2011, thì nhóm hàng 1605 lại đạt đỉnh vào năm 2014 với chỉ sô' RCA = 21.33 Đặc biệt, các năm 2011-2012, chỉ số này có xu hướng giảm, nhưng đến năm 2013, RCA quay lại khá cao với RCA = 20.16 và tới năm 2014 thì xuất khẩu nhóm hàng 1605 đạt đỉnh.
Những yêu cầu ( hàng rào kỹ thuật) khi xuất khẩu thủy sản sang EU
2.2.1 Quy định đối với sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm
2.2.1.1 Quy định về dư lượng
EU quy định các biện pháp giám sát một số hoá chất và dư lượng của chúng trong động vật sống và các sản phẩm của động vật Hiện EU đang thực hiện chính sách “dư lượng = 0” đối với các chất kháng sinh bị cấm hoàn toàn EU ngày càng hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng chất kháng sinh dựa trên cơ sở hiện đại hoá các thiết bị kiểm tra Hàng thuỷ sản xuất khẩu vào EU sẽ chịu sự kiểm tra cả về vấn đề vi sinh và hoá học Ngoài các danh mục các chất kháng sinh bị cấm hoàn toàn, EU cũng quy định các hoá chất, kháng sinh bị hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản
2.2.1.2 Quy định về đóng gói, ghi nhãn sản phẩm
Yêu cầu về bao bì: Bao bì phải được sản xuất sao cho thể tích và khối lượng được giới hạn đến mức tối thiểu và phải được thiết kế, sản xuất, buôn bán theo cách thức cho phép tái sử dụng hay thu hồi nhằm duy trì mức an toàn và hạn chế mức tối thiểu tác động tới môi trường Bao bì phải được sản xuất theo cách có thể hạn chế đối đa sự có mặt của nguyên liệu và chất độc hại do sự phát xạ, tàn tro khi đốt cháy hay chông bao bì, chất cặn bã
Yêu cầu về đóng gói: Đóng gói phải phù hợp với việc chuyên chở và môi trường Luật bảo vệ môi trường hay quy định về độ độc hại có đưa ra một số yêu cầu liên quan đến vật liệu đóng gói Uỷ ban châu Âu có ban hành một danh sách các loại nhựa “chấp nhận được” Người xuất khẩu phải luôn tìm hiểu về những yêu cầu mới nhất có liên quan đến rác thải và việc sử dụng thùng carton có bọc sáp hay nhựa, loại không thể tái chế được
Yêu cầu về ký mã hiệu và dán nhãn sản phẩm: Nhãn mác trên bao bì phải có đầy đủ thông tin: Tên thương mại; Xuất xứ; Cách chế biến; Cách bảo quản; Kích cỡ; Thành phần; Khối lượng; Hạn sử dụng; Khuyến cáo khi sử dụng sản phẩm; Nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu Trên cơ sở các quy định về hài hoà hoá, mã số của công ty xuất khẩu cũng phải ghi rõ Nhãn mác trên các hộp phải ghi bằng ngôn ngữ tại thị trường tiêu thụ và phải cho người đọc hiểu các thông tin trên Với ý thức về môi trường ngày càng tăng nên việc sử dụng các nhãn hiệu “bảo vệ môi trường” cũng được khuyến khích
2.2.1.3 Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và điểm kiểm soát tới hạn ( HACCP) Đối với các tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ bằng việc áp dụng HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point)
Tất cả các nhà sản xuất, chế biến thực phẩm muốn xuất khẩu hàng hoá sang EU đều chịu sự bắt buộc, mang tính pháp lý, phải áp dụng quy trình sản xuất theo hệ thống HACCP ngay từ đầu hoặc phải triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn này Hệ thống HACCP được áp dụng đối với các công ty tham gia chế biến, xử lý, đóng gói, vận chuyển, phân phối hoặc kinh doanh thực phẩm Hệ thống này được hoạt động trên các nguyên tắc:
- Phân tích các nguy cơ độc hại
- Xác định các điểm kiểm soát quan trọng trong quá trình sản xuất
- Thiết lập các biện pháp phòng ngừa với các giới hạn quan trọng cho mỗi điểm kiểm soát
- Xây dựng trình tự theo dõi các điểm kiểm soát quan trọng
- Ban hành thủ tục thẩm định
- Văn bản hoá các trình tự, thủ tục và kết quả kiểm nghiệm
Công việc này phải được tính đến các vấn đề như côn trùng, vi sinh, chất độc hoặc rủi ro có thể nhìn thấy bằng mắt thường
2.2.2 Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng Để đảm bào lợi ích của người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra biên giới Các tôt chức nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế về định chuẩn quốc gia hoặc châu Âu Hiện nay EU có 3 tổ chức định chuẩn: CEN - Uỷ ban châu Âu về tiêu chuẩn hoá, CENELEC - Uỷ ban châu Âu về kỹ thuật điện, ETSI- Viện tiêu chuẩn viễn thông châu Âu Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với điều kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn chung của EU, các luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất ra từ các nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt được mức an toàn ngang với tiêu chuẩn của EU
2.2.3 Tiêu chuẩn của EU về quản lý chất lượng
2.2.3.1 Tiêu chuẩn của EU về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm ISO 9000
Hệ thống quản lý chất lượng của Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá (International Standardisation Organization – ISO) thành lập năm 1964 Hệ thống quản lý chất lượng ISO
9000 gần như là yêu cầu bắt buộc với các doanh nghiệp sản xuất muốn xuất khẩu hàng của mình sang thị trường EU, trong đó có doanh nghiệp của Việt Nam
2.2.4 Quy định của EU về kiểm tra chứng nhận
Quyết định 95/328/EC quy định việc cấp giấy chứng nhận vệ sinh cho sản phẩm thuỷ sản nói chung và tôm, cá da trơn nói riêng từ các nước thứ ba mà chịu bởi một quyết định riêng biệt nào khi ký gửi đưa vào các nước EU phải được chứng minh, kiểm tra bởi cơ quan kiểm
18 tra của nước thứ ba và phải được chứng thực rằng điều kiện vệ sinh khi mua bán, sản xuất, chế biến, đóng gói là đủ điều kiện Chỉ thị 97/98/EC được đưa ra nhằm tổ chức kiểm tra thú y các sản phẩm nhập khẩu từ các nước thứ ba tại cửa khẩu do các nước thành viên EU tiến hành nhằm cung cấp một nguồn thực phẩm an toàn và ổn định, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Các sản phẩm nhập khẩu từ các nước thứ ba đều phải được cấp giấy chứng nhận trước khi đưa vào lãnh thổ EU
2.2.5 Quy định của EU về bảo vệ môi trường và nguồn lợi
2.2.5.1 Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường ISO 14000
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trường, được xây dựng trên cơ sở thoả thuận quốc tế bao gồm các yêu cầu đối với các yếu tố cơ bản có thể điều chỉnh được để thiết lập nên hệ thống quản lý môi trường có khả năng cải thiện môi trường một cách liên tục tại các cơ sở ISO 14001 là tài liệu quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 Nó bao gồm các yếu tố mà tổ chức cơ sở muốn đăng ký hoặc chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn phải thoả mãn Đây là tài liệu về yêu cầu đối với các hệ thống quản lý
2.2.6 Hệ thống kiểm tra quản lý sinh thái ( EMAS)
Mục tiêu của hệ thống kiểm tra và quản lý sinh thái EMAS (Ecological Management and Audit Scheme) là đẩy mạnh sự cải thiện, tiếp tục việc thực hiện tiêu chuẩn môi trường của các tổ chức châu Âu, cùng với việc cung cấp thông tin cho cộng đồng và các đối tác quan tâm EMAS là công cụ quản lý đối với các doanh nghiệp, các tổ chức để đánh giá, báo cáo và cải thiện việc thực hiện bảo vệ môi trường của họ
2.2.6.1 Hệ thống kiểm soát nhằm phòng ngừa ngăn chặn và xóa bỏ hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định( IUU)
Theo quy định số 1005/2008 ngày 29/9/2008 của EC về thiết lập hệ thống kiểm soát nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ hoạt động khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định IUU (Illegal, Unreported and Unregulated fishing), mỗi lô hàng tôm và cá da trơn xuất khẩu sang EU nhất thiết phải có Bản cam kết của nhà máy chế biến về nguồn gốc sản phẩm, hoặc Giấy chứng nhận khai thác (trong trường hợp tổng sản lượng
19 đánh bắt được chế biến thành sản phẩm trong một lô hàng xuất khẩu), hoặc bản sao giấy chứng nhận khai thác (trong trường hợp một phần sản lượng đánh bắt được chế biến thành sản phẩm xuất khẩu) Các giấy tờ này phải được cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu xét duyệt trước khi hàng về đến cửa khẩu nước đó IUU cũng nêu rõ, EU cấm nhập khẩu các sản phẩm thuỷ sản, hải sản có nguồn gốc khai thác, đánh bắt bất hợp pháp
2.2.7 Quy định của EU về trách nhiệm xã hội
Sự ra đời EVFTA
EVFTA được khởi động đàm phán vào năm 2012, kết thúc đàm phán kỹ thuật vào năm
2015 Hiệp định đã được hai bên chính thức ký kết vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 tại Hà Nội
Việc kết thúc đàm phán thành công và từ đó tiến tới ký kết Hiệp định là một chặng đường dài với sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ với mục tiêu nâng mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên minh châu Âu lên một tầm cao mới nói riêng và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, góp phần vào công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất nước.
Nội dung chính của hiệp đinh EVFTA
Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là:
- Thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường)
- Quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại
- Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS)
- Các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT)
- Thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường)
- Mua sắm của Chính phủ
- Thương mại và Phát triển bền vững
- Hợp tác và xây dựng năng lực
- Các vấn đề pháp lý-thể chế
III TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO LIÊN
MINH CHÂU ÂU-VIỆT NAM (EVFTA) ĐẾN XUẤT KHẨU
THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM SANG CHÂU ÂU
1 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Châu Âu trước khi có hiệp định
Đặc điểm thị trường thủy sản Liên minh Châu Âu
Theo Báo cáo ngành thủy sản của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), EU là một trong những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới với số lượng tiêu thụ trung bình hàng năm khoảng hơn 13,8 triệu tấn, tương đương 54 tỷ EUR và mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của thị trường EU là 25,5kg/người năm 2016, trong khi mức trung bình của thế giới là 19,5 kg/người, trong đó, Bồ Đào Nha, Lithuania, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp là top 5 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của EU với các sản phẩm tiêu thụ chính là: cá ngừ (đóng hộp), cá tuyết, cá hồi, mực, tôm…
Nguồn cung cho thị trường thủy sản EU chủ yếu đến từ nguồn tự cung và nguồn nhập khẩu Tuy nhiên, nguồn tự cung hàng năm của EU chỉ đạt xấp xỉ 6 triệu tấn, hay nói cách khác tỷ lệ tự cung tự cấp thủy sản của EU chỉ đạt xấp xỉ 45% đến 55%,do đó EU đáp ứng nhu cầu thủy sản nội khối chủ yếu nhờ nguồn cung từ nhập khẩu EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 24% tổng giá trị giao dịch thủy sản toàn thế giới và là một nước nhập khẩu ròng các sản phẩm thủy sản với các sản phẩm chính là: cá tầng đáy, cá hồi, cá ngừ và động vật giáp xác EU nhập khẩu thủy sản từ hơn 180 quốc gia, trong đó
Na Uy và Trung Quốc là hai thị trường cung cấp thủy sản chính (cả về số lượng và giá trị), chiếm đến hơn 30% tổng số lượng và giá trị thủy sản nhập khẩu của EU
Về tập quán và thị hiếu tiêu dùng, người tiêu dùng EU có xu hướng tiêu thụ ngày một nhiều thuỷ sản, coi thuỷ sản là thực phẩm thay thế cho thịt gia súc Tuy nhiên, EU được biết đến là một thị trường vô cùng “khó tính” và rất bảo vệ người tiêu dùng Đối với hàng thủy sản, người tiêu dùng EU nói không với các mặt hàng nhập khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ, có chất lượng kém Với các sản phẩm đã qua chế biến, người EU chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi rõ tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch Trong tương lai, người dân EU có xu hướng tiêu thụ các sản phẩm thủy sản bền vững, có truy nguyên nguồn gốc rõ ràng, các mặt hàng được dự báo sẽ tăng nhu cầu tiêu thụ tại EU là cá hồi, cá trích, và cá tra Các sản phẩm thủy sản hữu cơ hay các sản phẩm sinh thái cũng sẽ được chú ý trong thời gian tới Hiện nay, một số thị trường có nhu cầu tiêu thụ thủy sản hữu cơ nhiều nhất là: Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Ý
Về kênh phân phối thị trường, Châu Âu có hệ thống kênh phân phối hàng thủy sản phức tạp nhất trên thế giới, hầu hết tập trung vào các nhà phân phối, các công ty chế biến và nhà cung cấp nhỏ và trung bình
Những rào cản thương mại của EU đối với hàng thủy sản xuất khẩu hiện nay bao gồm các rào cản về thuế quan và rào cản phi thuế quan, trong đó xu hướng là chuyển từ các biện
23 pháp rào cản thuế quan sang các biện pháp rào cản phi thuế quan như: Rào cản kỹ thuật (TBT), rào cản về an toàn thực phẩm và an toàn bệnh dịch động thực vật (SPS), rào cản chống bán phá giá, các quy định về xuất xứ, nhãn hiệu,môi trường, lao động…
Các rào cản phi thuế quan của EU bao gồm
(1) các yêu cầu bắt buộc là các yêu cầu mà các doanh nghiệp muốn xuất khẩu thủy sản vào
EU bắt buộc phải tuân theo như: các quy định chung về ATTP, các quy tắc truy xuất nguồn gốc và ghi nhãn thực phẩm, chứng nhận khai thác thủy sản- chống đánh bắt trái phép (IUU),
Vi sinh vật gây ô nhiễm, chứng thư cho các sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang EU, quy định về các mức dư lượng tối đa cho phép (MRL)
(2) các yêu cầu của thị trường là những yêu cầu không bắt buộc đối với sản phẩm thâm nhập vào thị trường EU nhưng mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đều thực hiện, nói cách khác, là những gì doanh nghiệp cần phải tuân theo để theo kịp với thị trường bao gồm Hệ thống quản lý ISO 9000, các quy định về vệ sinh-y tế (HACCP), các quy định về môi trường (ISO 14000), Sức khỏe và an toàn lao động (SA 8000), các quy định về chống bán phá giá,…
1.2 Tình hình xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU trước khi ký kết hiệp định EVFTA
EU luôn là một thị trường xuất khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam, chiếm đến 17,5% tổng giá trị thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, chỉ đứng sau Mỹ (19,5%) Giai đoạn 2007 - 2016, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tăng liên tục với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5%/năm, từ 0,92 tỷ USD năm 2007 lên 1,21 tỷ USD năm 2016, đạt đỉnh năm
2014 - năm đánh dấu sự khởi sắc của thị trường thủy sản Việt Nam
Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính sang EU bao gồm: tôm, cá tra, mực và bạch tuộc, cá ngừ, cua ghẹ giáp xác khác, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trong đó tôm và cá tra là 2 mặt hàng xuất khẩu chủ lực với tổng tỷ trọng chiếm tới 80% tổng kim ngạch thủy sản xuất khẩu sang EU, trong đó tỷ trọng cá tra đang có xu hướng giảm và tỷ trọng tôm đang có xu hướng tăng mạnh Hình thức xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU chủ yếu được tiến hành qua các trung gian hoặc các trung tâm tái xuất khẩu lớn như Singapore… và chủ yếu là ký kết theo giá FOB, thường là trả ngay, và hầu như không ký theo giá CIF, CFR hay các phương
24 thức khác Ngoài ra, hiện nay một số doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam cũng đã thực hiện xuất khẩu trực tiếp sang cho các nhà nhập khẩu, các siêu thị, các chuỗi cửa hàng ở Châu Âu
Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng liên tục qua nhiều năm, tuy nhiên các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít những trở ngại về hàng rào thuế quan cũng như hàng rào phi thuế quan khi xuất khẩu sang thị trường
EU Cụ thể, về hàng rào thuế quan, mức thuế bình quân mà EU đang áp dụng đối với hàng thủy sản nhập khẩu từ các nước ngoại khối là từ 20- 24% và đối với các nước được hưởng ưu đãi thuế quan là từ 7-10% Về hàng rào phi thuế quan, EU được biết đến là một thị trường rất khó tính với các yêu cầu nghiêm ngặt về vấn đề về bao bì, thương hiệu và xuất xứ hàng hóa, chất lượng sản phẩm, vệ sinh thực phẩm,vệ sinh môi trường, hàm lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản,… Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản VN vẫn chưa tự giác và gặp nhiều khó khăn khi đáp ứng những quy định khắt khe này
2 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Châu Âu sau khi có hiệp định
Những điều khoản của Hiệp định liên quan đến xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam
Theo cam kết của EU trong Hiệp định EVFTA:
− Đối với ngành thủy sản, 95% số mặt hàng mở cửa hoàn toàn, lộ trình tối đa trong 10 năm (trong đó hơn 71% dòng thuế được xóa bỏ hoàn toàn ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực), 5% dòng thuế còn lại là các mặt hàng Việt Nam không có thế mạnh xuất khẩu
− Đối với cá ngừ đóng hộp (tuna) và cá viên (surimi), EU đồng ý dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng với thuế suất 0%
− Các cam kết khác về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) hay các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS), hai Bên thỏa thuận tăng cường thực hiện các quy tắc của Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO (Hiệp định TBT)
− Hiệp định cũng bao gồm các cam kết theo hướng giảm bớt hàng rào thuế quan khác (ví dụ về cam kết về cấp phép xuất khẩu/nhập khẩu, thủ tục hải quan…) nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai Bên
Tình hình xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU sau khi ký kết hiệp định
EVFTA sẽ ảnh hưởng đến quy mô, số lượng và cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Trước khi Hiệp định này được ký kết, mức thuế bình quân mà EU áp dụng đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là: tôm (từ 17-20%), cá tra (8- 16%), mực và bạch tuộc (8-10%), cá ngừ (22%), cua ghẹ và giáp xác khác (12%), nhuyễn thể hai mảnh vỏ (20%)….Với những ưu đãi về thuế quan mà Hiệp định EVFTA mang lại, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU ước tính đến năm 2020 sẽ đạt hơn 1.800 triệu USD, tăng 49,6% so với giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2016 (1.210 triệu USD), theo đó thị phần cung ứng thủy sản của Việt Nam tại khu vực này sẽ tăng lên 6% (cao hơn nhiều so với con số 4% hiện tại).Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, ước tính đến năm 2020, tôm và cá tra tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang EU với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 897 triệu USD và 353 triệu USD, chiếm tương ứng 49% và 20% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2020
EVFTA sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn hình thức, phương thức xuất khẩu của Việt Nam
Thay vì hình thức xuất khẩu gián tiếp, thông qua các nhà phân phối trung gian hoặc qua
26 các trung tâm tái xuất khẩu lớn như Singapore…, cần chú trọng và chuyển dần sang phát triển hình thức xuất khẩu trực tiếp cho các hệ thống phân phối, trung tâm thương mại lớn, siêu thị nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu
EVFTA sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, chính sách xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Cụ thể là chú trọng chất lượng hơn số lượng, phát triển các sản phẩm thủy sản mang lại giá trị gia tăng cao và phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững; Xây dựng và phát triển thương hiệu tập thể gắn với các yếu tố chỉ dẫn địa lý, đặc biệt là cho các sản phẩm xuất khẩu trọng yếu như tôm, cá tra; Phát triển chuỗi liên kết cung ứng thủy sản từ đánh bắt, nuôi trồng đến chế biến, xuất khẩu; Đa dạng thị trường xuất khẩu
EVFTA sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp cận thị trường EU của Việt Nam trong bối cảnh mới
Mặc dù nhu cầu tiêu dùng thủy sản của EU ngày càng lớn nhưng việc tiếp cận thị trường
EU là không dễ dàng đối với các DN thủy sản Việt Nam và thực tế là nhiều DN đang e ngại tiếp cận thị trường này Tuy nhiên, đã đến lúc DN cần thay đổi suy nghĩ này, bởi những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, sự đồng đều sản phẩm về bao bì, nhãn mác… trong ngắn hạn có thể gây khó khăn cho hàng thủy sản xuất khẩu của VN, tuy nhiên, nếu nhìn theo hướng tích cực thì đây sẽ là cơ hội để hàng Việt Nam khẳng định uy tín và tăng sức cạnh tranh tại thị trường EU Vì vậy, trong điều kiện thực thi EVFTA, các
DN cần chủ động tìm hiểu rõ các thông tin và quy định, luật lệ, cũng như các yêu cầu pháp lý, yêu cầu của người tiêu dùng liên quan đến nhập khẩu thủy sản của các nước EU
Một số thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU
Nguồn: Nhóm tổng hợp qua số liệu thống kê của Cục Hải Quan
Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy, 6 tháng cuối năm 2020 sau khi kí Hiệp định EVFTA, trị giá xuất khẩu thuỷ sản sang các nước thuộc khu vực châu Âu tăng đáng kể như nước Nga, Anh, Ba Lan, Rumani, Bỉ, Bồ Đào Nha, … Đà tăng trưởng này vẫn tiếp tục được duy trì mặc dù ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid 19 Có thể thấy, nhìn chung Hiệp định EVFTA có tác động tích cực đối tới hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam
IV CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
Thứ nhất, EVFTA sẽ tác động tích cực đến nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển thị trường xuất khẩu
Về thương mại, thị trường EU hiện là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Với việc ký kết hiệp định EVFTA, Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế suất cũng như các chính sách ưu đãi đã giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh hơn và có giá cả phù hợp hơn với các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và một số nước ASEAN Áp dụng thuế quan và hạn ngạch như Campuchia, Myanmar, Bangladesh…
Thứ hai, EVFTA tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung ở châu Á (chiếm khoảng 80% kim ngạch nhập khẩu và 50% kim ngạch xuất khẩu) EVFTA giúp doanh nghiệp thâm nhập và khám phá những thị trường mới còn nhiều tiềm năng cho xuất khẩu của Việt Nam
Thứ ba, EVFTA sẽ tạo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
EVFTA là điều kiện quan trọng để nâng cao trình độ phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần gia công, lắp ráp, tham gia vào giai đoạn sản xuất giá trị cao thông qua hợp đồng Từ chuyển giao công nghệ, cung cấp máy móc chế biến thủy sản, mô hình học tập công nghệ cao, nuôi trồng năng suất cao… đến phát triển sản phẩm điện tử, công nghệ cao, nông nghiệp xanh…
Dòng vốn đầu tư nước ngoài sử dụng EVFTA hứa hẹn cơ hội hợp tác vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức quản lý hiện đại, hiệu quả hơn cho doanh nghiệp Việt Nam
Thứ tư, EVFTA tạo động lực phát triển công nghiệp hỗ trợ
Quy tắc xuất xứ đặt ra thách thức cho xuất khẩu nhưng cũng đi kèm cơ hội, chất lượng, yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm dịch động vật trở thành yêu cầu bắt buộc khi xuất khẩu Hiện nay, nhiều mặt hàng thuỷ sản Việt Nam khi
29 xuất khẩu vẫn chưa đủ tiêu chuẩn do chưa xác định rõ được nguồn gốc nguyên liệu sản xuất Đây sẽ là động lực để các công ty thủy sản nói chung và ngành thủy sản Việt Nam nói chung cải thiện, loại bỏ những điểm yếu và thay đổi, cải cách để đạt tiêu chuẩn EU
Thứ nhất, Eu là thị trường có sức cạnh tranh gay gắt Do EU là thị trường rộng lớn, lượng tiêu thụ thủy sản cao nên Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với nhiều đối thủ khác Ngành thủy sản hiện nay vẫn là ngành sản xuất nhỏ lẻ, chưa được đầu tư nhiều, thiếu quy hoạch nên sản phẩm thủy sản còn chưa phong phú, chưa mang lại giá trị trị cao
Trình độ quản lý môi trường chưa tốt do trình độ công nghệ chưa cao, trong khi yêu cầu của thị trường và nhà nhập khẩu ngày càng khắt khe hơn
Thứ hai, những thách thức từ việc tuân thủ, thực thi các quy định của Hiệp định EVFTA , cụ thể:
- Tuân thủ quy tắc xuất xứ, an toàn thực phẩm
Sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam, nhưng các nhà nhập khẩu EU có thể không biết về nguồn gốc này Nguyên nhân là do nhìn chung các sản phẩm của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu Hiện nay, hàng hóa trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 40-45% công suất chế biến, mỗi năm phải nhập khẩu hàng tỷ USD thủy sản nguyên liệu Bên cạnh đó, tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc khắt khe của EU áp đặt nhiều quy định về điều kiện như tổ chức sản xuất, môi trường mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tuân thủ Trước đây, đã có nhiều lần thủy sản Việt Nam xuất khẩu rồi bị trả về, không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến uy tín chung của thủy sản Việt Nam
- Tuân thủ quy định IUU