MỤC LỤC BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC.............................................................. 2 LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 4 CHƯƠNG 1: PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG ................ 6 1.1. Khái niệm............................................................................................... 6 1.2. Tầm quan trọng của vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc ........................................................................................................... 6 CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT (19301945) ........................... 8 2.1. Phong trào cách mạng 1930 1931 và khôi phục phong trào 1932 – 1935................................................................................................................ 8 2.2. Phong trào dân chủ năm 1936 – 1939 ............................................... 11 2.3. Đánh giá hiệu quả vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân trong giai đoạn 19301945 ......................................................................... 16 CHƯƠNG III: VẤN ĐỀ PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY............ 18 3.1. Thực trạng chung về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc ...................................................................................................................... 18 a. Những điểm mạnh .......................................................................... 18 b. Những điểm hạn chế ...................................................................... 21 3.2. Vận dụng việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn 19451946 đối với hiện nay ....................................................... 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 29 LỜI MỞ ĐẦU Lịch sử Việt Nam đã trải qua một tiến trình dài của lịch sử thế giới để có thể đi đến thống nhất đất nước, độc lập chủ quyền, ghi tên mình trên bản đồ thế giới. Để có được thắng lợi vẻ vang đó, một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào bản “Tuyên ngôn độc lập” dưới là cờ đỏ sao vàng, ánh nắng rực rỡ ở sân Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, đó chính là sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Từ xưa đến nay, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đã trở thành một sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử của dân tộc ta. Đặc biệt, trong giai đoạn 19301945, sức mạnh khối đại đoàn kết ấy đã thể hiện rõ qua các phong trào đấu tranh của dân tộc. Trải qua 15 năm với nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau, tinh thần đoàn kết và tự lực tự cường của người dân Việt Nam đã trở thành một trong những chiếc chìa khóa vàng để đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong suốt quá trình cách mạng đó là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc”. Trong tất cả các kỳ đại hội, Đảng ta đều khẳng định rõ : Vấn đề về dân tộc vấn đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của đạo đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng: tôn trọng, giúp đỡ đồng bào các dân tộc và tạo mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc phát triển. Bài học về sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn 19301945 đã trở thành điểm sáng để toàn dân ta phải nhìn lại. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với bối cảnh biển đảo quê hương đang từng ngày từng giờ phải căng mình lên để giữ gìn từng tấc đất tấc vàng, với bối cảnh covid19 đã và đang diễn ra phức tạp với nhiều thế lực thù địch đang ngày đêm có ý định chống phá Đảng, hơn bao giờ hết, sức mạnh khối đại đoàn kết phải được nhìn nhận rõ và vận dụng hết sức mạnh mẽ, linh hoạt. Chính vì thế, nhóm chúng em chọn đề tài “Vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn 19301945 và sự vận dụng trong điều kiện hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình để nghiên cứu sâu thêm về những bài học kinh nghiệp của giai đoạn trước nhằm hiểu rõ hơn và có nhận thức đúng đắn về khối đại đoàn kết trong bối cảnh ngày nay. CHƯƠNG 1: PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG 1.1. Khái niệm Đoàn kết dân tộc đó là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”. Như vậy, đại đoàn kết dân tộc cũng tức là đại đoàn kết toàn dân, nghĩa là tập hợp mọi người dân vào một khối thống nhất giữa ý chí và hành động trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhanh dân, … Theo Hồ Chí Minh: “Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái”. 1.2. Tầm quan trọng của vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi. Để hoàn thành một nhiệm vụ “khó khăn hơn nhiều” so với trước, tất yếu phải có sức mạnh lớn hơn trước, nghĩa là sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay khó khăn hơn trước bội phần và đòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc còn là chủ trương chiến lược, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cách mạng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng của Đảng ta. Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên. Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bài học kinh nghiệm này còn nguyên giá trị và cần tiếp tục phát huy nhằm khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT (19301945) 2.1. Phong trào cách mạng 1930 1931 và khôi phục phong trào 1932 – 1935 Bối cảnh lịch sử quốc tế những năm 1930 – 1931 hết sức phức tạp. Những năm 1929 1933, khi Liên Xô đang đạt được những kết quả lớn trong công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, thì ở các nước tư bản chủ nghĩa nổ ra một cuộc khủng hoảng kinh tế trên quy mô lớn. Cuộc khủng hoảng lan nhanh đến các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ở Đông dương, thực dân Pháp lại tăng cường vơ vét, bóc lột để bù đắp những hậu quả của cuộc khủng hoảng ở chính quốc. Vì thế nền kinh tế Việt Nam sa sút nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai càng phát triển gay gắt. Điều đó càng đẩy nhân dân ta tiến nhanh trên con đường vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt hơn với kẻ thù. Giữa lúc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được hệ thống tổ chức thống nhất và cương lĩnh chính trị đúng đắn, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta chống đế quốc và tay sai. Đảng đã nhanh chóng phát triển tổ chức cơ sở của mình trong nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu mỏ, đồn điền ở nông thôn và thành phố. Những tổ chức quần chúng của Đảng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên cộng sản, hội phụ nữ, hội cứu tế được xây dựng ở nhiều nơi. Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1930 là bước khởi đầu của phong trào. Nhiều cuộc bãi công của công nhân đã nổ ra liên tiếp ở nhà máy xi măng Hải Phòng, hãng dầu Nhà Bè (Sài Gòn), các đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thủy... Phong trào đấu tranh của nông dân cũng diễn ra ở nhiều địa phương như Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh... Truyền đơn, cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản xuất hiện trên các đường phố Hà Nội và một số địa phương khác. Những cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động chống đế quốc và phong kiến tay sai, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò tiên phong, là màn đầu của một cao trào cách mạng mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo. Từ tháng 51930, phong trào phát triển thành cao trào. Ngày mùng 1 tháng 5 năm 1930, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Từ thành phố đến nông thôn ở cả ba miền đất nước xuất hiện nhiều truyền đơn, cờ đỏ búa liềm, mít tinh, bãi công, biểu tình, tuần hành, v.v.. Đấu tranh của công nhân nổ ra trong các xí nghiệp và ở nhiều địa phương khác nhau. Sau ngày 1 tháng 5, làn sóng đấu tranh tiếp tục dâng cao. Riêng trong tháng 5 Ở nông thôn Nghệ An và Hà Tĩnh, nhiều cuộc đấu tranh quy mô lớn của nông dân dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ đã nổ ra, như cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Nam Đàn (30 tháng 8 năm 1930), kéo lên huyện lỵ đưa yêu sách, phá cửa nhà lao, giải thoát cho những người cách mạng bị địch bắt; cuộc biểu tình của 20.000 nông dân Thanh Chương (1 tháng 9 năm 1930), bao vây và đốt huyện đường; cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Can Lộc (7 tháng 9 năm 1930) kéo lên huyện lỵ, đốt giấy tờ, sổ sách, phá nhà lao... Từ Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc, phong trào cách mạng của quần chúng lan rộng ra nhiều huyện khác thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trước sức mạnh của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai ở nhiều huyện bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã. Trước tình hình đó, các tổ chức đảng ở địa phương chủ động lãnh đạo các ban chấp hành nông hội ở thôn, xã (thôn bộ nông, xã bộ nông) đứng ra quản lý mọi mặt đời sống xã hội ở nông thôn. Những khu đỏ tự do hình thành ở nhiều vùng nông thôn Nghệ An, Hà Tĩnh, một chính quyền cách mạng của nông dân theo hình thức các uỷ ban tự quản theo kiểu Xô Viết đã ra đời. Đó là những Xôviết nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, thực hiện chuyên chính với kẻ thù, dân chủ với quần chúng lao động. Trong các khu đỏ, chính quyền cách mạng đã thực hiện các biện pháp cách mạng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Từ khi chính quyền Xô viết ra đời, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra càng gay go và quyết liệt hơn. Quần chúng cách mạng kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chính quyền Xô viết, còn địch thì ra sức khủng bố, quyết dìm cách mạng trong bể máu. Cao trào cách mạng 19301931, mà đỉnh cao là Xô viết , Nghệ Tĩnh là trận thử thách đầu tiên và toàn diện của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhằm chống lại bọn đế quốc và phong kiến. Cao trào cách mạng đó đã tỏ rõ tinh thần chiến đấu hy sinh oanh liệt và năng lực cách mạng sáng tạo của nhân dân lao động Việt Nam. Tuy bị đế quốc và phong kiến tay sai dìm trong biển máu, nhưng nó có ý nghĩa và tác dụng hết sức to lớn trong lịch sử của Đảng và của dân tộc ta. Không có những trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930 đến 1931, trong đó công nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình, thì không thể có cao trào những năm 19361939. Đó thực sự là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Cuộc đấu tranh khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng 1932 – 1935 Từ cuối năm 1931, phong trào cách mạng Việt Nam tạm thời lắng xuống nhưng bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương chưa hết lo sợ. Một mặt chúng ra sức khủng bố, đàn áp, mặt khác đưa ra những thủ đoạn mị dân, chia rẽ hòng làm mai một ý chí cách mạng của quần chún Đầu năm 1932, theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí chủ chốt ở trong và ngoài nước tổ chức ra ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6 1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã công bố chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chương trình hành động đã vạch ra nhiệm vụ đấu tranh trước mắt để khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng, đặc biệt cần phải “gây dựng một đoàn thể bí mật, có kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng tức Đảng cộng sản để hướng đạoq uần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu”. Đầu năm 1934. Theo sự chỉ đạo của Quốc tế CỘng sản, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng cộng sản Đông Dương được thành lập lãnh đạo, chỉ đạo phong trào trong nước như chức năng, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung Ương. Đến đầu năm 1935, hệ thống tổ chức của Đảng được phục hồi. Đó là cơ sở để tiến tới Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra từ ngày 27 đến 3131935 tại nhà số 2 Quan Công Lộ, Ma Cao, Trung Quốc với 13 đại biểu tham dự. Lúc này, Đảng ta có 600 đảng viên trên cả nước. Đại hội đã bầu đồng chí Lê Hồng Phong là Tổng Bí thư. 13 đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhiệm vụ chính của Đại hội: Củng cố hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước đến nước ngoài. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá I đã họp 6 lần và một số Hội nghị cán bộ toàn quốc để quyết định những vấn đề quan trọng của Đảng và Cách mạng nước ta; trong đó có vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất, phát động tổng khởi nghĩa, tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh gìn giữ và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở đến trung ương. Đây là một điều kiện cơ bản và cần thiết để Đảng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới với một đội ngũ đã được tôi luyện. 2.2. Phong trào dân chủ năm 1936 – 1939 Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 19291933, giai cấp tư sản ở một số nước như Đức Italia, Pháp, Tây Ban Nha,... ráo riết, chủ trương dùng bạo lực đàn áp phong trào đấu tranh trong nước và chuẩn bị phát động chiến tranh thế giới nhằm chia lại thị trường. Hành động này đã đẩy nhân loại đến bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới mới, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh quốc tế. Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới, 71935 Quốc tế Cộng sản đã quyết định họp Đại hội VII tại Mátxcơva (Liên Xô) để đưa ra một số quyết định quan trọng: Thứ nhất, họ xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phát xít lực lượng đang có nguy cơ phá hoại nền an ninh thế giới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 2 LỜI MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1: PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG 6 1.1 Khái niệm 6
1.2 Tầm quan trọng của vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc 6
CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT (1930-1945) 8 2.1 Phong trào cách mạng 1930 - 1931 và khôi phục phong trào 1932 –
1935 8
2.2 Phong trào dân chủ năm 1936 – 1939 11 2.3 Đánh giá hiệu quả vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân trong giai đoạn 1930-1945 16
CHƯƠNG III: VẤN ĐỀ PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 18 3.1 Thực trạng chung về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử Việt Nam đã trải qua một tiến trình dài của lịch sử thế giới để cóthể đi đến thống nhất đất nước, độc lập chủ quyền, ghi tên mình trên bản đồthế giới Để có được thắng lợi vẻ vang đó, một trong những yếu tố quan trọnggóp phần vào bản “Tuyên ngôn độc lập” dưới là cờ đỏ sao vàng, ánh nắng rực
rỡ ở sân Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, đó chính là sức mạnh khối đạiđoàn kết dân tộc
Từ xưa đến nay, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đã trở thành mộtsợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử của dân tộc ta Đặc biệt, trong giai đoạn 1930-
1945, sức mạnh khối đại đoàn kết ấy đã thể hiện rõ qua các phong trào đấutranh của dân tộc Trải qua 15 năm với nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau,tinh thần đoàn kết và tự lực tự cường của người dân Việt Nam đã trở thànhmột trong những chiếc chìa khóa vàng để đánh tan mọi kẻ thù xâm lược.Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc vàđại đoàn kết dân tộc trong suốt quá trình cách mạng đó là “Bình đẳng, đoàn kết,tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.Trong tất cả các kỳ đại hội, Đảng ta đều khẳng định rõ : Vấn đề về dân tộc vấn
đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của cách mạng là sứcmạnh của đạo đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng: tôn trọng, giúp đỡđồng bào các dân tộc và tạo mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc phát triển.Bài học về sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn 1930-1945
đã trở thành điểm sáng để toàn dân ta phải nhìn lại Đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay, với bối cảnh biển đảo quê hương đang từng ngày từng giờ phải căng mìnhlên để giữ gìn từng tấc đất tấc vàng, với bối cảnh covid-19 đã và đang diễn raphức tạp với nhiều thế lực thù địch đang ngày đêm có ý định chống phá Đảng,hơn bao giờ hết, sức mạnh khối đại đoàn kết phải được nhìn nhận rõ và vận dụnghết sức mạnh mẽ, linh hoạt Chính vì thế, nhóm chúng em chọn đề tài
“Vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn
1930-1945 và sự vận dụng trong điều kiện hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 4để nghiên cứu sâu thêm về những bài học kinh nghiệp của giai đoạn trướcnhằm hiểu rõ hơn và có nhận thức đúng đắn về khối đại đoàn kết trong bốicảnh ngày nay.
Trang 5CHƯƠNG 1: PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG
1.1 Khái niệm
Đoàn kết dân tộc đó là sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhândân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với tinh thần: “Chúng ta phảiđoàn kết rộng rãi và chặt chẽ Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân Đoàn kếtgiữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc,
từ Bắc chí Nam Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dâncác nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộnghòa bình trên thế giới”
Như vậy, đại đoàn kết dân tộc cũng tức là đại đoàn kết toàn dân, nghĩa làtập hợp mọi người dân vào một khối thống nhất giữa ý chí và hành động trongcuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhanh dân, …Theo Hồ Chí Minh: “Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộnglớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòngthiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp,giai cấp, đảng phái”
1.2 Tầm quan trọng của vấn đề phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc
Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõitrong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc làđường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đếnthành công cho cách mạng Việt Nam Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kếtcủa Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi Để hoàn thành một nhiệm vụ “khókhăn hơn nhiều” so với trước, tất yếu phải có sức mạnh lớn hơn trước, nghĩa là
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay khó khăn hơn trước bội phần vàđòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Trang 6Đại đoàn kết dân tộc còn là chủ trương chiến lược, có ý nghĩa sống còn,quyết định sự thành bại của cách mạng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đườnglối chiến lược cách mạng của Đảng ta Vượt qua những khó khăn, thách thứcnặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nềcủa chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấmvận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiềukhiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựngmặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vaitrò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.
Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đạiđoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mụctiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xâydựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín,
vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một trongnhững bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảmthực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bài học kinh nghiệm nàycòn nguyên giá trị và cần tiếp tục phát huy nhằm khơi dậy sức mạnh to lớncủa toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới vì mục tiêu: Dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 7CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT
HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT (1930-1945)
2.1 Phong trào cách mạng 1930 - 1931 và khôi phục phong trào 1932 – 1935
Bối cảnh lịch sử quốc tế những năm 1930 – 1931 hết sức phức tạp.Những năm 1929 -1933, khi Liên Xô đang đạt được những kết quả lớn trongcông cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế với tốc độnhanh, thì ở các nước tư bản chủ nghĩa nổ ra một cuộc khủng hoảng kinh tếtrên quy mô lớn Cuộc khủng hoảng lan nhanh đến các nước thuộc địa và phụthuộc Ở Đông dương, thực dân Pháp lại tăng cường vơ vét, bóc lột để bù đắpnhững hậu quả của cuộc khủng hoảng ở chính quốc Vì thế nền kinh tế ViệtNam sa sút nghiêm trọng Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dânPháp và tay sai càng phát triển gay gắt Điều đó càng đẩy nhân dân ta tiếnnhanh trên con đường vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt hơn với kẻ thù.Giữa lúc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được hệ thống tổchức thống nhất và cương lĩnh chính trị đúng đắn, đảm nhận sứ mệnh lãnhđạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta chống đế quốc và tay sai Đảng
đã nhanh chóng phát triển tổ chức cơ sở của mình trong nhiều nhà máy, xínghiệp, khu mỏ, đồn điền ở nông thôn và thành phố Những tổ chức quầnchúng của Đảng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên cộng sản, hội phụ
nữ, hội cứu tế được xây dựng ở nhiều nơi
Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1930 là bước khởi đầu của phong trào Nhiềucuộc bãi công của công nhân đã nổ ra liên tiếp ở nhà máy xi măng Hải Phòng,hãng dầu Nhà Bè (Sài Gòn), các đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng, nhà máy dệtNam Định, nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thủy Phong trào đấu tranh củanông dân cũng diễn ra ở nhiều địa phương như Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An,
Hà Tĩnh Truyền đơn, cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản xuất hiện trên cácđường phố Hà Nội và một số địa phương khác Những cuộc đấu tranh của côngnhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động chống đế quốc và phong
Trang 8kiến tay sai, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò tiên phong, là màn đầucủa một cao trào cách mạng mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản tổ chức vàlãnh đạo.
Từ tháng 5-1930, phong trào phát triển thành cao trào Ngày mùng 1tháng 5 năm 1930, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động
Từ thành phố đến nông thôn ở cả ba miền đất nước xuất hiện nhiều truyềnđơn, cờ đỏ búa liềm, mít tinh, bãi công, biểu tình, tuần hành, v.v Đấu tranhcủa công nhân nổ ra trong các xí nghiệp và ở nhiều địa phương khác nhau.Sau ngày 1 tháng 5, làn sóng đấu tranh tiếp tục dâng cao Riêng trongtháng 5 Ở nông thôn Nghệ An và Hà Tĩnh, nhiều cuộc đấu tranh quy mô lớncủa nông dân dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ đã nổ ra, như cuộcbiểu tình của 3.000 nông dân Nam Đàn (30 tháng 8 năm 1930), kéo lên huyện
lỵ đưa yêu sách, phá cửa nhà lao, giải thoát cho những người cách mạng bịđịch bắt; cuộc biểu tình của 20.000 nông dân Thanh Chương (1 tháng 9 năm1930), bao vây và đốt huyện đường; cuộc biểu tình của 3.000 nông dân CanLộc (7 tháng 9 năm 1930) kéo lên huyện lỵ, đốt giấy tờ, sổ sách, phá nhà lao
Từ Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc, phong trào cách mạng của quầnchúng lan rộng ra nhiều huyện khác thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
Trước sức mạnh của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc vàtay sai ở nhiều huyện bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã Trước tình hình đó, các tổchức đảng ở địa phương chủ động lãnh đạo các ban chấp hành nông hội ởthôn, xã (thôn bộ nông, xã bộ nông) đứng ra quản lý mọi mặt đời sống xã hội
ở nông thôn Những "khu đỏ" tự do hình thành ở nhiều vùng nông thôn Nghệ
An, Hà Tĩnh, một chính quyền cách mạng của nông dân theo hình thức các uỷban tự quản theo kiểu Xô Viết đã ra đời Đó là những "Xôviết nông dân" dogiai cấp công nhân lãnh đạo, thực hiện chuyên chính với kẻ thù, dân chủ vớiquần chúng lao động Trong các "khu đỏ", chính quyền cách mạng đã thựchiện các biện pháp cách mạng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Từ khi chính quyền Xô viết ra đời, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn racàng gay go và quyết liệt hơn Quần chúng cách mạng kiên quyết đấu tranh để
Trang 9bảo vệ chính quyền Xô viết, còn địch thì ra sức khủng bố, quyết dìm cáchmạng trong bể máu.
Cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô viết , Nghệ Tĩnh làtrận thử thách đầu tiên và toàn diện của quần chúng công nông dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhằm chống lại bọn đế quốc và phongkiến Cao trào cách mạng đó đã tỏ rõ tinh thần chiến đấu hy sinh oanh liệt vànăng lực cách mạng sáng tạo của nhân dân lao động Việt Nam Tuy bị đếquốc và phong kiến tay sai dìm trong biển máu, nhưng nó có ý nghĩa và tácdụng hết sức to lớn trong lịch sử của Đảng và của dân tộc ta "Không cónhững trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930 đến 1931,trong đó công nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình, thìkhông thể có cao trào những năm 1936-1939" Đó thực sự là cuộc tổng diễntập đầu tiên, chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945
Cuộc đấu tranh khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng 1932 – 1935
Từ cuối năm 1931, phong trào cách mạng Việt Nam tạm thời lắng xuốngnhưng bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương chưa hết lo sợ Một mặt chúng rasức khủng bố, đàn áp, mặt khác đưa ra những thủ đoạn mị dân, chia rẽ hònglàm mai một ý chí cách mạng của quần chún
Đầu năm 1932, theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong cùngmột số đồng chí chủ chốt ở trong và ngoài nước tổ chức ra ban lãnh đạo Trungương của Đảng Tháng 6 - 1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã công bố chươngtrình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương Chương trình hành động đãvạch ra nhiệm vụ đấu tranh trước mắt để khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng
và phong trào cách mạng, đặc biệt cần phải “gây dựng một đoàn thể bí mật, có
kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng tức Đảng cộng sản để hướngđạoq uần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu” Đầu năm 1934 Theo sự chỉđạo của Quốc tế CỘng sản, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng cộng sản ĐôngDương được thành lập lãnh đạo, chỉ đạo phong trào trong nước như chức năng,trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung Ương Đến đầu năm 1935, hệ thống tổ
Trang 10chức của Đảng được phục hồi Đó là cơ sở để tiến tới Đại hội lần thứ nhất củaĐảng.
Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935 tại nhà số 2Quan Công Lộ, Ma Cao, Trung Quốc với 13 đại biểu tham dự Lúc này, Đảng ta
có 600 đảng viên trên cả nước Đại hội đã bầu đồng chí Lê Hồng Phong là Tổng
Bí thư 13 đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhiệm vụ chính của Đại hội: Củng cố hệ thống tổ chức của Đảng từTrung ương đến địa phương, từ trong nước đến nước ngoài Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá I đã họp 6 lần và một số Hội nghị cán bộ toàn quốc đểquyết định những vấn đề quan trọng của Đảng và Cách mạng nước ta; trong
đó có vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất, phát động tổng khởi nghĩa, tiếnhành cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc
Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánhdấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh gìn giữ và khôi phục hệ thống tổ chứccủa Đảng từ cơ sở đến trung ương Đây là một điều kiện cơ bản và cần thiết đểĐảng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới với một đội ngũ đã được tôi luyện
2.2 Phong trào dân chủ năm 1936 – 1939
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933, giai cấp tư sản ở một sốnước như Đức Italia, Pháp, Tây Ban Nha, ráo riết, chủ trương dùng bạo lựcđàn áp phong trào đấu tranh trong nước và chuẩn bị phát động chiến tranh thếgiới nhằm chia lại thị trường Hành động này đã đẩy nhân loại đến bờ vực củamột cuộc chiến tranh thế giới mới, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình và anninh quốc tế
Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới, 7/1935Quốc tế Cộng sản đã quyết định họp Đại hội VII tại Mátxcơva (Liên Xô) đểđưa ra một số quyết định quan trọng:
Thứ nhất, họ xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân thế giới là chủ
nghĩa phát xít - lực lượng đang có nguy cơ phá hoại nền an ninh thế giới
Trang 11Thứ hai, nhiệm vụ trước mắt lúc này phải là chống chủ nghĩa phát xít,
chống chiến tranh bảo vệ dân chủ và hòa bình
Thứ ba, thành lập các Mặt trận nhân dân rộng rãi, giai cấp công nhân
trên thế giới phải thống nhất hàng ngũ
Trong thời gian này, các Đảng cộng sản ra sức phấn đấu lập mặt trậnnhân dân chống chủ nghĩa phát xít Đặc biệt, Mặt trận nhân dân Pháp thànhlập từ tháng 5-1935 do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt, đã thắng lợi trongcuộc tổng tuyển cử năm 1936, dẫn đến ra đời của Chính phủ mặt trận nhândân Pháp, 6-1936 chính thức lên cầm quyền ở Pháp và thi hành chính sách nớilỏng thuộc địa như: tự do báo chí, hệ nhiều tù chính trị cộng sản được tự do,tạo thuận lợi cho cách mạng Việt Nam
Về kinh tế: sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933, nền kinh tế
Việt Nam bị trì trệ, suy thoái thì giai đoạn 1936-1939 là giai đoạn phục hồi vàphát triển kinh tế Tuy nhiên, nhìn chung kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn và
lệ thuộc và Pháp, Pháp tập trung đầu tư, khai thác thuộc địa để bù đắp cho sựthiếu hụt cho kinh tế Pháp
Nông nghiệp: Tư bản Pháp chiếm đoạt ruộng đất, độc canh cây lúa trồng cao su, đay, gai, bông
Công nghiệp: Đẩy mạnh khai thác mỏ, sản lượng ngành dệt, ximăng, chế cất rượu tăng Các ngành ít phát triển là điện, nước, cơ khí,đường, giấy, diêm,
Về xã hội: vì phụ thuộc về kinh tế nhiều ở Pháp nên kéo theo đó là đời
sống người dân lao động gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nguyện vọng trước mắt
của người dân là nguyện vọng tự do, cơm áo và hòa bình Nhằm thoát khỏi
sự ngột ngạt do khủng hoảng kinh tế và khủng bố trắng do thực dân Pháp gây
ra thì mọi tầng lớp đều muốn có những cải cái dân chủ
Về chính trị: Đối với Đông Dương, Pháp cử phái đoàn sang điều tra tình
hình, cử Toàn quyền mới, ân xá tù chính trị, mở rộng quyền tự do báo chí …Có
Trang 12nhiều đảng phái chính trị: đảng cách mạng, đảng theo xu hướng cải lương,đảng phản động, nhưng Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng mạnh nhất, có
tổ chức chặt chẽ, chủ trương rõ ràng Năm 1935, Đảng Cộng sản Đông Dương
đã phục hồi tổ chức và có thể sẵn sàng lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranhsang một thời kỳ lịch sử mới
Hội Nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
(7/1936)
Trước những biến đổi của tình hình thế giới và Việt Nam thì Đảng Cộngsản Đông Dương với tư cách là một đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam bắtbuộc phải thay đổi đường lối đấu tranh:
Một là, về vấn đề chiến lược: vẫn giữ nguyên nhiệm vụ chống đế quốc,
chống phong kiến giành độc lập dân tộc và giành ruộng đất cho dân cày Tuynhiên, nhiệm vụ trực tiếp trước mắt có sự thay đổi, mà tạm thời chống phảnđộng thuộc địa ở Đông Dương, chống phát xít, nguy cơ chiến tranh, đòi tự do,dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Hai là, Để thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thành
lập mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương làm lực lượng Mặc
dù nhiệm vụ trước mắt là chống phản động thuộc địa, chống phát xít, chốngnguy cơ chiến tranh chứ chưa phải chống thực dân Pháp nói chung nhưng tênmặt trận lại là “phản đế” và “phản đế” có ảnh hưởng nhất định đến việc bộ tậphợp thêm một lực lượng ngoại kiều ở Đông Dương và đặc biệt ngoại kiềuPháp có xu hướng là chống phát xít Vì vậy đến năm 1938, Mặt trận đổi tên làMặt trận Dân chủ Đông Dương
Ba là, kết hợp các phương pháp đấu tranh đa dạng Kết hợp giữa hình thức
công khai, bí mật,hợp pháp và bất hợp pháp do có điều kiện chính trị thuận lợi.Những quyết định của Hội nghị VII năm 1936 chính là nguyên nhân trực tiếpdẫn tới sự bùng nổ của những cuộc vận động dân chủ 1936-1939 ở Việt Nam
Những phong trào tiêu biểu:
Trang 13Phong trào Đông Dương Đại hội (1936): Sau khi nhận được tin chính
quyền thực dân sẽ cử những phái đoàn sang Đông Dương để khảo sát tìnhhình nhằm sửa đổi chính sách cai trị, thì Đảng Cộng sản Đông Dương đã chủtrương nhân dân soạn thảo ra những bản yêu sách để tiến tới thành lập các Ủyban trù bị tiến lên thành lập Đông Dương Đại hội Khi Đại hội Đông Dươngphát triển, chính quyền thực dân nhận thấy không ổn nếu cứ để tiếp tục dânchủ như vậy, cho nên họ đã quyết định giải tán các Ủy ban trù bị và cấm cáccuộc hội họp và phong trào Đông Dương Đại hội kết thúc
Cuộc vận động đón phái viên và toàn quyền mới: Đầu năm 1937, nhân
dịp phái viên của chính phủ Pháp Gôđa (Godard) đi kinh lý Đông Dương vàBrêviê (Brévié) sang nhận chức toàn quyền Đông Dương, Đảng vận động haicuộc biểu dương lực lượng quần chúng dưới danh nghĩa “đón rước”, mít tinh,biểu tình, đưa đơn “dân nguyện”
Đấu tranh nghị trường: Đảng Cộng sản Đông Dương tìm cách đưa
người của mình vào các tổ chức, cơ quan hành chính của chủ nghĩa thực dân,
ví dụ như: Viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, Hộiđồng kinh tế lý tài Đông Dương Mục đích là để mở rộng tầm ảnh hưởng củahội và cũng là để phê phán những chính sách cai trị của thực dân
Đấu tranh báo chí: Thời kỳ này được coi là thời kỳ nở rộ của báo chí
Việt Nam, bở có rất nhiều tờ báo mới ra đời, ví dụ như: báo Nhành lúa; báoTiền phong… và có rất nhiều tác phẩm văn học ra đời để tố cáo hiện thực lúcnày: Tắt đèn, Lều chõng ( Ngô Tất Tố), Số đỏ ( Vũ Trọng Phụng)
Các cuộc bãi công của công nhân, mít tinh, biểu tình của nhân dân lao động (1/5/1938) Tiêu biểu là vào ngày 1/5/1938, quần chúng nhân dân ở Hà
Nội đã tổ chức một cuộc mít tinh ở khu nhà hát Đấu Xảo để kỷ niệm ngàyquốc tế lao động
Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
Về ý nghĩa:
Trang 14Thứ nhất , buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách,
tuy nhỏ nhưng cũng là động lực để người dân Việt Nam có thể tiếp tục đấutranh cho mục tiêu lâu dài Nhằm chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự
do, dân chủ, cơm áo, hòa bình Đảng nhận thức đầy đủ rằng, “những yêu sách
đó tự nó không phải là mục đích cuối cùng”, “bằng cái cách không thể nào thay đổi một cách căn bản trật tự xã hội cũ” Song muốn đi đến mục đích
cuối cùng, cách mạng phải vượt qua nhiều đường quanh co, từ thấp đến cao,giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Thứ hai, thông qua phong trào 1936-1939, quần chúng nhân dân đã được
tập hợp, giác ngộ, rèn luyện trở thành lực lượng chính trị thông qua thực tiễnđấu tranh Đây là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi cách mạng ViệtNam Hơn nữa, giúp cho uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng Tổchức Đảng được củng cố và phát triển Đến tháng 4-1938, Đảng có 1.597đảng viên hoạt động bí mật và hơn 200 đảng viên hoạt động công khai Số hộiviên trong các tổ chức quần chúng công nhân, nông dân, phụ nữ, học sinh,cứu tế là 35.009 người
Thứ ba, Đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục được rèn luyện và trưởng
thành Đảng tích lũy được nhiều kinh nghiệm mới, giải quyết mối quan hệgiữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu chiến lược; xây dựng một mặt trận thốngnhất rộng rãi phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị; phân hóa và cô lập
kẻ thù nguy hiểm nhất và kết hợp các hình thức tổ chức, phương pháp đấu
tranh khác nhau trên mọi mặt trận Thực tiễn phong trào chỉ ra rằng: “ Việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần chúng”
Về bài học kinh nghiệm:
Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý cho các phong trào đấu tranh thời
kỳ sau: Việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược; việc
tổ chức quần chúng nhân dân đấu tranh công khai, xác định nhiệm vụ của mặttrận