i LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đây là sản phẩm nghiên cứu của riêng bản thân cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các côn[.]
Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, quản lý chi phí là một trong nhiều lĩnh vực đặc biệt quan trọng của công tác đầu tư xây dựng, nó ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả kinh tế của dự án, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, đến chất lượng công trình Bên cạnh các lĩnh vực quản lý về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn và môi trường Bên cạnh việc đất nước đã gia nhập WTO, nhu cầu về đầu tư và xây dựng là rất lớn Khi đórấtnhiều cơ hội và thách thức mới sẽ mở ra cho cácnhà thầu xây dựng Cũng do đặc thù ngành xây dựng nên đa số các công trình xây dựng hiện nay đều có quy mô lớn, chi phí lớn, thời gian xây dựng và khai thác dài Nguồn vốn dành cho xây dựng thường chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách hàng năm của nhà nước Chi phí xây dựng là một trong bốn mục tiêu hàng đầu của một dự án Vì vậy, quản lý chi phí đầu tư xây dựng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thành công trong môi trường ngày càng cạnh tranh và nhiều khó khăn của các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp xây dựng
Ban quản lý dựán đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi (sau đây trong đề tài gọi tắt là Ban QLDA Trường hoặc Ban QLDA ĐTXD) là đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT Thời gian qua được giao nhiệm vụ làm đại diện chủ đầu tư các dự án sử dụng kinh phí sửa chữa lớn từ ngu ồ n kinh phí không thường xuyên và quỹ PTHĐSN của trường Đại học Thủy lợinhư các dự án sửa chữa lớn qua các giai đoạn trên địa bàn Trường Đại học Thủy lợi với mục đích cải tạo, sửa chữa cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và học tập của trường Đại học Thủy lợi Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác quản lý dựán đầu tư xây dựng của Ban QLDA Trường thời gian qua thì vẫn còn không ít những tồn tại, hạn chế về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng như: công tác lập tổng mức đầu tư chưa chính xác, công tác quản lý dự toán công trình xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng chưa được lập đúng quy định, nhiều hợp đồng xây dựng được thanh toán, quyết toán có giá trị vượt giá trị được ký kết ban đầu, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng còn chưa hoàn thiện; chi phí quản lý dựán đầu tư xây dựng của Chủđầu tư chưa được quản lý hợp lý
Việc hoàn thiện chất lượng quản lý chi phí đầu tư xây dựng là nhiệm vụ quan trọng và xuyên suốt quá trình quản lý dựán đầu tư Vì vậy tác giả đã lựachọn đề tài: “ Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của một luận văn thạc sỹ, có giá trị lý luận và thực tiễn, đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi, khắc phục các khó khăn tồn tại, nhằm nâng cao công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, vì vậy đề tài nay mang ý nghĩa thực tiễn cao
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Xuất phát từ cơ sở được học và thực tế nghiên cứu những tồn tại, hạn chế trong quá trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi, tác giả nghiên cứu bài viết nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trường Đại học Thủy lợi vàgóp phầnnhỏvào sự phát triển của Trường
- Luận văn áp dụng các phương pháp sau:
Phương pháp kế thừa: Dựa trên các giáo trình, các chuyên đề nghiên cứu đã được công nhận
Phương pháptham vấn ý kiến chuyên gia và một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác để giải quyết các vấn đề của đề tài nghiên cứu.
Kết quả đạt được
- Đánh giá thực trạng về công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng thuộc dự án sửa chữa lớn Trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 1 năm 2018
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Trường Đại học Thủy lợi.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Khái quát chung về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Nhắc tới công tác quản lý dự án thì không thể không nhắc tới chi phí dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là trong công tác đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng.Chi phí đầu tư xây dựng công trình của dự án là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dụng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng Do đặc điểm của sản xuất xây dựng và đặc thù công trình xây dựng nên mỗi công trình có chi phí khác nhau được xác định theo đặc điểm, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ trong quá trình xây dựng.[1]
Quản lý chi phí dự án là việc đảm bảo dự án được thực hiện thành công thỏa mãn ràng buộc về chi phí “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện Quản lý dự án Mỹ (PMI) định nghĩa việc quản lý chi phí dự án như sau: “quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình là các quá trình dự toán chi phí, thiết lập ngân sách và kiểm soát chi phí nhằm đảm bảo dự án được hoàn thành trong phạm vi ngân sách được duyệt” [2]
Tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng: do công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng là một trong các mục tiêu lớn của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng nên tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng như các công tác quản lý chất lượng, quản lý tiến độ hay quản lý an toàn lao động, vệ sinh môi trường…Công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng có ảnh hưởng tới việc đầu tư hiệu quả hay không hiệu quả của công trình xây dựng nên mang tầm quan trọng rất lớn trong quá trình quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung [2]
Vai trò của công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng: công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng là một trong các nhiệm vụ thực hiện của quản lý dự án đầu tư xây dựng của chủ đầu tư, công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng đóng vai trò quan trọng bởi vì nếu không quản lý chi phí đầu tư xây dựng tốt thì công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của chủ đầu tư sẽ bị vượt chi phí ngân sách của mình, từ đó làm giảm hiệu quả đầu tư nói chung.[2].
Nhiệm vụ của công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo các dự án đầu tư xây dựng của chủ đầu tư được thực hiện nằm trong kế hoạch ngân sách của mình, không bị phát sinh chi phí, từ đó đảm bảo hiệu quả đầu tư xây dựng ban đầu chủ đầu tư lập ra.[2]
Nội dung công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng dưới góc độ chủ đầu tư được xét theo hai góc độ như sau: (1)- Nội dung công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách của chủ đầu tư xét theo các chỉ tiêu chi phí bao gồm: quản lý sơ bộ tổng mức đầu tư, quản lý tổng mức đầu tư, quản lý dự toán xây dựng công trình, quản lý dự toán gói thầu, quản lý thanh toán hợp đồng, quản lý quyết toán hợp đồng, quản lý vốn đầu tư xây dựng, quản lý chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, quản lý chi phí Ban quản lý dự án (2)- Nội dung quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của Chủ đầu tư theo chức năng bao gồm: lập dự toán chi phí, lập kế hoạch ngân sách dự án, cấp phát vốn và kiểm soát chi phí
Chi phí dự án đầu tư xây dựng được biểu thị qua nhiều chỉ tiêu như: Tổngmức đầu tư của dự án ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giá trị thanh toán, quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng Chi phí dự án đầu tư xây dựng được lập theo từng công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng (ĐTXD), các bước thiết kế và quy định của nhà nước Trong các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước, chủ đầu tư xây dựng phải chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng.[1]
Từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đặc điểm của sản xuất xây dựng và những quy định của nhà nước, quá trình ĐTXD công trình đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ dẫn đến lãng phí đầu tư và thất thoát trong xây dựng Theo quy định pháp luật về ĐTXD mỗi dự án đầu tư đều phải trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng Tại mỗi giai đoạn, chi phí của dự án được biểu thị qua các chỉ tiêu tương ứng, về giá trị các chỉ tiêu này được xác định ở mức độ chính xác tăng dần so với giá trịthực tế đầu tư: (1) Giai đoạn chuẩn bị dự án, chi phí xây dựng biểu thị bằng chỉ tiêu sơ bộ Tổng mức đầu tư và Tổng mức đầu tư; (2) Giai đoạn thực hiện dự án, chi phí xây dựng biểu thị bằng dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu, giá hợp đồng, giá thanh toán, quyết toán hợp đồng; (3) Giai đoạn hoàn thành đưa vào sử dụng, chi phí xây dựng được biểu thị bằng giá trị quyết toán vốn đầu tư [1].
Đánh giá chung về năng lực quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở Việt Nam
Quản lý chi phí là thước đo về mức độ hợp lý, hiệu quả đầu tư và sự phù hợp với quy định pháp luật trong đầu tư xây dựng Để đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, từ năm 2015 Chính phủđã ban hành Nghịđịnh số 32/2015/NĐ-CP; các bộ, ngành liên quan đều ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Theo đó, việc quản lý chi phí phải được thực hiện xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn đầu tư và các lĩnh vực đầu tư, ngay từ lúc bắt đầu khảo sát - lập dựán đầu tư, qua các quá trình lập thiết kế - dự toán, đấu thầu và lựa chọn nhà thầu, cung cấp vật tư thiết bị, thi công xây dựng đến khi hoàn thành đưa công trình vào sử dụng, thanh toán và quyết toán vốn đầu tư Hiệu quả quản lý chi phíđầu tư xây dựng của các công trình, dự án đầu tư xây dựng thời gian vừa qua được thể hiện ở các tiêu chí: phù hợp với quy định pháp luật; hợp lý về mặt kinh tế - kỹ thuật trong giải pháp thiết kế, xây dựng công trình; giảm giá thành xây dựng công trình; đúng đắn trong việc lập và thực hiện dự toán - thanh, quyết toán; giảm thiểu các nội dung phát sinh, giảm thiểu vật tư tồn kho Quản lý chi phí đầu tư xây dựng là công việc quan trọng nhất trong tiến trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư xây dựng Quản lý chi phí đầu tư xây dựng có liên quan mật thiết đến quản lý chất lượng, tiến độ và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế
- kỹ thuật, hiệu quả đầu tư và phát triển bền vững đối với dự án đầu tư xâydựng Trên cơ sở nguồn vốn dự kiến, người quyết định đầu tư, Chủ đầu tư có trách nhiệm đưa ra những quyết định, chỉ đạo các bên tham gia thực hiện từ Tư vấn, Nhà thầu, Nhà cung cấp tổ chức phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước, các địaphương liên quan hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ theo nội dung hợp đồng để đảm bảo hoàn thành dự án tốt nhất có thể Thông qua kết quả đạt được, ngoài việc đánh giá hiệu quả của dự án trên các lĩnh vực Kinh tế - Xã hội -
An ninh Quốc phòng và phát triển bềnvững còn có thể đánh giá được năng lực của các bên tham gia dự án, phát hiện những nội dung, vấn đề cần xem xét điều chỉnh, sửa đổi từ hệ thống văn bản pháp lý, các cơ chế chính sách quản lý đầu tư xây dựng đến các nội dung kỹ thuật đối với dự án đã hoàn thành Trong khoảng
20 năm đổi mới và hội nhập của đất nước, kết cấu hạ tầng giao thông ngày càng được hoàn thiện và thay đổi mạnh mẽ, đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển Kinh tế - Xã hội - An ninh Quốc phòng của đất nước Số lượng công trình, dự án ngày càng tăng đồng nghĩa với lượng vốn đầu tư vào các dự án dưới các hình thức khác nhau: Vốn Ngân sách nhà nước, vốn vay ODA hoặc viện trợ không hoàn lại, vốn đầu tư trực tiếp (BOT) v.v ngày càng lớn Ngành giao thông vận tải là ngành được giao chủ trìdưới sự lãnh đạo của Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, với sự phối hợp của các Bộ, Ngành, địa phương liên quan trong suốt mấy chục năm qua đã và đang không ngừng nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ quản lý nguồn chi phí đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông như ngày nay Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định trong những dự án, công trình cụ thể song có thể đánh giá những kết quả mà ngành đã đạt được là đáng kể, được xã hội ghi nhận.[4]. Để hiểu rõ về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng của chủ đầu tư, các công tác quản lý tổng mức đầu tư, giá dự toán xây dựng công trình và công tác quản lý giá thanh toán, quyết toán hợp đồng xây dựng và vốn đầu tư cần phải được đánh giá về những kết quả đạt được và những hạn chế
1.2.1 Công tác quản lý tổng mức đầu tư
Thời gian qua nhà nước đã ban hành các văn bản quy định về lập Tổng mức đầu tư, tạo điều kiện thống nhất cho các chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn lập dự án, tư vấn thiết kế xây dựng công trình được lập tổng mức đầu tư chính xác và nhanh chóng Tổng mức đầu tư được lập và phê duyệt là điều kiện để chủ đầu tư thực hiện triển khai lập dự toán xây dựng công trình và dự toán gói thầu.
Tuy nhiên bên cạnh có còn có một số tồn tại trong kiểm soát tổng mức đầu tư thực hiện các dự án như nhiều công trình, dự án đầu tư xây dựng khi thực hiện hoặc quyết toán đều bị vượt tổng mức đầu tư với giá Trong văn bản mới đây,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ ra rằng, tình trạng điều chỉnh tổng mức đầu tư xảy ra đối với nhiều dự án, điển hình là các dự án đường sắt đô thị Quy trình, thủ tục điều chỉnh tổng mức đầu tư thường mất nhiều thời gian, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thực hiện dự án do phải tiến hành thẩm định, lấy ý kiến cơ quan liên quan và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Cụ thể một số dự án gần đây bị vượt tổng mức đầu tư có giá trị lớn được tổng hợp tại Bảng 1.1 như sau:
Commented [DTM1]: Bổ sung một vài đoạn phân tích để làm nổi bật lên những kết quả đạt được của công tác quản lý tổng mức đầu tư 2 tiểu mục còn lại cũng bổ sung theo cách tương tự
Bảng 1.1 Tổng hợp một số dự án, công trình xây dựng bị vượt tổng mức đầu tư và nguyên nhân [4]
TT Tên dự án, công trình xây dựng
Mức vượt tổng mức đầu tư và nguyên nhân dẫn tới
1 Dự án Xây dựng đường sắt đô thị thành phố Hà
Hưng Đạo tăng tổng mức đầu tư từ 19.555 tỷ đồng lên 51.750 tỷ đồng, sau khi thẩm định đang đề nghị điều chỉnh xuống 33.568 tỷ đồng Nguyên nhân đội vốn do tiến độ thi công quá chậm làm trượt giá, một số thiết bị phải điều chỉnh do nhập ngoại, tăng giá do chênh tỷ giá ngoại tệ…
2 Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội tuyến Cát
Tổng mức đầu tư tăng từ 8.769 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng Nguyênnhân tăng vốn là xuất phát do việc chậm tiến độ hơn 5 năm điều chỉnh thiết kế một số hạng mục do phát sinh, thay đổi quy mô, công suất…
3 Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội, đoạnNhổn - ga Hà
Tăng tổngmức đầu tư từ 783 triệu EUR lên 1.176 triệu EUR, nghĩa là đội vốn 393 triệu EUR, tương đương khoảng 10.400 tỷ đồng
Nguyên nhân do chậm tiến độ thi công xây dựng hơn 2 năm làm phát sinh trượt giá.
4 Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1, đoạn Bến Thành - Suối
Tổng mức đầu tư bị tăng từ17.387 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng, nguyên nhân do chậm tiến độ thi công xây dựng, một số thiết bị phải điều chỉnh do nhập ngoại, tăng giá do chênh tỷ giá ngoại tệ…
Commented [DTM2]: Trích dẫn như thế này đối với các bảng sửa lại các bảng khác trong LV
Hình 1.1 Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội [4]
Hình 1.2 Dự án tuyến Metro số 1 Bến Thành –Suối Tiên [4]
Một số nguyên nhân chính dẫn tới việc tăng tổng mức đầu tư của các dự án đó là:
(1) Do biến động giá của nguyên, nhiên vật liệu và tăng lương tối thiểu, sự biến động giá của nguyên, nhiên vật liệu và điều chỉnh tăng lương tối thiểu theo quy định đã dẫn tới việc tăng tổng mức đầu tư (2) Do dự toán tính thiếu nên quá trình thi công đã phát sinh tăng khối lượng xây dựng Ví dụ hiện nay Việt Nam chưa có các quy chuẩn, định mức, đơn giá áp dụng cho đường sắt đô thị nên việc xác định tổng mức đầu tư của dự án chủ yếu dựa trên suất đầu tư của các công trình tương tự đã và đang xây dựng tại châu Á nên không đạt được độ chính xác tin cậy dẫn tới phải điều chỉnh tổng mức đầu tư Các dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị TP.HCM tuyến 1, đoạn Bến Thành - Suối Tiên, dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị TP.HCM, tuyến 2, đoạn Bến Thành - Tham Lương đều chịu ảnh hưởng lớn từ nguyên nhân này (3) Năng lực của một số đơn vị tư vấn kém Nhiều tư vấn đưa ra các giải pháp thiết kế, tính toán chưa chính xác chi phí đầu tư các hạng mục, dẫn tới tổng mức đầu tư tăng.
Tại dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị TP Hà Nội tuyến 2, đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, trong quá trình thẩm tra tổng mức đầu tư đã phát hiện nhiều sai sót trong quá trình tính toán chi phí đầu tư như: áp dụng tỷ giá quy đổi, chi phí dự phòng không theo quy định, tính sai khối lượng một số hạng mục kết cấu chính Đặc biệt là chi phí đầu tư hệ thống cơ điện rất cao và không được tư vấn lập dự án phân tích đơn giá chi tiết dẫn tới giá của hệ thống cơ điện cao hơn đơn giá của một số dự án tương tự trong khu vực tới 2 đến 7 lần Chính phủ đã ban hành Nghị định 32/NĐ-CP (2015), sau khi Quốc hội phê chuẩn Luật Xây dựng sửa đổi 2014 Bộ Xây dựng là cơ quan chủ trì soạn thảo các Nghị định, tổng hợp ý kiến các Bộ ngành liên quan trong đó có Bộ GTVT, trình Chính phủ quy định ban hành Đến bản Nghị định gần nhất là Nghị định 32/NĐ-
CP (2015) các nội dung quy định về quản lý chi phí ĐTXD đã khá hoàn chỉnh, thể hiện quan điểm và phương pháp nhất quán của nhà nước về quản lý chi phí ĐTXD hướng tới hội nhập quốc tế theo điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta Về nội dung định mức, giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng (Chương IV) đã có sự phân cấp rành mạch công tác xây dựng định mức giữa Bộ XD và các Bộ quản lý chuyên ngành, các địa phương, trách nhiệm của Chủ đầu tư trong việc xây dựng và quản lý giá xây dựng công trình, phân cấp trách nhiệm xây dựng chỉ số giá xây dựng cho UBND cấp tỉnh và Chủ đầu tư Theo đó, các Bộ quản lý chuyên ngành và địa phương có thẩm quyền lập và công bố các định mức xây dựng cho các công việc đặc thù của ngành và địa phương sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Xây dựng Đối với ngành giao thông do còn nhiều định mức cũ được xây dựng trên cơ sở công nghệ, thiết bị lạc hậu với năng suất thấp, chưa theo kịp những đổi mới về thiết bị, công nghệ tiên tiến, Bộ GTVT đã chỉ đạo các Cục, Vụ chức năng xây dựng và công bố được 114 định mức mới trong
05 năm từ 2009 - 2014 Riêng trong năm 2015, Bộ GTVT đã công bố được 54 định mức mới, đã hoàn thành xin thỏa thuận của Bộ Xây dựng để công bố 30 định mức, đang hoàn thiện hồ sơ cho 36 định mức và tiếp tục nghiên cứu ở một số dự án khác để đủ điều kiện công bố 10 định mức mới Trong số các định mức đã công bố có những định mức vướng mắc nhiều năm như định mức cọc cát đầm chặt D700 áp dụng cho đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, hay 42 định mức cầu treo dân sinh, 11 định mức cho cầu yếu (vốn JICA) đã góp phần thiết thực vào việc hoàn thành dự án 187 cầu treo dân sinh và hơn 70 cầu yếu trên các tuyến quốc lộ sử dụng vốn vay ODA Tại Chương VII qui định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Trong đó, người quyết định đầu tư phê duyệt và phê duyệt điều chỉnh Tổng mức đầu tư (TMĐT), dự toán xây dựng công trình Chủ đầu tư có nghĩa vụ lập và điều chỉnh TMĐT, dự toán xây dựng công trình trình người quyết định đầu tư phê duyệt và có thẩm quyền quản lý chi phí ĐTXD trong khuôn khổ TMĐT, dự toán xây dựng công trình được phê duyệt Những quy định này đã thể hiện sự phân cấp mạch lạc, rõ ràng, không còn có sự chồng chéo về thẩm quyền của Người quyết định đầu tư và Chủ đầu tư Theo đó, người quyết định đầu tư có vai trò quan trọng hàng đầu trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và phê duyệt TMĐT, TMĐT điều chỉnh, còn Chủ đầu tưcó vị trí, vai trò và nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình thực hiện đầu tư Với những qui định này, Chủ đầu tư cần xem xét điều chỉnh mô hình tổ chức quản lý thực hiện dự án theo hướng rà soát để giảm bớt việc phân giao nhiệm vụ của Chủ đầu tư cho các Ban quản lý dự án, lập các bộ phận nghiệp vụ trực thuộc để trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng của Chủ đầu tư Kiến nghị Ban tổ chức Hội thảo xem xét đưa vào kết luận Hội thảo nội dung này Một nội dung quan trọng được thực tế ghi nhận, phản ánh nhiều năm nay song vẫn chưa được giải quyết triệt để đó là những qui định về hồ sơ và thủ tục nghiệm thu thanh toán còn nhiều rườm rà Một hồ sơ hoàn chỉnh cần đến hàng chục chữ ký, qua nhiều lần xem xét, kiểm tra chi tiết làm cho những tờ trình củaChủ đầu tư sau khi đã rà soát, chịu trách nhiệm trở nên chỉ là hình thức phải có theo qui định Có nhiều ý kiến đề xuất nên đối chiếu với các thủ tục, hồ sơ qui định để nghiệm thu, thanh toán như đối với dự án ODA để biên soạn thành hướng dẫn cho các dự án sử dụng nguồn vốn khác thực hiện, vừa cắt giảm nhiều thủ tục, vừa hướng tới hội nhập theo thông lệ quốc tế
Các nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Công tác quản lý dự án , đặc biệt là trong công tác quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng công trìnhnói chung còn nhiều tồn tại yếu kém, làm cho nguồn vốn đầu tư chưa đạt hiệu quả, chưa được như kỳ vọng Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư còn xảy ra khá phổ biến ở các dự án Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại và yếu kém nêu trên, nhưng nguyên nhân căn bản và chủ yếu là do công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình của các đơn vị quản lý dự án chưa đáp ứng được yêu cầu Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí các dự án đầu tư xây dựng công trình tại các cơ quan quản lý dự án là một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết
Qua nghiên cứu một số đề tài có nội dung liên quan của tác giả khác như Đề tài: Hoàn thiện công tác quản lý chi phí giai đoạn thực hiện dự án tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình kết cấu, hạ tầng, giao thông của tác giả Cao Vân Long; hay đề tài: nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng tại Công ty TNHH một thành viên quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh Bắc Kạn của tác giả Nguyễn Văn Đức
Tuy nhiên do nguồn tài liệu tham khảo có hạn nên tác giả chưa gặp đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại các trường Đại học nói chung và Đại học Thủy lợi nói riêng Hơn nữa, Đại học Thủy lợi lại mang tính đặc thù riêng, ít được các tác giả quan tâm Vì vậy, với mong muốn áp dụng những kiến thức đã học tập, kinh nghiệm trong thờigian công tác tại Trường để nghiên cứu góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng đang được thực tiễn đặt ra tại Trường Đại học Thủy lợi.
Quản lý chi phí các dự án đầu tư công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước là một vấn đề quan trọng và được các cấp, các ngành hết sức quan tâm Thực trạng công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình còn nhiều bất cập Các chính sách, các quy định hiện hành của Nhà nước, việc bố trí vốn đầu tư và phân bổ vốn cho các hoạt động xây dựng ở các địa phương còn nhiều tồn tại
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo được các yếu tố chất lượng, tiến độ thời gian và chi phí Vấn đề quản lý chi phí các dự án xây dựng công trình đang được quan tâm và nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí một các hiệu quả nhất.
Qua nghiên cứu chương 1, tác giả đã trình bày khái quát chung về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng, từ đó cũng có thể thấy được vai trò của công tác quản lý chí là vô cùng quan trọngtrong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình
Hoàn thiện công tácquản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế, của các cấp, các ngành và của các nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nội dung chủ yếu của quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình gồm: TMĐT, quản lý dự toán công trình, quản lý định mức xây dựng và giá xây dựng công trình, quản lý thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Trên cơ sở đó, chúng ta có cái nhìn tổng quan về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phục vụ cho việc bổ sung cơ sở lý luận làm công cụ để phân tích, đánh giá trong chương 2 tiếp theo.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Các quy định về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng
2.1.1 Đặc điểm công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước của Chủ đầu tư
Cũng như những đặc thù của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung, công tác quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước dưới góc độ của Chủ đầu tư còn mang một số đặc điểm riêng như sau: [1].
+ Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn NSNN thì công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng của Chủ đầu tư phải thông qua việc ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật, hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng của các cơ quan nhà nước Do đó công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của Chủ đầu tư phải chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng của các cơ quan quản lý nhà nước
+ Công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước ngoài việc phải tuân thủ theo quy định của Luật Xây dựng còn phải tuân thủ các quy định của Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn
+ Công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước của Chủ đầu tư phải đảm bảo sự hiệu quả, tiết kiệm chi phí Chủ đầu tư được nhà nước giao quản lý nguồn vốn ngân sách nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu để quản lý không tốt, thiếu hiệu quả
+ Do Chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện điều phối nên tốc độ thanh toán vốn thường phụ thuộc vào tốc độ thu chi ngân sách trên địa bàn tỉnh
+ Do các dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý dự án cấp huyện thực hiện đầu tư thường là các dự án có quy mô nhỏ, nhưng kéo dài liên tục nhiều năm, thường phải trải qua nhiều địa phương trong huyện nên quá trình quản lý chi phí của Chủ đầu tư bị phân tán [1].
2.1.2 Các chỉ tiêu chi phí dự án đầu tư xây dựng được hình thành theo các giai đoạn đầu tư xây dựng
Xuất phát từđặc điểm của sản phẩm xây dựng, đặc điểm của sản xuất xây dựng và những quy định của Nhà nước, quá trình đầu tư xây dựng công trình đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ dẫn đến lãng phí đầu tưvà thất thoát trong xây dựng [6].
Dự án đầu tư xây dựng được thực hiện qua nhiều giai đoạn, với mỗi giai đoạn chi phí dự án đầu tư được thể hiện bằng các chỉ tiêu khác nhau và được xác định theo các cơ sở khác nhau, như tại Hình 2.1
Hình 2.1 Quá trình hình thành chi phí dự án đầu tư xây dựng [6]
Theo quy định pháp luật về đầu tư xây dựng thì mỗi dự án đầu tư đều phải trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa vào vận hành Tại mỗi giai đoạn, chi phí của dự án được biểu thị qua các chỉ tiêu
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHẢ THI
THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCT ĐƯA DỰ ÁN VÀO SỬ DỤNG
THIẾT KẾ KỸ THUẬT, THIẾT KẾ BẢN VẼ THI CÔNG
MỨC ĐẦU TƯ TỔNG MỨC ĐẦU TƯ
DỰ TOÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
DỰ ÁN HOÀN THÀNH THIẾT KẾ
SƠ BỘ tương ứng, về giá trị các chỉ tiêu này được xác định ở mức độ chính xác tăng dần so với giá trị thực tế đầu tư
+ Giai đoạn chuẩn bị dự án, chi phí xây dựng biểu thị bằng chỉ tiêu sơ bộ Tổng mức đầu tư và Tổng mức đầu tư;
+ Giai đoạn thực hiện dự án, chi phí xây dựng biểu thị bằng dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu, giá hợp đồng, giá thanh toán, quyết toán hợp đồng;
+ Giai đoạn hoàn thành đưa vào sử dụng, chi phí xây dựng được biểu thị bằng giá trị quyết toán vốn đầu tư [7].
2.1.2.1 Sơ bộ tổng mức đầu tư
Sơ bộ tổng mức đầu tư là một nội dung trong Báo cáo đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng phải lập Báo cáo đầu tư (các dự án quan trọng quốc gia, các dự án nhóm A) Sơ bộ tổng mức đầu tư được ước tính hoặc chi phí các công trình tương tự đã thực hiện và các yếu tố chi phí ảnh hưởng tới tổng mức đầu tư theo độ dài thời gian xây dựng công trình.
Sơ bộ Tổng mức đầu tư được lập cùngvới Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, có nghĩa là sơ bộ Tổng mức đầu tư được lập đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có quy mô lớn, quan trọng quốc gia [7]
2.1.2.2 Tổng mức đầu tư xây dựng
Tổng mức đầu tư xây dựng là chi phí đầutư xây dựng được xác định ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng Tổng mức đầu tư, theo quy định Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 26/3/2015 của Chính phủ bao gồm các thành phần chi phí: TMĐT = Ggpmb + Gxd + Gtb + Gqlda + Gtv + Gk + Gdp (2.1)
+ Ggpmb: là chi phí đền bù, hỗ trợ và tái định cư phục vụ cho công tác giải phóng mặt bằng.
+ Gxd: là chi phí xây dựng công trình.
+ Gtb: là chi phí mua sắm thiết bị (bao gồm cả chi phí lắp đặt thiết bị vào công trình)
+ Gqlda: chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng.
+ Gtv: chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
+ Gk: chi phí khác theo quy định.
+ Gdp: chi phí dự phòng
Ngoài các xác định trên thì theo quy định Tổng mức đầu tư xây dựng, tùy theo đặc điểm của dự án, có thể được xác định theo một trong bốn cách sau:
+ Tính theo thiết kế cơ sở của dự án;
+ Tính theo suất chi phí cho một đơn vị công suất hay quy mô xây dựng;
+ Tính theo công trình, hạng mục công trình tương tự;
+ Kết hợp các phương pháp nêu trên [7].
2.1.2.3 Dự toán xây dựng công trình
Dự toán xây dựng công trình được xác định cho từng công trình xây dựng, là toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện đầu tư xây dựng công trình đó Theo quy định của pháp luật về quản lý chi phí trong giai đoạn thực hiện dự án thì dự toán xây dựng bao gồm các thành phần như sau:
+ Chi phí xây dựng (Gxd)
+ Chi phí thiết bị (Gtb)
+ Chi phí quản lý dự án (Gqlda)
+ Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng (Gtv)
+ Chi phí dự phòng (Gdp) [7].
2.1.2.4 Dự toán gói thầu xây dựng
Những văn bản pháp quy có liên quan đến công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
tư xây dựng công trình
2.3.1 Hệ thống văn bản pháp luật
- Luật đầu tư số 67/2014/QH13
- Luật đầu tư công số số 49/2014/QH13
- Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014
- Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013
2.3.2 Các thông tư, nghị định
- Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây Dựng về việc hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
- Thông tư số 18/2013/TT-BXD ngày 15/8/2013 của Bộ Xây dựng về việc quy định thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng công trình.
- Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ xây dựng hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Thông tư số 24/2016/TT-BXD ngày 01/9/2016 của Bộ xây dựng về sửa đổi thông tư liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/05/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu xây lắp
- Thông tư số 17/2013/TT-BXD ngày 30/10/2013 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí khảo sát xây dựng
- Thông tư 75/2014/TT-BTC ngày 12/6/2014 về việc quy định về mức thu, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí thẩm tra thiết kế công trình xây dựng
- Thông tư 19/2011/TT-BTC ngày 14/02/2011về việc quy định về phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước
- Nghị định số 46/2015/NĐ - CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ: Qui định chi tiết về hợp đồng xây dựng
- Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ: Qui định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng
- Nghị định số11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ: Quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Một số nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chi phí ĐTXD công trình dưới góc độ của đơn vị chủ đầu tư được tác giả nhận diện tổng hợp như sau:
2.4 1 Nhân tố về biến động giá cả, thời gian thực hiện và thay đổi quy mô, công suất điều chỉnh dự án Đây là nhân tố đầu tiên thường hay gặp phải trong quá trình thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng nói riêng của các chủ đầu tư Do quá trình thực hiện chuẩn bị đầu tư dự án thì dự toán và tổng mức đầu tư mới chỉ là dự kiến ban đầu, giá cả mới chỉ nằm trên giấy tờ mà thôi Trong quá trình thực hiện thực tế thì do biến động giá cả vật liệu thì giá trị dự toán bị thay đổi Thời gian thực hiện nếu bị kéo dài hơn so với dự kiến là cũng nhân tố tác động tới việc phát sinh do trượt giá vật liệu, nhân công, máy thi công Dự án khi có sự điều chỉnh về quy mô, công suất cũng làm phát sinh thiết kế điều chỉnh
2.4 2 Nhân tố về loại hình nguồn vốn thực hiện dự án
Với các dự án có sử dụng nguồn vốn khác nhau thì yêu cầu về sử dụng các nguồn vốn cũng khác nhau Ví dụ như đối với nguồn vốn quản lý chi phí bằng ngân sách nhà nước thì khác với nguồn vốn tư nhân, xã hội hóa Hiện nay các văn bản quy định của nhà nước mới chỉ tập trung về quy định quản lý cho các dự án, công trình đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
2.4 3 Nhân tố về năng lực của nhà thầu thi công, tư vấn đầu tư xây dựng
Công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng của Chủ đầu tư liên quan tới các chủ thể khác như nhà thầu thi công xây dựng, đơn vị tư vấn lập dự án, tư vấn khảo sát, thiết kế và các đơn vị khác Khi năng lực của các đơn vị tư vấn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư tốt, dày dặn kinh nghiệm và chuyên nghiệp sẽ giúp cho chủ đầu tư quản lý chi phí đầu tư xây dựng cho các công trình được thuận lợi Do vậy công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng của Chủ đầu tư còn phụ thuộc vào năng lực của các đơn vị này.
Commented [DTM3]: Bổ sung thêm minh chứng cụ thể một công trình và phân tích về mức độ ảnh hưởng Các nhân tố khác cũng bổ sung minh chứng theo cách tương tư
Commented [DTM4]: Ghép các nhân tố 1.3.7 đến 1.3.12 lại thành 1 tiểu mục và lấy tên của nhân tố 1.3.7
2.4 4 Nhân tố về trình độ bộ máy và quy chế tổ chức quản lý của chủ đầu tư
Trình độ cán bộ của Chủ đầu tư đóng vai trò quan trọng nhất đối với công tác quản lý dự án bởi vì một dự án có thành công hay không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý và kinh nghiệm thực tế của cán bộ quản lý Số lượng cán bộ quản lý của chủ đầu tư năng động, hiệu quả, phù hợp với những thay đổi của môi trường cạnh tranh là những nhân tố thúc đẩy Quy chế quản lý nội bộ của Chủ đầu tư thể hiện phạm vi công việc, chức năng, quyền hạn của ban để nâng cao chất lượng quản lý dự án càng tốt thì công tác quản lý chi phí của Chủ đầu tư càng đạt hiệu quả cao.
2.4 5 Nhân tố về cơ sở vật chất và trang thiết bị quản lý chi phí của chủ đầu tư
Nếu người cán bộ của chủ đầu tư được trang bị đầy đủ các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý chi phí như máy tính, máy in, phần mềm dự toán, tính toán sẽ là nhân tố tác động tốt tới hiệu quả quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng của Ban Khi người cán bộ của chủ đầu tư được cung cấp đủ phương tiện, trang thiết bị và sử dụng thành thạo các công cụ quản lý chi phí sẽ là nhân tố thúc đẩy công tác quản lý chi phí của chủ đầu tư hơn.
2.4 6 Nhân tố về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý chi phí của chủ đầu tư
Nếu các chủ đầu tư thường xuyên quan tâm đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ của chủ đầu tư sẽ là các nhân tố thúc đẩy cho việc làm chính xác công tác quản lý chi phí của chủ đầu tư
2.4 7 Nhân tố về ý thức con người cán bộ quản lý của chủ đầu tư
Cuối cùng ý thức người cán bộ của chủ đầu tư quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng là yếu tố quan trọng nhất, mang tính quyết định Mọi quy định và quy trình thực ra cũng đều là do con người tạo ra và áp dụng, tuy nhiên mỗi địa phương, mỗi đơn vị khác nhau đều thực hiện khác nhau là do yếu tố con người Trong công tác quản lý chi phí, nhân tố về con người quản lý chi phí cần phải có chuyên môn sâu, am hiểu lĩnh vực và làm việc nghiêm túc không vụ lợi thì công tác quản lý chi phí mới chính xác được.
Các phương pháp quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Theo Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:
1 Quản lý chi phí đầu tư xây dựng phải đảm bảo mục tiêu đầu tư, hiệu quả dự án đã được phê duyệt, phù hợp với trình tự đầu tư xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật xây dựng và nguồn vốn sử dụng Chi phí đầu tư xây dựng phải được tính đúng, tính đủ cho từng dự án, công trình, gói thầu xây dựng, phù hợp với yêu cầu cần thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện xây dựng, mặt bằng giá thị trường tại thời điểm xác định chí phí và khu vực xây dựng công trình.
2 Nhà nước thực hiện quản lý chi phí đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật, hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
3 Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chi phí đầu tư xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng trong phạm vi tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt gồm cả trường hợp tổng mức đầu tư được điều chỉnh theo quy định tại Điều 7 Nghị định này Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng để lập, thẩm tra, kiểm soát và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
4 Việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng phải được thực hiện theo các căn cứ, nội dung, cách thức, thời điểm xác định tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số xây dựng của công trình đã được người quyết định đầu tư, chủ đầu tư thống nhất sử dụng phù hợp với các giai đoạn của quá trình hình thành chi phí theo quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Nghị định này.
Qua nghiên cứu chương 2, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và pháp lý về công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình Tác giả đã nêu được các quy định, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng cũng như phương pháp quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Vai trò của quản lý chi phí là rất quan trọng, nó xuyên suốt trong các giai đoạn từ bước chuẩn bị dự án, thực hiện dự án cho đến kết thúc dự án bàn giao, đưa vào sử dụng Trong các giai đoạn, quản lý chi phí theo từng công việc của giai đoạn giúp cho việc đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn và tránh những thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng công trình
Chương 2 là cơ sở lý luận để tác giá thực trạng công tác quản lý chi phí tại Trường Đại học Thủy lợi từ đó làm cơ sở để nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí xây dựng trong chương 3.