MỞ ĐẦU 1 Lý do tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại ngày nay, nguồn lực con người được khẳng định có vai trò quyết định nhất trong tất cả các nguồn lực và được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến l[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, nguồn lực con người được khẳng định có vai trò quyết định nhất trong tất cả các nguồn lực và được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Do vậy, đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển nhanh
và bền vững
Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND) đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp này có thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân con người Lào Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực con người, nên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã chỉ rõ: "Con người là yếu tố quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối tượng ưu tiên của sự nghiệp phát triển Việc phát triển đất nước có hiệu quả hay không, ít hay nhiều luôn phụ thuộc vào yếu tố con người" [ 50, tr.69].
Trong những năm qua, tỉnh Viêng Chăn đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực con người và bước đầu đã đạt được một số thành tựu nhất định Tuy vậy, quá trình này vẫn còn nhiều bất cập như: chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý; đời sống của một bộ phận lao động tỉnh rất khó khăn, sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống trong một bộ phận dân cư ở giữa các vùng trên địa bàn tỉnh diễn ra với tốc độ nhanh, làm ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Thực trạng thiếu việc làm, hoặc có việc làm nhưng hiệu qủa kém và thu nhập thấp
là khá phổ biến Nguồn lao động của tỉnh tăng khá nhanh, tác phong công nghiệp của phần lớn người lao động còn chưa hình thành; phần lớn lao động
Trang 2thuộc kinh tế hộ gia đình nên năng suất thấp, tính chuyên môn hoá hạn chế. Vấn đề việc làm vẫn là thách thức lớn
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Tỉnh là một đòi hỏi cấp bách hiện nay Với ý
nghĩa đó, tác giả chọn đề tài "Nguồn lực con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học ngành Triết học,
chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, nhiều công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống vấn
đề này, đáng chú ý là những công trình tiêu biểu và một số luận văn, luận án như sau:
- “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn Việt Nam” của PGS Trần Văn Tùng, Lê ái Lâm (Viện kinh tế thế giới), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Quyển sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của giáo dục - đào tạo, đồng thời nêu bật vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
- “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội” của GS.VS.TS Phạm Minh Hạc, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,
1996 Công trình đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục-đào tạo trong việc phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam
để phục vụ hiệu quả việc phát triển con người
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do PTS Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân
Trang 3lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của TS Bùi
Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã phân tích
rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của nguồn nhân lực và là tài sản
vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS.
Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2003 Tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển KT-XH ở Việt Nam
- “Vai trò của chính sách xã hội đối với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay”, luận án tiến sỹ Triết học của Xi Tha Lườn Khăm
Phu Vông (2005) Trên cơ sở phân tích khái quát một số khía cạnh lý luận
về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người; đồng thời làm rõ tầm quan trọng của chính sách xã hội trong việc phát huy nhân tố con người, luận án đã phân tích rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra của chính sách xã hội của Lào trong việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay, từ đó nêu phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới chính sách xã hội để phát huy hiệu quả nhân tố con người ở Lào trong những năm tiếp theo
Trang 4Vì vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lực con người của Việt Nam và của Lào, song chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Viêng Chăn thuộc nước CHDCND Lào Do vậy, đề tài mà tác giả thực hiện không trùng lặp với các công trình đi trước
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh, khoá luận đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn, nước CHDCND Lào
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích mối quan hệ giữa nguồn lực con người với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn
- Làm rõ đặc điểm và thực trạng phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Viêng Chăn
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn, nuớc CHDCND Lào Tập trung khảo sát chủ yếu nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động theo qui định của luật pháp CHDCND Lào, (từ 15
-60 tuổi đối với nam, từ 15 - 55 tuổi đối với nữ)
Trang 54.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn nước CHDCND Lào (từ 2006 đến nay)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khoá luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào, các quan điểm khoa học hiện đại về nguồn lực con người
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và điều tra xã hội học; dự báo khoa học
6 Đóng góp mới về khoa học của khoá luận
- Khoá luận góp phần làm rõ thực trạng nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn và dự báo những xu hướng biến đổi chủ yếu của nguồn nhân lực này trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Khoá luận góp phần xây dựng một số quan điểm, giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn
7. Ý nghĩa thực tiễn của khoá luận
- Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại tỉnh Viêng Chăn
- Khoá luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện ở Lào
Trang 68 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
TỈNH VIÊNG CHĂN
1.1 QUAN NIỆM VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
1.1.1. Quan niệm về nguồn lực con người
1.1.1.1 Khái niệm về nguồn lực con người
Liên hợp quốc đưa ra khái niệm NLCN: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Nguồn lực con người ở đây được xem xét chủ yếu ở chất lượng con người
và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội
Tóm lại, NLCN được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp như sau:
Theo nghĩa rộng: NLCN là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con
người, của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn
bị để huy động vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [33, tr.22]
Theo nghĩa hẹp: Nguồn lực con người là toàn bộ lực lượng lao động
trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa
là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động thực tế đang có việc làm và kể cả những người thất nghiệp
Trang 71.1.2 Vài nét khái quát về tỉnh Viêng Chăn
1.1.2.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên
Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh có vị trí địa lý quan trọng và nhiều lợi
thế so với các tỉnh khác, được tách ra từ Thủ đô Viêng Chăn trong năm
1983, là một tỉnh miền Trung của nước CHDCND Lào, có vị trí quan trọng
về phát triển kinh tế - xã hội, nhất là về trao đổi hàng hoá, dịch vụ du lịch, quốc phòng, an ninh v.v… cả trong và ngoài nước
2.1.2.2 Đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội, văn hóa của tỉnh
Tỉnh Viêng chăn có 13 huyện, 505 làng, 82.717 hộ gia đình sinh sống, dân số 473,127 người, nữ 231,315 người, và có nhiều các bộ tộc sinh sống
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH VIÊNG CHĂN
1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn đặt ra yêu cầu khách quan phải phát triển nhanh nguồn lực con người của tỉnh
Thứ nhất, quá trình CNH, HĐH là một xu thế tất yếu của lịch sử Thứ hai, do yêu cầu của sản xuất, việc sản xuất ra sản phẩm cho xã
hội luôn xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của con người
Thứ ba, CNH, HĐH của tỉnh chính là nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày
càng cao của nhân dân tỉnh
Thứ tư, hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế phát
triển, sự giao lưu kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ với sự mở cửa, hội nhập, chuyển giao công nghệ hợp tác liên doanh, đầu tư cùng phát triển thì tỉnh phải có sự chuẩn bị về NLCN với chất lượng cao, vừa nắm được tri thức khoa học công nghệ hiện đại, có sức khoẻ, vừa có tính tổ chức cao, mạnh dạn trong sáng tạo, biết kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, biết tiếp thu chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hoá của thế giới
Trang 81.2.2 Nguồn lực con người là chủ thể quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn
Thứ nhất, nguồn lực con người là chủ thể hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho phù hợp với điều kiện của tỉnh
Thứ hai, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định trong các nguồn lực của quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH VIÊNG CHĂN 2.1 ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LỰC CON NGƯỜI CỦA TỈNH VIÊNG CHĂN HIỆN NAY
2.1.1 Đặc điểm về số lượng, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của nguồn lực con người ở tỉnh Viêng Chăn
2.1.1.1 Về số lượng
Tỉnh Viêng Chăn có quy mô, cơ cấu nguồn lao động dồi dào, cơ cấu dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh
Hiện nay lực lượng lao động đông vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong quá trình phát triển ở tỉnh Viêng Chăn
2.1.1.2 Về trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ thuật của nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn
Xét về mặt chất lượng và so với yêu cầu thực tiễn CNH, HĐH thì NLCN ở tỉnh còn nhiều hạn chế, bất cập Riêng nguồn nhân lực có chất lượng cao còn đang thiếu nghiêm trọng về số lượng, yếu về chất lượng Trong những năm trước, số người trong độ tuổi lao động khá đông, nhưng
Trang 9trình độ học vấn của người dân trong độ tuổi đi học mặc dù được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp
2.1.2 Đăc điểm phân bố nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, NLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao chủ yếu tập trung ở các khu công nghiệp và hệ thống chính trị của tỉnh
Ngược lại, các khu vực nông thôn, các vùng có tiềm năng về phát triển kinh
tế trang trại, du lịch, khai thác khoáng sản nhưng do dân cư ít tập trung, dẫn đến NLCN có trình độ cao lại không được đầu tư phát triển đúng mức
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIÊNG CHĂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA TỈNH
2.2.1 Những thành tựu đạt được trong phát triển nguồn lưc con người ở tỉnh Viêng Chăn và nguyên nhân
2.2.1.1 Về thành tựu
Để phát triển NLCN đảm bảo chất lượng, đáp ứng đựơc những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH, Đảng bộ của tỉnh
Những thành tựu đạt được trong việc phát triển nguồn lực con người của tỉnh được biểu hiện như sau:
Một là, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực phù hợp với quá trình CNH, HĐH của tỉnh
Hai là, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh được nâng lên
Ba là, đại bộ phận nhân dân trong tỉnh yêu nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước
Bốn là, coi trọng phát triển văn hóa giáo dục, y tế, giải quyết lao động việc làm, phúc lợi xã hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Trang 102.2.1.2 Nguyên nhân của những thành tựu
- Có sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là do có đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước và thế giới, đồng thời phù hợp với điều kiện của tỉnh Viêng Chăn
- Trong thời gian qua, Đảng bộ các cấp rất quan tâm và lấy việc giáo dục chính trị - tư tưởng
- Tỉnh thực hiện nghiêm túc đường lối chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề công tác quản lý văn hoá
2.2.2 Những hạn chế trong việc phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Viêng Chăn và nguyên nhân
2.2.2.1 Về những hạn chế
Một là, thiếu nghiêm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề để
phục vụ quá trình CNH, HĐH của tỉnh
Hai là, đại bộ phận nguồn nhân lực trong khu vực nông nghiệp của tỉnh
là lao động giản đơn, theo kinh nghiệm là chủ yếu
Ba là, việc xây dựng và phát triển NLCN chưa đồng bộ, công tác
khuyến khích các cán bộ và người lao động mặc dù có nhưng rất khiêm tốn
Bốn là, trình độ dân trí của nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp
Năm là, chất lượng chăm sóc sức khỏe nguồn nhân lực tỉnh còn hạn chế.
Nhìn chung, tỉnh có đội ngũ cán bộ y tế đông đảo và có trình độ cao
Sáu là, công tác phúc lợi xã hội, an sinh xã hội còn nhiều hạn chế
2.2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế
- Trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh chưa gắn chặt với việc phát triển NLCN
- Cơ cấu kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Viêng Chăn chưa xác định rõ