Ngành dệt may được xem là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, vừa cung cấp hàng hóa tiêu dùng trong nước, vừa tạo thu hút nhiều
Trang 1KHOA THƯƠNG MẠI
HOÀNG VŨ ĐĂNG HÀ LỚP : 10CKQ2 – KHÓA 10 MSSV : 1013060055
Trang 2KHOA THƯƠNG MẠI
HOÀNG VŨ ĐĂNG HÀ LỚP : 10CKQ2 – KHÓA 10 MSSV : 1013060055
Trang 3
TP Hồ Chí minh, ngày … tháng … năm…
Trang 4
TP Hồ Chí minh, ngày … tháng … năm…
Trang 5LỜI CẢM ƠN
-
Để có được như ngày hôm nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp
đỡ củarất nhiều người, những người luôn ở bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi lúc tôi gặp khó khăn cả trong học tập lẫn trong đời sống hàng ngày
Xin luôn ghi nhớ và gửi lời cảm ơn tha thiết đến các thầy cô, những người đã cho em hành trang kiến thức để em vững bước vào đời
Xin đặc biệt biết ơn TS Nguyễn Xuân Hiệp, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc Công Ty TNHH Thương Mại & Sản Xuất May Mặc Thảo Uyên và cùng toàn thể các anh, chị làm việc trong công ty đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập.Xin cảm ơn các bạn, những người đã luôn động viên, luôn ủng hộ tôi
Xin chân thành cảm ơn !
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 7 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Hoàng Vũ Đăng Hà
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT
KHẨU……… 10
1.1 Khái quát chung về xuất kh u 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Đặc điểm của xuất kh u 11
1.1.3 Các hình thức xuất kh u 12
1.1.3.1 Xuất kh u trực tiếp 12
1.1.3.2 Xuất kh u gián tiếp 13
1.1.3.3 Xuất kh u ủy thác 14
1.1.3.4 Buôn bán đối lưu 14
1.1.3.5 Gia công quốc tế 14
1.1.4 Vai trò của xuất kh u 15
1.1.4.1 Đối với nền kinh tế thế giới 15
1.1.4.2 Đối với nền kinh tế quốc dân 15
1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp 17
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất kh u 18
1.2.1 Môi trường vĩ mô 18
1.2.1.1 Môi trường kinh tế 18
1.2.1.2 Môi trường chính trị và pháp luật 19
1.2.1.3 Môi trường văn hóa xã hội 22
1.2.1.4 Môi trường nhân kh u 24
1.2.1.5 Môi trường công nghệ 24
1.2.1.6 Môi trường tự nhiên 26
1.2.2 Môi trường vi mô 28
1.2.2.1 Môi trường cạnh tranh 28
Trang 71.2.2.2 Môi trường khách hàng 31
1.2.2.3 Nhà cung cấp 32
1.2.2.4 Đối thủ tiềm n 34
1.2.2.5 Sản ph m thay thế 35
1.2.3 Các yếu tố bên trong ngành 35
1.2.4 Chính sách dành cho xuất kh u 37
1.2.4.1 Thuế quan 37
1.2.4.2 Trợ cấp xuất kh u 37
1.2.4.3 Hình thức ưu đãi 37
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả xuất kh u 39
1.3.1 Tổng kim ngạch xuất kh u 39
1.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất kh u 39
1.3.3 Thị trường xuất kh u 41
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 44
2.1 Tổng quan thị trường dệt may Việt Nam 44
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển và vai trò của ngành dệt may 44
2.1.2 Đặc điểm ngành dệt may 47
2.1.3 Định hướng phát triển ngành dệt may trong tương lai 49
2.1.3.1 Quan điểm phát triển 49
2.1.3.2 Mục Tiêu 50
2.1.3.3 Định hướng phát triển 51
2.2 Tổng quan thị trường dệt may EU 53
2.2.1 Giới thiệu EU 53
2.2.2 Thị trường EU với nền kinh tế Việt Nam 54
2.2.3 Đặc điểm thị trường EU 56
2.2.4 Thị trường dệt may EU 59
Trang 82.2.5 Những quy định và chính sách của EU đối với hàng dệt may 64
2.3 Thực trạng xuất kh u hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU 69
2.3.1 Kim ngạch xuất kh u 69
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất kh u 71
2.3.3 Tình hình xuất kh u theo thị trường EU 75
2.4 Kết quả họat động xuất kh u của hàng dệt may Việt Nam 80
2.4.1 Những kết quả đạt được 80
2.4.2 Những hạn chế cần khắc phục 82
2.5 Phân tích dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến xuất kh u hàng dệt may 83
2.5.1 Môi trường vĩ mô 83
2.5.1.1 Môi trường kinh tế 83
2.5.1.2 Môi trường chính trị, pháp luật, chính phủ 87
2.5.1.3 Môi trường xã hội, văn hóa, nhân kh u và tự nhiên 88
2.5.1.4 Môi trường khoa học, công nghệ 90
2.5.2 Môi trường vi mô 92
2.5.2.1 Đối thủ cạnh tranh 92
2.5.2.2 Khách hàng 99
2.5.2.4 Đối thủ tiềm m 103
2.5.2.5 Sản ph m thay thế 103
2.5.3 Môi trường bên trong ngành 104
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA
VIỆT NAM………111
3.1 Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2015 111
3.1.1 Dự báo sự phát triển ngành dệt may Việt Nam vào thị trường EU 111 3.1.2 Mục tiêu phát triển xuất kh u hàng dệt may vào thị trường EU 114
3.2 Các giải pháp nâng cao xuất kh u hàng dệt may Việt Nam 117
3.2.1 Phát triển nguyên phụ liệu cho ngành dệt may: 117
Trang 93.2.2 Phát triển công nghệ 118
3.2.3 Đào tạo và phát triển nhân lực 119
3.2.4 Đ y mạnh các hoạt động xuất kh u cho hàng dệt may Việt Nam 120
3.2.5 Lựa chọn kênh phân phối, marketing 121
3.2.6 Giải pháp về thiết kế: “Thực hiện chiến lược thời trang 123
3.2.7 Các doanh nghiệp cần liên kết với nhau 124
3.2.8 Nâng cao trình độ công nghệ 124
3.3 Một số kiến nghị 126
3.3.1 Đối với doanh nghiệp 126
3.3.2 Đối với nhà nước 126
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Mục tiêu tốc độ tăng trưởng sản xuất, xuất khNu hàng năm của ngành dệt
may Việt Nam đến năm 2020
Bảng 2.2: Chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt May Việt Nam đến
năm 2015, định hướng đến năm 2020
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khNu hàng dệt may vào thị trường EU 2009 -2012
Bảng 2.4: Tổng giá trị xuất khNu hàng hóa dệt may Việt Nam vào thị trường EU năm
Biểu đồ 2.1: Thống kê tổng kim ngạch xuất khNu, nhập khNu và cán cân thương mại
hàng hóa giữa Việt Nam – EU giai đoạn 2009 - 2012
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP ở một số nước/khu vực trên thế giới
Đơn vị: %
Biểu đồ 2.3: Xu hướng nhập khNu các NPL chính của ngành dệt may trong 5 tháng
đầu năm 2012
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kinh tế thương mại là một trong những vấn đề quan trọng để giúpkinh tế phát triển, Đảng và nhà nước ta đã lấy xuất khNu là biện pháp nhất thiết để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần giải quyết nhiều vấn đề như: việc làm, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, từng bước thực hiện công nghiệp hóa đất nước Do vậy việc lựa chọn mặt hàng xuất khNu hết sức quan trọng, và dệt may là một trong những ngành được Việt Nam chú trọng trong xuất khNu
Ngành dệt may được xem là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn có
vị trí quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, vừa cung cấp hàng hóa tiêu dùng trong nước, vừa tạo thu hút nhiều lao động và là một trong những ngành thu được lượng ngoại tệ lớn thông qua xuất khNu Trong những năm vừa qua kim ngạch xuất khNu của ngành luôn tăng trưởng mạnh, chủng loại hàng xuất khNu đa dạng, phong phú, thị trường được mở rộng, đặc biệt là những thị trường có tiềm năng lớn và vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản…
EU, một trong những thị trường rộng lớn, tiềm năng nhưng cũng rất khó tính đối với ngành dệt may Trong những năm gần đây việc xuất khNu hàng dệt may vào thị trường này có bước tiến phát triển mạnh mẽ nhưng bên cạnh đó cũng có những khó
khăn nhất định đặc biệt là đối với thị trường đầy hấp dẫn này Do vậy đề tài “Phân tích tình hình xuất kh u hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đến năm 2015” sẽ đi sâu phân tích tình hình thị trường dệt may EU, thông qua các chỉ tiêu để
đánh giá chính xác khả năng thực tế hàng dệt may xuất khNu vào thị trường nàyvà đưa
ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đNy xuất khNu hàng dệt may vào thị trường
EU
Trang 121 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tình hình sản xuất, xuất khNu hàng dệt may của
Việt Nam vào thị trường EU cùng với đề tài “Phân tích tình hình xuất kh u hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đến năm 2015” nhằm:
+ Hệ thống hóa lý luận cơ bản về xuất khNu
+ Giới thiệu thị trường EU và ngành dệt may của Việt Nam
+ Phân tích tình hình xuất khNu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU, đánh giá những thành công, bên cạnh đó là những mặt hạn chế, tồn tại và các nguyên nhân tác động đến tình hình xuất khNu hàng dệt may của Việt Nam Đồng thời phân tích dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khNu hàng dệt may của Việt Nam Từ đó đưa ra những
cơ hội, thách thức , điểm mạnh, điểm yếu trong xuất khNu hàng dệt may đến 2015
Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đNy xuất khNu hàng dệt may của Việt Nam vào
EU đến 2015
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình xuất khNu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm qua và dự báo, giải pháp thúc đNy xuất khNu đến 2015
Phạm vi nghiên cứu: xuất khNu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU và
dự báo 2015
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đã sử dụng nhiêu phương pháp nghiên cứu, trong đó tập trung vào những phương pháp sau:
- Chương I: Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa
- Chương II: Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chứng,
phân tích dự báo
- Chương III: Phương pháp suy luận logic, tư duy hệ thống
Trang 134 Kết cấu của báo cáo chuyên đề
- Mở đầu
- Chương I :Cơ sở lý luận và những vấn đề chung về xuất khNu
- Chương II :Tình hình thị trường và thực trạng xuất khNu hàng dệt may vào
thị trường EU
- Chương III: Những giải pháp thúc đNy xuất khNu hàng dệt may của Việt
Nam vào thị trường EU trong thời gian tới
- Kết luận
Trang 14và khu chế xuất ở trong nước
Xuất khNu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, xuất hiện từ lâu đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Hình thức cơ bản ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cho đến nay nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức Hoạt động xuất khNu ngày nay diễn
ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn
Kinh doanh xuất nhập khNu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ đó là một hình thức của mối quan
hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới
Vậy có thể nói xuất khNu là bộ phân cấu thành quan trọng của hoạt động ngoại thương, trong đó hàng hóa dịch vụ được trao đổi với nước khác nhằm thu ngoại tệ
Trang 151.1.2 Đặc điểm của xuất kh u
Hoạt động xuất khNu có những đặc điểm sau :
- Thời gian lưu chuyển hàng hóa xuất khNu
o Thực gian lưu chuyển hàng hóa là thời gian cần thiết để thực hiện môt chu
kỳ kinh doanh T-H-T’ của doanh nghiệp thương mại
- Hàng hóa kinh doanh xuất khNu
o Hàng hóa kinh doanh xuất khNu có nhiều loại trong đó xuất khNu chủ yếu những mặt hàng là thế mạnh của nước ta như lúa gạo, hàng nông sản, gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ…Ngoài hàng hóa, đối tượng của xuất khNu còn có thể là dịch vụ
o Hàng hóa xuất khNu cần phải được làm thủ tục hải quan xuất khNu và thủ tục hải quan nhập khNu Để thực hiện tốt khâu làm thủ tục cần có đội ngũ cán bộ giỏi nghiệp vụ nhưng thực tế nhiều công ty vẫn phải thông qua trung gian làm phát sinh chi phí
- Thời điểm giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán
o Thời điểm xuất khNu hàng hóa và thời điểm thanh toán tiền hàng là khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thanh toán được quy định trong hợp đồng
o Trong buôn bán hàng hóa quốc tế, việc giao nhận hàng thường phải qua trung gian nên dễ phát sinh tranh chấp Vì vậy các bên cần có kiến thức trong
Trang 16việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khNu để tránh xảy ra tranh chấp gây thiệt hại
- Đồng tiền thanh toán
o Trong buôn bán ngoại thương, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ ít nhất đối với một bên do đó biến động của tỷ giá cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các bên tham gia giao dịch nên cần có sự quan tâm nhất định đối với tình hình biến động của tỷ giá hối đoái và tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến tỷ giá để chọn đồng tiền thanh toán có lợi nhất
- Phương thức thanh toán
o Trong xuất khNu hàng hóa có nhiều phương thức thanh toán như chuyển tiền (Remittance),ghi sổ (Open account), nhờ thu (Collection), đổi chứng từ trả tiền (CAD), tín dụng chứng từ (L/C) Trong đó thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức tương đối an toàn, đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khNu
- Tập quán và pháp luật
o Hai bên mua và bán có quốc tịch khác nhau, luật pháp khác nhau, tập quán kinh doanh khác nhau do vậy phải tuân thủ tập quán và pháp luật kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế Các bên cần có sự am hiểu về pháp luật các quốc gia và luật quốc tế để hạn chế tối đa tranh chấp có thể xảy
ra
1.1.3 Các hình thức xuất kh u
Với mục tiêu đa dạng hóa các hinh thức xuât khNu nhằm phân tán và chia sẻ rủi
ro, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức khác nhau
1.1.3.1 Xuất kh u trực tiếp
Xuất khNu trực tiếp là xuất khNu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khNu ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình
Trang 17Hình thức này có những ưu diểm là lợi nhuận mà đơn vị kinh doanh xuất khNu thường cao hơn các hình thức khác do không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian với vai trò là người bán trực tiếp, đơn vị ngoại thương có thể nâng cao uy tín của mình
Ngoài ra xuất khNu trực tiếp có nhược điểm là đòi hỏi đơn vị phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro.Thường được áp dụng cho các doanh nghiệp có nguồn vốn lớn, đội ngũ nhân viên có năng lực, chuyên môn cao và sản phNm xuất khNu đã có vị thế trên thị trường quốc tế
1.1.3.2 Xuất kh u gián tiếp
Xuất khNu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài thông qua các trung gian xuất khNu như người đại lý hoặc người môi giới Đó có thể là các cơ quan, văn phòng đại diện, các công ty uỷ thác xuất nhập khNu Xuất khNu gián tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khNu, đồng thời khiến nhà xuất khNu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho người trung gian
Ưu điểm xuất khNu gián tiếp là giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tìm nguồn đầu ra cho sản phNm của mình, hàng hoá của doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào một thị trường mới mà mình chưa biết, tránh được rủi ro khi mình kinh doanh trên thị trường đó.Tận dụng sự am tường hiểu biết của bên nhận uỷ thác trong nghiệp vụ kinh doanh xuất khNu từ khâu đóng gói, vận chuyển, thuê tàu mua bảo hiểm…, doanh nghiệp tiết kiệm được tiền của, thời gian đầu tư cho việc thực hiện xuất khNu
Bên cạnh đó có nhược điểm là mất mối liên hệ trực tiếp của doanh nghiệp với thị trường nước ngoài, phải chia sẻ lợi nhuận cho khâu trung gian, nhiều khi đầu ra phụ thuộc vào phía uỷ thác trung gian làm ảnh hưởng đến sản xuất
Xuất khNu gián tiếp thường áp dụng cho những doanh nghiệp mới vươn ra thị trường nước ngoài, sản phNm xuất khNu thường là những sản phNm mới hoặc những sản phNm có tính cạnh tranh cao
Trang 181.1.3.3 Xuất kh u ủy thác
Xuất khNu uỷ thác là các đơn vị nhận giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng để xuất khNu cho một đơn vị (bên uỷ thác) để qua đó hưởng “phí ủy thác” ( thường tính theo % giá trị lô hàng) Trong hình thức xuất khNu uỷ thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khNu làm thay cho đơn vị sản xuất
Hình thức nay có những ưu điểm là độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít, người đứng ra xuất khNu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt là không cần đến vốn để mua hàng, phí ít nhưng nhận tiền nhanh, cần ít thủ tục
Nhưng hạn chế của hình thức này là lợi nhuận bị chia sẻ, việc thu thập thông tin thị trường gặp khó khăn dẫn đến doanh nghiệp khó phản ứng linh hoạt với những biến động thị trường có thể xảy ra
Vì vậy hình thức này thích hợp cho những doanh nghiệp có tiềm lực hạn chế, chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường
1.1.3.4 Buôn bán đối lưu
Đây là hình thức giao dịch mà trong đó xuất khNu kết hợp chặt chẽ với nhập khNu, người bán đồng thời là người mua, hàng trao đổi có giá trị tương đương nhau Mục đích xuất khNu không phải là nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị xấp xỉ giá trị lô hàng xuất khNu
Lợi ích của hình thức này là tránh những rủi ro về biến động tỷ giá trên thị trường ngoại hối, có thể làm cân bằng hạn mục thường xuyên trong cán cân thanh toán Tuy nhiên bên cạnh còn có khó khăn là quá trình trao đổi hàng hóa, việc giao nhận hàng hóa khó tiến hành thuận lợi
Hình thức này thường được tiến hành ở các quốc gia, những tập đoàn lớn hoặc các bên tham gia đã có mối quan hệ buôn bán với nhau từ trước
1.1.3.5 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập khNu nguyên liệu hoặc bán thành phNm của một bên
Trang 19khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phNm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt động
xuất nhập khNu gắn liền với hoạt động sản xuất
Hình thức này thường áp dụng cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển
có nhiều tài nguyên, nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ
Gia công quốc tế có ưu điểm là đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia hoạt động buôn bán; bên đặt gia công tận dụng giá rẻ về nhân công, nguyên liệu của nước gia công; bên nhận gia công tạo được việc làm cho lao động trong nước, nhập được máy móc, thiết bị, công nghệ mới tuy nhiên các doanh nghiệp dễ bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại, mẫu hàng hóa gia công và dễ bị ép giá gia công
1.1.4 Vai trò của xuất kh u
1.1.4.1 Đối với nền kinh tế thế giới
Thông qua hoạt động xuất khNu, cácb quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế.Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và sản xuất những hàng hoá và dịch vụ
mà mình không có lợi thế Xét trên tổng thể nền kinh tế thế giới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khNu sẽ làm cho việc sử dụng các nguôn lực có hiệu quả hơn và tổng sản phNm xã hội toàn thế giới tăng lên Bên cạnh đó xuất khNu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia
1.1.4.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
Xuất khNu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu để quốc gia thoả mãn nhu cầu nhập khNu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất
Mỗi quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế lại rất cần những tư liệu sản xuất để phục vụ cho công cuộc CNH- HĐH Để có những tư liệu sản xuất đó, họ phải nhập khNu từ nước ngoài và để bù đắp nguồn vốn bị thiếu hụt họ sẽ lấy từ xuất khNu
Trang 20Ở các nước kém phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển.Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là cở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài thấy được khả năng xuất khNu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ
Xuất khNu có ích lợi kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản xuất.Để có thể đáp ứng được nhu cầu cao của thế giới về qui cách phNm chất sản phNm thì một sản phNm sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
Xuất khNu là cơ sở để mở rộng và thúc đNy kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.Xuất khNu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Hoạt động xuất khNu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đNy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tế, bảo hiểm, vận tải quốc tế, tín dụng quốc tế…phát triển theo Ngược lại sự phát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khNu phát triển
Xuất khNu có tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đới của nhân dân
Tác động của xuất khNu đến đời sống bao gồm nhiều mặt như giải quyết vấn đề thất nghiệp, tăng thu nhập, tăng khả năng chi tiêu cho người dân, Ngoài ra một phần kim ngạch xuất khNu còn dùng để nhập khNu những vật phNm tiêu dùng thiết yếu phục
vụ cho đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
ĐNy mạnh xuất khNu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế.Việc đNy mạnh xuất khNu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khNu, gây phản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả tăng tổng sản phNm xã hội
và nền kinh tế phát triển nhanh.ĐNy mạnh xuất khNu có ích lợi đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước
Trang 21Xuất khNu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ,cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước Xuất khNu tạo những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này có ý nghĩa là xuất khNu là phương tiện quan trọng tạo vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào trong nước nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới
Thông qua xuất khNu, hàng hoá trong nước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thi trường thế giới về giá cả và chất lượng.Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường Ngoài ra, xuất khNu còn đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải luồng đổi mới công hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phNm và hạ giá thành
1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp
Ngày nay xu hướng mở rộng thị trường nước ngoài là một xu hướng tất yếu chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Việc xuất khNu hàng hoá dịch vụ đem lại lợi ích sau:
- Thông qua xuất khNu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuốc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ câu sản xuất phù hợp với thị trường
- Xuất khNu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phNm, hạ giá thành
- Xuất khNu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 22- Xuất khNu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đâu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sản xuất, marketing…, cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất kh u
1.2.1 Môi trường vĩ mô
1.2.1.1 Môi trường kinh tế
Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ Vì các yếu
tố này tương đối rộng nên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh Chẳng hạn như:
- Lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng tới xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động của các doanh nghiệp Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng họat động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Ngoài ra khi lãi suất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do vậy cũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống
- Xu hướng của tỷ giá hối đoái: Sự biến động của tỷ giá làm thay đổi những điều kiện kinh doanh nói chung, tạo ra những cơ hội đe dọa khác nhau đối với các doanh nghiệp, đặc biệt nó có những tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khNu
- Mức độ lạm phát: lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế Khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng
bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lại, thiểu phát cũng làm cho
Trang 23nền kinh tế bị đình trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng
Tuy có nhiều số liệu cụ thể, song việc dự báo kinh tế không phải là một khoa học chính xác Một số doanh nghiệp thường sử dụng các mô hình dự báo thay vì dựa vào các số liệu dự báo sẵn có Đối với các doanh nghiệp chưa xây dựng được mô hình
đó cũng cần phải xác định các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất đối với tổ chức
Các kiến thức kinh tế sẽ giúp các nhà quản trị xác định những ảnh hưởng của một doanh nghiệp đối với nền kinh tế của đất nước, ảnh hưởng của các chính sách kinh
tế của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Tính ổn định về kinh
tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát.Đây là những vấn đề các doanh nghiệp rất quan tâm và liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của họ
Vậy muốn tiến hành hoạt động xuất khNu thì các ngành (doanh nghiệp) buộc
phải có những kiến thức nhật định về kinh tế.Chúng sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được những ảnh hưởng của những doanh nghiệp đối với nền kinh tế nước chủ nhà và nước sở tại, đồng thời doanh nghiệp cũng thấy được ảnh hưởng của những chính sách kinh tế quốc gia đối với hoạt động kinh doanh xuất khNu của mình
Tính ổn định hay không ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốc gia nói riêng, các quốc gia trong khu vực và thế giới nói chung có tác động trực tiếp
đến hiệu quả hoạt động xuất khNu của ngành (doanh nghiệp) sang thị trường nước
ngoài Mà tính ổn định trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định
tiền tệ, khống chế lạm phát.Có thể nói đây là những vấn đề mà ngành (doanh
nghiệp)luôn quan tâm hàng đầu khi tham gia kinh doanh xuất khNu
1.2.1.2 Môi trường chính trị và pháp luật
Việc phân tích nhân tố này là rất quan trọng, bởi lẽ nếu một đất nước mà có tình hình chính trị không ổn định, sẽ gây ảnh hưởng xấu và rất lớn đến lực lượng lao động, đến tình hình đầu tư của các đối tác nước ngoài….Nhân tố chính trị và luật pháp của
Trang 24nhà nước luôn luôn được coi là những vấn đề mang tích chất cơ sở, nền tảng cho việc xác định các nhân tố khác trong môi trường kinh doanh của một của quốc gia.Các nhân
tố này cũng tạo ra thời cơ và gây ra nguy cơ đối với hoạt động chiến lược của các ngành kinh tế - kỹ thuật và các doanh nghiệp thông qua các thành tố của nó, đó là sự ổn định về chính trị, đường lối đổi mới, tạo lập các tập đoàn kinh tế, xây dựng các công trình tầm cỡ quốc gia, hệ thống luật pháp và các chế độ, chính sách…
Sự ổn định chính trị: điều này thể hiện rõ trong quan điểm đường lối chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Sự ổn định chính trị luôn luôn được coi là cơ hội thuận lợi và hấp dẫn đối với hoạt động chiến lược của các nhà Đầu tư, các nhà sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước
Đường lối quản lý kinh tế đổi mới: chủ trương thực hiện nền kinh tế mở,nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Cho đến nay,thành tố này vẫn đã và đang tạo ra nhiều cơ hội cho các ngành kinh tế kỹ thuật và các doanh nghiệp ở trong và ngoài nước được phép gặp gỡ, trao đổi, tham quan, tìm kiếm cơ hội đầu tư hoặc tìm cách thiết lập các mối quan hệ hợp tác, liên kết liên doanh nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ, phát triển sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao
Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách như: hành lang pháp luật quy định
và các chi phối hoạt động của các doanh nghiệp trong suốt cả quá trình hình thành, hoạt động thậm chí là ngay cả khi phá sản Do đó, cần phải đánh giá và phân tích được
hệ thống luật pháp Nó thể hiện rõ nhất thông qua các bộ luật, nghị định, pháp lệnh để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đi đúng hướng và thực hiện trong quá trình hình thành, điều chỉnh…và cả quá trình phá sản của doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật và các chính sách, chế độ cho thấy: Quốc hội, Nhà nước đã
và đang ban hành luật pháp, chế độ chính sách với tinh thần ngày càng đồng bộ, hoàn hảo để tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc ổn định phát triển kinh tế-xã hội, phát triển
Trang 25sản xuất kinh doanh, bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các ngành
và các doanh nghiệp theo đúng luật pháp đã ban hành Ngoài ra,đây còn là điều kiện thiết yếu để thực hiện tốt nguyên tắc: Bình đẳng tôn trọng lẫn nhau và các bên cùng có lợi trong kinh doanh”
Cơ chế điều hành của Nhà nước cũng đóng một vai trò quan trọng tới hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Nó trực tiếp quyết định đến tính hiệu lực của luật pháp
và các chính sách kinh tế của Nhà nước Việc điều hành tốt sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển
Quốc hội và Nhà nước đã ban hành khá nhiều bộ luật, chủ yếu liên quan đến sản xuất,kinh doanh,chẳng hạn như: Bộ luật về xuất nhập khNu;luật đầu tư;các sắc thuế; luật doanh nghiệp; luật cạnh tranh; luật tiết kiệm,chống lãng phí,chống tham nhũng; luật lao động…
Bên cạnh những thời cơ,thì luật pháp,chế độ chính sách cũng có thể gây ra nguy cơ,khó khăn cho hoạt động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp nếu nội dung của chúng không kín kẽ,hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế.Do đó,việc thực hiện,cải tiến và đổi mới luật pháp,chế độ chính sách là công việc có tính tất yếu
Vì vậy trong hoạt động xuất khNu đòi hỏi phải quan tâm và nắm vững luật pháp luật quốc tế, luật quốc gia mà ở đó đang và sẽ tiến hành xuất khNu những sản phNm của mình sang đó, cũng như các mối quan hệ luật pháp đang tồn tại giữa các nước này
Nói một cách khác khái quát, luật pháp cho phép doanh nghiệp được quyền kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề, và dưới hình thức nào.Ngược lại, những mặt hàng, lĩnh vực nào mà doanh nghiệp bị hạn chế hay không được quyền kinh doanh.Như vậy, luật pháp không chỉ chi phối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên chính quốc gia đó mà còn ảnh hưởng đến cả các hoạt động kinh doanh xuất khNu
Các yếu tố chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động kinh doanh xuất khNu.Tính ổn định về chính trị của
các quốc gia sẽ là nhân tố thuận lợi cho các ngành (doanh nghiệp) hoạt động xuất khNu
Trang 26sang thị trường nước ngoài Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện
để ổn định và phát triển hoạt động xuất khNu Chính vì vậy, khi tham gia kinh doanh
xuất khNu ra thị trường thế giới đòi hỏi các ngành (doanh nghiệp) phải am hiểu môi
trường chính trị ở các quốc gia, ở các nước trong khu vực mà muốn hoạt động
1.2.1.3 Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm những chuNn mực và giá trị được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể Sự thay đổi của các yếu
tố văn hóa - xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nó thường biến đổi chậm hơn so với các yếu tố khác Một số đặc điểm mà các nhà quản trị cần chú ý là: sự tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sản phNm và dịch vụ" Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các họat động kinh doanh như: những quan niệm về đạo đức, thNm mỹ,lối sống, về nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội
Nhân tố này tác động, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp, nó tạo ra cơ hội và gây ra nguy cơ cho hoạt động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp, do đó, cần phải phân tích và đánh giá nhân tố văn hoá-xã hội Sự tác động của nhân tố này đối với hoạt động chiến lược thường được thể hiện qua các thành tố của nó như: trình độ, dân trí, tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ sinh đẻ, tỷ lệ tăng dân số, lối sống, phong cách sống, chuNn mực đạo đức, vui chơi, giải trí, sử dụng lao động nữ, phong tục tập quán của các dân tộc, vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, tổ chức của hiệp hội người tiêu dùng…
Trang 27- Trình độ dân trí càng cao, thì đối với hoạt động chiến lược-sản xuất kinh doanh càng lớn Bởi lẽ, nó ảnh hưởng đến tính thNm mỹ, thị hiếu, kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc của hàng hoá mà người tiêu dùng đòi hỏi
- Tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ,tỷ lệ tăng dân số hợp lí hay không hợp lý đều có ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá trên thương trường và đều ảnh hưởng đến hoạt động chiến lược sản xuất-kinh doanh của các đơn vị kinh tế
- Phong tục tập quán của các dân tộc Theo số liệu thống kê thì nước ta có tới 54 dân tộc là anh em Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán riêng, sử dụng hay tiêu dùng hành hoá theo phong cách sống của họ Vì vậy, để đảm bảo thoả mãn kịp thời nhu cầu hàng hoá cho mỗi dân tộc trong từng thời kì kế hoạch, các nghành và các doanh nghiệp phải quan tâm và tính đến thành tố này trong hoạt định chiến lược của mình
- Vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng Sự phát triển của các thành tố này cũng có liên quan và ảnh hưởng đến sự hoạt động cảu các ngành và các doanh nghiệp Nó được thể hiện ở chỗ nhu cầu về hàng hoá cần được đáp ứng Đối với hình thức tôn giáo tín ngưỡng, ngoài những loại hàng hoá thông thường, thiết yếu còn cần những laọi hàng hoá đặc thù như: vàng mã, các loại hương, các loại nến, các loại chuông…Đó là những hàng hoá phục vụ cho tín ngưỡng của họ Do đó,trong quá trình hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh của mình, các ngành và các doanh nghiệp cần phải tính đến và có một mối quan tâm nhất định đến nhu cầu của thành tố này
Trong môi trường văn hoá, những nhân tố nổi nên giữ vị trí cực kỳ quan trọng là nối sống, tập quan ngôn ngữ, tôn giáo.Đây có thể coi như là những hàng rào chắn các hoạt động giao dịch kinh doanh xuất khNu
Trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, đạo đức xã hội trong đó có đạo đức kinh doanh được coi là một khía cạnh thiết thực và quan trọng của môi trường kinh doanh Đạo đức đặt cương lĩnh cho hoạt động hàng
Trang 28ngày trong một xã hội và chi phối mọi hành vi và tác phong cá nhân Đạo đức là giới hạn ngăn cách những hành vi xấu và là động lực thúc đNy những hành vi tốt Đạo đức
có thể coi như một nhu cầu xã hội và vì vậy bất kỳ một thể chế kinh tế nào cũng phải xây dựng một khuôn khổ đạo đức để làm một trong những nguyên tắc điều hành
Các yếu tố văn hoá tạo nên các loại hình khác nhau của nhu cầu thị trường là nền tảng cho sự xuất hiện thị hiếu tiêu dùng sản phNm cũng như sự tăng trưởng của các đoạn thị trường mới Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại ở các quốc gia nên các nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định nên hay không nên tiến hành xuất khNu sang thị trường đó Điều này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào
sự chấp nhận của ngành (doanh nghiệp) đối với môi trường văn hoá nước ngoài
1.2.1.4 Môi trường nhân kh u
Con người tạo nên thị trường Quy mô thị trường tùy thuộc rất lớn vào mật dộ dân cư, khi nhân khNu tăng cao thì đồng nghĩa với việc nhu cầu tiêu dùng tăng cao dẫn đến hàng hóa phải đủ để đáp ứng và việc nhập khNu hàng từ nước khác sẽ tăng vậy nguồn xuất khNu cũng sẽ tăng Ngoài ra con người là nhân tố quyết định dạng hàng hóa xuất khNu dựa vào sở thích, lối sống, văn hóa, giới tính,…
Con người còn quyết định sự thành bại trong sản xuất kinh doanh xuất khNu của
ngành (doanh nghiệp) Họ là người lãnh đạo có trình độ về tổ chức, quản lý điều hành
hoạt động, nơi nào có nguồn lực về con người thì khả năng tăng năng suất lao đọng cao nhưng bên cạnh đó trình độ tri thức, chuyên môn, kỹ năng cũng là vấn đề mà các ngành
(doanh nghiệp) cần quan tâm
1.2.1.5 Môi trường công nghệ
Trong môi trường kinh doanh quốc gia, nhân tố kỹ thuật-công nghệ luôn giữ vai trò trung tâm và có ảnh hưởng lớn, trực tiếp sâu sắc và toàn diện đến hoạt động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp.Bên cạnh đó, nó còn là nhân tố có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc tạo ra lợi thế và khả năng cạnh tranh của các đơn vị hoạt động trên thương trường
Trang 29Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ có thể là:
sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phNm thay thế, đe dọa các sản phNm truyền thống của ngành hiện hữu Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh Sự ra đời của công nghệ mới làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện có trong ngành Sự bùng
nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao so với trước
Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào mà lại không phụ thuộc vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ hàng đầu nói chung đang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và xác định các công nghệ hiện tại có thể khai thác trên thị trường
Các doanh nghiệp cũng phải cảnh giác đối với các công nghệ mới có thể làm cho sản phNm của họ bị lạc hậu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Bên cạnh đó, các nhà quản trị cần lưu ý thêm khi đề cập đến môi trường công nghệ:
- Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mức chi tiêu cho sự phát triển công nghệ khác nhau theo ngành Như vậy, đối với những nhà quản trị trong những ngành bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi kỹ thuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơ hội và đe dọa mang tính công nghệ trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài
- Một số ngành nhất định có thể nhận được sự khuyến khích và tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu và phát triển - khi có sự phù hợp với các phương hướng và ưu tiên của chính phủ Nếu các doanh nghiệp biết tranh thủ những cơ
hội từ sự trợ giúp này sẽ gặp được những thuận lợi trong quá trình họat động
Trang 30- Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ khá chặt chẽ với hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động xuất khNu nói riêng Ngày nay, nhờ có sự phát triển như
hũ bão của khoa học, công nghệ đã cho phép các ngành (doanh nghiệp)chuyên
môn hoá cao hơn, quy mô sản xuất kinh doanh tăng lên, có khả năng đạt được lợi ích kinh tế nhờ quy mô Từ đó, có thể chống chọi được với sự cạnh tranh gắt trên thị trường quốc tế
1.2.1.6 Môi trường tự nhiên
Nhân tố này cũng ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất - kinh doanh của các nghành kinh tế - kĩ thuật và các doanh nghiệp thông qua các thành tố của nó như: thời tiết, khí hậu, mưa gió, bão lụt, hạn hán, mùa vụ, môi trường sinh thái, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên mặt đất, trong lòng đất, trên mặt biển, sông ngòi, và trong lòng biển Môi trường sinh thái tốt hay xấu, ô nhiễm hay không ô nhiễm đều ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động chiến lược của các nghành các doanh nghiệp và đời sống văn hoá xã hội của con người
Các loại tài nguyên thiên nhiên phong phú hay nghèo nàn, như các loại mỏ than, thiếc, sắt, cao lanh, apatít, crôm, vàng…đều là những yếu tố vào, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của các nghành và các doanh nghiệp việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, thiếu quy tắc sẽ dẫn đến tình trạng lãnh phí tài nguyên, đồng thời cũng làm cho lượng thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên tăng lên Đây sẽ là một khó khăn đối với những nghành sản xuất có đầu vào phụ thuộc lớn bởi tài nguyên thiên nhiên, việc thiếu này cũng làm cho chi phí khai thác tăng lên, chi phí năng lượng tăng…Đều ảnh hưởng không tốt
Nhân tố tự nhiên không chỉ có tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề thời tiết khí hậu, địa hình…cũng ảnh hưởng không nhỏ đối hoạt động sản xuất của các nghành doanh nghiệp,đặc biệt là những nghành có liên quan trực tiếp đến tự nhiên như nghành trồng hoa; nghành giày dép;may mặc;chăn nuôi;trồng trọt; lương thực; thực phNm; giao thông vận tải; nghành sản xuất đồ hộp; mía đường
Trang 31Mặc dù, nhân tốt tự nhiên có ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng nó cũng chỉ ảnh hưởng có giới hạn, bởi lẽ, ở những nước có nền kinh tế phát triển, có công nghệ tiên tiến và hiện đại, thì những khó khăn về tài nguyên cũng không gây cản trở con đường đi lên của doanh nghiệp, thông qua giải pháp khắc phục như: mua nguyên liệu thô về chế biến mà vẫn đạt hiệu quả cao
Cho tới nay các yếu tố về duy trì môi trường tự nhiên rất ít được chú ý tới Sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách của nhà nước ngày càng tăng vì công chúng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường tự nhiên Các vấn đề ô nhiễm môi trường, sản phNm kém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động liên quan
Trang 321.2.2 Môi trường vi mô
1.2.2.1 Môi trường cạnh tranh
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân Thứ nhất là các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành
Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí
cố định và mức độ đa dạng hóa sản phNm Sự hiện hữu của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặc nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình Vì vậy chúng làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt
Các doanh nghiệp cần nhận thấy rằng quá trình cạnh tranh không ổn định.Chẳng hạn, trong các ngành công nghiệp phát triển chín muồi thường sự cạnh tranh mang tính chất dữ dội khi mức tăng trưởng và lợi nhuận bị suy giảm.Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh mới và các giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độvà tính chất cạnh tranh
Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể thông qua
Sự hiểu biết mục đích của đối thủ cạnh tranh giúp doanh nghiệp đoán biết được:
- Mức độ mà đối thủ cạnh tranh bằng lòng với kết quả tài chính và vị trí hiện tại của họ
- Khả năng đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược
- Sức mạnh phản ứng của đối thủ trước những diễn biến bên ngoài (thí dụ, khi các hãng khác đưa ra những thay đổi về mặt chiến lược, các hoạt động về marketing )
Một điều rất có lợi cho doanh nghiệp là nắm bắt được những nhận định của đối thủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành Nếu như các nhận định này không chính xác thì chúng sẽ tạo ra các "điểm mù", tức là điểm
Trang 33yếu của đối phương Chẳng hạn, nếu đối thủ cạnh tranh tin tưởng rằng họ được khách hàng tín nhiệm cao, thì họ có thể mắc điểm yếu là không thực hiện biện pháp cạnh tranh như giảm giá và đưa ra các sản phNm mới Tương tự như vậy, doanh nghiệp có thể có những nhận định thiếu chính xác về ngành hàng hoặc môi trường hoạt động của mình
- Cần lưu ý rằng việc phân tích cặn kẽ đối thủ canh tranh và kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo và chuyên gia cố vấn của họ giúp ta hiểu rõ các mục đích và nhận định của họ
Các doanh nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnh tranh, các ưu, nhược, điểm của họ trong các lĩnh vực hoạt động sau đây:
- Các loại sản phNm
- Hệ thống phân phối
- Marketing và bán hàng
- Các hoạt động tác nghiệp/sản xuất
- Nghiên cứu và thiết kế công nghệ
- Giá thành sản phNm
- Tiềm lực tài chính
- Tổ chức
- Năng lực quản lý chung
- Danh mục đầu tư của công ty
- Nguồn nhân lực
- Quan hệ xã hội (như đối với Chính phủ)
Ngoài các yếu tố kể trên cần xem xét đến tính thống nhất của các mục đích và chiến lược của đối thủ cạnh tranh.Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tìm hiểu khả năng tăng trưởng của các đối thủ cạnh tranh và đánh giá xem:
- Các năng lực của họ gia tăng tăng hay giảm xuống nếu có sự tăng trưởng;
Trang 34- Khả năng tiềm Nn để tăng trưởng, cụ thể tiềm năng về con người, tay nghề của người lao động và công nghệ;
- Mức tăng trưởng mà họ có thể giữ vững theo triển vọng tài chính
Một điều hết sức quan trọng là khả năng đối thủ cạnh tranh có thể thích nghi với những thay đổi Các doanh nghiệp cần xem xét khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễn biến của các tiến bộ công nghệ, lạm phát và sự can thiệp mạnh của Chính phủ Ngoài ra, cần xem xét tới khả năng thích nghi của họ đối với các thay đổi liên quan đến từng lĩnh vực hoạt động đang mở rộng hoặc
họ có quản lý được dây chuyền sản phNm phức tạp hơn không?
Khả năng chịu đựng của đối thủ cạnh tranh, tức khả năng đương đầu với các cuộc tranh giành kéo dài.Điều đó phụ thuộc vào dự trữ tiền vốn, sự nhất trí trong ban lãnh đạo, triển vọng lâu dài trong các mục đích tài chính của doanh nghiệp và không bị sức ép trên thị trường chứng khoán
Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh chính có tầm quan trọng đến mức có thể
nó cho phép đề ra thủ thuật phân tích đối thủ cạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông tin thích hợp và các thông tin về từng đối thủ cạnh trạnh chính được thu nhận một cách hợp pháp
Các yếu tố cạnh tranh mà một ngành (doanh nghiệp) xuất khNu có thể gặp phải
bao gồm:
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng: đó là sự xuất hiện các công ty mới tham gia vào thị trường nhưng có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường, thị phần của các công ty khác
- Khả năng mặc cả của các nhà cung cấp: là nhân tố phản ánh mối tương quan giữa nhà cung cấp với công ty ở khía cạnh sinh lợi, tăng giá hoặc giảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dịch với công ty
Trang 35- Khả năng mặc cả của khách hàng : khách hàng có thể mặc cả thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng hoá mua từ công ty hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá
- Sự đe doạ của sản phNm, dịch vụ thay thế: do giá cả của sản phNm hiện tại tăng lên nên khách hàng có xu hướng tiêu dùng các sản phNm, dịch vụ thay thế Đây
là nhân tố đe doạ sự mất mát thị trường của công ty
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: trong điều kiện này, các công ty cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sự khách biệt hoá của sản phNm hoặc việc đổi mới sản phNm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại trong thị trường.Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh doanh hoạt động trong môi trường và điều kiện cạnh tranh không giống nhau Hơn nữa, môi trường này luôn thay đổi khi chuyển từ nước này sang nước khác Khi tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khNu sang nước ngoài, một số doanh nghiệp có khả năng nắm bắt nhanh cơ hội và biến thời cơ thuận lợi thành thắng lợi nhưng cũng không có ít doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thử thách, rủi ro cao vì phải đương đầu cạnh tranh với nhiều công ty quốc tế có nhiều lợi thế và tiềm năng hơn
1.2.2.2 Môi trường khách hàng
Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh.Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của hãng Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với với các đối thủ cạnh tranh
Một vấn đề mấu chốt khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ.Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn
Người mua có tương đối nhiều thế mạnh hơn khi họ có các điều kiện sau:
Trang 36- Lượng hàng người mua chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng hàng bán ra của hãng, như lượng bán hàng mà hãng General Motors mua của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện nhỏ
- Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém;
- Người mua đưa ra tín hiệu đe dọa đáng tin cậy sẽ hội nhập ngược với các bạn hàng cung ứng, như các hãng sản xuất ô tô thường làm;
- Sản phNm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phNm của người mua Nếu sự tương tác của các điều kiện nói trên làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu của mình thì doanh nghiệp phải cố gắng thay đổi vị thế của mình trong việc thương lượng giá bằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc là phải tìm khách hàng ít có ưu thế hơn
Các doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại các khách hàng hiện tại và tương lai Các thông tin thu được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định kế hoạch, nhất là các kế hoạch liên quan trực tiếp đến marketing
Khách hàng luôn có sự khác biệt nhau trong việc lựa chọn sản phNm, đặc biệt là
đối với khách hàng quốc tế Các ngành (doanh nghiệp) luôn theo dõi yêu cầu khả năng
tiêu dùng của khách hàng để đáp ứng sản phNmxuất khNu vào thị trường mà các ngành
(doanh nghiệp) đã hướng tới Khách hàng là người gián tiếp làm ảnh hưởng tới số
lượng, giá cả hàng hóa xuất khNu
Trang 37Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây khó khăn bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phNm hoặc giảm dịch vụ đi kèm Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phNm, Cụ thể là các yếu tố: số lượng cung cấp ít; không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung cấp nào chào bán các sản phNm có tính khác biệt Nếu người cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần kiếm cách cải thiện vị thế của họ bằng cách tác động đến một hay nhiều yếu tố nói trên Họ có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ sở cung cấp hàng cho chính họ, hoặc có thể mua giấy phép độc quyền
- Người cung cấp vốn:
Trong những thời điểm nhất định phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp làm ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ người tài trợ Nguồn tiền vốn này có thể nhận được bằng cách vay ngắn hạn hoặc dài hạn hoặc phát hành cổ phiều.Khi doanh nghiệp tiến hành phân tích về các tổ chức tài chính thì trước hết cần chú ý xác dịnh vị thế của mình so với các thành viên khác trong cộng đồng
Nhà cung ứng cung cấp các nguồn lực (có thể là sản phNm, dịch vụ, nguyên nhiên vật liệu và nguồn nhân lực) cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp Sự tăng giá hay khan hiếm các nguồn lực trên thị trường có thể ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khiến cho việc sản xuất xuất khNu cũng gặp nhiều khó khăn Ví dụ mới đây xăng tăng giá 1430đồng/lít Xăng tăng giá gây sức ép rất lớn cho các doanh nghiệp trong vấn đề giá cước vận tải tăng theo, bên cạnh đó việc tăng xăng dầu kéo theo sự tăng giá hàng hóa khiến nhu cầu tiêu thụ của người dân bị thu hẹp…khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều vấn đề khó khăn
Trang 38Có thể nói số lượng hàng xuất khNu không phải lúc nào cũng cố định vì vậy việc
cung cấp hàng hóa cho xuất khNu rất cần thiết, các ngành (doanh nghiệp) luôn tạo ra
nhiều nguồn cung cấp hay hợp tác với nhau để nhằm cung cấp hàng hóa, hỗ trợ vốn, nguồn lao động đầy đủ cho việc xuất khNu mà không bị chậm trễ Nơi cung cấp chứa
một lượng hàng dự trữ lớn cho các ngành (doanh nghiệp)vì vậy cần phải tạo ra nguồn
hàng cần thiết cho xuất khNu
1.2.2.4 Đối thủ tiềm n
Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Cần lưu ý là việc mua lại các cơ
sở khác trong ngành với ý định xây dựng phần thị trường thường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ mới xâm nhập
Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm
Nn mới, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa chịu ảnh hưởng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trong môi trường này, luôn tạo ra nhiều bất ngờ đối với ngành (doanh nghiệp) Hầu hết hiện nay rất nhiều các ngành (doanh nghiệp),nước xuất khNu xuất hiện với những tiềm năng khó đoán vì thế các ngành (doanh nghiệp) hay các nước xuất khNu
cần chú ý đến các doanh nghiệp hay các nước khác
Với đối thủ tiềm Nn một mặt sẽ tạo ra khó khăn cho việc cạnh tranh nhưng bên cạnh đó chính nhân tố này sẽ thúc đNy chất lượng sản phNm, khẳng định nhãn hiệu của sản phNm trên thị trường quốc tế
Trang 391.2.2.5 Sản ph m thay thế
Sức ép do có sản phNm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tới các sản phNm thay thế tiềm Nn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Thí dụ: như các doanh nghiệp sản xuất máy chơi bóng bàn không chú ý tới sự bùng nổ của các trò chơi điện tử Vì vậy, các doanh nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm Nn
Phần lớn sản phNm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ.Muốn đạt được thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực thích hợp để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
1.2.3 Các yếu tố bên trong ngành
Các nhân tố thuộc ngành (doanh nghiệp) là một trong các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành (doanh nghiệp)nói chung hoạt động xuất khNu nói riêng Nó được hiểu như là nền văn hoá của tổ chức ngành (doanh
nghiệp)được hình thành và phát triển cùng với quá trình vận hành ngành (doanh nghiệp) Nền văn hoá bao gồm nhiều yếu tố cấu thành: triết lý kinh doanh, tập quán,
thói quen, truyền thống, phong cách sinh hoạt, lễ nghị được duy trì sử dụng trong
ngành (doanh nghiệp)
Tất cả các yếu tố này đã tạo nên bầu không khí, một bản sắc và tinh thần đặc
trưng riêng cho từng ngành (doanh nghiệp) Nếu ngành (doanh nghiệp)nào có nền văn
hoá phát triển cao thì sẽ có khí thế làm việc hăng say, đề cao sự sáng tạo, chủ động
trung thành Ngược lại, một ngành (doanh nghiệp) có nền văn hoá thấp sẽ là sự bàng quan, bất lực hoá đội ngũ lao động của ngành (doanh nghiệp)
Trang 40Do các nhân tố bên trong có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của ngành (doanh nghiệp), nên ngày nay hầu hết mọi ngành (doanh nghiệp)đều chú
trọng đầu tư đến những yếu tố này:
- Ban lãnh đạo ngành (doanh nghiệp): đây là bộ phận đầu não của ngành (doanh
nghiệp) Ban lãnh đạo là người đề ra mục tiêu, xây dựng những chiến lược,
kiểm tra giám sát việc thực hiện các kế hoạch Vì vậy, trình độ quản lý của ban
lãnh đạo có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khNu của ngành (doanh
đó có thể giải quyết kịp thời mọi vấn đề nảy sinh
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên: Hầu hết các doanh nghiệp đều nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhân viên có năng lực và trình độ trong việc đạt các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sở dĩ như vậy là vì các hoạt động xuất khNu chỉ có thể tiến hành khi đã có sự nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường, đối tác, phương thức giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng… muốn vậy,
ngành (doanh nghiệp) phải có được đội ngũ cán bộ kinh doanh am hiểu luật
pháp quốc tế, có khả năng phân tích, dự báo những biến đổi của thị trường, thông thạo các phương thức thanh toán quốc tế, có nghệ thuật giao dịch đàm phán kỹ kết hợp đồng
- Các nguồn lực khác: đấy là cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:
o Văn phòng làm việc
o Hệ thống nhà xưởng, nhà kho cùng các thiết bị vận tải