1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Khóa Luận Tốt Nghiệp) Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Phòng, Trị Bệnh Cho Đàn Lợn Thịt Tại Trại Lợn Nguyễn Văn Tưởng, Huyện Kim Thành, Tỉnh Hải Dương.pdf

60 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn thịt tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Tác giả Nông Văn Sự
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đức Hùng
Trường học Đại Học Thái Nguyên - Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 918,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đ�I H�C THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG VĂN SỰ Tên chuyên đề “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN TƯỞNG HUY[.]

Trang 1

NÔNG V ĂN SỰ

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN TƯỞNG

HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

NÔNG V ĂN SỰ

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN TƯỞNG

HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Hùng

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp đại học Để hoàn thành Khoá luận này em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và trang trại chăn nuôi Nguyễn Văn Tưởng, Kim Thành, Hải Dương, sự giúp đỡ, động viên của người thân trong gia đình, các bạn sinh viên Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú

y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn

nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Đức Hùng, người đã trực tiếp

hướng dẫn em thực hiện chuyên đề này

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban quản lý trang trại Nguyễn Văn Tưởng cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn các công tác kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Nông Văn Sự

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Loại thức ăn, định mức cho ăn và thành phần dinh dưỡng trong

thức ăn sử dụng tại trang trại 30

Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc xin được áp dụng cho lợn thịt tại trại 32

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trang trại trong 3 năm (2017 - 2019) của trại Nguyễn Văn Tưởng 35

Bảng 4.2 Số lượng lợn thịt nuôi dưỡng, chăm sóc 37

Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống đàn lợn 38

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 40

Bảng 4.5 Kết quả công tác phòng bệnh bằng vắc xin tại trại 41

Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn thịt nuôi tại trại 41

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn thịt 43

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện một số công việc phục vụ sản xuất 44

Trang 5

PED: Porcin Epidemic Diarrhoea

TGE: Transmisssible gastro enteritis

Tr.: Trang

TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại 4

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 5

2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn 6 2.2.2 Khả năng sản xuất, phẩm chất của thịt lợn và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng thịt 9

2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt 13

2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài 27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29

3.1 Đối tượng 29

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29

3.3 Nội dung thực hiện 29

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 29

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.2 Phương pháp thực hiện 29

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Quy mô, cơ cấu đàn lợn thịt của trang trại trong 3 năm gần đây 35

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thịt 36

4.2.1 Tổ chức thực hiện quy trình chăn nuôi 36

4.2.2 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 36

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn thịt 39

4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chăn nuôi 39

4.3.2 Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại 40 4.3.3 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán bệnh cho đàn lợn thịt 41

4.3.4 Kết quả công tác điều trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trại 42

4.4 Kết quả thực hiện một số công việc phục vụ sản xuất 43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 8

Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của nhân dân ta đã có từ lâu đời Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, chăn nuôi lợn ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao, không chỉ cung cấp thực phẩm có giá trị kinh tế cao cho xã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn còn cung cấp lượng phân bón lớn cho ngành trồng trọt, sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến Trong hai thập kỷ gần đây, Nhà nước đã nhập nhiều giống lợn có năng suất cao, chất lượng tốt về để lai tạo với giống lợn địa phương nhằm mục đích cải tạo đàn giống và nuôi thuần ở Việt Nam Lợn ngoại thuần có ưu điểm là những giống lợn cao sản, tỷ lệ nạc cao, sinh trưởng nhanh nhưng về nhược điểm chưa thích nghi với điều kiện khí hậu tại việt nam

Chăn nuôi lợn thịt là một trong những khâu quan trọng, góp phần quyết định thành công của nghề chăn nuôi lợn Để nâng cao năng suất, chất lượng thịt

và hiệu quả chăn nuôi, ngoài công tác giống thì quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh giữ vai trò quyết định

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành tiến hành chuyên đề:

“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn thịt tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, Huyện Kim Thành, Tỉnh Hải Dương’’

Trang 9

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề

- Củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thịt

- Biết cách chẩn đoán, xác định một số bệnh thường gặp ở lợn thịt

- Đưa ra phác đồ điều trị và thực hiện điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn thịt

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Văn Tưởng, huyện

Kim Thành, tỉnh Hải Dương

- Nắm vững và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại đạt hiệu quả cao

- Xác định số lượng, tỷ lệ nhiễm và biện pháp phòng, điều trị bệnh cho lợn thịt tại trại

- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

- Phía đông và phía nam giáp thành phố Hải Phòng,

- Phía bắc giáp thị xã Kinh Môn,

- Phía tây giáp huyện Nam Sách và thành phố Hải Dương,

- Phía tây nam giáp huyện Thành Hà

Trại có hệ thống ao gồm 5 ao nuôi cá và 2 ao dùng để dự trữ nước phục

vụ cho chăn nuôi và sản xuất, có hệ thống sông Kinh Môn chảy qua trại đảm bảo nguồn nước cung cấp cho chăn nuôi; có tuyến đường 188 chạy từ quốc lộ

5 vào đến trại rất thuận lợi cho đi lại và vận chuyển các sản phẩm của trại

Những năm gần đây, hệ thống giao thông trong xã Kim Tân, huyện Kim Thành đã được đầu tư mới, thuận tiện cho việc đi lại buôn bán và vận chuyển các sản phẩm của trại

Khoảng cách từ trại đến khu dân cư là 1km, đảm bảo được an toàn vệ

sinh môi trường và không gây ô nhiễm cho khu dân cư

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chia ra làm

2 mùa rõ rệt: Mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh khô, ít mưa Do đó Trại lợn cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu này Nhiệt độ trung bình mùa Đông khoảng 200C, mùa Hè trên 250C - 270C Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1300mm đến 1700mm,độ âm trung bình khoảng 85%-87%

Trang 11

Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Hải Dương bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Đông (tháng 12) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Hè (tháng 7) là 120C.Với điều kiện khí hậu như vậy không thuận lợi cho chăn nuôi

vì là môi trường thuận lợi cho vi trùng, vi khuẩn phát triển, dễ phát sinh bện tật nên cần chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn tốt

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức

Tổng số nhân lực của trrại gồm có 6 người, trong đó có:

- 1 chủ trại làm nhiệm vụ quản lý

- 1 kỹ sư chính của Công ty phụ trách kỹ thuật

- 2 công nhân và 2 sinh viên thực tập trực tiếp làm công tác chăm sóc, nuôi dưỡng

2.1.3.2 Cơ sở vật chất của trại

Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng khá

hiện đại và hiệu quả

- Về cơ sở vật chất kỹ thuật:

+ Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn: Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2 m2; cách nền 1,2 m; mỗi cửa sổ cách nhau 2,5 m

+ Trong các chuồng có các ô chuồng nuôi được ngăn cách bằng tường và thép chắn; có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động

+ Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và chậu sát trùng trước cửa các chuồng

+ Có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

Trang 12

+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại

- Hệ thống chuồng nuôi

Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực bằng phẳng, có các mương thoát nước và xây cách ly xa khu vực sinh hoạt của công nhân Trại gồm có 4 chuồng nuôi, mỗi chuồng nuôi có 14 ô nuôi được đánh số

01 đến 14 Hệ thống chuồng nuôi có đầy đủ trang thiết bị như bóng đèn sưởi

ấm, thắp sáng, quạt thông gió đảm bảo và có giàn mát tạo nhiệt độ ấm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hè Thuốc và dụng cụ để chăm sóc điều trị bệnh cho lợn được trại trang bị đầy đủ cho từng chuồng riêng biệt Hệ thống chuồng của trại có thể đáp ứng quy mô chăn nuôi 2000 lợn thịt

Ngoài lĩnh vực sản xuất chính là chăn nuôi lợn, trại còn sử dụng diện tích

ao, hồ chăn nuôi cá và một số loài thủy cầm góp phần tăng thu nhập cho trang trại

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn

2.1.4.1 Thuận lợi

- Trại được xây dựng trên một cánh đồng cách xa khu dân cư, đảm bảo

an toàn và thuận lợi cho công tác vệ sinh, phòng dịch; không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

Trang 13

2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn

a) Khái niệm sinh trưởng

Khi nghiên cứu về sinh trưởng, Jose Bento S và cs (2013) [32], đã nêu khái niệm sinh trưởng như sau: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, có khi tăng khối lượng không phải là sinh trưởng Sự sinh trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, tăng

về số lượng và kích thước của tế bào, mô cơ Ông còn cho biết cường độ sinh trưởng ở giai đoạn bào thai và sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu sinh trưởng giai đoạn sau của lợn

Theo Trần Đình Miên và cs (1977) [12], sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, chiều cao,

bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Để xác định sinh trưởng người ta dùng phương pháp cân định kì khối lượng

Theo Đặng Hoàng Biên (2016) [1], sinh trưởng là quá trình sinh tổng hợp, tích lũy các chất dinh dưỡng từ bên ngoài được đưa vào để tăng lên về kích thước các mô trong cơ thể, làm cho kích thước và khối lượng cơ thể tăng lên

Tóm lại sinh trưởng chính là quá trình tăng lên về khối lượng và kích

thước cơ thể do sự tăng lên về khối lượng và kích thước của tế bào

b) Đặc điểm sinh trưởng của lợn

Sự sinh trưởng của gia súc nói chung và của lợn nói riêng đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: quy luật sinh trưởng không đồng đều, quy luật sinh trưởng theo giai đoạn và chu kì Cường độ sinh trưởng thay đổi theo độ tuổi, tốc độ tăng khối lượng cũng vậy, các cơ quan bộ phận trong cơ thể cũng sinh trưởng phát triển khác nhau

Trang 14

Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh và không đều qua các giai đoạn Nhanh nhất ở 21 ngày tuổi đầu và sau đó có phần giảm xuống do lượng sữa của

mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con giảm

Trong quá trình sinh trưởng của lợn thì xương phát triển đầu tiên sau đó đến cơ và cuối cùng là mỡ Từ sơ sinh đến trưởng thành, lợn tăng trọng nhanh, đến khi trưởng thành thì tăng trọng rất chậm rồi ngừng hẳn Khi con vật lớn lên, khối lượng kích thước các cơ quan, các bộ phận của chúng không tăng lên

một cách đều đặn mà tăng với mức độ khác nhau

Trong cơ thể lợn, có sự ưu tiên dinh dưỡng khác nhau và theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển cho từng hoạt động chức năng của các bộ phận trong cơ thể

Trước hết, dinh dưỡng được ưu tiên cho hoạt động thần kinh, tiếp đến cho hoạt động sinh sản, cho sự phát triển bộ xương, cho sự tích luỹ nạc và cuối cùng cho sự tích luỹ mỡ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, khi dinh dưỡng cung cấp bị giảm xuống 20% so với tiêu chuẩn ăn cho lợn thì quá trình tích luỹ

mỡ bị ngưng trệ, khi dinh dưỡng giảm xuống 40% thì sự tích luỹ nạc của lợn

bị dừng lại Vì vậy, nuôi lợn không đủ dinh dưỡng thì sẽ không tăng khối lượng

và chất lượng thịt như mong muốn.

c) Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn

Lợn thịt là giai đoạn chăn nuôi cuối cùng để tạo ra sản phẩm, lợn thịt cũng là thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu đàn (65 - 80%), do vậy chăn nuôi lợn thịt quyết sự định thành bại trong chăn nuôi lợn

Chăn nuôi lợn thịt cần đạt những yêu cầu: Lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít, tốn ít công chăm sóc và phẩm chất thịt tốt Sinh trương của lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

Trang 15

không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Một số thí nghiệm

đã chứng minh rằng: khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các thành phần trong cơ thể Khẩu phần có mức năng lượng cao và mức protein thấp thì lợn sẽ tích luỹ mỡ nhiều hơn so với khẩu phẩn có mức năng lượng thấp và hàm lượng protein cao Khẩu phần có hàm lượng protein cao thì lợn có tỷ lệ nạc cao hơn

Lượng thức ăn cũng như thành phần dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng khối lượng của lợn Hàm lượng xơ thô tăng từ 2,4 - 11% thì sự tăng khối lượng mỗi ngày của lợn giảm từ 566 g xuống 408 g và thức ăn cần cho 1 kg tăng khối lượng tăng lên 62%.( Phan Đình Thắm và cs 2002) [21] Vì vậy, để chăn nuôi có hiệu quả cần phối hợp khẩu phần ăn sao cho vừa cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển và vừa tận dụng được

nguồn thức ăn có sẵn tại địa phương

* Môi trường:

Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho rằng: Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất và phẩm chất thịt Nhiệt độ thích hợp cho lợn thịt

từ 15 - 18oC Nhiệt độ chuồng nuôi liên quan mật thiết đến độ ẩm không khí,

độ ẩm không khí thích hợp cho lợn ở khoảng 70%

Ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao hơn, lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua quá trình hô hấp (vì lợn có rất ít tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân nhiệt Ngoài ra, nhiệt độ cao sẽ làm khả năng thu nhận thức ăn hàng ngày của lợn giảm Do đó, khả năng tăng khối lượng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hoá thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng của lợn bị giảm

Mật độ lợn trong chuồng nuôi cũng có ảnh hưởng đến năng suất Khi nhốt lợn ở mật độ cao hay số con/ô chuồng quá lớn sẽ ảnh hưởng đến tăng khối lượng hàng ngày của lợn và phần nào ảnh hưởng đến sự chuyển hoá thức ăn

Do vậy, khi nhốt ở mật độ cao sẽ tăng tính không ổn định trong đàn Lợn cắn lẫn nhau, giảm bớt thời gian ăn và nghỉ của lợn Nghiên cứu của Mỹ cho thấy,

Trang 16

khi nuôi lợn với mật độ thấp, sẽ làm tăng tốc độ sinh trưởng cũng như làm giảm mức tiêu tốn thức ăn Chăm sóc ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất: chuồng vệ sinh kém dễ gây bệnh, chuồng nuôi ồn ào, không yên tĩnh đều làm năng suất giảm Sức khoẻ trong giai đoạn bú sữa kém như thiếu máu, còi cọc dẫn đến giai đoạn nuôi thịt tăng khối lượng kém (Vũ Đình Tôn và cs, 2005) [25]

Phương thức nuôi dưỡng như cho ăn tự do sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng của lợn hơn so với cho ăn hạn chế, những giống lợn hướng mỡ nên cho ăn hạn chế từ đầu, còn với những giống lợn hướng nạc nên cho ăn tự do sẽ có được năng suất và chất lượng tốt nhất

2.2.2 Khả năng sản xuất, phẩm chất của thịt lợn và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng thịt

a) Khả năng sản xuất thịt

Khối lượng tích lũy là khối lượng của lợn tại thời điểm giết thịt Tùy theo các giống khác nhau sẽ có khối lượng giết thịt khác nhau Xác định khối lượng xuất bán hay giết thịt phụ thuộc vào hiệu quả chăn nuôi (tiêu tốn thức ăn cho một kg khối lượng tăng) cũng như phẩm chất thịt khối lượng giết thịt của lợn ngoại từ 100 – 120 kg, lợn lai (ngoại x nội) thường giết thịt lúc 75 – 85 kg sẽ cho hiệu quả kinh tế cao

Tăng khối lượng tuyệt đối được đo bằng mức tăng khối lượng bình quân hàng ngày (gam/con/ngày) hay hàng ngày (kg/tháng) của lợn Tăng khối lượng tuyệt đối luôn là chỉ tiêu rất được quan tâm của những người chăn nuôi Chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ với khối lượng giết thịt Thông thường nếu khối lượng giết thịt lớn chỉ tiêu này sẽ cao và ngược lại Tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối của lợn thịt ngoại hiện nay đạt khoảng 20 - 24 kg/tháng, của lợn lai (ngoại x nội) tù 15 - 18 kg

Các chỉ tiêu về tỷ lệ móc hàm và tỷ lệ thịt xẻ phản ánh năng suất thịt và được người giết mổ lợn rất quan tâm Hai chỉ tiêu này càng cao thì giống đó cho năng suất thịt càng cao Lợn ngoại chuẩn, tỷ lệ móc hàm đạt khoảng 75 - 85 %, còn thịt xẻ khoảng 70% Ở các giống lợn nội tỷ lệ này thường thấp hơn nhiều

Trang 17

b) Phẩm chất thịt lợn

* Màu sắc thịt

Màu sắc thịt phải đạt được các chỉ tiêu về màu, độ đậm (không được nhạt quá mà cũng không được đậm quá) Màu sắc của thịt được quyết định bởi myoglobin Màu sắc thịt quan sát được chịu ảnh hưởng của ba yếu tố chính, đó là: Lượng sắc tố, myoglobin và dạng hóa học của sắc tố Myoglobin có thể tồn tại dưới ba dạng khác nhau tùy theo tình trạng hay mức độ oxy hóa phân tử sắt Dạng hóa học sẽ quyết định màu thịt (đỏ hay nâu) Tỷ lệ sắc tố và mức độ phản ánh sáng quyết định độ đậm của thịt (sáng hay đậm) Tỷ lệ sắc ố phụ thuộc vào các yếu tố chăn nuôi như giống, tuổi và cũng có thể thay đổi theo các điều kiện chăn nuôi

Sự thay đổi về độ pH sau khi mổ có ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc của thịt thông qua tác động đến cấu trúc bề mặt thịt và qua mức độ phản chiếu ánh sáng Nếu có độ pH vẫn giữ cao thì thịt có đậm đà Nếu pH cao (>6,0) lúc này thịt

có màu tía Còn nếu pH giảm nhanh tới 5,7 và thịt có nhiệt độ cao (400C) thì thịt

có màu nhạt và thậm chí màu xám thịt rỉ nước (Perez và có cs, 1986)

* Mức độ giữ nước trong thịt

Khả năng giữ nước của thịt sẽ quyết định mức độ tươi của thịt (loại thịt

rỉ nước sẽ ít được ưa chuộng) Tỷ lệ nước trong cơ khoảng 75% Một phần nước được liên kết rất chặt chẽ do đặc điểm ngẫu cực của phân tử, được tích điện nhờ vào các chuỗi polypeptit của các phân tử protein Ngoài ra, còn một phần lớn nước được tạo thành các khối phân tử được giữ lại thông qua hiệu ứng khối lập

Trang 18

thể trong mang được hình thành nên từ các chuỗi này Như vậy tất cả các nguyên nhân làm thay đổi việc làm đông mạng này sẽ làm ảnh hưởng đến sự giữ nước Khi độ pH giảm sẽ dẫn đến làm siết chặt mạng của các chuỗi polypeptit từ đó làm cho khả năng giữ nước của thịt bị giảm Như vậy khả năng giữ nước của thịt liên quan chặt chẽ với độ pH và khả năng giữ nước càng cao khi độ pH càng cao

* Khả năng bảo quản (trong tủ lạnh hay làm khô)

Khả năng bảo quản phụ thuộc vào mức độ kháng của thịt với sự xâm nhập và với sự tăng sinh của các vi sinh vật Khi pH thịt ổn định ở mức cao sẽ rất thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển Ngoài ra, khi độ pH thịt cao thì sẽ rất ít đường, các vi sinh vật phát triển phụ thuộc vào các nguồn protein nên rất nhanh tạo ra mùi hôi của thịt Trong thực tiễn người ta cho rằng thịt có độ pH trên 6,2 - 6,3 sẽ không thích hợp để muối khô

Khả năng bảo quản đông lạnh của thịt phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng

và loại axit béo có trong cơ Khả năng bảo quản đông lạnh thịt lợn kém hơn so với thịt cừu và bò do trong thịt lợn có nhiều axit béo không no

c) Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất và phẩm chất lợn thịt.

* Giống:

Các giống lợn khác nhau cho năng suất và chất lượng thịt khác nhau Các giống lợn nội có khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt cũng thấp hơn các giống lợn ngoại

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt ngoài điều kiện ngoại cảnh và thức

ăn thì yếu tố di truyền là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất Theo Trịnh Hồng Sơn (2014)[19], các chỉ tiêu thân thịt như tỉ lệ móc hàm, tỉ lệ nạc, độ dày

mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống lợn khác nhau Tăng khối lượng trung bình của lợn Móng Cái khoảng 300 - 350 gam/ngày, trong khi con lai F1 (nội x ngoại) đạt 550 - 600 g/ngày Lợn ngoại thuần nếu chăm sóc, nuôi dưỡng tốt có thể đạt tới 700 - 800 g/ngày

Phẩm chất thịt của lợn ngoại và lợn lai cũng tốt hơn so với lợn nội, tỷ lệ thịt nạc của các giống lợn ngoại là cao hơn nhiều so với lợn nội Hiện nay,

Trang 19

người ta lợi dụng ưu thế lai trong phép lai kinh tế để phối hợp nhiều giống vào trong 1 con lai nhằm tận dụng các đặc điểm tốt nhất từ các giống lợn khác nhau Đồng thời, sản phẩm của phương pháp lai là các con giống có thể đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường, nâng cao năng suất và chất lượng thịt Kết quả khảo sát năng suất và phẩm chất thịt của 1 số giống lợn cho thấy tăng khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt nạc của lợn Landrace và lợn Yorkshire đều cao hơn nhiều so

với của lợn Móng Cái

* Thời gian và chế độ nuôi:

Là hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất thịt Theo Trịnh Hồng Sơn (2014)[19], thời gian nuôi ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng thịt Sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô mỡ lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn người ta đề ra hai phương thức nuôi: Nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt - mỡ, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn Phương thức cho ăn tự do hay hạn chế cũng làm ảnh hưởng đến năng suất thịt, cho ăn tự do sẽ cho khả năng sản xuất thịt nhiều hơn cho ăn khẩu phần hạn chế

* Khí hậu và thời tiết:

Lợn điều chỉnh thân nhiệt của chúng bằng cách cân bằng nhiệt lượng mất

đi với nhiệt tạo ra qua trao đổi chất và lượng nhiệt hấp thụ được Khi sự khác nhau giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường trở nên lớn thì tỉ lệ thoát nhiệt sẽ tăng lên Về mùa lạnh nhiệt độ môi trường xuống thấp dưới nhiệt độ hữu hiệu thì tăng thêm chi phí thức ăn để tăng nhiệt lượng trao đổi chất để vật nuôi tự nó tạo ra nhiệt lượng để giữ ấm cho cơ thể Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp thì lợn ăn tốt, tỷ lệ tiêu hoá cao, tích lũy cao, sinh trưởng và phát triển nhanh, năng suất cao Nhiệt độ chuồng nuôi quá cao lợn ăn ít, tỷ lệ tiêu hoá

Trang 20

kém, giảm tăng khối lượng Nhiệt độ quá thấp lợn tiêu hao nhiều năng lượng

để chống rét, tiêu tốn thức ăn cao)

2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt

2.2.3.1 Bệnh viêm phổi (Bệnh suyễn lợn)

a) Nguyên nhân

Lê Văn Lãnh và cs (2012)[11], bệnh suyễn lợn hay “Dịch viêm phổi địa

phương ở lợn” (Enzootic pneumonia) là bệnh truyền nhiễm mãn tính ở lợn Tỷ

lệ chết không cao nhưng bệnh gây ra thiệt hại lớn trong ngành chăn nuôi lợn làm giảm tốc độ tăng trọng và gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh kế phát, đặc biệt là

những bệnh về đường hô hấp Mycoplasma hyopneumoniae là mầm bệnh chính

gây dịch viêm phổi địa phương ở lợn và được quan tâm đến như là một nguyên

nhân chủ yếu gây nên bệnh hô hấp phức hợp ở lợn (PRDC: Porcine respiratory disease complex) (Thacker, 2006)[37] Những nghiên cứu về vai trò của các vi khuẩn kế phát trong bệnh suyễn lợn đã được tiến hành bởi Nguyễn Ngọc Nhiên (1996)[17] và Trần Huy Toản (2009)[24] cho biết, nếu kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên tình trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt

cao, ho nhiều, khó thở Mycoplasma được coi là nguồn gốc gây viêm đường hô

hấp trên lợn ở nước ta và các nước trên thế giới

b) Triệu chứng:

Theo Lê Văn Năm (2013)[14], thời kỳ nung bệnh dài từ 1 - 4 tuần, nhưng

cũng có thể sau 1 - 3 ngày nếu chưa có mặt của Haemophillus Bệnh thường

phát triển rất chậm trên nền của viêm phế quản, phổi và thông thường có 2 thể biểu hiện: Á cấp tính và mạn tính

Trang 21

+ Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành

ho cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều

Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở; rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, có những con mệt quá nằm lỳ ra mà không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp

+ Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao

+ Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn cảm thấy đau ở vùng phổi, rõ nhất là 1-2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai Lợn vẫn thèm ăn, nhưng ăn uống thất thường

+ Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7 - 20 ngày Tỷ lệ chết phụ thuộc rất nhiều vào lứa lợn nuôi, sức đề kháng cơ thể và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như bệnh thứ phát

+ Da lợn kém bóng, lông cứng và xù dựng đứng, nhiều trường hợp thấy

da bị nhăn và xuất hiện nhiều vảy nâu

+ Nếu bị bội nhiễm thì lợn bệnh ho thường xổ mũi như mủ

Cả hai thể Á cấp tỉnh và thể mãn tính đều có tiên lượng xấu do lợn còi cọc, chậm lớn, hao hụt số đầu con, chi phí thức ăn thuốc men tăng Nếu lợn bệnh qua được thì khả năng hồi phục cũng rất kém, do phổi bị tổn thương nặng, lợn trở nên còi cọc và chậm lớn

c) Phòng bệnh

Trang 22

Hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma phụ

thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn lợn Cần phải tạo được môi trường thuận lợi cho đàn lợn như không khí sạch sẽ, thông gió thường xuyên, nhiệt độ ấm áp và mật độ trong chuồng phù hợp Trong dãy chuồng không nên nuôi lẫn lộn các đàn lợn có lứa tuổi cách nhau quá 3 tuần

Ở các trại lợn cung cấp giống, để xây dựng đàn lợn không nhiễm

Mycoplasma cần sử dụng kháng sinh cho lợn nái từ giai đoạn cuối của quá trình mang thai cho đến khi cai sữa

Ngoài ra còn phòng bệnh bằng vắc xin phòng Mycoplasma hoặc cho

uống thuốc định kì sẽ giúp đàn lợn giảm thiểu được sự xâm nhập và gây bệnh

của vi khuẩn

d) Điều trị

Những kháng sinh có hiệu lực điều trị với Mycoplasma là tetracycline,

tylosin, tiamulin, gentamycin, ngoài ra còn kết hợp các loại thuốc kháng viêm

và một số thuốc bổ trợ ðể rút ngắn quá trình điều trị cho hiệu quả cao Nếu phát hiện và điều trị sớm thì đạt được hiệu quả chữa bệnh cao

Hiện nay đã có vắc xin để phòng bệnh suyễn, nhưng hiệu quả không cao lắm, không sinh ra miễn dịch hoàn toàn cho đàn lợn được tiêm phòng do một

số nguyên nhân từ cá thể hoặc ngoại cảnh làm vắc xin giảm hay không có hiệu

lực

2.2.3.2 Hội chứng tiêu chảy ở lợn

a) Nguyên nhân

Theo Nguyễn Đức Thủy (2015)[23], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý

ở đường tiêu hóa và nó có nhiều nguyên nhân, có thể phân loại ra là nguyên nhân nguyên phát và nguyên nhân thứ phát Nhưng việc phân biệt rạch ròi giữa hai nguyên nhân này là rất khó khăn Tuy nhiên cho dù là nguyên nhân nào cũng gây hậu quả lớn đến cơ thể và đường tiêu hóa của lợn Qua nhiều nghiên cứu cho

Trang 23

thấy, tiêu chảy ở lợn là do một số nguyên nhân sau đây: do vi sinh vật, vi rút,

ký sinh trùng và do các yếu tố gây bệnh khác

* Do vi sinh vật:

Trong đường ruột của lợn có rất nhiều vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái Nguyễn Đức Thủy (2015)[23] cho biết, vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn và các loại nấm mốc Hoạt động của hệ sinh thái trong đường ruột luôn được duy trì ở mức cân bằng và ổn định, một khi do một số yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của lợn thì vi sinh vật có hại trong đường ruột có cơ hội phát triển mạnh hơn vi sinh vật có lợi, gây mất cân bằng và dẫn đến lợn bị tiêu chảy

Theo Bùi Tiến Văn (2015) [28], một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường

ruột là E.coli, Samonella sp., Shigela, Klebsiella, C pefringens… là những vi

khuẩn quan trọng gây rối loạn tiêu hóa ở người và nhiều loài động vật

Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh

Bình thường E.coli cư trú ở ruột già và phần cuối của ruột non, nhưng

khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các tổ chức khác của cơ thể Ở trong các cơ quan nội tạng,

vi khuẩn này tiếp tục phát triển và cư trú làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý

* Do Virus

Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng, virus cũng là nguyên nhân gây

tiêu chảy ở lợn Nhiều tác giả nghiên cứu đã kết luận một số virus như Rota virus, TGE (Transmisssible gastroenteritis), Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa

-chảy ở thể cấp tính

Trang 24

* Do ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh trong hệ tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ký sinh trùng ngoài việc lấy đi dinh dưỡng của lợn, tiết độc tố đầu độc cho lợn, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho quá trình nhiễm trùng Có nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra bệnh tiêu chảy như sán lá ruột lợn, giun đũa lợn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngà (2015) [15], ngoài tác động cơ giới lên thành ruột thì giun sán còn tiết độc tố

có thể gây rối loạn tiêu hóa, làm lợn còi cọc chậm lớn và mở đường cho nhiều

loại virus vi khuẩn xâm nhập

* Các nguyên nhân khác

- Thời tiết, khí hậu:

Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể lợn Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột: Nóng quá, lạnh quá, mưa, gió, độ ẩm không khí cao đều là yếu tố tác động trực tiếp đến lợn, đặc biệt là lợn con

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004)[4], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng

thay đổi bất thường của điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, vì các phản ứng thích nghi của cơ thể lợn con còn yếu

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997)[13], khi lợn bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó lợn dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh

* Do kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng:

Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng là yếu tố vô cùng quan trọng, việc chăm sóc nuôi dưỡng nếu không đảm bảo quy trình kỹ thuật thì sẽ ảnh hưởng đến sức

đề kháng của lợn, một khi sức đề kháng giảm thì các vi khuẩn có hại có điều kiện để phát triển mạnh lên, đặc biệt là vi khuẩn đường ruột Việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ giúp nâng cao sức đề

Trang 25

kháng và khả năng sinh trưởng của lợn Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng

là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và các vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn dễ mắc bệnh

Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu cũng là nguyên nhân làm cho lợn con

bị tiêu chảy Vậy cần có phương thức chăm sóc nuôi dưỡng tốt, khẩu phần ăn hợp lý để hạn chế bệnh viêm ruột cho lợn

Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protein và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển gây bệnh

Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể lợn, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin

sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa

* Stress: Stress là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của lợn Tất cả

mọi nguyên nhân dẫn đến stress cho lợn như sự thay đổi thời tiết, tiếng ồn, mật

độ chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy

b) Triệu chứng

Lợn con mắc bệnh lúc đầu ăn bình thường Sau đó lợn ít ăn hoặc bỏ ăn, gầy nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau đứng co dúm lại và run rẩy, đuôi dính đầy phân, khi lợn đi ỉa rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, ít vận động Tùy theo thể mắc mà triệu chứng biểu hiện khác nhau

- Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi bỏ

ăn, lợn bỏ ăn hoàn toàn đi siêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõm tím tái, thở thể bụng khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật yếu dần rồi chết

Trang 26

- Thể cấp tính: Lợn chết chậm hơn (2 - 4 ngày kể từ khi bỏ ăn); lợn ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần

- Thể mãn tính: Lợn ỉa chảy liên miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi khó chịu, hậu môn dính phân, bẩn, lợn gầy sụt, xù lông, nếu không chết thì

cũng còi cọc

c) Bệnh tích

- Thể cấp tính: Niêm mạc dạ dày phủ đầy dịch nhầy, xung huyết và xuất huyết rõ Niêm mạc ruột bị tổn thương mạnh, có vùng hoại tử Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng sang màu đỏ sẫm Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết Túi mật sưng, màu mật biến đổi

- Thể mãn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào Trong khi tế bào tăng sinh

có các đại thực bào với các hạt nhân màu trắng sáng Đó là sản phẩm biểu bì võng mô, chúng có khả năng thực bào Ở đó, có hiện tượng hoại tử và nhiều vi

khuẩn Salmonella Hiện tượng này tạo nên u xơ gan, lách sưng to và đỏ xám

hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong Niêm mạc ruột bị tổn thương,

có vết loét Thận không có biến đổi đặc trưng, phổi viêm đôi khi có ổ mủ Tim

sưng, hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nước vàng, cơ tim xuất huyết

d) Phòng bệnh

- Vệ sinh phòng bệnh

Trong chăn nuôi khâu vệ sinh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu, như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng

cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh

Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi,

vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy

Trang 27

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2001)[9], vắc xin là một chế phẩm sinh học

mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào

đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng

sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng Vắc xin phòng tiêu chảy lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được

sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo ra miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khách quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh

- Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học

Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một loại vi sinh vật có lợi nào

đó khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì

và lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa…

Các chế phẩm sinh học, trong đó, có chế phẩm probiotic đã được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Những nghiên cứu hệ

vi sinh vật đường ruột, sử dụng probiotic trong phòng trị bệnh cho lợn, phục vụ phát triển chăn nuôi ở nước ta mới phát triển từ những năm 80 của thế kỷ trước

Ngoài ra, nhiều nhà chăn nuôi đã sử dụng biện pháp đưa kháng sinh vào thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn để phòng tiêu chảy và đã cho các kết quả rất khả quan Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đã để lại nhiều hậu quả không tốt như gây tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, làm tăng số lượng vi khuẩn kháng thuốc… Nên hiện nay đa số các nước đã cấm sử dụng biện pháp này hoặc chỉ áp dụng trong điều kiện nhất định và phải tuân thủ quy định về thời

gian ngừng thuốc trước khi giết mổ

đ) Điều trị bệnh

- Điều trị nguyên nhân gây bệnh

Trang 28

Nguyên nhân chủ yếu trong hội chứng tiêu chảy của lợn là do một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột, bao gồm vi khuẩn hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện hoặc

yếm khí bắt buộc Những vi khuẩn thường gặp là E.coli, Cl perfringens, Streptococcus Dùng thuốc kháng sinh có tác dụng cao với các vi khuẩn như

E.coli gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con

- Điều trị triệu chứng tiêu chảy

Lợn bị tiêu chảy do E.coli khi điều trị, ngoài việc dùng kháng sinh sớm

từ đầu nên dùng kết hợp một số thuốc hay hóa dược có tác dụng ức chế sự sản sinh và ảnh hưởng của độc tố đường ruột Enterotoxin do vi khuẩn phóng thích

ra, cần kết hợp sử dụng dung dịch các chất điện giải như dung dịch đường glucose, muối natri, kali nhằm cung cấp, bổ sung lượng nước và các chất điện giải bị mất trong khi tiêu chảy Trong điều trị cần thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn và điều trị hiện tượng mất nước, chất điện giải Trong đó,

bổ sung nước và chất điện giải có vai trò quan trọng, vì có tới 80% lợn chết do

bệnh lý này theo Nguyễn Văn Tâm và Cù Hữu Phú (2006) [20]

2.2.3.3 Bệnh viêm khớp

a) Nguyên nhân

Viêm khớp là bệnh hay xảy ra trên đàn lợn, đó là một yếu tố gây què ở lợn Có nhiều yếu tố gây què ở lợn, như: sự mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất dinh dưỡng hoặc thiếu chất; những tổn thương do chấn thương; hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh viêm khớp

do nhiễm trùng ở khớp và các mô bao quanh bởi vi khuẩn, như Streptococcus suis, E coli, Staphylococcus … và Mycoplasma

Trang 29

cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu; có biểu hiện triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què, có những

u sưng ở khớp, lợn có thể bị mù, điếc

Bệnh viêm khớp làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi

Từ những tác hại do vi khuẩn gây ra trong bệnh viêm khớp trên đàn lợn nuôi, chúng tôi đã điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu sâu về bệnh viêm khớp do vi

khuẩn S suis gây ra

Streptococcus suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra cho lợn con 1 - 6 tuần tuổi; bệnh được phân loại như

một phần của hội chứng yếu khớp kết hợp với viêm rốn S suis có thể khu trú

ở amidan của gia súc khỏe, khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi như: tình trạng stress, nhiệt độ môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức đề kháng lợn…, lúc này dễ dàng phát bệnh Mầm bệnh được tiết ra từ dịch âm hộ, dịch đường hô hấp và sữa lợn mẹ Các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể lợn con bằng đường rốn, vết thương ngoài da

Bệnh xảy ra lẻ tẻ, tỷ lệ mắc bệnh từ 10 - 20% và thường xuất hiện ở 3 thể: Thể quá cấp tính; thể cấp tính và thể mãn tính

- Thể quá cấp tính: Thường gây chết nhanh Triệu chứng điển hình là lợn sốt rất cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu; có triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què; có thể bị mù, điếc, viêm màng não gây tụ máu não, màng não, dịch não tủy nhiều và có màu đục

- Thể cấp tính: Đặc trưng bởi sốt, lông da sởn lên suy nhược và què Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to Một hoặc vài khớp có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và chân sau, mắt cá chân thường sung phồng lên Lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế khả năng đi lại

Trang 30

- Thể mạn tính: Lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mạn tính suốt đời Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin) Các màng sung phông, mất màu, tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe) Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp Các bệnh tích cũng có thể thấy được trong sự phát

triển của các khúc xương

Khi có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý đúng như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm: Cách ly lợn ốm để điều trị, lợn ốm chết phải chôn, đổ thuốc sát trùng hoặc tiêu huỷ, chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại Đối với vùng có lợn bệnh cần theo dõi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời cho đến khi khỏi hẳn bệnh mới cho nhập đàn Cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn tập trung khi có dịch bệnh ở lợn xảy ra

+ Phòng bệnh bằng vắc xin: là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Việt Nam đã chế tạo được vắc xin Salsco đa giá, vô hoạt, bổ trợ keo phèn, bao

gồm các chủng vi khuẩn đường ruột là: Salmonella, E coli và Streptococcus,

tiêm cho lợn con 21 ngày tuổi để phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ bảo hộ đạt 70 - 80%; vắc xin dùng rộng rãi trong cơ sở chăn nuôi Khương Bích Ngọc

Ngày đăng: 07/04/2023, 07:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Hoàng Biên (2016), “Khả năng sản xuất và đa hình gen PRKAG3 của lợn Lũng Pù và lợn Bản”, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất và đa hình gen PRKAG3 của lợn Lũng Pù và lợn Bản
Tác giả: Đặng Hoàng Biên
Nhà XB: Viện chăn nuôi
Năm: 2016
2. Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc (2007), “Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae trong bệnh viêm màng phổi lợn”, Tạp chíKhoa học Kỹ thuật Thú y, tập XVI số 2, Hội Thú y Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae trong bệnh viêm màng phổi lợn
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2007
3. Nghiêm Thị Anh Đào (2008), Xác định vai trò của vi khuẩn E.coli gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con trên địa bàn ngoại thành Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vai trò của vi khuẩn E.coli gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con trên địa bàn ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nghiêm Thị Anh Đào
Năm: 2008
4. Đoàn Thị Kim Dung (2004), “Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E. coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị”, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sỹ nông nghiệp
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
5. Nguyễn Chí Dũng (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị, Luận án Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2013
7. Trần Đức Hạnh (2013), “Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringers gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringers gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Năm: 2013
8. Herenda D, Chabers P.G., Ettiqui, Soneviratna, Daislva I.J.P.,(1994),Bệnh viên phổi cẩm lang về kiểm tra thịt tại lò mổ dùng cho các nước đang phát triển , tr 175 - 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viên phổi cẩm lang về kiểm tra thịt tại lò mổ dùng cho các nước đang phát triển
Tác giả: Herenda D, Chabers P.G., Ettiqui, Soneviratna, Daislva I.J.P
Năm: 1994
9. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, Luận án Tiến sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
10. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng (2006), 17 bệnh mới của lợn, Nxb Lao Động - Xã Hội, tr.5, 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17 bệnh mới của lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng
Nhà XB: Nxb Lao Động - Xã Hội
Năm: 2006
12. Trần Đình Miê n , Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực (1977), Chọn và nhân giống gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miê n, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1977
14. Lê văn Năm (2013), “Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn”, Báo tổ quốc , phát hành ngày 18/7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn
Tác giả: Lê văn Năm
Nhà XB: Báo tổ quốc
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Bích Ngà (2015), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn”, Luận án tiến sĩ thú y , ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngà
Nhà XB: ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2015
16. Khương Bích Ngọc (1996), “Bệnh cầu khuẩn ở một số cơ sở chăn nuôi tập chung và một số biện pháp phòng trị”, Luận án phó tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu khuẩn ở một số cơ sở chăn nuôi tập chung và một số biện pháp phòng trị
Tác giả: Khương Bích Ngọc
Năm: 1996
17. Nguyễn Ngọc Nhiên (1996), “Vai trò của một số vi khuẩn đường hô hấp trong hội chứng ho thở truyền nhiễm ở lợn và biện pháp phòng trị”, Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp ,tr. 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của một số vi khuẩn đường hô hấp trong hội chứng ho thở truyền nhiễm ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhiên
Năm: 1996
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn , Nxb Nông nghiệp ̣, tr.11 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Trịnh Hồng Sơn (2014), “khả năng sản xuất và giá trị giống của dòng lợn đực VCN03”, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: khả năng sản xuất và giá trị giống của dòng lợn đực VCN03
Tác giả: Trịnh Hồng Sơn
Nhà XB: Viện chăn nuôi
Năm: 2014
21. Phan Đình Thắm, Từ Quang Hiển (2002), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc (sử dụng cho hệ đại học. Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Phan Đình Thắm, Từ Quang Hiển
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
22. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
23. Nguyễn Đức Thủy (2015), “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của vi khuẩn E.Coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai tháng tuổi ở huyện Đầm Hà và Hải Hà - tỉnh Quảng Ninh, biện pháp phòng trị”, Luận văn Thạc sĩ thú y, Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của vi khuẩn E.Coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai tháng tuổi ở huyện Đầm Hà và Hải Hà - tỉnh Quảng Ninh, biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Đức Thủy
Nhà XB: Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2015
24. Trần Huy Toản (2009), “Điều tra, xác định bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae và một số vi khuẩn cộng phát khác gây ra cho lợn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất biện pháp phòng trị”, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, xác định bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae và một số vi khuẩn cộng phát khác gây ra cho lợn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Huy Toản
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm