Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra và định lượng tác động của các yếu tố chung đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.. Mô hình hồi quy S-GMM được sử dụng tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8 34 02 01
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Kim Ngân, là học viên trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM, MSHV: 020123210112
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được Tiến sĩ Lê Hà Diễm Chi trực tiếp hướng dẫn khoa học Dữ liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, không có công bố trước đây hoặc do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được trích dẫn đầy đủ trong luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2023
Tác giả
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, cho tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các quý thầy cô Trường Đại Học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh – những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá trong suốt thời gian học Cảm ơn vì đã cho tôi có cơ hội được gặp gỡ và học tập tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chi Minh
Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Lê Hà Diễm Chi là giảng viên hướng dẫn trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn thạc sĩ Cảm ơn cô vì luôn dành thời gian, tâm huyết để hướng dẫn em từng bước trong quá trình thực hiện Bên cạnh đó là những lời nhận xét, góp ý quý báu để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè, những người đã luôn giúp đỡ, đồng hành và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua Với điều kiện và vốn kiến thức còn hạn chế, luận văn này không thể tránh được nhiều thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để tôi nâng cao kiến thức của bản thân, phục vụ cho quá trình công tác của tôi sau này
Trang 5Luận văn sử dụng dữ liệu từ 28 ngân hàng thương mại trên mẫu dữ liệu bảng từ năm
2011 đến năm 2021 Các biến phụ thuộc gồm ROA (Tỷ suất sinh lợi của tài sản), ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), NIM (tỷ lệ thu nhập lãi thuần) Các biến độc lập là SIZE (quy mô), FATA (chất lượng tài sản), LLR (dự phòng rủi ro cho vay), CIR (Tỷ lệ chi phí trên thu nhập), NPL (tỷ lệ nợ khó đòi), LOAN (tiền vay) và LIQ (tính thanh khoản), GDP (tăng trưởng kinh tế) và CPI (chỉ số để tính lạm phát) Khung an toàn CAMEL cũng được sử dụng để đánh giá các biến phụ thuộc vào hoạt động tài chính Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra và định lượng tác động của các yếu tố chung đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Mô hình hồi quy S-GMM được sử dụng trong nghiên cứu này để xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2021 Kết quả cho thấy SIZE, CPI và GDP có tác động tích cực đến ROA, trong khi FATA, LLR, LOAN có tác động tiêu cực CIR, NPL, LIQ không có ý nghĩa với ROA Kết quả của ROE cho thấy GDP có ảnh hưởng tích cực đến ROE, và NPL, LIQ có ảnh hưởng tiêu cực SIZE, FATA, LLR, CIR, LOAN, CPI còn lại không có ý nghĩa thống kê so với ROE Cuối cùng, khi nói đến NIM, kết quả cho thấy FATA, NPL, LOAN có tác động tiêu cực Mặt khác, SIZE, LLR, CIR, LIQ, GDP, CPI không có ý nghĩa thống kê Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Từ khóa: Hiệu quả tài chính, CAMEL, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trang 6ABSTRACT Title
Factors affecting financial performance of commercial bank in Vietnam
Summary
The essay uses data from 28 commercial banks on a panel data sample from 2011 to
2021 The dependent variables are ROA (Return on Asset), ROE (Return on Equity), NIM (Net interest margin) The independent variables are SIZE (natural log of total asset), FATA (asset quality), LLR (loan loss reserves), CIR (Cost to Income Ratio), NPL(Bad Debt Ratio), LOAN (loan), LIQ (liquidity), GDP (economic growth) and CPI (inflation) The CAMEL safety framework is also used to assess the dependent variables on financial performance The goal of this study was to figure out and quantify the impact of common factors on the financial performance of commercial banks in Vietnam The S-GMM regression model is used in this study to examine the factors affecting the financial performance of 21 commercial banks in Vietnam from 2011 to 2021 The results show that SIZE, CPI and GDP have a positive effect on ROA, whereas FATA, LLR, LOAN have a negative effect ROA was not statistically significant for CIR, NPL, LIQ The results for ROE show that GDP have a positive effect on ROE, but NPL, LIQ have a negative effect The remaining SIZE, FATA, LLR, CIR, LOAN, CPI are statistically insignificant in relation to ROE Finally, when it comes to NIM, the results show that FATA, NPL, LOAN have a negative effect SIZE, LLR, CIR, LIQ, GDP, CPI, on the other hand, have no statistical significance Based on this, the author has proposed solutions to improve financial performance at commercial banks in Vietnam
Keywords: Financial performance, CAMEL, Commercial Bank, Vietnam
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Từ viết tắt Cụm từ tiếng Anh Cụm từ tiếng Việt
FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định
OLS Ordinary Least Square Bình phương nhỏ nhất thông thường
REM Random Effect Model Mô hình tác động ngẫu nhiên
FIC Finacial Capacity Năng lực tài chính
ROE Return on Equity Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROA Return on Asset Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tài sản
NIM Net interest margin Tỷ lệ thu nhập lãi thuần
CAR Capital adequacy ratio Hệ số an toàn vốn
SIZE Natural log of total assets Qui mô ngân hàng
CIR Cost to Income Ratio Tỷ lệ chi phí trên thu nhập
FATA Asset quality chất lượng của tài sản ngân hàng
NPL Bad Debt Ratio Tỷ lệ nợ xấu
GDP Economic Growth Tăng trưởng kinh tế
CPI Consumer price index Chỉ số giá tiêu dùng (được dùng để tính
chỉ số lạm phát trong nghiên cứu)
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH vi
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề và tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
1.7 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 8
2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại 8
2.1.1 Định nghĩa về hoạt động tài chính 8
2.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại 9
Trang 102.1.2.1.Nhóm tiêu chí về an toàn vốn 9
2.1.2.2.Tiêu chí về chất lượng của tài sản và tình hình nguồn vốn 9
2.1.2.3.Nhóm tiêu chí về khả năng sinh lời 10
2.1.2.4.Nhóm tiêu chí về tính thanh khoản 11
2.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần theo Khung an toàn CAMEL 11
2.1.3.1.Tỷ lệ đủ vốn (C) 12
2.1.3.2.Chất lượng tài sản (A) 12
2.1.3.3.Chất lượng quản lý (M) 13
2.1.3.4.Khả năng kiếm tiền (E) 13
2.1.3.5.Thanh lý (L) 14
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại 16
2.2.1 Yếu tố vĩ mô 16
2.2.2 Yếu tố tại ngân hàng 18
2.3 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 19
2.3.1 Nghiên cứu trong nước 19
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thu thập dữ liệu 29
3.2 Mô hình nghiên cứu 30
3.3 Biến mô tả và giả thuyết nghiên cứu 32
3.3.1 Biến phụ thuộc 32
3.3.1.1.ROA (Tỷ suất sinh lời trên tài sản) 32
3.3.1.2.ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) 32
Trang 113.3.1.3.NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi thuần) 33
3.3.2 Biến độc lập 33
3.3.2.1.Quy mô ngân hàng (SIZE) 33
3.3.2.2.Chất lượng tài sản (FATA) 34
3.3.2.3.Dự phòng rủi ro cho vay (LLR) 34
3.3.2.4.Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) 34
3.3.2.5.Tỷ lệ Nợ khó đòi ( NPL) 35
3.3.2.6.Khoản vay (LOAN) 35
3.3.2.7.Thanh khoản (LIQ) 35
3.3.2.8.Tăng trưởng kinh tế (GDP) 36
3.3.2.9.Tỷ lệ lạm phát (CPI ) 36
3.4 Quy trình nghiên cứu 42
3.5 Phương pháp nghiên cứu: 44
3.5.1 Bình phương nhỏ nhất thông thường OLS (Ordinary Least Square) 44
3.5.2 Mô hình Hiệu ứng Cố định FEM (Fixed Effect Model) 44
3.5.3 Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM (Random Effect Model) 44
3.5.4 Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible Generalized Least Square) 44
3.5.5 Mô hình S-GMM (System Generalized Method of Moments) 45
3.5.6 Kiểm tra để lựa chọn mô hình phù hợp 46
3.5.6.1.F-test để chọn mô hình Pool OLS hoặc FEM: 46
3.5.6.2.Kiểm tra Hausman được thực hiện để lựa chọn giữa các mô hình FEM và REM: 46
3.5.6.3.Kiểm tra Breusch & Pagan để chọn OLS và REM: 46
Trang 123.5.6.4.Kiểm định đa cộng tuyến 46
3.5.6.5.Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi: 46
3.5.6.6.Kiểm định tự tương quan: 47
3.5.6.7.Kiểm định Hansen, Sargan 47
3.5.6.8 Phép thử tự tương quan bậc hai (AR2) để kiểm tra mối tương quan bậc hai của các phần dư trong mô hình, với giả thuyết: 47
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu: 49
4.2 Thống kê mô tả 49
4.3 Phân tích ma trận tương quan 51
4.4 Kiểm tra đa cộng tuyến 54
4.5 Ước tính các mô hình OLS, FEM, REM gộp chung 54
4.5.1 Tổng hợp các kiểm tra OLS, FEM, REM 55
4.5.2 Kiểm tra lựa chọn mô hình 58
4.5.2.1.Kiểm tra sự phù hợp giữa mô hình OLS và FEM 58
4.5.2.2.Kiểm tra sự phù hợp giữa mô hình OLS và REM 58
4.5.2.3.Kiểm tra sự phù hợp giữa FEM và REM 59
4.6 Kiểm tra khuyết tật mô hình 59
4.6.1 Kiểm định phương sai thay đổi 59
4.6.2 Kiểm tra tự tương quan 60
4.7 Mô hình hồi quy FGLS 61
4.8 Mô hình hồi quy S- GMM 63
4.8.1 Kiểm tra tính phù hợp của mô hình S - GMM 63
4.8.2 Mô hình S-GMM 64
Trang 134.9 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 67
4.9.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) 70
4.9.2 Chất lượng tài sản (FATA) 71
4.9.3 Các khoản dự phòng rủi ro cho vay (LLR) 72
4.9.4 Tỷ lệ nợ xấu (NPL) 73
4.9.5 Khoản vay (LOAN) 74
4.9.6 Thanh khoản (LIQ) 75
4.9.7 Tăng trưởng kinh tế (GDP) 76
4.9.8 Lạm phát (CPI) 77
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Đề xuất các khuyến nghị 80
5.2.1 Tăng quy mô ngân hàng (SIZE) 80
5.2.2 Giải pháp đối với Chất lượng tài sản (FATA) 81
5.2.3 Sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) hợp lý 82
5.2.4 Giảm tỷ lệ nợ xấu (NPL) 83
5.2.5 Giải pháp đối với cho vay (LOAN) 84
5.2.6 Hạn chế rủi ro thanh khoản (LIQ) 85
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC iv
Trang 14DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng
thương mại 15
Bảng 3 1 Danh sách các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong phạm vi nghiên cứu của luận văn 29
Bảng 3 2 Tóm tắt nghiên cứu về hoạt động tài chính 38
Bảng 4 1.Tóm tắt thống kê mô tả 49
Bảng 4 2 Tương quan giữa ROA và các biến độc lập 52
Bảng 4 3 Tương quan giữa ROE và các biến độc lập 52
Bảng 4 4 Tương quan giữa NIM và các biến độc lập 53
Bảng 4 5 Đa cộng tuyến VIF 54
Bảng 4 6 Ước tính của mô hình 1 (Tổng hợp OLS, FEM, REM ) 55
Bảng 4 7 Ước tính của mô hình 2 (Tổng hợp OLS, FEM, REM) 56
Bảng 4 8 Ước tính của mô hình 3 (Tổng hợp OLS, FEM, REM ) 57
Bảng 4 9 Kiểm tra phương sai thay đổi cho ROA 60
Bảng 4 10 Kiểm tra phương sai thay đổi cho ROE 60
Bảng 4 11 Kiểm tra phương sai thay đổi cho NIM 60
Bảng 4 12 Kiểm tra Wooldridge - Kiểm tra tự tương quan ROA 60
Bảng 4 13 Kiểm tra Wooldridge - Kiểm tra tự tương quan ROE 61
Bảng 4 14 Kiểm tra Wooldridge - Kiểm tra tự tương quan NIM 61
Bảng 4 15 Ước tính FGLS 62
Bảng 4 16 Thử nghiệm Sargan Hansen và Arellano-Bond 63
Bảng 4 17 Kết quả hồi quy S-GMM của Mô hình 1 64
Bảng 4 18 Kết quả hồi quy S-GMM của Mô hình 2 65
Bảng 4 19 Kết quả hồi quy S-GMM của Mô hình 3 66
Bảng 4 20 Kết quả nghiên cứu của Mô hình 1 67
Bảng 4 21 Kết quả nghiên cứu của Mô hình 2 68
Trang 15Bảng 4 22 Kết quả nghiên cứu của Mô hình 3 69
Trang 16DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Quy trình nghiên cứu 42
Hình 2 Mối quan hệ giữa SIZE và ROA 70
Hình 3 Mối quan hệ giữa FATA và ROA, NIM 71
Hình 4 Mối quan hệ giữa LLR và ROA 72
Hình 5 Mối quan hệ giữa NPL và ROE, NIM 73
Hình 6 Mối quan hệ giữa LOAN và ROA và NIM 74
Hình 7 Mối quan hệ giữa LIQ và ROE 75
Hình 8 Mối quan hệ giữa GDP và ROA, ROE 76
Hình 9 Mối quan hệ giữa CPI và ROA 77
Trang 17CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề và tính cấp thiết của đề tài
Cùng với việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi Nhiều ngân hàng được thành lập (bao gồm trong và ngoài nước), nhiều dịch vụ ngân hàng được cung cấp, do đó khách hàng có nhiều lựa chọn hơn cho nhu cầu của họ Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được coi là xu hướng chủ đạo chi phối sự phát triển của ngành ngân hàng trong thời gian tới, điều này đã
mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của khu vực tài chính Việt Nam – một lĩnh vực luôn được coi là hết sức nhạy cảm Quá trình hội nhập vừa mang lại những cơ hội đồng thời cũng vừa mang lại những thách thức cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hội nhập sẽ giúp ngành ngân hàng Việt Nam dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn
từ thị trường tài chính quốc tế, học hỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý, kiến thức, công nghệ hiện đại từ các tổ chức tài chính (TCTC) nước ngoài khi họ tham gia vào thị trường Việt Nam Sự cạnh tranh về các sản phẩm dịch vụ cũng giúp cho ra đời nhiều loại hình sản phẩm mới, làm đa dạng hóa các sản phẩm tài chính Chỉ ngân hàng nào biết cách tạo ra lợi thế khác biệt mới có thể tạo ra được lợi nhuận vượt trội so với các ngân hàng khác Trong thời gian gần đây, hệ thống ngân hàng bắt đầu bộc lộ một số điểm yếu như khó khăn về thanh khoản, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh, số lượng các ngân hàng bị phá sản, sáp nhập có xu hướng ngày càng tăng, lợi nhuận thấp, năng lực giám sát và quản trị yếu kém, không theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của quy mô, mạng lưới và các loại hình dịch vụ, công tác quản trị rủi ro còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém,…đã chứng tỏ hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động còn kém hiệu quả
Nền kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động, điều này cũng đặt các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước trước thách thức phải có một sự đổi mới một cách toàn diện để nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao năng lực quản trị của mình, đồng thời đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, tạo động lực cho các ngân hàng có môi trường cạnh tranh lành mạnh
Trang 18Việc nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của ngân hàng về cơ bản có ý nghĩa khoa học và thực tế đối với hoạt động của NHTM,
có ý nghĩa rất lớn để các nhà quản lý của ngân hàng đưa ra các quyết định chính sách nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng Đối với chủ sở hữu NHTM thì đây là nhân tố được quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay khi mà thực tế xảy ra một số hiện tượng như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – SCB thì vấn đề hiệu quả tài chính của NHTM đã trở thành đề tài nóng bỏng, gióng lên tiếng chuông cảnh báo đối với hoạt động ngân hàng Việt Nam, thức tỉnh sự quan tâm không những từ phía các ngân hàng, các cơ quan quản lý nhà nước, mà còn từ các tầng lớp nhân dân
Thông tin mới nhất về cơ chế xử lý với các ngân hàng yếu kém thuộc diện tái cơ cấu hiện nay gồm Ngân hàng Đông Á (DongABank) và ba ngân hàng mua bắt buộc là Ngân hàng xây dựng (CB), Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank), Ngân hàng dầu khí toàn cầu (GPBank) cùng với Ngân hàng Sài Gòn mới được đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, số lượng ngân hàng thuộc diện yếu kém chiếm gần 1/6 số NHTM Việt Nam cho thấy vấn đề quản trị hiệu quả tài chính đối với các NHTM Việt Nam đã trở nên đặc biệt cần chú trọng nhằm ổn định hoạt động, hạn chế tác động tiêu cực đến ngân hàng, hệ thống các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế
Đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên có nhiều cách tiếp cận khác nhau và mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Theo tham khảo thì hiện nay trên thế giới, nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng bằng các phương pháp định lượng đã được ứng dụng khá bổ biến Các nghiên cứu này hoặc là
áp dụng phương pháp tham số hoặc phi tham số để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, chủ yếu là tập trung vào phân tích và đánh giá hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí, hiệu quả phân bổ, tính kinh tế nhờ quy mô và tiến bộ công nghệ của các ngân hàng Điển hình như nghiên cứu của Piyu Yue (1992) áp dụng mô hình CAMEL đánh giá hiệu quả của 60 ngân hàng Missouri năm 1984; Jemric Igor, Vujcic Boris (2001) dùng 2 mô hình CAMEL (mô hình CCR, mô hình BCC) để phân tích tính hiệu quả của các ngân hàng
Trang 19Croatia; Amir Moradi-Motlagh, Ali Salman Saleh, Amir Abdekhodaee và Mehran Ektesabi (2011) áp dụng mô hình CAMEL để xem xét tính hiệu quả của hệ thống ngân hàng Úc
Tuy nhiên các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ số đo hiệu quả nói trên cũng còn hạn chế Donsyah Yudistira (2003) sử dụng phương pháp CAMEL và mô hình hồi quy OLS để xem xét các biến môi trường ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của 18 NHTM tại các nước hồi giáo; Anthony N.Rezitis (2004) đo lường tốc độ tăng trưởng năng suất và hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Hy Lạp từ năm 1982-1997, sau đó phân tích hồi quy Tobit để thấy rằng quy mô và chuyên môn hóa tác động lên hiệu quả thuần và hiệu quả quy mô của các ngân hàng Hy Lạp; Fotios Pasiouras, Emmanouil Sifodaskalakis & Constantin Zopounidis (2007) sử dụng mô hình CAMEL để ước tính hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí của 16 ngân hàng Hy Lạp, sau đó dùng hồi quy Tobit
để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số đo hiệu quả đó
Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước về nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Một số nghiên cứu chủ yếu tiếp cận theo phương pháp định tính truyền thống dựa trên phân tích các chỉ tiêu tài chính, phạm vi nghiên cứu thường chỉ giới hạn trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), hay nhóm ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), hay là của một ngân hàng cụ thể, cụ thể như: nghiên cứu của Nguyễn Hữu Huấn (2006) về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; nghiên cứu của Phạm Thị Bích Lương (2007) về hiệu quả hoạt động và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 – 2005; nghiên cứu của Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012) phân tích hoạt động kinh doanh của 22 NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 – 2009 Các nghiên cứu trong nước theo cách tiếp cận định lượng về đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM nhìn chung còn khá ít Gần đây có nghiên cứu của TS Nguyễn Việt Hùng (2008) về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam Ngoài việc phân tích định tính, tác giả còn sử dụng các phương pháp định lượng như phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA, phương pháp phi tham số CAMEL trong việc
Trang 20đo lường hiệu quả và sử dụng mô hình hồi quy Tobit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 32 NHTM giai đoạn từ năm 2001 – 2005; nghiên cứu của ThS Châu Thị Minh Hà và TS Phạm Lê Thông (2011) ước lượng hiệu quả kỹ thuật của 38 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2004 – 2009 thông qua việc sử dụng mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên SFA
Qua các phân tích trên, có thể nói thực tế các nhà phân tích vẫn quen sử dụng phương pháp phân tích truyền thống do tính dễ hiểu và dễ tính toán để phân tích hoạt động của ngành ngân hàng, việc vận dụng phương pháp định lượng trong các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam còn tương đối hạn chế Việc xem xét tính hiệu quả
và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam rất có giá trị
và cần thiết
Kết luận, xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu và đứng trước thực trạng về khả năng xảy ra rủi ro hiệu quả tài chính yếu kém của một vày NHTM nói trên, luận văn tiếp tục vận dụng phương pháp định lượng nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 - 2021 Tác giả chọn đề tài với tên gọi “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn với mục tiêu chủ yếu là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Qua đó, các NHTM tại Việt Nam tiến hành thiết lập những chiến lược, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính trong thời gian tới
Trang 21- Tìm ra giải pháp và khuyến nghị đối với các ngân hàng thương mại cổ phần
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của luận văn phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam là gì?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính của các NHTM Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của 28 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011– 2021
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để khắc phục những điểm yếu của từng phương pháp và tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, nghiên cứu sử dụng đồng thời cả phương pháp định tính, phương pháp định lượng và các phương pháp khác Trong đó, phương pháp định lượng được sử dụng để phát hiện mối quan hệ và mối tương quan giữa các biến, phương pháp định tính được sử dụng
để kiểm chứng kết quả phân tích dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu: xây dựng mô hình nghiên cứu, thiết kế mẫu nghiên cứu
và thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu Để có số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả
đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp bằng cách lấy các số liệu được công bố trên website của các ngân hàng thương mại như báo cáo thường niên, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kết quả hoạt động kinh doanh, trong giai đoạn 2011– 2021
Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được tính toán thành các biến phù hợp với yêu cầu của nghiên cứu bằng phần mềm Microsoft Excel Sau đó, các biến này được xử lý thông qua việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng (Tổng hợp OLS, FEM, REM,
Trang 22GLS, GMM) trên phần mềm thống kê Stata để xác minh các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Phương pháp định tính: dùng để so sánh kết quả
từ phân tích thực nghiệm với kết quả từ các nghiên cứu trước để giải thích mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu trong luận án này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị, hoạch định chính sách và các học giả nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng cũng như trong lĩnh vực ngân hàng nghiên cứu và quản trị ngân hàng
1.7 Bố cục của luận văn
Bố cục dự kiến của luận văn gồm phần, nội dung chính các chương như sau:
CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU
Nêu đặt vấn đề và tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp nghiên cứu và bố cục của nghiên cứu
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Trình bày cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên cơ sở lý thuyết của chương 1, chương 2 đề cập đến mô hình nghiên cứu, các biến
số nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu được sử dụng trong luận án nhằm thu được kết quả phù hợp với mục đích đã định
CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả các biến trong mô hình, kiểm định mô hình nghiên cứu Từ kết quả đó phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng
Trang 23CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận và đề xuất gợi ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Kết luận Chương 1
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Sau khi phân tích sự cần thiết của đề tài, tác giả đã xác định rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là bố cục của luận văn gồm 5 chương Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày luận văn này ở những chương tiếp theo
Trang 24CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại 2.1.1 Định nghĩa về hoạt động tài chính
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2011), “Vấn đề doanh nghiệp quan tâm là hiệu quả kinh doanh, tức là một đồng vốn kinh doanh có thể mang lại lợi nhuận là bao nhiêu chứ không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu lợi nhuận” Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là hiệu quả của việc huy động, sử dụng
và quản lý vốn trong doanh nghiệp
Theo Will (2021): “Hiệu quả tài chính là thước đo khách quan đánh giá mức độ doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản từ phương thức kinh doanh chính của mình và tạo ra doanh thu Thuật ngữ này được sử dụng như một thước đo chung về sức khỏe tài chính tổng thể của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định”
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy và Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2016) cho thấy, có 2 nhóm chỉ tiêu tài chính: theo giá trị sổ sách và theo góc độ thị trường Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng cả 2 chỉ tiêu hiệu quả tài chính theo giá trị sổ sách (ROE) và trên góc độ thị trường (PB)
Hiệu quả tài chính hay còn gọi là hiệu quả kinh doanh là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Số lợi nhuận thu được hoặc bị mất đi của mỗi doanh nghiệp là biểu hiện trực tiếp của hoạt động kinh doanh Hiệu quả tài chính, theo nghĩa rộng hơn, đề cập đến mức độ các mục tiêu tài chính đang được thực hiện hoặc đã được đáp ứng Đây là quá trình tính toán giá trị tiền tệ của các kết quả của các chính sách
và hoạt động của một công ty Nó được sử dụng để đánh giá sức khỏe tài chính tổng thể của một công ty trong một khoảng thời gian cụ thể và cũng có thể được sử dụng để so sánh các doanh nghiệp tương tự trong cùng một ngành hoặc các ngành khác nhau Hiệu quả tài chính có bản chất trực tiếp nên có thể dễ dàng định hướng
Hiệu quả tài chính trong ngành ngân hàng là một khái niệm rộng phản ánh kết quả hoạt động thương mại và đầu tư của ngân hàng, cũng như các yếu tố nội tại của ngân hàng trong môi trường kinh tế
Trang 25Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây như San và Heng (2013) Ongore & Kusa (2013) đã sử dụng các phương pháp ước tính khác nhau để đo lường và đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Các nghiên cứu này
đo lường hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại bằng ba thước đo tài chính: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), Tỷ
lệ thu nhập lãi thuần (NIM)
Hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại là một phạm trù hoạt động kinh tế - tài chính phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại;
đó là khả năng của ngân hàng thương mại để đạt được các mục tiêu kinh doanh bằng cách thiết lập, tổ chức và điều hành các chiến lược, chính sách và chương trình kinh doanh
2.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại 2.1.2.1 Nhóm tiêu chí về an toàn vốn
Hệ số an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratio) xác định theo công thức:
Car =Vốn tự có × 100%
Tài sản có rủi ro
Hiện nay, theo Thông tư số 22/2019 / TT-NHNN, các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy trì hệ số CAR tối thiểu là 8%
2.1.2.2 Tiêu chí về chất lượng của tài sản và tình hình nguồn vốn
Đánh giá tình trạng của tài sản: Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện tính bền vững về năng lực tài chính và quản trị của ngân hàng thương mại Đánh giá quy
mô chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: tổng dư nợ, tốc độ tăng tổng tài sản, tốc độ tăng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu, quá hạn, tỷ trọng dư nợ nợ trên tổng tài sản…
Đánh giá tình hình nguồn vốn: Nguồn vốn huy động là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng Nếu ngân hàng huy động thêm vốn thì đơn vị có khả năng
mở rộng quy mô cho vay vì ngân hàng là người đi vay để cho vay Vì vậy, đơn vị phải thường xuyên theo dõi quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn, theo đối tượng huy động (tổ chức kinh tế, cá nhân), loại tiền (VNĐ và ngoại tệ), để làm cơ sở xác định
cơ cấu của từng thành phần trong vốn huy động Qua đó có thể rà soát, đánh giá các nguồn
Trang 26vốn huy động để có biện pháp điều chỉnh hợp lý Đồng thời nắm bắt được tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động Các chỉ tiêu đánh giá quy mô và chất lượng nguồn vốn như cơ cấu nguồn vốn, lãi suất huy động bình quân, tổng nguồn vốn, tốc độ tăng vốn,…
2.1.2.3 Nhóm tiêu chí về khả năng sinh lời
Là chỉ tiêu cụ thể nhất phản ánh quy mô, chất lượng và hiệu quả của quá trình hoạt động, định hướng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khả năng sinh lời được đánh giá dựa trên hai thước đo: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM)
Khả năng sinh lời là thước đo để đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Khả năng sinh lời được phân tích thông qua các thông số sau:
ROE: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE)
ROE (%) =Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu × 100 ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản - thước đo quản lý của ngân hàng, thể hiện khả năng chuyển tài sản thành thu nhập ròng của ngân hàng (Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản - ROA)
ROA (%) = Lợ𝑖 nhuận sau thuế
Tổng tài sản × 100
Theo Basel, ROE > 15% và ROA > 1% được coi là tốt Nếu ROA hoặc ROE của ngân hàng nào cao thì ngân hàng đó được khách hàng và nhà đầu tư đánh giá cao hơn Vì vậy, khả năng sinh lời cao là một chỉ tiêu tốt phản ánh sức mạnh tài chính, tạo nên sức cạnh tranh của NHTM
NIM: đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp; cho thấy ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí
từ lãi
NIM(%) = Thu nhập lãi thuần
Tổng tài sản sinh lời từ lãi bình quân× 100
Trang 272.1.2.4 Nhóm tiêu chí về tính thanh khoản
Đảm bảo tính thanh khoản: Tỷ lệ giữa tín dụng trên vốn huy động Ngày 15/11/2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 22/2019 / TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo công thức sau:
LDR(%) = L
D × 100 Trong đó: LDR là tỷ lệ giữa dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi; L là tổng dư nợ cho vay;
D là tổng số tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Tỷ lệ LDR của khối ngân hàng thương mại cổ phần đạt mức cao nhất Qua đó, cho thấy các ngân hàng tư nhân có xu hướng đánh đổi rủi ro thanh khoản với khả năng sinh lời
Chỉ số vị thế tiền mặt (cash position index): chỉ số này có tính thanh khoản tốt
Chỉ số vị thế tiền mặt = T𝑖ề𝑛 𝑚ặ𝑡 + Tiền gửi tại các NHTM khác
Tổng tài sản
Chỉ số vị thế tiền mặt có tính thanh khoản tốt Điều này cho thấy nếu chỉ số vị thế tiền mặt cao thì trạng thái thanh khoản của các ngân hàng thương mại càng cao
2.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại
cổ phần theo Khung an toàn CAMEL
Trong những năm 1970, ba cơ quan quản lý ngân hàng liên bang ở Hoa Kỳ đã thiết lập khuôn khổ phân tích CAMEL như một phần của "Hệ thống xếp hạng các tổ chức tài chính thống nhất." Hệ thống CAMEL được thiết kế bởi Cục Dự trữ Liên bang, Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang và Văn phòng Cơ quan Kiểm soát Tiền tệ nhằm cung cấp trạng thái hiệu quả của các tổ chức tài chính và ngân hàng Tính đủ vốn, Chất lượng tài sản, Quản
lý, Thu nhập và Tính thanh khoản (CAMEL) là viết tắt của Tính đủ vốn, Chất lượng tài sản, Quản lý, Thu nhập và Tính thanh khoản
Trang 282.1.3.1 Tỷ lệ đủ vốn (C)
Hiệp ước vốn được xây dựng bởi Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng nhằm thống nhất các tiêu chí về an toàn vốn Ngoài ra, ủy ban đã tạo ra một số khuôn khổ đo lường vốn
và tiêu chuẩn vốn Basel I xác định mức độ an toàn vốn cho các nước G-10, trong khi Basel
II cập nhật yêu cầu về Mức độ đủ vốn bằng cách tăng mức độ nhạy cảm của vốn đối với rủi
ro ngân hàng chính và Basel III cải thiện khả năng của khu vực ngân hàng trong việc chống lại các cú sốc phát sinh từ căng thẳng tài chính và kinh tế, giảm nguy cơ căng thẳng kinh tế tài chính tràn vào nền kinh tế thực Niềm tin của người gửi tiền được củng cố nhờ nền tảng vốn mạnh Hơn nữa, một công ty có tình hình tài chính mạnh sẽ có khả năng theo đuổi các khả năng thương mại tốt hơn và có nhiều thời gian và linh hoạt hơn để đối phó với những thách thức phát sinh từ những tổn thất không lường trước được, dẫn đến lợi nhuận cao hơn
Mức đủ vốn (C) đề cập đến mức dự trữ vốn tối thiểu theo luật định mà các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác phải duy trì Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và tỷ lệ vốn cốt lõi (CCR) là hai tỷ lệ quan trọng nhất để đo lường và phân tích mức độ an toàn vốn CAR
là tỷ lệ giữa Tổng nguồn vốn trên Tổng tài sản có rủi ro Nó là số vốn của một ngân hàng được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của rủi ro tín dụng trọng số của nó
2.1.3.2 Chất lượng tài sản (A)
Chất lượng tài sản là một đặc điểm của quản lý ngân hàng hỗ trợ việc đánh giá tài sản của công ty Nếu tài sản không được quản lý hiệu quả, chúng có thể phản ánh và tạo ra các vấn đề về hoạt động và tài chính Nền kinh tế toàn cầu đã trải qua một số sự cố do chất lượng tài sản của danh mục đầu tư thấp Thu nhập ròng của các ngân hàng có thể bị ảnh hưởng do giá trị tài sản giảm
Bởi vì các khoản cho vay và ứng trước là tài sản chính của công ty cũng như là nguồn thu chính của nó, danh mục tài sản được lựa chọn có ảnh hưởng đến doanh thu của ngân hàng Các khoản cho vay và ứng trước, dự phòng rủi ro cho vay và nợ xấu đều là những yếu tố quan trọng trong việc xác định chất lượng tài sản của ngân hàng Một số tỷ lệ phản ánh Chất lượng Tài sản là:
Trang 29 Tỷ lệ cho vay không thực hiện
Tỷ lệ bảo hiểm dự phòng rủi ro cho vay
Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay
Quản lý nguồn nhân lực định tính
Cơ cấu và năng lực của đội ngũ quản lý được xác định rõ ràng
Môi trường làm việc thuận lợi
Hệ thống quản lý nội bộ phối hợp
2.1.3.4 Khả năng kiếm tiền (E)
Mọi công ty đều cần kiếm tiền Hai thành phần của thu nhập trong bất kỳ tổ chức nào
là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa sự giàu có Thu nhập rất đáng kể vì chúng cho phép chủ sở hữu và nhà đầu tư, cũng như công ty, thực hiện các mục tiêu trong tương lai
Thu nhập cũng thể hiện khả năng và khả năng hấp thụ các khoản lỗ của ngân hàng bằng cách tích lũy đủ vốn Hồ sơ thu nhập hoặc lợi nhuận càng cao thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng tốt Thu nhập trên mỗi cổ phiếu cao hơn, lợi nhuận trên tài sản, lợi tức trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chi trả cổ tức và các chỉ số khác cho thấy các ngân hàng đang hoạt động tốt hơn
Nếu không phát triển vì lợi nhuận hoặc thu nhập, không công ty nào có thể phát triển Một doanh nghiệp thiếu nguồn tài chính đáng kể chắc chắn sẽ sụp đổ Sau đây là một số tỷ
lệ thu nhập:
Trang 30 Tỷ lệ chi trả cổ tức
Lợi tức trên tài sản
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Thu nhập lãi trên Tổng thu nhập
2.1.3.5 Thanh lý (L)
Tính thanh khoản được định nghĩa là sự dễ dàng mà một tài sản có thể được mua hoặc bán trên thị trường với mức giá phản ánh giá trị nội tại của nó Chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và các luồng tiền vào ở một bên và các luồng tiền đi từ các cam kết ở phía bên kia được gọi là khả năng thanh khoản
Rủi ro thanh khoản đánh giá khả năng của một tổ chức trong việc đáp ứng các yêu cầu
về tiền không lường trước từ người gửi tiền Tỷ lệ thanh khoản dự kiến sẽ liên quan tích cực và tiêu cực đến xác suất thất bại của mô hình Tính thanh khoản của một tổ chức được xác định bởi:
Tiền mặt tại quỹ (Hạn mức tín dụng khả dụng)
Nhu cầu tiền mặt ngắn hạn của tổ chức
Tính thanh khoản của tài sản của tổ chức
Danh tiếng của tổ chức trên thị trường — đối tác sẽ sẵn sàng giao dịch các giao dịch với hoặc cho tổ chức vay như thế nào?
Tính thanh khoản của mọi tổ chức đều rất quan trọng Thanh khoản cao hơn chứng tỏ ngân hàng không có khả năng chuyển đổi lượng tiền mặt của mình thành các quyết định hiệu quả hơn và có lợi hơn, trong khi thanh khoản thấp hơn chứng tỏ ngân hàng không có khả năng quản lý các nghĩa vụ ngắn hạn và nhu cầu hoạt động trong tương lai của mình
Trang 31Bảng 2 1 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân
Nợ xấu trên tổng vốn chủ sở
hữu
NPLs Tổng VCSH
Dự phòng tỷ lệ tổn thất cho
vay
Dự phòng rủi ro tín dụngTổng cho vay
Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trung bình theo
lịch sử
Trang 322.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại 2.2.1 Yếu tố vĩ mô
Môi trường chính trị, xã hội trong nước và quốc tế: Môi trường chính trị xã hội trong nước và quốc tế có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tài chính của ngân hàng Tình hình chính trị - xã hội ổn định, tạo sự an tâm cho người dân khi gửi tiền, hỗ trợ ngân hàng thu hút các dòng vốn đầu tư trong nước và quốc tế, giúp các cá nhân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư trung và dài hạn Tăng quy mô hoạt động là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả việc tăng quy mô hoạt động của một công ty Ngược lại, nếu môi trường chính trị - xã hội không ổn định ảnh hưởng đến tâm lý của cá nhân, tổ chức gửi tiền thì cũng ảnh hưởng đến
Tổng cho vayTổng tiền gửi của khách hàng
Trang 33kết quả kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và huy động vốn Các ngân hàng phải đối mặt với vô số thách thức
Môi trường pháp lý: Một nền kinh tế ổn định và bền vững đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật chặt chẽ, phù hợp với tình hình hiện nay Hoạt động của ngân hàng thương mại hình thành các mối quan hệ kinh tế khác nhau và hoạt động tuân theo các quy định của pháp luật, do đó các quy định của pháp luật không phù hợp sẽ gây rủi ro cho các chủ thể kinh doanh có ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại Đồng thời, quá trình tiền tệ hóa nhanh chóng gần đây của Việt Nam đòi hỏi phải thông qua các luật mới và sửa đổi các luật hiện hành không còn phù hợp với bối cảnh kinh tế hiện tại Luật mới thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện để giải quyết các xung đột và khiếu nại bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh và xã hội
Chính sách kinh tế của chính phủ: Chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ ngành nào trong một quốc gia, đặc biệt là ngành ngân hàng Thông qua vị trí của NHTW, với tư cách là chủ sở hữu, với tư cách là con nợ và chủ nợ lớn nhất của các ngân hàng, chính phủ có tác động đến ngành ngân hàng với tư cách là người quản lý và giám sát toàn bộ hệ thống Ngân hàng thương mại Các định hướng chính sách phát triển của nhà nước trong từng thời đại đều có tác động trực tiếp đến môi trường kinh tế vĩ mô, tác động không nhỏ đến hoạt động tài chính của ngân hàng Hoạt động của các ngân hàng thương mại được điều chỉnh bởi các quy tắc của nhà nước như yêu cầu về vốn pháp định, yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các tiêu chuẩn về minh bạch thông tin, v.v Các ngân hàng thương mại phải tuân thủ các định hướng phát triển phù hợp do những hạn chế này
Môi trường cạnh tranh: Một thị trường tài chính phát triển với sự đa dạng của các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa các tổ chức Mức độ cạnh tranh ngày càng cao sẽ tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng chiến lược phát triển, sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng để duy trì và tăng hiệu quả hoạt động tài chính của chính tổ chức mình
Trang 342.2.2 Yếu tố tại ngân hàng
Yếu tố rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính trong kinh doanh của ngân hàng thương mại được xác định ở các nội dung: Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tín dụng; các chỉ tiêu phân tích rủi ro lãi suất; các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh khoản; các chỉ tiêu phân tích rủi ro tỷ giá; các chỉ tiêu phân tích rủi ro thanh khoản
Yếu tố năng lực quản lý: Nó là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng Kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ chịu ảnh hưởng của khả năng quản
lý và điều hành Năng lực quản trị tốt sẽ hạ thấp chi phí hoạt động và tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng
Khoa học và công nghệ ứng dụng: Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, để tồn tại vững chắc, ngân hàng cần được trang bị công nghệ mới, bao gồm thiết bị tiên tiến và đội ngũ nhân sự chất lượng Ứng dụng công nghệ trong việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại phục vụ nhu cầu của xã hội cảng biển phát triển
Trình độ và phẩm chất của người lao động: Yếu tố con người là yếu tố quyết định lớn đến hoạt động của ngân hàng thương mại thành công hay thất bại Xã hội càng phát triển, các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ tiên tiến và chất lượng cao Điều này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhanh chóng những thay đổi của thị trường và xã hội Việc sử dụng nguồn nhân lực có đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn sẽ hỗ trợ ngân hàng tạo ra khách hàng trung thành, ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh và đầu tư, đồng thời điều này sẽ giúp ngân hàng tạo được khách hàng trung thành Đây cũng là yếu tố hỗ trợ ngân hàng hạ chi phí hoạt động Tuy nhiên, luôn cần
ưu tiên phát triển nguồn nhân lực bằng công nghệ mới trong quá trình phát triển nguồn nhân lực
Thực tế tại Việt Nam có đến 5 NHTM thuộc diện kiểm soát đặc biệt do hoạt động yếu kém gồm Ngân hàng Đông Á (Dong A Bank), Ngân hàng Xây dựng (CBBank), Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank), Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GP Bank) và Ngân hàng Sài Gòn (SCB), chiếm đến 1/6 số NHTM tại Việt Nam, một số lượng đáng báo động Trong đó, CBBank, Oceanbank và GP Bank là 3 NHTM bị Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần giá 0 đồng vào năm 2015 DongA Bank đang bị kiểm soát đặc biệt kể từ
Trang 35cuối năm 2015 đến nay Nguyên nhân là do trong giai đoạn từ 2012 trở về trước, lãnh đạo DongA Bank đã có nhiều vi phạm pháp luật về quản lý tài chính, cấp tín dụng và hoạt động kinh doanh khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính và hoạt động của Ngân hàng, dẫn đến âm vốn chủ sở hữu và rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt Trong năm
2022, do tác động của những doanh nghiệp, tập đoàn, cá nhân có sai phạm và liên quan trực tiếp với SCB đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của người gửi tiền ở ngân hàng này Do đó, Ngân hàng nhà nước đã phải kiểm soát đặc biệt đối với SCB để ổn định hoạt động của ngân hàng này
2.3 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
2.3.1 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Tam Thanh Nguyen Duong và cộng sự (2020)
Tam Thanh Nguyen Duong và cộng sự (2020) đã nghiên cứu và đo lường tác động của tái cấu trúc tài chính đến hoạt động tài chính chung của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Dữ liệu khảo sát cho nghiên cứu này được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2018 Trong nghiên cứu, chúng tôi xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng với kết quả tài chính được
đo lường bằng ROA và ROE là các biến phụ thuộc Mô hình Bình phương Ít nhất Thông thường Tổng hợp (POLS), Mô hình Hiệu ứng Cố định (FEM), Mô hình Hiệu ứng Ngẫu nhiên (REM) và các Phương pháp Khoảnh khắc Tổng quát khác nhau (GMM) đã được sử dụng trong nghiên cứu (GMM) Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tái cấu trúc các khoản phải trả và tái cấu trúc vốn chủ sở hữu đều rất cần thiết Tăng vốn chủ sở hữu và giảm các khoản phải trả sẽ cải thiện hoạt động tài chính tổng thể; cơ cấu lại nợ xấu để giảm nợ xấu cũng sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính Tuy nhiên, việc tái cơ cấu tài chính trong các năm 2012-2015 và 2016-2018 đã thực sự làm xấu đi hiệu quả tài chính trong các giai đoạn đó Kết quả của nghiên cứu này cho thấy việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam sau khi tái cơ cấu nên dựa trên các dữ liệu dài hơn Đồng thời , để đưa ra kết luận chính xác về hoạt động tài chính, cần phải xem xét sự khác biệt giữa các nhóm ngân hàng khác nhau
Trang 36Nghiên cứu của Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021)
Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021) nghiên cứu tác động của tái cấu trúc ngân hàng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Dữ liệu cho nghiên cứu này được lấy từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2019 Để điều tra, phân tích hồi quy bội được sử dụng Biến phụ thuộc là hiệu quả tài chính được đo lường bằng ROAA, ROEA và NIM Các biến độc lập là cơ cấu lại tài chính, cơ cấu lại sở hữu và cơ cấu lại hoạt động Bình phương nhỏ nhất gộp chung (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM),
mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy mô men tổng quát của hệ thống
là tất cả các ví dụ về mô hình hồi quy (System GMM) là các phương pháp ước lượng được
sử dụng để tăng độ chính xác của hồi quy hệ số
Nghiên cứu của Phan Thu Bảo (2016)
Phan Thu Bảo (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu từ 24 ngân hàng trên bảng
dữ liệu mẫu cho các năm 2007-2015 Biến phụ thuộc bao gồm các biến xuất phát từ nội dung của ngân hàng, chẳng hạn như an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, tài khoản quản lý, quy mô ngân hàng và các yếu tố vĩ mô như GDP và CPI; biến độc lập bao gồm các biến xuất phát từ nội dung của ngân hàng, chẳng hạn như an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, tài khoản quản lý, quy mô ngân hàng và các yếu tố vĩ mô như GDP và CPI Khung an toàn CAMELS cũng được sử dụng để xem xét ảnh hưởng của biến phụ thuộc vào hoạt động tài chính Luận án dựa trên sự kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả cho thấy tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả quản lý
có tác động đáng kể đến hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, cho thấy chất lượng tài sản có ảnh hưởng, trong khi không có bằng chứng về mối quan hệ giữa tài khoản quản lý với quy mô ngân hàng và hiệu quả hoạt động chính là thành lập
Nghiên cứu của Cuong Van Hoang và cộng sự (2020)
Trang 37Cuong Van Hoang và cộng sự (2020) “Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến việc tạo thanh khoản và hoạt động tài chính của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam” Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của đa dạng hóa thu nhập đến việc tạo thanh khoản ngân hàng và hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2017 Thông tin được thu thập từ 21 ngân hàng thương mại tại Việt Nam Để xử lý dữ liệu, bảng điều khiển OLS với các hiệu ứng cố định và ước tính GMM
đã được sử dụng Kết quả chỉ ra rằng đa dạng hóa có tác động tiêu cực đến cả việc tạo thanh khoản ngân hàng và lợi nhuận của ngân hàng, ủng hộ quan điểm rằng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nên tiếp tục tập trung vào các ngành nghề kinh doanh truyền thống của họ thay vì đa dạng hóa sang các hoạt động phi truyền thống, điều này có thể dẫn đến khả năng tạo thanh khoản thấp hơn và khả năng sinh lời Phát hiện của nghiên cứu có thể chỉ ra các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và quản lý ngân hàng theo hướng các chiến lược tập trung hơn để đảm bảo sức khỏe của hệ thống ngân hàng
Nghiên cứu của Nguyễn Hà Trung (2013)
Nguyễn Hà Trung (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam theo quan điểm đánh giá của Moody's trong giai đoạn 2005 - 2012, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích định tính, thống kê mô
tả, khảo sát kết hợp với định lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số tài chính có thể phân loại các ngân hàng có năng lực tài chính mạnh hay yếu và phân tích các ngân hàng thương mại ở Việt Nam cho thấy sự yếu kém của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là tính thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Cường (2017)
Nguyễn Đức Cường (2017) là tác giả của nghiên cứu Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2007-2016 Kết quả cho thấy có 4 chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam : Quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động, Tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Trang 38Nghiên cứu của Phạm Thị Hằng Nga (2013)
Phạm Thị Hằng Nga (2013) nghiên cứu đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam theo khung an toàn của Camel, kết quả đã đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2003-2012, cũng
từ kết quả đánh giá đó, tác giả đã đưa ra mô hình năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của 13 yếu tố: quy mô vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, dư nợ / tổng tài sản, nợ xấu trên tổng dư nợ ROA; ROE; NIM, chi phí hoạt động, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ đảm bảo tiền gửi, tỷ lệ thanh khoản ngắn hạn, dư nợ cho vay / tiền gửi, tất cả các yếu tố trên đều có ảnh hưởng nhất định đến năng lực tài chính Kết quả cho thấy năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa được đảm bảo so với khung an toàn CAMEL
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Tomuleasa và Cocris (2014)
Tomuleasa và Cocris (2014) đã điều tra các yếu tố quyết định chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong khu vực châu Âu, có tính đến các tập đoàn tài chính quan trọng nhất của khu vực Các tác giả đã sử dụng hai mô hình hồi quy hiệu ứng cố định để tính hiệu quả hoạt động trong một nhóm các ngân hàng châu Âu từ năm 2004 đến năm
2012, trong đó khả năng sinh lời được đo lường bằng cách sử dụng hai biến: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trung bình ROA và Tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM và mối quan hệ với các biến độc lập như thế nào là tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), tổng vốn vay (IL), tỷ lệ vốn vay trên tổng tài sản (LR), thước đo cốt lõi (TIER1), tốc độ tăng trưởng (GDP), tác động của lạm phát ( CAR) Các phát hiện ước tính chứng minh rằng tất cả các động lực cụ thể của ngân hàng đều có tác động đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng, nhưng không nhất thiết phải theo cách mong đợi
Nghiên cứu của Tiến sĩ Tesfatsion Sahlu Desta (2016)
Tiến sĩ Tesfatsion Sahlu Desta (2016) đã phân tích hoạt động tài chính của các ngân hàng châu Phi Chỉ có bảy ngân hàng được xác định trong số 30 ngân hàng hàng đầu của châu Phi Các ngân hàng này có báo cáo tài chính hợp nhất và đầy đủ cho ba năm tài chính gần nhất (2012-2014) Xếp hạng thành phần và tổng hợp CAMEL đã được sử dụng Theo
Trang 39nghiên cứu, các ngân hàng được đánh giá là mạnh và đạt yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thu nhập Về chất lượng tài sản, chất lượng quản lý và khả năng thanh khoản được đánh giá là kém khả quan, thiếu hụt và thiếu nghiêm trọng Tất cả các ngân hàng đều nhận được xếp hạng tổng hợp 3 (tức là Khá) Ngân hàng Standard Bank of South Africa Ltd (Nam Phi) được xếp hạng cuối cùng trong số các ngân hàng được nghiên cứu, nhưng được Tạp chí Global Finance bình chọn là ngân hàng khu vực tốt nhất vào năm 2015 Chúng tôi khuyến nghị các ngân hàng sử dụng xếp hạng tổng hợp và thành phần CAMEL thường xuyên trong để chống chọi với những biến động kinh doanh và những ảnh hưởng từ bên ngoài Tương tự, khi xếp hạng các ngân hàng tốt nhất, các tổ chức như Tạp chí Tài chính Toàn cầu được khuyên nên sử dụng xếp hạng tổng hợp CAMEL và xếp hạng thành phần Cuối cùng, nghiên cứu thêm là cần thiết để phát triển một thang đánh giá hoàn chỉnh và trọng lượng cho tất cả các tỷ lệ bao gồm các thành phần CAMEL tổng hợp
Nghiên cứu của Ashenafi Nigusse Tibebe (2020)
Ashenafi Nigusse Tibebe (2020) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại tư nhân ở Ethiopia Đặc điểm nổi bật của bài báo này
là bao gồm nhiều biến độc lập, bao gồm tất cả 16 ngân hàng thương mại tư nhân đang hoạt động ở Ethiopia và giới thiệu EPS cùng với ROA và ROE Phân tích được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu từ Báo cáo thường niên của Ngân hàng Quốc gia Ethiopia và các trụ
sở chính của ngân hàng Phân tích đã khảo sát các đặc điểm CAMEL cụ thể của từng ngân hàng từ năm 2016 đến năm 2020 và sử dụng mô hình hồi quy cân bằng có hiệu lực cố định với SPSS 20 để đánh giá chúng ngân hàng Cuối cùng, Báo cáo khuyên rằng các ngân hàng nên cải thiện mức độ an toàn vốn, hiệu quả quản lý và vị thế thanh khoản để cải thiện hoạt động tài chính của họ ở Ethiopia
Nghiên cứu của Mulualem Getahun (2015)
Mulualem Getahun (2015) đã sử dụng phương pháp CAMEL để kiểm tra hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Ethiopia, xếp hạng chúng dựa trên hiệu quả hoạt động và kiểm tra sự hiện diện của mối quan hệ giữa các phép đo nhân tố CAMEL đã chọn
và các chỉ số khả năng sinh lời Từ năm 2010 đến năm 2014, hoạt động tài chính của Mười Bốn Ngân hàng Thương mại đã được nghiên cứu bằng cách sử dụng dữ liệu bảng Đối với
Trang 40hai thước đo khả năng sinh lời: ROE và ROA, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng và dữ liệu tài chính thứ cấp được phân tích bằng mô hình hồi quy tuyến tính bội số Ảnh hưởng và mối liên hệ của các yếu tố CAMEL: an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, thu nhập và khả năng thanh khoản với các chỉ số khả năng sinh lời của ngân hàng đã được nghiên cứu độc lập bằng cách sử dụng mô hình hồi quy hiệu ứng cố định Các phát hiện thực nghiệm cho thấy mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản và hiệu quả quản lý có mối quan hệ tiêu cực, trong khi thu nhập và tính thanh khoản có mối quan
hệ cùng chiều với cả các thước đo khả năng sinh lời có mối quan hệ tĩnh mạnh mẽ, ngoại trừ mức độ an toàn vốn không đáng kể đối với ROA nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với ROE
Nghiên cứu của Ongore & Kusa (2013)
Ongore & Kusa (2013) cho thấy mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản và hiệu quả quản lý ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Kenya Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của ngân hàng, mức độ an toàn vốn và hiệu quả quản
lý được cho là tích cực, trong khi mối quan hệ giữa chất lượng tài sản và chất lượng tài sản được nhận thấy là tiêu cực Điều này cho thấy chất lượng tài sản kém hoặc tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản cao có liên quan đến hoạt động kém hiệu quả của ngân hàng Do đó, các ngân hàng có chất lượng tài sản cao và các khoản nợ xấu thấp thường có khả năng sinh lời cao hơn các ngân hàng khác Yếu tố cụ thể khác của ngân hàng, quản lý thanh khoản, được thể hiện bằng tỷ lệ thanh khoản, được cho là không có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Kenya Phương hướng và tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ở Kenya là không rõ ràng GDP được phát hiện có mối tương quan nghịch với ROA và NIM và mối tương quan thuận với ROE Ngược lại với GDP, một biến số kinh tế vĩ mô khác, lạm phát, có mối tương quan nghịch tương đối mạnh với hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại Kenya Điều này chứng tỏ lạm phát có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Kenya trong thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu của San và Heng (2013)