MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Phần I. Bối cảnh lịch sử, diễn biến của hội nghị Paris 2 1.1. Bối cảnh lịch sử của hội nghị Paris 2 1.1.1. Bối cảnh quốc tế 2 1.1.2. Bối cảnh trong nước 2 1.2. Diễn biến của hội nghị Paris 3 1.2.1. Các bên tham gia đàm phán hội nghị Paris và lập trường của mỗi bên 3 1.2.2. Nội dung cơ bản của hội nghị Paris 5 1.2.3. Quá trình đàm phán hội nghị Paris 6 Phần II. Kết quả, ý nghĩa của hội nghị Paris 9 2.1. Kết quả của hội nghị Paris 9 2.2. Ý nghĩa của hội nghị Paris 9 Phần III. Vận dụng bài học kinh nghiệm của Hội nghị Paris với ngoại giao Việt Nam hiện nay 11 3.1. Các chiến thuật, chiến lược sử dụng trong cuộc đàm phán tại hội nghị Paris 11 3.2. Bài học cho ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 12 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 LỜI MỞ ĐẦU Đàm phán Hiệp định Paris là cuộc đàm phán lâu dài nhất, quyết liệt nhất và cũng là cuộc đàm phán giành thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Cuộc chiến ngoại giao này là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Hai lực lượng tưởng như không cân sức, vậy mà các nhà ngoại giao Việt Nam, bằng những chiến thuật, chiến lược linh hoạt, khôn khéo, nhưng vẫn rất kiên cường, quyết liệt, đã giành thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao trước đế quốc Mỹ. Ngày nay, tình hình quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi, song những bài học về đường lối đối ngoại và nghệ thuật đàm phán Hội nghị Paris vẫn còn giữ nguyên giá trị thực tiễn, là bài học kinh nghiệm cho những nhà ngoại giao khi bước vào bàn đàm phán. Trong xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh của thế giới hiện nay, rất cần thiết tiếp tục vận dụng những bài học ngoại giao này một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, với lợi ích và đặc thù của nước mình để phát triển đất nước, tham gia hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài tiểu luận “Hội nghị Paris (1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lời hòa bình ở Việt Nam và bài học cho ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới giảng viên hướng dẫn, ThS Nguyễn Thị Tố Uyên đã giúp đỡ chúng em nhiệt tình trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận. Bài tiểu luận này là thành quả của quá trình học tập và nỗ lực của tất cả chúng em. Do những hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như trình độ và khả năng nên trong quá trình thực hiện chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm chúng em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý chân thành của cô và các bạn để tiểu luận được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn 1 NỘI DUNG Phần I. Bối cảnh lịch sử, diễn biến của hội nghị Paris 1.1. Bối cảnh lịch sử của hội nghị Paris 1.1.1. Bối cảnh quốc tế Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa ta và Mỹ hết sức phức tạp. Đó là thời kỳ sự đối đầu giữa 2 hệ thống xã hội trên thế giới, đại diện là Liên Xô và Mỹ diễn ra rất sâu sắc và toàn diện. Thời điểm này, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển lớn mạnh, tích cực giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới, trong đó, có cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa lại xuất hiện những bất đồng. Kẻ thù của nhân dân Việt Nam đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh nhất khối tư bản chủ nghĩa nhưng những mâu thuẫn trong hệ thống các nước đế quốc ngày càng sâu sắc cũng không cho phép Mỹ tùy ý mở rộng chiến tranh với bất cứ quy mô nào. Bên cạnh đó, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung và ở các nước đế quốc nói riêng lo ngại chiến tranh thế giới có thể nổ ra và đã ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược thông qua dư luận. Đồng thời, họ mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng để giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hòa bình. 1.1.2. Bối cảnh trong nước Cuối năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ được triển khai đến mức cao nhất đã hoàn toàn bị phá sản. Để cứu vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới, ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, đầu năm 1965, chính quyền của Tổng thống L. Giônxơn quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, đưa quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến. Đồng thời, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc làm suy yếu và ngăn chặn sự chi viện 2 của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Ba năm 1965, 1966, 1967 là thời gian Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh. Trước tình hình chiến tranh lan rộng cả nước, Hội nghị lần thứ 11 (31956) và Hội nghị lần thứ 12 (121965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi cả nước và hạ quyết tâm kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Ngoài ra, ta cũng đề ra những điều cơ bản làm cơ sở cho đàm phán, đó là lập trường 5 điểm (2231965) của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và tuyên bố 4 điểm (841965) của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1965 đến năm 1968 cũng nhấn mạnh đến vị trí quan trọng của đấu tranh ngoại giao trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; đồng thời chủ trương mở đường cho địch vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta. Đến cuối năm 1967, “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ được đẩy đến đỉnh cao nhưng vẫn không thể thực hiện được các mục tiêu chính trị và quân sự đã đề ra. Mặt khác, thất bại ở Việt Nam làm cho tình hình nước Mỹ ngày càng bất ổn, phong trào đấu tranh phản đối chiến tranh, đòi quân Mỹ rút về nước lan rộng trong các tầng lớp nhân dân. Lúc này, trận đánh có tính bước ngoặt, cuộc tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã được phát động trên toàn miền Nam, quân và dân đồng loạt tiến công và tiêu diệt lượng lớn quân địch cũng như các cơ quan đầu não của địch. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 cùng thắng lợi của nhân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại đã đánh thẳng vào ý chí xâm lược của Mỹ. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” phá sản, Mỹ buộc phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Pari (Pháp) từ ngày 1351968. 1.2. Diễn biến của hội nghị Paris 1.2.1. Các bên tham gia đàm phán hội nghị Paris và lập trường của mỗi bên Từ tháng 5 – tháng 101968, hiệp định Paris có sự tham gia của hai bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ. Tuy nhiên, từ tháng 11 1968 – 2711973, 3 hiệp định Paris đã có sự góp mặt của bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (từ 1261969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam); Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Trong suốt gần 5 năm cuộc đàm phán được diễn ra tại thủ đô Paris của Pháp, trải qua 2 giai đoạn, từ đàm pháp 2 bên (5 101968) đến đàm phán 4 bên (111968 2711973), ta cuối cùng cũng buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, và chấm dứt cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ này. Ngày 2711973 với sự tham dự của đại diện 4 bên bao gồm: Ông Nguyễn Duy Trinh (đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) Bà Nguyễn Thị Bình (đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam) Ông Nguyễn Văn Lắm (đại diện chính quyền Sài Gòn) Ông W.Rogers (đại diện Mỹ) Các bên chính thức bước lên bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; và 4 nghị định thư liên quan. Tuy có 4 bên cùng tham gia vào cuộc đàm phán nhưng chỉ có 2 bên đưa ra lập trường của mình, cũng đồng thời đại diện cho các bên còn lại. Trong quá trình diễn ra cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ, đã có sự thay đổi nhất định về lập trường của cả hai bên, phù hợp hơn với tình hình chiến sự lúc bấy giờ, cụ thể như sau: Giai đoạn 1968 – 1972 •Lập trường của Mỹ: Cần có sự tham gia của phái đoàn Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn pháo hay tên lửa vào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. •Lập trường của Việt Nam: Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia hội đàm. Giai đoạn 1972 1973 4 •Lập trường của Mỹ: Quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình. Không có Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. •Lập trường của Việt Nam: Các lực lượng quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam. Thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 lực lượng chính trị: Chính quyền Sài Gòn, Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam và lực lượng trung lập để tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc. Phía Việt Nam cho rằng việc Mỹ đòi hỏi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân đội Hoa Kỳ cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam là một sự đánh đồng không thể chấp nhận được. Điều này dẫn đến sự thiếu đồng nhất trong lập trường của cả hai bên, làm cho việc đi đến một thỏa thuận cuối cùng vẫn chưa thực hiện được. Trải qua nhiều lần bất thành trên mặt trận quân sự và chính trị nhằm bắt ép Việt Nam phải chấp nhận những điều khoản vô lý của Mỹ. Ngày 2711973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bốn Nghị định thư liên quan được ký chính thức. Việt Nam vẫn giữ nguyên lập trường của mình, buộc Mỹ phải chấp nhận các điều khoản của ta vô điều kiện: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị; Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần, hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc. Ngày 2811973, ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành. 1.2.2. Nội dung cơ bản của hội nghị Paris Bản Hiệp định Paris về Việt Nam gồm 9 chương, 23 điều, trong đó gồm 4 điều khoản chính như sau: Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Mỹ: Mỹ và các nước khác phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân 5 miền nam Việt Nam; Mỹ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ của miền nam Việt Nam. Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Mỹ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền bắc Việt Nam; nhận tháo gỡ mìn do Mỹ đã rải ở miền bắc Việt Nam. ( Mỹ ko được tiếp tục tham gia các hoạt động quân sự tại Việt Nam ) Các điều khoản về nội bộ miền nam: nguyên tắc hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử. Các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Ủy ban liên hợp và Ủy ban quốc tế; về Hội nghị quốc tế xác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Mỹ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Như vậy có thể thấy với các nội dung cơ bản trên, Hiệp định Paris đã đóng cửa hoàn toàn cơ hội quay trở lại và can thiệp quân sự của chính phủ Mỹ, đồng thời khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do Việt Nam, khẳng định tên tuổi Việt Nam trên bản đồ thế giới như một nước thống nhất hoàn toàn. 1.2.3. Quá trình đàm phán hội nghị Paris Ngày 1351968, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Mỹ đã chính thức bắt đầu tại Paris (Pháp). Cuộc đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng 14 ngày, là cuộc thương lượng ngoại giao gắn liền với chiến trường, vô cùng cam go, dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Cuộc đàm phán kết thúc bằng Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 2711973, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX. Quá trình đàm phán để đi đến ký kết Hiệp định Paris có thể chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (51968 – 101968) 6 Ởgiai đoạn 1, cuộc đàm phán diễn ra giữa 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi đàm phán với Việt Nam tại Paris sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968. Cuộc đàm phán chính thức bắt đầu ngày 1531968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kléber, Paris, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: vừa đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”. Nhiệm vụ của đối ngoại giai đoạn này là dùng đàm phán để tiến công cô lập địch; vạch trần âm mưu của địch kéo dài chiến tranh, tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do Mỹ phát động; tranh thủ dư luận phục vụ cho cuộc đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường; yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc Việt Nam. Kết thúc giai đoạn này, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc và các hành động khác, chấp nhận ngồi nói chuyện trực tiếp với đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị 4 bên. Giai đoạn 2 (111968 – 2711973) Giai đoạn thứ 2 của cuộc đàm phán là các cuộc thương thảo giữa 4 bên: Đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa. Đặc trưng của đàm phán giai đoạn này là việc diễn ra đồng thời 2 diễn đàn: đàm phán công khai 4 bên và các cuộc gặp riêng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh quốc gia Kissinger. Ngày 8101972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và dự thảo Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, trong đó tập trung giải quyết những vấn đề chính trị và quân sự liên quan đến Mỹ như yêu cầu Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, ngừng bắn, Mỹ rút quân… 7 Đến ngày 20101972, hai bên đã đạt được thỏa thuận, dự định ký Hiệp định vào ngày 31101972. Với thỏa thuận này, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng đến ngày 22101972, phía Hoa Kỳ lật lọng, không giữ lời hứa, viện những lý do không chính đáng để liên tiếp thay đổi những điều thuộc nội dung Hiệp định và thời gian đã thỏa thuận. Đến giữa tháng 121972, do không đạt được những đòi hỏi của mình, Hoa Kỳ ngừng cuộc đàm phán và mở cuộc tiến công 12 ngày đêm bằng máy bay B52 vào Hà Nội và miền Bắc. Tuy nhiên, chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán. Ngày 2311973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng cố vấn an ninh quốc gia Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 2711973, 4 ngoại trưởng 4 bên dự Hội nghị Paris đã chính thức ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris thắng lợi vang dội của nền ngoại giao trước những nhà đàm phán lão làng của một quốc gia hàng đầu thế giới. Trong suốt quá trình đàm phán, đoàn Đàm phán đã tìm tòi, xây dựng lập luận sắc bén, có sức tấn công, thuyết phục về những vấn đề quan trọng như quân miền Bắc ở lại miền Nam và quân Hoa Kỳ, chư hầu phải rút khỏi Việt Nam, tranh thủ thời cơ, tận dụng những chiến thắng về mặt quân sự để từng bước tạo sức ép trên bàn đàm phán, buộc Mỹ phải cuốn xéo, trả lại độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam. 8 Phần II. Kết quả, ý nghĩa của hội nghị Paris 2.1. Kết quả của hội nghị Paris Thắng lợi to lớn tại Hiệp Định Paris đã giúp nhân dân Việt Nam chúng ta đã đạt được hai kết quả cơ bản nhất. Một là, Mĩ và Đồng Minh của Mĩ phải rút quân khỏi miền Nam trong vòng 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị; Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần; hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc. Hai là, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được tôn trọng. Ngày 2811973, Mỹ ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành. Ngoài ra, đất nước chúng ta rơi vào tình thế khá đặc biệt đó là “ Mỹ cút, Nguỵ chưa nhào. Phía Mỹ vẫn giữ lại cố vấn và tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn âm mưu phá hoại hiệp định Paris, thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “ bình định lấn chiếm vùng giải phóng của ta nhưng thực chất là để tiếp tục chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Về phía quân ta, so sánh lực lượng thay đổi có lợi nhưng phải chủ động đối phó với âm mưu, hành động mới của kẻ thù. Miền Bắc trở lại hoà bình, tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế xã hội; iếp tục thực hiện chi viện cho tiền tuyến miền Nam, Lào và Campuchia. Đồng thời đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu to lớn, cấp bách của cuộc tổng tiến công chiến lược và phục vụ cho công cuộc tiếp quản, xây dựng chế độ mới ở Miền Nam sau giải phóng. 2.2. Ý nghĩa của hội nghị Paris Hiệp định Paris được ký kết cách đây tròn nửa thế kỷ (1973 – 2023) đã kết thúc thắng lợi cuộc đàm phán dài nhất, phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam để chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ XX; là cuộc đối thoại giữa hai lực lượng đối đầu trên chiến trường không cân sức nhau về nhiều mặt; là tâm điểm cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường (Mỹ) với nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Phần I Bối cảnh lịch sử, diễn biến của hội nghị Paris 2
1.1 Bối cảnh lịch sử của hội nghị Paris 2
1.1.1 Bối cảnh quốc tế 2
1.1.2 Bối cảnh trong nước 2
1.2 Diễn biến của hội nghị Paris 3
1.2.1 Các bên tham gia đàm phán hội nghị Paris và lập trường của mỗi bên 3
1.2.2 Nội dung cơ bản của hội nghị Paris 5
1.2.3 Quá trình đàm phán hội nghị Paris 6
Phần II Kết quả, ý nghĩa của hội nghị Paris 9
2.1 Kết quả của hội nghị Paris 9
2.2 Ý nghĩa của hội nghị Paris 9
Phần III Vận dụng bài học kinh nghiệm của Hội nghị Paris với ngoại giao Việt Nam hiện nay 11
3.1 Các chiến thuật, chiến lược sử dụng trong cuộc đàm phán tại hội nghị Paris 11
3.2 Bài học cho ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 12
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Đàm phán Hiệp định Paris là cuộc đàm phán lâu dài nhất, quyết liệt nhất
và cũng là cuộc đàm phán giành thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giaoViệt Nam Cuộc chiến ngoại giao này là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao,một bên là nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới; mộtbên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ Hai lực lượngtưởng như không cân sức, vậy mà các nhà ngoại giao Việt Nam, bằng nhữngchiến thuật, chiến lược linh hoạt, khôn khéo, nhưng vẫn rất kiên cường, quyếtliệt, đã giành thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao trước đế quốc Mỹ
Ngày nay, tình hình quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi, songnhững bài học về đường lối đối ngoại và nghệ thuật đàm phán Hội nghị Paris vẫncòn giữ nguyên giá trị thực tiễn, là bài học kinh nghiệm cho những nhà ngoạigiao khi bước vào bàn đàm phán Trong xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh củathế giới hiện nay, rất cần thiết tiếp tục vận dụng những bài học ngoại giao nàymột cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, hoàncảnh mới, với lợi ích và đặc thù của nước mình để phát triển đất nước, tham giahội nhập quốc tế Chính vì vậy, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài tiểu luận “Hộinghị Paris (1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lời hòa bình ở Việt Nam và bàihọc cho ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới giảng viên hướng dẫn, ThSNguyễn Thị Tố Uyên đã giúp đỡ chúng em nhiệt tình trong quá trình hoàn thành bàitiểu luận Bài tiểu luận này là thành quả của quá trình học tập và nỗ lực của tất cảchúng em Do những hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như trình độ và khả năngnên trong quá trình thực hiện chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Nhómchúng em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý chân thành của cô và các bạn đểtiểu luận được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5NỘI DUNG Phần I Bối cảnh lịch sử, diễn biến của hội nghị Paris
1.1 Bối cảnh lịch sử của hội nghị Paris
1.1.1 Bối cảnh quốc tế
Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa ta và
Mỹ hết sức phức tạp Đó là thời kỳ sự đối đầu giữa 2 hệ thống xã hội trên thếgiới, đại diện là Liên Xô và Mỹ diễn ra rất sâu sắc và toàn diện Thời điểm này,
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển lớn mạnh, tích cực giúp
đỡ phong trào cách mạng thế giới, trong đó, có cách mạng Việt Nam Tuy nhiên,phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như nội bộ các nước xã hội chủnghĩa lại xuất hiện những bất đồng Kẻ thù của nhân dân Việt Nam - đế quốc Mỹ
có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh nhất khối tư bản chủ nghĩa nhưng nhữngmâu thuẫn trong hệ thống các nước đế quốc ngày càng sâu sắc cũng không chophép Mỹ tùy ý mở rộng chiến tranh với bất cứ quy mô nào
Bên cạnh đó, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung và ởcác nước đế quốc nói riêng lo ngại chiến tranh thế giới có thể nổ ra và đã ủng hộmạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lượcthông qua dư luận Đồng thời, họ mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thươnglượng để giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hòa bình
1.1.2 Bối cảnh trong nước
Cuối năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ được triểnkhai đến mức cao nhất đã hoàn toàn bị phá sản Để cứu vãn cơ đồ chủ nghĩa thựcdân mới, ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, đầu năm 1965, chínhquyền của Tổng thống L Giônxơn quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranhcục bộ” ở miền Nam, đưa quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ vàotrực tiếp tham chiến Đồng thời, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằngkhông quân và hải quân đánh phá miền Bắc làm suy yếu và ngăn chặn sự chi viện
Trang 6của miền Bắc cho cách mạng miền Nam Ba năm 1965, 1966, 1967 là thời gian
Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh
Trước tình hình chiến tranh lan rộng cả nước, Hội nghị lần thứ 11 (3/1956)
và Hội nghị lần thứ 12 (12/1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phátđộng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi cả nước và hạ quyếttâm kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược, tiến tới thực hiện hòa bình thốngnhất nước nhà Ngoài ra, ta cũng đề ra những điều cơ bản làm cơ sở cho đàmphán, đó là lập trường 5 điểm (22/3/1965) của Mặt trận Dân tộc giải phóng miềnNam Việt Nam và tuyên bố 4 điểm (8/4/1965) của Chính phủ Việt Nam Dân chủcộng hòa Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1965đến năm 1968 cũng nhấn mạnh đến vị trí quan trọng của đấu tranh ngoại giaotrong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; đồng thời chủ trương mở đường cho địchvào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta
Đến cuối năm 1967, “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ được đẩy đến đỉnh caonhưng vẫn không thể thực hiện được các mục tiêu chính trị và quân sự đã đề ra.Mặt khác, thất bại ở Việt Nam làm cho tình hình nước Mỹ ngày càng bất ổn,phong trào đấu tranh phản đối chiến tranh, đòi quân Mỹ rút về nước lan rộngtrong các tầng lớp nhân dân Lúc này, trận đánh có tính bước ngoặt, cuộc tiếncông và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã được phát động trên toàn miền Nam,quân và dân đồng loạt tiến công và tiêu diệt lượng lớn quân địch cũng như các
cơ quan đầu não của địch Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 cùng thắnglợi của nhân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại đã đánh thẳng vào ý chíxâm lược của Mỹ Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” phá sản, Mỹ buộc phải chấpnhận đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Pari (Pháp) từ ngày 13/5/1968
1.2 Diễn biến của hội nghị Paris
1.2.1 Các bên tham gia đàm phán hội nghị Paris và lập trường của mỗi bên
Từ tháng 5 – tháng 10/1968, hiệp định Paris có sự tham gia của hai bên làViệt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ Tuy nhiên, từ tháng 11/ 1968 – 27/1/1973,
Trang 7hiệp định Paris đã có sự góp mặt của bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Mặttrận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (từ 12/6/1969 là Chính phủ Cáchmạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam); Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
Trong suốt gần 5 năm cuộc đàm phán được diễn ra tại thủ đô Paris của Pháp,trải qua 2 giai đoạn, từ đàm pháp 2 bên (5 - 10/1968) đến đàm phán 4 bên (11/1968
- 27/1/1973), ta cuối cùng cũng buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, và chấmdứt cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ này Ngày 27/1/1973 với sự tham dự củađại diện 4 bên bao gồm:
- Ông Nguyễn Duy Trinh (đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
- Bà Nguyễn Thị Bình (đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam)
- Ông Nguyễn Văn Lắm (đại diện chính quyền Sài Gòn)
- Ông W.Rogers (đại diện Mỹ)
Các bên chính thức bước lên bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Paris vềchấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; và 4 nghị định thư liên quan.Tuy có 4 bên cùng tham gia vào cuộc đàm phán nhưng chỉ có 2 bên đưa ra lậptrường của mình, cũng đồng thời đại diện cho các bên còn lại
Trong quá trình diễn ra cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ, đã có sựthay đổi nhất định về lập trường của cả hai bên, phù hợp hơn với tình hình chiến
sự lúc bấy giờ, cụ thể như sau:
* Giai đoạn 1968 – 1972
• Lập trường của Mỹ: Cần có sự tham gia của phái đoàn Chính phủ SàiGòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn pháo hay tên lửavào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng
• Lập trường của Việt Nam: Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và
để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) thamgia hội đàm
* Giai đoạn 1972 - 1973
Trang 8• Lập trường của Mỹ: Quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài rútkhỏi Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏiNam Việt Nam Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn VănThiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình Không có Tổng tuyển cử thốngnhất Việt Nam.
• Lập trường của Việt Nam: Các lực lượng quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏiViệt Nam Thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 lực lượng chính trị:Chính quyền Sài Gòn, Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam vàlực lượng trung lập để tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất với miền Bắc
Phía Việt Nam cho rằng việc Mỹ đòi hỏi Quân đội Nhân dân Việt Nam vàQuân đội Hoa Kỳ cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam là một sự đánh đồng khôngthể chấp nhận được Điều này dẫn đến sự thiếu đồng nhất trong lập trường của cảhai bên, làm cho việc đi đến một thỏa thuận cuối cùng vẫn chưa thực hiện được
Trải qua nhiều lần bất thành trên mặt trận quân sự và chính trị nhằm bắt épViệt Nam phải chấp nhận những điều khoản vô lý của Mỹ Ngày 27/1/1973,Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bốnNghị định thư liên quan được ký chính thức Việt Nam vẫn giữ nguyên lậptrường của mình, buộc Mỹ phải chấp nhận các điều khoản của ta vô điều kiện:
Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị;Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần, hoàn toàn không đề cập vấn đềquân đội miền Bắc Ngày 28/1/1973, ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam.Hiệp định Paris chính thức được thi hành
1.2.2 Nội dung cơ bản của hội nghị Paris
Bản Hiệp định Paris về Việt Nam gồm 9 chương, 23 điều, trong đó gồm 4 điều khoản chính như sau:
- Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Mỹ: Mỹ và các nước khácphải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân
Trang 9miền nam Việt Nam; Mỹ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ của miền nam Việt Nam.
- Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Mỹ rút hết quân trong 60 ngày;chấm dứt bắn phá miền bắc Việt Nam; nhận tháo gỡ mìn do Mỹ đã rải ở miền bắcViệt Nam ( Mỹ ko được tiếp tục tham gia các hoạt động quân sự tại Việt Nam )
- Các điều khoản về nội bộ miền nam: nguyên tắc hòa hợp dân tộc, bảođảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập Hội đồng quốc gia hòagiải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử
- Các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơcấu thi hành Hiệp định Ủy ban liên hợp và Ủy ban quốc tế; về Hội nghị quốc tếxác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Mỹ đóng góp hàn gắn vết thươngchiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Như vậy có thể thấy với các nội dung cơ bản trên, Hiệp định Paris đã đóngcửa hoàn toàn cơ hội quay trở lại và can thiệp quân sự của chính phủ Mỹ, đồngthời khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do Việt Nam, khẳng định tên tuổiViệt Nam trên bản đồ thế giới như một nước thống nhất hoàn toàn
1.2.3 Quá trình đàm phán hội nghị Paris
Ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộnghòa và Chính phủ Mỹ đã chính thức bắt đầu tại Paris (Pháp) Cuộc đàm phán kéodài 4 năm 8 tháng 14 ngày, là cuộc thương lượng ngoại giao gắn liền với chiếntrường, vô cùng cam go, dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam Cuộc đàmphán kết thúc bằng Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ởViệt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoạigiao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX
Quá trình đàm phán để đi đến ký kết Hiệp định Paris có thể chia thành 2giai đoạn:
* Giai đoạn 1 (5/1968 – 10/1968)
Trang 10Ởgiai đoạn 1, cuộc đàm phán diễn ra giữa 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộnghòa và Hoa Kỳ trong bối cảnh Hoa Kỳ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bìnhtrở ra phía Bắc và ngồi đàm phán với Việt Nam tại Paris sau thất bại Tết MậuThân năm 1968 Cuộc đàm phán chính thức bắt đầu ngày 15/3/1968 tại Trungtâm Hội nghị quốc tế ở đường Kléber, Paris, đánh dấu một giai đoạn mới củacuộc chiến tranh Việt Nam: vừa đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện
“vừa đánh vừa đàm”
Nhiệm vụ của đối ngoại giai đoạn này là dùng đàm phán để tiến công côlập địch; vạch trần âm mưu của địch kéo dài chiến tranh, tính chất phi nghĩa củacuộc chiến tranh do Mỹ phát động; tranh thủ dư luận phục vụ cho cuộc đấu tranhquân sự, chính trị trên chiến trường; yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom không điềukiện miền Bắc Việt Nam
Kết thúc giai đoạn này, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã buộc
Mỹ phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc và các hànhđộng khác, chấp nhận ngồi nói chuyện trực tiếp với đại diện Mặt trận Dân tộcGiải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị 4 bên
* Giai đoạn 2 (11/1968 – 27/1/1973)
Giai đoạn thứ 2 của cuộc đàm phán là các cuộc thương thảo giữa 4 bên: Đoànđại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miềnNam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa Đặc trưng của đàm phán giai đoạnnày là việc diễn ra đồng thời 2 diễn đàn: đàm phán công khai 4 bên và các cuộc gặpriêng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh quốc gia Kissinger
Ngày 8/10/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo Hiệp định vềchấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và dự thảo Thỏa thuận vềquyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, trong đó tập trung giải quyếtnhững vấn đề chính trị và quân sự liên quan đến Mỹ như yêu cầu Mỹ tôn trọngcác quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, ngừng bắn, Mỹ rút quân…
Trang 11Đến ngày 20/10/1972, hai bên đã đạt được thỏa thuận, dự định ký Hiệpđịnh vào ngày 31/10/1972 Với thỏa thuận này, Việt Nam đã đạt được các mụctiêu đề ra là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.
Nhưng đến ngày 22/10/1972, phía Hoa Kỳ lật lọng, không giữ lời hứa,viện những lý do không chính đáng để liên tiếp thay đổi những điều thuộc nộidung Hiệp định và thời gian đã thỏa thuận Đến giữa tháng 12/1972, do khôngđạt được những đòi hỏi của mình, Hoa Kỳ ngừng cuộc đàm phán và mở cuộctiến công 12 ngày đêm bằng máy bay B52 vào Hà Nội và miền Bắc
Tuy nhiên, chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹphải trở lại bàn đàm phán Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng cố vấn anninh quốc gia Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định Ngày 27/1/1973, 4 ngoạitrưởng 4 bên dự Hội nghị Paris đã chính thức ký Hiệp định về chấm dứt chiếntranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam
Hiệp định Paris thắng lợi vang dội của nền ngoại giao trước những nhàđàm phán lão làng của một quốc gia hàng đầu thế giới Trong suốt quá trình đàmphán, đoàn Đàm phán đã tìm tòi, xây dựng lập luận sắc bén, có sức tấn công,thuyết phục về những vấn đề quan trọng như quân miền Bắc ở lại miền Nam vàquân Hoa Kỳ, chư hầu phải rút khỏi Việt Nam, tranh thủ thời cơ, tận dụng nhữngchiến thắng về mặt quân sự để từng bước tạo sức ép trên bàn đàm phán, buộc Mỹphải cuốn xéo, trả lại độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam
Trang 12Phần II Kết quả, ý nghĩa của hội nghị Paris
2.1 Kết quả của hội nghị Paris
Thắng lợi to lớn tại Hiệp Định Paris đã giúp nhân dân Việt Nam chúng ta
đã đạt được hai kết quả cơ bản nhất Một là, Mĩ và Đồng Minh của Mĩ phải rútquân khỏi miền Nam trong vòng 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị; Hộiđồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần; hoàn toàn không đề cập vấn đềquân đội miền Bắc Hai là, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được tôntrọng Ngày 28-1-1973, Mỹ ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam Hiệp địnhParis chính thức được thi hành
Ngoài ra, đất nước chúng ta rơi vào tình thế khá đặc biệt đó là “ Mỹ cút,Nguỵ chưa nhào" Phía Mỹ vẫn giữ lại cố vấn và tiếp tục viện trợ cho chínhquyền Sài Gòn Chính quyền Sài Gòn âm mưu phá hoại hiệp định Paris, thựchiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “ bình định - lấn chiếm" vùng giải phóngcủa ta nhưng thực chất là để tiếp tục chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh
Về phía quân ta, so sánh lực lượng thay đổi có lợi nhưng phải chủ độngđối phó với âm mưu, hành động mới của kẻ thù Miền Bắc trở lại hoà bình, tiếnhành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; iếptục thực hiện chi viện cho tiền tuyến miền Nam, Lào và Campuchia Đồng thờiđáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu to lớn, cấp bách của cuộc tổng tiến công chiếnlược và phục vụ cho công cuộc tiếp quản, xây dựng chế độ mới ở Miền Nam saugiải phóng
2.2 Ý nghĩa của hội nghị Paris
Hiệp định Paris được ký kết cách đây tròn nửa thế kỷ (1973 – 2023) đã kếtthúc thắng lợi cuộc đàm phán dài nhất, phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao ViệtNam để chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ XX; là cuộc đối thoại giữahai lực lượng đối đầu trên chiến trường không cân sức nhau về nhiều mặt; là tâmđiểm cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao - nền ngoại giao nhà nghề của một siêucường (Mỹ) với nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ