1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phan tich hinh anh nguoi linh trong bai tho dong chi

70 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí
Tác giả Chính Hữu
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 737,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí Download vn Văn mẫu lớp 9 Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí Tổng hợp Download vn 1 Ý chính phân tích hình ảnh người lính trong b[.]

Trang 1

Ý chính phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí

Các luận điểm chính

Luận điểm 1: Vẻ đẹp mộc mạc, chân thức của người lính

Luận điểm 2: Vẻ đẹp đời sống tâm hồn, tình cảm của những người lính

 Họ ra đi vì nghĩa lớn (hai chữ “mặc kệ” nói được cái dứt khoát, mạnh

mẽ mặc dù vẫn luôn lưu luyến với quê hương “giếng nước gốc đa ”

 Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sốt rét runngười, trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá => Những giankhổ càng làm nổi bật vẻ đẹp của anh bộ đội: sáng lên nụ cười của ngườilính (miệng cười buốt giá)

 Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí đồng đội sâu sắc, thắm thiết

 Kết tinh hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ là bức tranh đặc sắctrong đoạn cuối của bài thơ

Dàn ý phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí

Dàn ý 1

1 Mở bài:

Trang 2

 Giới thiệu về hình ảnh người lính trong bài thơ "Đồng chí".

2 Thân bài:

a Trình bày khái quát về tác giả và tác phẩm:

 Chính Hữu (1926 - 2007) là nhà thơ trưởng thành từ hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ với phong cách sáng tác bình dị, nhiều cảm xúc

và chủ yếu tập trung vào hình ảnh người lính trong sáng tác

 Bài thơ "Đồng chí" được sáng tác vào đầu năm 1948 nói về tình đồng chí,đồng đội thắm thiết của những người lính cách mạng và được in trong tập

"Đầu súng trăng treo"

b Hình ảnh những người lính có cùng hoàn cảnh xuất thân, chung lí tưởng chiến đấu và cùng nhau trải qua mọi khó khăn, thiếu thốn của cuộc sống:

 Những người lính đều có nguồn gốc xuất thân là nông dân "nước mặnđồng chua", "đất cày lên sỏi đá"

→ Đây đều là những vùng quê nghèo khó đã tạo nên sự đồng điệu trong trái timngười lính

 Những người lính tuy không quen biết nhau nhưng có duyên gặp gỡ vàgắn bó bởi họ có chung lí tưởng chiến đấu "Súng bên súng, đầu sát bênđầu"

 Hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt đã giúp những người lính trở thành "trikỉ" của nhau

c Hình ảnh những người lính biết sẻ chia, thấu hiểu tâm tư tình cảm của đồng đội, họ cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

Trang 3

 Những người lính phải rời xa quê hương, rời xa "ruộng nương", "giannhà", "giếng nước", "gốc đa" để đi đánh giặc.

 Các anh hiểu rõ về nhau và còn hiểu rõ cả nỗi niềm người thân của nhau

ở hậu phương "Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính"

 Những người lính còn chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của những đêm

"sốt run người" vì hầu như người lính nào cũng đều phải trải qua ít nhấtmột lần

 Họ cùng nhau chia sẻ những khó khăn về quân tư trang trong những ngàyđầu kháng chiến nhưng vẫn lạc quan, yêu đời để "Miệng cười buốt giá"

 Họ quên mình đi để truyền cho nhau hơi ấm "Thương nhau tay nắm lấybàn tay"

→ Đây là hành động của sự đoàn kết, gắn bó keo sơn, tiếp thêm sức mạnh chođồng chí, đồng đội để cùng chiến đấu vì đất nước

d Hình ảnh người lính sẵn sàng chiến đấu, chờ giặc tới:

 Trong khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên "rừng hoang sương muối" thìnhững người lính vẫn đứng cạnh nhau, im lặng cùng chờ giặc tới

 Hình ảnh người lính cầm súng tưởng đối lập nhưng lại vô cùng hoà quyệnvới thiên nhiên bởi trăng tượng trưng cho cái đẹp, sự yên bình còn ngườilính cầm súng là để bảo vệ tổ quốc

Trang 4

 Ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh thơ gần gũi, giàu sức biểu thể hiện được sựhình thành và phát triển của tình đồng chí ngày càng nâng cao.

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.”

- Những người chiến sĩ ấy xuất thân từ những miền quê khác nhau, từ nhữngvùng xa xôi khác nhau

Trang 5

- Mỗi người có những khó khăn, khổ cực khác nhau

- Nhưng họ chung chí hướng và gặp nhau tại chiến trường

- Họ chung cảnh ngộ, chung tinh thần, chung chí hướng và sát cánh bên nhau

2 Biểu hiện của tình đồng chí:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

- Những người chiến sĩ ấy cảm thông hoàn cảnh của mình cho nhau

- Dù gặp khó khăn, gian khổ nhưng họ vẫn lạc quan, yêu đời

- Tình cảm của những người chiến sĩ ấy rất sâu nặng và gắn bó sâu sắc

3 Biểu tượng đẹp của tình đồng chí

“Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.”

- Dù hoàn cảnh như thế nào thì cũng bên cạnh nhau hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao

- Một hình ảnh đẹp về tình đồng đội

Trang 6

- Sự gắn bó thân thiết và sâu sắc về tình đồng đội

3 Kết bài:

Nêu cảm nghĩ của em về tình đồng đội qua bài thơ

Ví dụ: Qua bài thơ ta có thể cảm nhận được tình đồng đội sâu sắc của nhữngchiến sĩ trong tác phẩm tình cảm chân thực, lạc quan và gắn bó với nhau

Dàn ý 3

I Mở bài:

- Giới thiệu đôi nét về tác giả Chính Hữu và bài thơ “Đồng chí”

● Đồng chí là sáng tác của nhà thơ Chính Hữu viết vào năm 1948, thời kìđầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

● Chân dung người lính hiện lên chân thực, giản dị với tình đồng chí caođẹp

Ví dụ: Hình ảnh người lính trong chiến đấu luôn là một đề tài bất tận của thơ cakháng chiến, mỗi một thời kỳ người lính lại toát lên những vẻ đẹp khác nhau.Trong kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đưa đến cho chúng ta hình ảnh vềnhững người lính giản dị

II Thân bài:

* Hình ảnh người lính hiện lên hết sức chân thực.

● Họ là những người nông dân cùng chung cảnh ngộ xuất thân nghèo khổnhưng đôn hậu, mộc mạc, cùng chung mục đích, lý tưởng chiến đấu

* Hình ảnh người lính hiện lên với những vẻ đẹp của đời sống tâm hồn, tình cảm:

Trang 7

● Là sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia sẻ những gianlao, thiếu thốn của cuộc đời người lính Đó là sự ốm đau, bệnh tật.

● Là sự đoàn kết, thương yêu, kề vai sát cánh bên nhau cùng nhau chiếnđấu chống lại quân thù tạo nên bức tượng đài bất diệt về hình ảnh ngườilính trong kháng chiến chống Pháp

● Tình cảm gắn bó thầm lặng mà cảm động của người lính: “Thương nhautay nắm lấy bàn tay”

● Sự lãng mạn và lạc quan: “miệng cười buốt giá”; hình ảnh “đầu súngtrăng treo” gợi nhiều liên tưởng phong phú

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 1

Có một nhà thơ đã từng tâm sự:

"Đất nước mình đây Hai mươi năm Mưa, nắng, đêm, ngày Hành quân không mỏi Sung sướng bao nhiêu: "Tôi là đồng chí Của những người đi, vô tận, hôm nay"

Trang 8

Đó là ai nếu không phải nhà thơ Chính Hữu - một nhà thơ chiến sĩ trưởng thànhtrong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Giữa muôn vàn thăng trầm, biến cốcủa lịch sử, trên đôi tay Chính Hữu không chỉ vững vàng những cây súng đánhgiặc mà còn bung nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính Và "Đồngchí" là một trong những bài thơ như thế.

Tác giả Chính Hữu là một người lính cụ Hồ đúng nghĩa; Ông nguyên là đại tá,phó cục trưởng cụ tuyên huấn thuộc tổng cục chính trị- quân đội nhân dân ViệtNam; nguyên phó tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam Năm 1946, ông gia nhậptrung đoàn thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống

Mỹ và Pháp Phong cách thơ của chính hữu chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai cuộcchiến; ông gây ấn tượng với phong cách sáng tác bình dị nhiều cảm xúc và chủyếu tập trung vào hình ảnh người lính

Bài thơ đồng chí được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộckháng chiến chống thực thực dân Pháp, sau khi nhà thơ cùng đồng đội tham giachiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (Thu-Đông năm 1947)- thời điểm đó đãđánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc Bài thơđồng chí có thể được coi là biểu tượng, tác phẩm làm nên tên tuổi của ChínhHữu; tác phẩm còn được đánh giá là tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến giai đoạn1946-1954 Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết của những ngườilính cách mạng, họ vào sinh ra tử với nhau, cùng nhau vượt qua những thờikhắc mong manh giữa sự sống và cái chết; tình cảm đó khó có gì đong đếmđược

Quân xâm lược chiếm đóng nước ta, các anh nghe theo tiếng gọi của tổ quốc,rời xa quê hương, gia đình để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng đó

"Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Trang 9

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!"

Những người lính đều có nguồn gốc giống nhau, từ nơi "nước mặn, đồng chua",

"đất cày lên sỏi đá", tài sản quý giá nhất với họ là tình yêu cháy bỏng với quêhương đất nước Đây đều là những vùng quê nghèo khó, cuộc sống của họquanh năm gắn với ruộng đồng nhưng cũng chẳng đủ ăn Chính vì sự tươngđồng đó mà trái tim người lính có sự đồng điệu với nhau; họ cảm nhận sâu bêntrong tâm hồn mỗi người và nhanh chóng trở nên gắn kết một cách lạ thường

Có một thứ luôn soi sáng và dẫn đường cho những người lính là lí tưởng cáchmạng, khát khao chiến đấu cho nước nhà được độc lập; để rồi những người lính

cụ Hồ luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấy kể cả lúc nghỉ ngơi " Súng bên súng,đầu sát bên đầu" Chính kim chỉ nam đó đã biến những con người xa lạ trởthành anh em một nhà, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn

Cùng nhau vượt qua những thời khắc gian khổ chúng ta mới biết quý trọngnhững người cùng ta vượt qua thời gian đó Hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt đãgiúp những người lính trở thành tri kỉ" của nhau, họ sẻ chia cho nhau nhữngmảnh chăn; hơi ấm để cùng nhau vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết giá lạnh

"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.

Trang 10

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!"

Những hình ảnh thật gần gũi, quen thuộc nhưng cũng có chút gì đó đơn sơ đãđược nhà thơ tái hiện, đó là " ruộng nương", "gian nhà", "giếng nước", "gốc đa".Những người lính rời xa nơi "chôn rau cắt rốn" để lên đường đánh giặc, họ rời

đi thực sự không có một tài sản gì giá trị, những gian nhà không vững chắc,lung lay theo thời tiết Họ lên đường với một cháy tim cháy bỏng, nhiệt huyếtcủa tuổi trẻ, sẵn sàng hi sinh để đánh đổi với sự bình yên của tổ quốc

Họ hiểu rõ về nhau và còn hiểu rõ cả nỗi niềm người thân của nhau ở hậuphương "Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính" Họ biết rằng trọng trách củamình rất lớn, trên vai là trách nhiệm với tổ quốc, phía sau họ là sự trông ngóngcủa gia đình mong họ trở về Những người lính hiểu rằng, những người phụ nữđang đợi họ ở nhà không cần những chàng trai trở về với những chiến công hiểnhách mà chỉ mong họ bình yên vô sự khi quay về

Họ chia sẻ với nhau tất cả mọi thứ, cả những gian lao vất vả, thiếu thốn nơi rừngsâu, cả những đêm "sốt run người", nơi rừng sâu lạnh lẽo đó, nơi mà muỗi, vắtcòn nhiều hơn cây cối thì thứ duy nhất họ có thể dựa vào đó chính là hơi ấm củanhau Mỗi người lính đều phải trải qua những đêm mệt nhoài đó ít nhất một lầntrong đời, người khỏi đùm bọc người ốm và cùng nhau vượt qua nghịch cảnh đó

"Gian nhà không mặc kệ gió lung lay", cuộc sống ngày thường của họ vốn đãkhó khăn, có những thời điểm còn không đủ ăn thì làm sao có thể chuẩn bị đầy

đủ quân tư trang để lên đường, họ giống nhau một cách lạ thường, cùng nhau

Trang 11

hề ảnh hưởng đến nhuệ khí của họ Những người lính vẫn lạc quan, yêu đời vàmột nụ cười vẫn luôn thường trực trên môi Vào thời tiết giá lạnh đó, quần cũngkhông thể có chiếc quần lành lặn, không có nổi đôi giày Họ quên mình đi đểtruyền nhau hơi ấm "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Đây là hành động của

sự đoàn kết, gắn bó keo sơn, tiếp thêm động lực cho đồng chí, đồng đội để cùngchiến đấu vì đất nước

"Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo"

Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ hiện ra, thiên nhiên với con người như tô điểmcho nhau, những người lính không hề run sợ mà ngược lại sẵn sàng tự tin, kề vaisát cánh bên nhau chờ giặc tới Có một sự trống vắng không hề nhỏ ở đâu,

"rừng hoang sương muối", giường như sự xuất hiện của những người lính là sựsống duy nhất ở đây Người lính trong tư thế nghiêm trang, hàng trang của họ lànhững cây súng Hình ảnh người lính cầm súng tưởng đối lập nhưng lại hòaquyện với thiên nhiên bởi trăng tượng trưng cho sự thanh mát, yên bình cònnhững người lính cầm súng ra trận cũng chỉ vì một mục tiêu duy nhất là sự bìnhyên của đất nước

Bài thơ đem đến một làn gió mới cho khuynh hướng sáng tác của thơ ca khángchiến, không còn là một bức tranh hình tượng hóa người lính, Chính Hữu đi vàonhững chi tiết rất đời thường của họ, cùng chính là những gì mình đã trải quanhư một lời tâm sự cho người đọc Tác phẩm đã xây dựng thành công hình ảnhngười người chiến sĩ cách mạng mộc mạc, giản dị với nhiều vẻ đẹp đáng trântrọng, là tình yêu mãnh liệt sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc, cùng là đó là tình cảmbình dị dành cho gia đình và hậu phương quê nhà

Trang 12

Mang trong mình trái tim thuần khiết, giản đơn ngoài gia nội dung bài thơ chủyếu về người lính nên Chính Hữu sử dụng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh thơ gầngũi, giàu sức biểu đạt thể hiện được sự hình thành và phát triển của tình đồngchí ngày càng được nâng cao Cũng chính vì vậy mà người đọc có cảm giácthân thuộc, đôi khi thấy hình ảnh của chính mình trong đó.

Người ta thường hay nói: "Văn chương nghệ thuật cần đến những con ngườibiết nhìn hiện thực bằng trái tim" Quả đúng vậy, Chính Hữu đã đem hiện thựcvào trang viết của mình một cách tự nhiên, để chất người lính cứ thể hòa vàohồn thơ, chất trữ tình hòa vào cách mạng, chất thép hòa vào thi ca Nhưng đồngthời cũng đặt vào đó một viên ngọc sáng thuần khiết- đó là hình tượng ngườilính của những năm đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp Để rồi khi thờigian qua đi, tác phẩm vẫn là một bài ca mãi không quên trong lòng bạn đọc

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 2

Viết về tình cảm đồng chí đồng đội trong những năm kháng chiến đã có nhữngbài thơ rất hay, rất xuất sắc Và trong chùm những tác phẩm ấy ta cũng khôngthể không nhắc đến bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Với ngôn ngữ bình dị,cách diễn đạt đặc biệt đã đem đến cho đề tài này một bài thơ mới lạ, độc đáo.Hình ảnh người lính hiện lên thật gần gũi, thân thương và cũng biết bao tự hào.Nếu hình ảnh người lính nông dân trong bài Nhớ của Hồng Nguyên hiện lênthật hồn nhiên, chất phác:

Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ, Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Trang 13

Quen nhau từ buổi "Một hai"

Súng bắn chưa quen, Quân sự mươi bài Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Thì người lính của Chính Hữu lại hiện lên với bao khó khăn, gian khổ: "Quêhương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá" Họ đến từnhiều miền quê khác nhau: người từ vùng ven biển, người lại ở trung du khô cằn,

họ vốn là những người xa lạ, nhưng vì mục đích, lý tưởng chung họ tụ hội vềđây Họ chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, hình ảnh “súng bên súng đầu sát bên đầu”vừa thể hiện được nhiệm vụ chiến đấu vừa thể hiện được lí tưởng bảo vệ độc lậpdân tộc của các anh Hơn nữa ông còn sử dụng điệp từ tạo nên âm điệu chắckhỏe, khắc họa đậm nét sự gắn bó bền chặt của những người lính

Đoạn thơ đầu kết thúc bằng hai chữ “Đồng chí”, đây là hình thức câu đặc biệt,chứa nhiều ý nghĩa Chỉ hai chữ này thôi nhưng nó trở thành bản lề khép mở haimạch thơ Khép lại những cơ sở để tạo nên tình đồng chí cao đẹp và mở ranhững biểu hiện đẹp đẽ, sáng ngời của thứ tình cảm trân quý ấy Đồng thời haichữ đồng chí cũng là cách Chính Hữu lý giải nguyên nhân vì sao tự bốn phươngtrời, từ nhiều nơi khác nhau họ lại tự nguyện gắn bó với nhau Bởi họ là nhữngngười cùng ý chí, nguyện vọng, cùng lý tưởng chiến đấu để bảo vệ làng quê,bảo vệ những người yêu thương mà rộng ra là bảo vệ quê hương đất nước Tìnhcảm cao đẹp đó là cơ sở, ngọn nguồn cho mọi sức mạnh của người lính nôngdân

Lên đường trong tâm thế dứt khoát, nhưng không vì thế người lính không nhớ

về quê nhà, nhớ về giếng nước gốc đa Nỗi nhớ ấy như một nguồn động lực, cổ

Trang 14

vũ, động viên người lính cố gắng hơn nữa trên con đường chiến đấu bảo vệ đấtnước.

Chính Hữu đã có những nét chạm khắc vô cùng chân thực về hoàn cảnh sốnggian lao, thiếu thốn của những người lính Ông không dùng cái nhìn màu hồng,

tô vẽ cuộc sống mà nhìn thẳng, nhìn thực, trực diện cuộc sống đó:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá chân không giày

Năm tháng chiến đấu, hành quân xuyên rừng, người lính không chỉ bị nhữngcơn sốt rét rừng hoành hành, sự sống có thể bị cướp đi bất cứ lúc nào, mà họcòn phải chịu sự thiếu thốn về vật chất: áo rách vai, quần vá, chân không giày.Nhưng điều khiến họ có thể vượt qua mọi khó khăn đó chính là tình đồng chí,đồng đội gắn bó khăng khít: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Chính những cáinắm tay ấm áp, đầy tình cảm đã giúp họ vượt qua mọi cơn sốt rét rừng, giúp họvượt qua mọi cái giá lạnh, khắc nghiệt của thời tiết, để hướng tới lí tưởng,nhiệm vụ chung:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Họ chủ động, tự tin, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến Câu thơ cuối chỉ có bốn

Trang 15

trong đêm phục kích giặc giữa nơi rừng núi hiểm trở, vầng trăng trở thành ngườibạn luôn kề vai sát cánh với người lính Về khuya trăng xuống thấp dần, nhìn từ

xa có cảm giác trăng đang treo lơ lửng nơi đầu mũi súng Không chỉ vậy vớinhịp thơ 2/2 và từ gợi hình treo, ta có cảm tưởng vầng trăng đang lắc lư theonhịp điệu chứ không hề tĩnh tại Khiến cho khung cảnh trở nên sinh động hơn.Ngoài ra hình ảnh đó còn mang ý nghĩa biểu tượng Ánh trăng và người chiến sĩcũng chính là người chiến sĩ và thi sĩ, giữa thực tại và mơ mộng, giữa chiếntranh và hòa bình Hai hình ảnh mặc dù đối lập nhau nhưng trong câu thơ củaChính Hữu lại hòa hợp với nhau đến bất ngờ, cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn lãngmạn, yêu đời của người lính, họ luôn cầm chắc tay súng để bảo vệ sự bình yêncho tổ quốc

Bằng lớp ngôn từ cô đọng, hàm súc, hình ảnh chân thực, mang tính khái quátcao, tác phẩm đã ca ngợi tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng Đồngthời tác giả cũng đã tái hiện một cách chân thực, giản dị mà cao đẹp hình ảnhanh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 3

Chính Hữu là nhà thơ tiêu biểu, trưởng thành trong thời kì kháng chiến chốngthực dân Pháp lần hai Với phong cách thơ nhỏ nhẹ, đằm thắm, trữ tình thiết tha,Chính Hữu để lại rất nhiều những bài thơ hay, độc đáo cho nền văn học dân tộc.Tập thơ "Đầu súng trăng treo" với bài thơ "Đồng chí" là một trong những thiphẩm xuất sắc, điển hình, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Chính Hữu.Qua bài thơ về tình đồng chí, hiện lên vẻ đẹp bình dị cao cả của người lính cáchmạng, anh vệ quốc quân năm xưa Bài thơ là bức chân dung đẹp về người lính

cụ Hồ

Thi phẩm được viết vào khoảng đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng độicủa mình tham gia chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947 Với cái nhìn chân

Trang 16

thực của người lính – người trong cuộc, người trực tiếp cầm súng ra mặt trận,Chính Hữu đã khắc họa thành công vẻ đẹp sống động từ hoàn cảnh xuất thânđến tâm hồn và ý chí nghị lực mạnh mẽ, dũng cảm, chan chứa tình đồng chí củangười lính cách mạng.

Trước hết, họ là những người lính xuất thân từ những chàng trai nông dân áo vảilam lũ, nghèo khó trên khắp mọi miền đất nước và chứa chan tinh thần yêunước, trách nhiệm với quê hương dân tộc:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Thành ngữ "nước mặn đồng chua", gợi lên một miền đất nắng gió ven biển, đấtđai bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, rất khó trồng trọt Còn cụm từ “đất cày lên sỏiđá” lại gợi lên trong lòng người đọc về một vùng đồi núi, trung du đất đai cằncỗi, khó canh tác Đó là xuất phát điểm về hoàn cảnh xuất thân và cuộc sống củanhững chàng trai nông dân chân lấm tay bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa, chỉ quenvới tay cuốc, tay cày sau lũy tre làng Thế nhưng, khi tổ quốc lâm nguy, họ đãsẵn sàng gác lại tất cả những gì quý giá nhất, thân thiết nhất nơi làng quê để ra

đi chiến đấu:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa… là những hình ảnh giản dị, quenthuộc ở mọi làng quê Việt Nam Có lẽ lúc này người lính đang rất nhớ tới quêhương, nơi có gia đình, người thân, có ruộng nương, gian nhà, những tình cảmđẹp đẽ của họ từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành Nhưng từ “mặc kệ” đã cho

Trang 17

thấy sự quyết tâm ra đi của những người lính; họ gửi lại quê hương, ruộngnương, gian nhà và cả những tình cảm buồn vui của thời thơ ấu cho người thânyêu để lên đường cầm súng đánh giặc cứu nước Tinh thần hi sinh mạnh mẽ ấy

đã được nhà thơ Thanh Thảo bộc bạch bằng lời thơ của mình:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc”

Như vậy, câu thơ đã cho thấy được ý thức trách nhiệm công dân cao độ củangười lính đối với dân tộc khi tổ quốc lâm nguy Điều đó cho thấy lòng yêunước mạnh mẽ, sâu sắc của họ Hình ảnh “giếng nước gốc đa” là một hình ảnhrất giàu sức gợi, đây vừa là nhân hóa, lại vừa là hoán dụ biểu trưng cho quêhương, người thân nơi hậu phương luôn luôn dõi theo và nhớ nhung người lính

da diết Câu thơ nói quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính đangnhớ nhà Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết, khôn nguôi Nhưng chính nỗi nhớquê hương ấy, lại là động lực mạnh mẽ, thôi thúc và tiếp bước cho họ vươn lên

mà mạnh mẽ, trưởng thành, vì sự nghiệp chung lớn lao của đất nước, dân tộc.Những người lính nông dân áo vải ấy đã trải qua biết bao nhiêu gian lao, thiếuthốn tột cùng, những cơn sốt rét run người hành hạ, trang phục phong phanhgiữa mùa đông buốt giá:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Trang 18

Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Hình ảnh: “ớn lạnh, sốt run người, ướt mồ hôi” là những biểu hiện cụ thể để nói

về căn bệnh sốt rét rừng rất nguy hiểm khi mà trong chiến tranh không hề có đủthuốc men để chạy chữa Vì thế các anh – những người lính anh hùng dũng cảmphải cắn răng chịu đựng, tự lực, tự cường mà vượt qua gian khổ Đây là mộthình ảnh xuất phát từ cái nhìn chân thực của người lính trong chiến tranh Vàcăn bệnh sốt rét này không phải chỉ xuất hiện trong thơ Chính Hữu mà trong rấtnhiều các bài thơ của các nhà thơ khác cũng đã từng nhắc tới Trong bài thơ

"Tây Tiến" của Quang Dũng, nhà thơ cũng đã viết:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Hay trong bài "Dấu chân qua trảng cỏ" của Thanh Thảo, ông cũng từng có câuthơ:

Những người sốt rét đương cơn Dấu chân bầm xuống đường trơn ướt nhòe.

Căn bệnh sốt rét – nỗi ám ảnh kinh hoàng của người lính trong chiến tranh, đãhành hạ họ, khiến họ tiều tụy xanh xao, màu da vàng vọt, tóc thì rụng hết Vìthế lúc này, chỉ có tình yêu thương, sự đùm bọc lẫn nhau của những người lính

là thuốc bổ tinh thần, giúp họ cùng nhau cộng hưởng, sẻ chia mà vươn lên chiếnthắng chính mình

Trang 19

Không dùng lại ở đó, người lính còn phải đối diện với cả sự thiếu thốn, khókhăn về vật chất: "áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày" Nhưngtrong hoàn cảnh ấy, những người lính vệ quốc, họ đã chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhaubằng những hành động chân thành: “Miệng cười buốt giá”, “Thương nhau taynắm lấy bàn tay” Chính nụ cười đã xoá tan đi cái lạnh lẽo của đêm đông giá rét.

Họ đùa vui trong gian khổ thiếu thốn Cùng động viên nhau qua ánh mắt nụcười Dù đó chỉ là nụ cười gượng gạo trong “buốt giá” nhưng vẫn chứa chantình cảm, cho thấy được sự lạc quan mạnh mẽ của họ trong cuộc sống chiến đấu.Còn hành động “tay nắm lấy bàn tay” là một cử chỉ rất cảm động và cần thiếtvào lúc này Họ đã truyền cho nhau hơi ấm của tình thương, cùng dắt tay nhautiến lên phía trước, vì mục tiêu lý tưởng cách mạng lớn lao: vì hòa bình dân tộc

Và có lẽ, tình yêu thương nhau đã lấp đầy khoảng trống, làm dịu vơi đi nỗi nhớnhà, nhớ quê hương Tất cả những cử chỉ ánh mắt, nụ cười, nắm tay ấy đã giúp

họ có thêm động lực để vượt qua khó khăn, thử thách Điều ấy đã làm cho tìnhđồng chí thêm keo sơn, gắn bó và hóa thành sức mạnh đoàn kết trong suốt cuộckháng chiến trường kỳ

Hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ đã kết tinh, tỏa sáng trong đoạn thơcuối của bài thơ:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Ba câu thơ cuối vừa giàu chất hiện thực, lại vừa đậm đà chất lãng mạn bay bổng,vừa gợi tả bức tranh không gian toàn cảnh của núi rừng, lại vừa đặc tả tình cảm

ấm áp của những người lính trong chiến tranh Đây là biểu hiện cao đẹp nhấtcủa tình đồng chí, đồng đội Đó là khoảng thời gian “đêm nay” rất cụ thể với

Trang 20

khung cảnh “rừng hoang – sương muối” hiu quạnh, lạnh lẽo và khắc nghiệt Tuynhiên, người lính vẫn đứng cạnh bên nhau để “chờ giặc tới” Động từ “chờ” chothấy được tư thế chủ động và hết sức đề cao cảnh giác của người lính trong khilàm nhiệm vụ Nghệ thuật tương phản đối lập được tạo ra rất cân đối giữa mộtbên là không gian núi rừng lạnh lẽo, hoang vu, vắng lặng; với một bên là tư thếchủ động mạnh mẽ như lấn át cả không gian toàn cảnh của người lính Chínhsức mạnh của tình đồng chí đã làm cho người lính vượt lên trên hiện thực khắcnghiệt đó Các từ gần nghĩa “cạnh – bên” cho thấy sức mạnh của tinh thần đoànkết, gắn bó luôn có nhau của những người lính Trên cao là ánh trăng treo lơlửng trên bầu trời, dưới cái nhìn lãng mạn hóa của Chính Hữu, ánh trăng nhưđang treo ở đầu mũi súng Và "Trăng" theo đó như trở thành người bạn vừachứng minh cho tình cảm đồng chí keo sơn của người lính, vừa soi sáng và sưởi

ấm cho không gian của rừng đêm sương muối lạnh lẽo bên trên Hình ảnh “súng– trăng” được đặt cạnh bên nhau khiến người đọc có nhiều liên tưởng: giữa thựctại – mơ mộng; chiến tranh – hòa bình; chiến sĩ – thi sĩ Sự đan cài giữa hiệnthực và lãng mạn ấy vừa cho thấy được hiện thực chiến tranh khó khăn, vất vả;lại vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính: họ vừa là chiến sĩ lại vừa là thi sĩ,

họ cầm súng chiến đấu để bảo vệ quê hương, đem lại nền độc lập , tự do cho Tổquốc thân yêu Có thể nói, ba câu thơ cuối một bức tranh đẹp, như một bứctượng đài sừng sững của hình ảnh người lính cách mạng với tình đồng chíthiêng liêng, sâu sắc Chính tình cảm đồng chí đã làm nên vẻ đẹp tâm hồn ngườichiến sĩ

Tóm lại, bài thơ "Đồng chí" là một bài thơ hay, độc đáo viết về người lính cụ

Hồ Qua bài thơ, người đọc thấy được vẻ đẹp tình đồng chí, đồng đội sâu sắc,cao cả, thiêng liêng của người lính cách mạng Có thể nói, bài thơ là một bứctượng đài người nông dân mặc áo lính rất đẹp, tráng lệ, hào hùng của thời kì đầukháng Pháp

Trang 21

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 4

Hình ảnh người lính trong kháng chiến luôn là một đề tài bất tận của thơ cakháng chiến Ở mỗi một thời kỳ, họ lại hiện lên với những vẻ đẹp khác nhau, cólúc thì sôi nổi, trẻ trung, khi thì hào hoa, lãng mạn Đến với Chính Hữu, chúng

ta bắt gặp hình ảnh của người lính nông dân chân chất và mộc mạc trong khángchiến chống Pháp Hình ảnh đấy được thể hiện hết sức sâu sắc và cảm độngtrong bài thơ “Đồng chí” sáng tác năm 1948

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.

Hình tượng người lính hiện lên trong bài thơ hết sức chân thật, thật đến nỗichúng ta cảm nhận như vừa thấy bóng dáng của ai đó bước thẳng vào trongnhững trang thơ Thành ngữ “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá” ámchỉ những vùng đất khô cằn, bị nhiễm phèn, nhiễm mặn quanh năm, rất khócanh tác Đấy đều là những vùng quê chiêm trũng và nghèo đói quanh năm.Những người lính trong chiến trường cũng chính là người con của mảnh đất quêhương đấy, họ đều là những người nông dân cần cù, lam lũ, chân lấm tay bùn,vậy nên cách mà họ thổ lộ tâm sự, nói chuyện với nhau đều hết sức dân dã vàmộc mạc đúng như cái chất của người nông dân Những tưởng hai con người ởhai vùng quê nghèo đói đấy sẽ chẳng bao giờ gặp được nhau, ấy vậy mà chiếntranh nổ ra, những người lính phải từ giã vùng quê của mình để lên đường bảo

vệ quê hương, đất nước Họ cùng chung mục đích, lý tưởng chiến đấu, chínhnhững điều đó đã mang họ lại nơi đây, họ trở thành những người bạn, ngườiđồng đội, đồng chí cùng nhau chia sẻ ngọt bùi và gian khổ

“Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Trang 22

Đồng chí!”.

Hình ảnh người lính còn hiện lên với những vẻ đẹp của đời sống tâm hồn, tìnhcảm, là sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia sẻ những gianlao, thiếu thốn Các anh đều là những người lính tạm gác tình riêng, để nghetheo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, dũng cảm ra đi vì nghĩa lớn để lại saulưng mảnh trời quê hương với biết bao nhiêu trăn trở

“Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.

Hình ảnh “gian nhà không” là hình ảnh khá lắng đọng trong tâm trí những ngườichiến sĩ ấy và cũng hết sức ám ảnh trong tâm trí người đọc Đấy là cái nghèo xơxác của những vùng quê hay cũng chính là nỗi trống trải trong lòng của nhữngngười ở lại “Giếng nước, gốc đa” vốn là những vật vô tri, vô giác nay đã đượcnhân hóa lên để thể hiện nỗi nhớ thương da diết của quê hương yêu dấu vớinhững người lính đã rời đi và rất khó để hẹn ngày trở lại Ngoài ra giếng nước,gốc đa còn dùng để ám chỉ những người ở lại, những người vợ chờ chồng, mẹchờ con luôn nhớ thương, mong ngóng tới ngày người lính trở về Tại sao ngườilính đang ở trong chiến trường mà lại thấu hiểu hết những tâm sự của quêhương, gia đình, ấy là bởi vì chính người lính cũng đang nhớ về họ da diết, mộtnỗi nhớ hai chiều, nhớ về quê hương chính là cách để họ vượt qua khó khăn.Đấy chính là vẻ đẹp tâm hồn, những tình cảm chất chứa trong những ngườichiến sĩ ấy

Chiến tranh diễn ra ác liệt, những người lính không chỉ phải đối mặt với mưabom bão đạn của kẻ thù, ở đây Chính Hữu đưa chúng ta đến với cuộc sốngthường ngày của những người lính với những gian khổ, bệnh tật hành hạ, thiếuthốn tất cả những vật dụng hằng ngày quần áo, thuốc men, giày dép Nhưng ở

Trang 23

họ vẫn toát lên tinh thần lạc quan, mỉm cười để cùng nhau vượt qua thử thách,khó khăn trùng điệp.

“Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Cái nắm tay ấy không chỉ là cái nắm tay đơn thuần mà nắm tay để truyền chonhau hơi ấm của tình thương, truyền cho nhau sức mạnh của ý chí để động viênnhau, cùng nhau vượt qua khó khăn, thiếu thốn Ở đây chúng ta bắt gặp hìnhảnh về người lính xiết bao cảm động và ấm áp, đấy là sức mạnh của tình thương,của sự sẻ chia những nhọc nhằn, gian lao, thiếu thốn, hành động nắm tay nhau

ấy không khác gì việc “đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi”, có thể nó không

đủ sưởi ấm cơ thể họ, nhưng cũng đủ để sưởi ấm trái tim họ

Hình ảnh người lính còn hiện lên với vẻ đẹp của tinh thần đoàn kết, thương yêu,

kề vai sát cánh bên nhau cùng nhau chiến đấu chống lại quân thù Giữa khônggian âm u của rừng hoang, sương muối ấy vẫn sáng lên bức tượng đài bất diệt

về người lính đứng cạnh bên nhau trong tư thế chủ động tấn công “chờ giặc tới”,một sự kết hợp hài hòa giữa hình tượng súng và trăng Súng tượng trưng chohiện thực cho cuộc chiến tranh khốc liệt và gian khổ, trăng tượng trưng cho hòabình, cho khát vọng về một ngày mai đất nước thanh bình “Đầu súng trăngtreo” còn tượng trưng cho sự giao hòa về tâm hồn của người lính giữa chiến sĩ

và thi sĩ, giữa hiện tại và mộng mơ Tâm hồn người lính vẫn rất đẹp, luôn yêuđời, tin tưởng về một ngày mai hòa bình

Trang 24

Bài thơ “Đồng chí” đã xây dựng một bức tượng đài bất diệt về hình ảnh ngườilính trong kháng chiến chống Pháp Hình ảnh đó đẹp và sống động tới nỗi dùcho hôm nay và mai sau mỗi khi nhắc đến hình tượng người lính trong khángchiến thì bức tượng đài đó vẫn luôn hiện về trong tâm trí người đọc.

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 5

Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ đã trở thành một đề tài được nhiều người lựa chọn

để đưa vào thơ ca của mình, nhưng đối với “Đồng chí” của Chính Hữu đó làhình ảnh của người lính giống như bức tượng đài về tình đồng chí, đồng độicùng chung cảnh ngộ, chung lý tưởng cách mạng

Các anh là những người nông dân chất phác, vì đất nước còn nghèo, còn khókhăn nhưng trên đó là cảnh đất nước bị xâm chiếm, các anh đành bỏ lại tất cả

“ruộng nương, gian nhà” những tài sản lớn nhất của cuộc đời mình để xungphong lên đường nhập ngũ, bảo vệ quê hương, đất nước

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Khi những người nông dân mặc áo lính chiến đấu “Súng bên súng, đầu sát bênđầu” là các anh đã cùng chung một lý tưởng, chung một chiến hào, họ sát cánhbên nhau, trở nên gần gũi với nhau

Khi mà chúng ta thiếu thốn về tất cả mọi mặt và phải đối diện với thời tiết khắcnghiệt phải “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ” để các anh ngày càng gầnnhau hơn nữa, đến cái chăn cũng khó đủ để đắp, các anh “chung bát, chung đôi,chung chăn, chung lý tưởng”, “thương nhau chia củ sắn, củ khoai, chăn sui đắpcùng” Chính những lúc thiếu thốn, khó khăn này làm nảy sinh ra biết bao nhiêutình cảm, khi tấm chăn đắp lại là lúc tâm tình mở ra, họ kể cho nhau rất nhiều về

Trang 25

đời sống, tình yêu, gia đình, làm họ ngày càng hiểu nhau hơn và dần dần tìnhcảm ấy trở thành “đôi tri kỉ” Khi hai từ “đồng chí” được cất lên là biết baonhiêu tình cảm trong họ trỗi dậy, đó là tiếng gọi tha thiết cất lên từ trái tim củanhững người có cùng chí hướng đánh giặc cứu nước.

Chính Hữu đã từng tâm sự rằng: “Những ngày đầu kháng chiến, từ “đồng chí”mang ý nghĩa thiêng liêng và máu thịt vô cùng, nói về tình cảm của các anh bộđội Cuộc sống của người này trở nên cần thiết đối với người kia Họ bảo vệnhau trước mũi súng kẻ thù, cùng đi qua cái chết, cùng thực hiện lý tưởng cáchmạng Đó là ý nghĩa sâu sắc về tình đồng chí.”

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.”

Hình ảnh “ruộng nương, gian nhà” là những hình ảnh quen thuộc trên mọi làngquê Việt Nam, đó là tài sản lớn nhất của cuộc đời họ, nhưng rồi họ đành bỏ lạitất cả để lên đường chiến đấu, vượt lên trên hết đó là tình yêu quê hương, đấtnước, sẵn sàng hy sinh vì cuộc kháng chiến của dân tộc

Nhưng họ đâu chỉ có chia sẻ cho nhau những tâm tư, tình cảm trong cuộc sống

mà họ còn chia sẻ và động viên nhau trong những thiếu thốn, gian khổ của cuộcchiến tranh:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.

Trang 26

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không già Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

Bệnh sốt rét là căn bệnh nguy hiểm và phổ biến trong bộ đội ta lúc bấy giờ,nhưng bộ đội lại thiếu thốn về cả mặt thuốc men, chính vì thế mà các anh phảiđấu tranh, chống chọi lại, có người còn “tóc không mọc” được vì căn bệnh đótàn phá, nhưng khi đó đã có tôi và anh, chỉ cần chúng ta có nhau vì chung tachiến đấu vì lòng yêu nước, vì lý tưởng cách mạng Qua đó để chúng ta thấyđược tình yêu thương mà họ dành cho nhau thật đáng quý

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

Bàn tay ấy truyền hơi ấm cho nhau, cùng nhau vượt qua bệnh tật, vượt qua thờitiết khắc nghiệt, tiếp thêm sức mạnh cho nhau Nhà thơ từng bộc bạch rằng: “tất

cả những gian khổ của người lính trong giai đoạn này thật khó để kể hết nhưngchúng tôi đã vượt qua nhờ sự gắn bó tiếp sức giữa các đồng đội trong quân ngũ,cho tới hôm nay, mỗi khi nghĩ đến tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn cảmxúc bồi hồi”

Điển hình là hình ảnh “đầu súng trăng treo” “Đầu súng trăng treo” là biểutượng cao đẹp nhất của tình đồng chí Với 3 câu thơ đó khi đọc lên ta thấy đượcbức tượng đài sừng sững về tình đồng chí đã được dựng lên trên cái nền củathiên nhiên khắc nghiệt “đêm nay rừng hoang sương muối”, giữa một buổi đêmkhuya với một không gian rộng lớn, bát ngát của núi rừng Việt Bắc, rừng hoangsương muối phủ trắng trời, thời tiết, địa lý khắc nghiệt đó như là thử thách cho

Trang 27

tình đồng đội của người lính Khi Chính Hữu dựng nên cái nền như thế để tácgiả tạo nên sự đối lập giữa thiên nhiên rừng núi với bức chân dung của người,tác giả sử dụng không gian địa lý đó để làm nền tô đậm thêm bức chân dung đấytrong tư thế họ đứng cạnh nhau chờ giặc.

Nhà thơ từng chia sẻ: “Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng, đi phục kích giặctrong đêm trước mắt tôi chỉ có 3 nhân vật: “khẩu súng, vầng trăng và người bạnchiến đấu", ba hình ảnh ấy quyện vào nhau tạo thành hình ảnh “đầu súng trăngtreo” ngoài hình ảnh thì 4 chữ này còn có nhịp điệu như nhịp tắc của một cái gì

lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao vàxuống thấp dần, có lúc lại treo lơ lửng đầu mũi súng”

Với động từ “chờ” nghĩa là sẵn sàng, chủ động, hiên ngang chờ giặc, trong thờitiết khắc nghiệt họ vẫn bình thản, lãng mạn bên cuộc chiến này, có lẽ chỉ cónhững người lính mới có vẻ đẹp tâm hồn như thế, tâm hồn này đã được tôiluyện, đã dạn dày kinh nghiệm nơi chiến trường rồi thì mới có được cái tâm thếnhư thế được Gian khổ là thế, khó khăn là thế, bom đạn của kẻ thù là thế, mà cóthể khiến cho những người lính của chúng ta mất đi cái vẻ đẹp ấy, luôn chanchứa về tình đồng đội, về niềm tin rằng ngày mai cuộc chiến của chúng ta sẽgiành thắng lợi

Nếu như khổ đầu của bài thơ là tình đồng chí, khổ thứ hai là “thương nhau taynắm lấy bàn tay”, thì khổ 3 là hình ảnh “đầu súng trăng treo” là điểm nhấn củakhổ 3 và điểm sáng của cả bài, nó thổi bùng lên hình ảnh tươi đẹp về tình đồngchí

Hình ảnh “đầu súng trăng treo” có hai ý nghĩa Tả thực: đó là hình ảnh củanhững người lính hằng đêm vẫn thay phiên nhau canh gác, khi đó họ phải đứngtrên một chòi cao để quan sát được xa và rõ nhất, khi đó thì các người lính chĩangọn súng của mình lên bầu trời, khi mà trăng sao sáng trong như vậy, khi ta

Trang 28

nhìn từ dưới lên trên thì ta nhìn thấy ngọn súng của những người lính, chạm vàoánh trăng, trăng như sà xuống đậu trên đầu của ngọn súng, vì thế trăng chính làmột người bạn, treo trên đầu ngọn súng.

Còn ý nghĩa thứ là ta hãy liên tưởng thử xem, nếu hình ảnh “đầu súng” vốntượng trưng cho chiến tranh, còn “trăng” tượng trưng cho hòa bình, tác giả đặthòa bình với chiến tranh, hiện thực với lãng mạn để ta thấy được Chính Hữu cóđiểm nhìn đầy lãng mạn, đầy tin yêu Những người lính vừa mang tâm thế củathi sĩ vừa mang tâm thế của chiến sĩ Một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ, lãng mạncủa người lính

Người lính cụ Hồ hiện lên qua những vần thơ của Chính Hữu thật đẹp đẽ, thậtlãng mạn, ta như được người nhìn thấy họ chiến đấu, thấy họ phải chịu biết baonhiêu nỗi đau về thể xác và tinh thần nhưng vượt lên trên đó là tình yêu thương,đùm bọc, chia sẻ với nhau

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 6

Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính, vẻ đẹp của

“Đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng ánhsáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hoà quyện vào tình giai cấp.Người lính nông dân đã đi vào thơ ca bằng những hình ảnh chân thật và đẹptrong “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Cá nước” của Tố Hữu nhưng tiêu biểu hơn

cả là bài “Đồng chí” của Chính Hữu Bài thơ được sáng tác vào năm 1948 lànăm cuộc kháng chiến hết sức gay go, quyết liệt Trong bài thơ này, tác giả đãtập trung thể hiện mối tình keo sơn gắn bó, ngợi ca tình đồng chí giữa nhữngngười lính trong những năm kháng chiến chống Pháp

Cảm nhận đầu tiên của chúng ta khi đọc bài thơ là hình ảnh người lính hiện lên

Trang 29

cuộc đời thực họ bước thẳng vào trang thơ, trong cái môi trường quen thuộcbình dị thường thấy ở làng quê ta còn đói nghèo lam lũ:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua, Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.

Quê hương xa cách nhau, mỗi người mỗi nơi Người quê ở miền biển “nướcmặn đồng chua”, người ở vùng đồi núi “đất cày lên sỏi đá” Song dù xa cáchnhau, dù khác nhau, nhưng đều là quê hương của lam lũ, vất vả, đói nghèo Chữnghĩa bình thường mà như đang cựa quậy khi cuộc sống thực đã ùa vào câu thơđem đến những cảm nhận sâu sắc về quê hương người lính

Tuy ở những phương trời khác nhau, “chẳng hẹn quen nhau”, nhưng cùng sống

và chiến đấu với nhau trong một đội ngũ, những người lính đã tự nguyện gắn bóvới nhau:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Cái rét ở rừng Việt Bắc đã nhiều lần vào trong thơ bộ đội chống Pháp vì đó làmột thực tế ai cũng nếm trải trong những năm chinh chiến ấy Có điều lạ là câuthơ nói đến cái rét gợi cho người đọc một cảm giác ấm cúng của tình đồng đội,nghĩa đồng bào Câu thơ của Chính Hữu đã diễn tả tình đồng chí thật cụ thể và

cô đọng, sự gắn bó giữa những người đồng chí cùng chung nhau chiến đấu

“súng bên súng”, cùng chung một lí tưởng “đầu sát bên đầu” Sự gắn bó mỗi lúclại càng thêm sâu sắc: Là súng bên súng đến đầu bên đầu, rồi thân thiết hơn nữa

là đắp chung chăn, thành tri kỉ

Đoạn thơ đầu của bài thơ kết thúc bằng hai chữ “Đồng chí” làm sáng tỏ thêmnội dung, ý nghĩa của cả đoạn thơ Nó giải thích vì sao người lính từ bốn

Trang 30

phương trời xa lạ, không hẹn gặp nhau mà bỗng trở thành thân thiết hơn máuthịt Đó là sự gắn bó giữa những người anh cùng chung một lý tưởng chiến đấu,

là sự gắn bó kì diệu, thiêng liêng và mới mẻ của tình đồng chí

Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tự nguyện:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Họ vốn gắn bó sâu nặng với ruộng nương, với căn nhà thân thiết, nhưng cũngsẵn sàng rời bỏ tất cả để ra đi Nhà thơ đã dùng những hình ảnh quen thuộc vàtiêu biểu của mọi làng quê Việt Nam như biểu tượng của quê hương nhữngngười lính nông dân Giếng nước, gốc đa không chỉ là cảnh vật mà còn là làngquê, là dân làng Cảnh vật ở đây được nhân cách hoá, như có tâm hồn hướngtheo người lính

Tác giả tả rất thực về cuộc sống của người lính Nhà thơ không che giấu mà nhưcòn muốn nhấn mạnh để rồi khắc họa rõ nét hơn cuộc sống gian lao thiếu thốncủa họ Và phải là người trong cuộc thì mới vẽ lên bức tranh hiện thực sốngđộng về người lính với một sự đồng cảm sâu sắc như vậy:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh.

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá

Trang 31

Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Thơ ca kháng chiến khi nói tới gian khổ của người lính thường nói rất nhiều tớicái lạnh, cái rét Đoạn thơ thứ hai này kết thúc bằng câu “Thương nhau tay nắmlấy bàn tay” Một sự cảm thông, chia sẻ vừa chân thành, vừa tha thiết làm sao.Người ta bảo bàn tay biết nói là thế Hình ảnh kết thúc đoạn thứ hai này cắtnghĩa vì sao người lính có thế vượt qua mọi thiếu thốn, gian khổ, xa quê hương,quần áo rách vá, chân không giày, mùa đông lạnh giá với những cơn sốt rét “runngười” Hơi ấm của tình đồng chí truyền cho nhau đã giúp người lính thắngđược tất cả Hình ảnh kết thúc bài thơ chỉ có ba dòng:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Sau những câu thơ tự do đang trải dài “Đêm nay rừng hoang sương muối” câukết thúc thư vào trong bốn chữ làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, chắcgọn, gây sự chú ý cho người đọc Hình ảnh kết thúc bài thơ đầy thơ mộng, cáithơ mộng của gian khó, hiểm nguy: một cánh rừng, một màn sương, một vầngtrăng với hai ngọn súng, hai con người chờ giặc “Đầu súng trăng treo” cùng làmột câu thơ dồn nén và có sức tạo hình, nó đẹp như một biểu tượng chiến đấucủa những người lính giàu phẩm chất tâm hồn Đó cũng là vẻ đẹp trữ tình mớicủa thơ ca kháng chiến, kết hợp được súng và trăng mà không khiên cưỡng.Toàn bài “Đồng chí” từ chi tiết cuộc sống đến cảm giác của tác giả đều rất thật,không một chút tô vẽ đắp điểm, không bình luận, thuyết minh Bài thơ thiên vềkhai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính, vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻđẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng ánh sáng lung linh

Trang 32

nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hoà quyện vào tình giai cấp Hình ảnh “đầusúng trăng treo” ở cuối bài nâng vẻ đẹp người lính lên đến đỉnh cao khái quáttrong đó có sự hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn đồng thời mang ý nghĩatượng trưng sâu sắc.

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 7

Đề tài người lính trong chiến đấu luôn là một đề tài bất tận của thơ ca khángchiến Hình ảnh người lính trong cảm nhận của mỗi nhà thơ có sự khác nhau.Với Chính Hữu, người lính hiện lên hết sức giản dị, mộc mạc nhưng có một tâmhồn cao đẹp, họ có chung một tình dân tộc, cùng lý tưởng chiến đấu Hình ảnhđấy được thể hiện hết sức sâu sắc và cảm động trong bài thơ “Đồng chí” sángtác năm 1948

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Hình ảnh người lính hiện lên hết sức chân thực Họ là những người lính xuấtphát từ những người nông dân tảo tần, quanh năm vất vả trên ruộng đồng HÌnhảnh “nước mặn đồng chua” và “đất cày sỏi đá” được tác giả sử dụng để chỉnhững vùng đất khó khăn, khô cằn Việc sử dụng biện pháp lặp cấu trúc tronghai câu thơ trên để diễn tả sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân Họ đều đến từnhững miền quê gian khổ ấy, là những người nông dân cần cù, lam lũ, chân lấmtay bùn, vậy nên cách mà họ thổ lộ tâm sự, nói chuyện với nhau đều hết sức dân

dã và mộc mạc đúng như cái chất của người nông dân Những miền quê xa xôicủa Tổ quốc lại hội tụ về đây trong một hoàn cảnh đặc biệt: chiến tranh nổ ra,

họ đành gác lại cuộc sống cơm áo để lên đường bảo vệ quê hương dân tộc, vìvậy mà:

Trang 33

Tự phương trời không hẹn mà quen nhau.

Họ cùng chung mục đích, lý tưởng chiến đấu, chính những điều đó đã mang họlại nơi đây, họ trở thành những người bạn, người đồng đội, đồng chí cùng nhauchia sẻ ngọt bùi và gian khổ

Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Tri kỷ là những người cùng bên nhau chia ngọt sẻ bùi, cùng bước qua nhữngngày tháng khốn khó và trong hoàn cảnh chiến đấu này, họ gọi nhau bằng haitiếng thiêng liêng: Đồng chí Dòng thơ thứ bảy như một nhịp ngắt, một nốt trầmtĩnh lặng, một không khí thiêng liêng cho những người lính Họ về đây theotiếng gọi của non sông dân tộc, từ nay họ cùng nhau chiến đấu cho một lý tưởngcao cả Bỏ lại sau lưng là quê hương, gia đình, là những mảnh ruộng nương dâuchờ ngươi chăm bón, họ cùng nhau chung sức chung lòng để giữ đất nước trướcmối họa xâm lăng, tình yêu dân tộc đã lớn hơn tất cả

Không chỉ có vậy, hình ảnh người lính hiện lên với những vẻ đẹp của đời sốngtâm hồn, tình cảm, là sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia

sẻ những gian lao, thiếu thốn Trong những tháng ngày chiến đấu nguy nan, họcùng nhau vượt qua những cơn sốt rét giữa rừng thiêng nước độc, cuộc sống đầythiếu thốn, gian khổ nơi chiến trường:

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày

Trang 34

Nhờ tinh thần kiên cường chiến đấu, họ vẫn toát lên tinh thần lạc quan, mỉmcười để cùng nhau vượt qua thử thách, khó khăn trùng điệp Trong khó khăn,tình người càng thêm ấm áp và tỏa sáng “thương nhau tay nắm lấy bàn tay Cáinắm tay để truyền thêm hơi ấm, để động viên nhau cùng vượt qua gian khó,thiếu thốn HÌnh ảnh đẹp ấy thật cảm động và ấm áp, cái nắm tay tuy không đủ

để sưởi ấm cho cơ thể của người lính nhưng cũng đủ để sưởi ấm trái tim, để xua

đi những nỗi nhớ quê hương, gia đình

Đáng trân quý ở những người lính bộ đội cụ Hồ còn là sự yêu thương, đoàn kết,

kề vai bên nhau cùng chiến đấu Giữa rừng hoang sương muối, cái giá lạnhtrong đêm như thấm từng thớ thịt, họ cùng đứng bên nhau để làm nhiệm vụ,canh giữ sự bình yên cho đất nước Hình ảnh cuối bài “Đầu súng trăng treo” làmột hình ảnh đẹp, là nhãn tự cho cả bài thơ, một sự kết hợp hài hòa giữa súng

và trăng Súng tượng trưng cho hiện thực cho cuộc chiến tranh khốc liệt và giankhổ, trăng là thơ mộng, là bình yên, là ánh sáng soi đường cho người lính trongđêm khuya Trăng cũng gợi nỗi nhớ quê hương các anh – nơi có những ngườithân yêu đang ngày đêm mong ngóng “Đầu súng trăng treo” tượng trưng cho sựgiao hòa về tâm hồn của người lính giữa chiến sĩ và thi sĩ, giữa hiện tại và mộng

mơ Tâm hồn người lính vẫn rất đẹp, luôn yêu đời, tin tưởng về một ngày maihòa bình

Bài thơ Đồng chí đã xây dựng một bức tượng đài bất diệt về hình ảnh người línhtrong kháng chiến chống Pháp, họ mang vẻ đẹp giản dị, mộc mạc, cùng chung

lý tưởng chiến đấu và cùng sẻ chia gian khó trong những ngày tháng chiến đấuhào hùng của dân tộc Nhờ có các anh, những người chiến sĩ vô danh đã thầmlặng hi sinh để đất nước hôm nay được thanh bình, phát triển Bài thơ sử dụngcác ngôn từ mộc mạc, hình ảnh giản dị nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc tronglòng người đọc về hình ảnh những người lính trong kháng chiến chống Pháp

Trang 35

Nhờ có các anh, những người chiến sĩ vô danh đã thầm lặng hi sinh để đem lạibình yên cho dân tộc hôm nay.

Phân tích hình ảnh người lính trong bài Đồng chí - Mẫu 8

Chính Hữu là một nhà thơ rất nổi tiếng chuyên viết về đề tài người lính và chiếntranh Những tác phẩm ông để lại đều được đánh giá rất cao và rất thành công.Trong bài thơ “Đồng Chí”, Chính Hữu đã khắc hoạ thành công cái chất hiềnlành, tình nghĩa mộc mạc mà dung dị cũng như tình đồng chí, đồng đội

Lịch sử nước ta đã đi qua biết bao thăng trầm biến cố Mỗi lần biến động là mỗilần dân ta xích gần lại nhau hơn, cùng nhau vì mục đích cao cả chung Đó lànhững năm tháng hào hùng, khí thế của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu tranhchống Pháp, chống Mỹ vĩ đại Giữa những đau thương chiến đấu, cuộc chiếncòn góp phần đắp xây nên mối quan hệ giữa những người lính với nhau Chonên không có gì khó hiểu khi vào năm 1948, tác phẩm “Đồng Chí” của nhà thơChính Hữu lại tạo nên một sự bùng nổ, lan truyền rộng khắp trong giới quân đội.Bài thơ ca ngợi tình đồng đội gian khổ, vào sinh ra tử có nhau của các anh bộđội cụ Hồ, những người nông dân yêu nước đi bộ đội đánh giặc trong nhữngnăm đầu gian khổ thời chín năm kháng chiến chống Pháp Chính bài thơ đã khơidậy những xúc động mạnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ Chính Hữu đã khắc hoạthành công cái chất hiền lành, tình nghĩa mộc mạc mà dung dị cũng như tìnhđồng chí, đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính nông dân áo vải

Từ mọi miền quê trên dải đất quê hương, những con người xa lạ bỗng đứng lêntheo tiếng gọi của Tổ Quốc, cùng họp lại với nhau, trở thành một con người mới:người lính Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ đói nghèo,quanh năm chỉ biết đến con trâu mảnh ruộng, các anh giã từ quê hương lênđường chiến đấu:

Ngày đăng: 07/04/2023, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w