MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 I. Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 321930 2 1. Hoàn cảnh ra đời 2 2. Nội dung bản Cương lĩnh chính trị 3 II. Đối chiếu với Luận cương chính trị tháng 101930 6 1. Điểm giống nhau 6 2. Điểm khác nhau 7 3. Nhận xét 9 III. Giá trị bản Cương lĩnh chính trị 10 1. Đối với bối cảnh VN lúc bấy giờ 11 1.1 Giá trị lý luận 11 1.2 Giá trị thực tiễn 12 2. Đối với bối cảnh đất nước hiện nay 14 KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 LỜI MỞ ĐẦU Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 321930 đã thể hiện một bước tiến lớn đối với Cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, để đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục đi lên giành được thắng lợi cần phải có đường lối, chiến lược cụ thể. Chính vì thế, Đảng ta đã nhất trí thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được gọi chung thành “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng”. Cương lĩnh ấy đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được coi là văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cả Điều lệ Đảng. Vậy Cương lĩnh cụ thể có nội dung và giá trị to lớn thế nào đối với tiến trình cách mạng Việt Nam? Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề này, nhóm chúng em muốn nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện và đầy đủ về vấn đề này. Do đó, chúng em chọn “Nội dung, giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng” làm đề tài tiểu luận của nhóm mình. 1 I.Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 321930 1.Hoàn cảnh ra đời Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được đề ra tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước có ý nghĩa như Đại hội để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì, cùng với sự tham dự chính thức của hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (61929); hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (101929) và một số đồng chí Việt Nam hoạt động ngoài nước. Hội nghị họp bí mật ở nhiều địa điểm khác nhau trên bán đảo Cửu Long (Hương Cảng), từ ngày 61 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, đã thảo luận quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhất trí thông qua 7 tài liệu, văn kiện, trong đó có 4 văn bản hợp thành nội dung Cương lĩnh chính trị của Đảng (“Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,” n.d.): Chính cương vắn tắt của Đảng Sách lược vắn tắt của Đảng Chương trình tóm tắt của Đảng Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tấ cả các tài liệu, văn kiện nói trên đều do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế Cộng sản; nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước, tình hình cách mạng thế giới và Đông Dương. Dù là vắn tắt, tóm tắt, song nội dung các tài liệu, văn kiện chủ yếu của Hội nghị được sắp xếp theo một logic hợp lý của một Cương lĩnh chính trị của Đảng. Trong Chính cương của Đảng đã nêu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Mục tiêu trước mắt về xã hội làm cho nhân dân được tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục cho dân chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ, quân đội của nhân dân (công, nông, binh); về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc giao chính phủ nhân dân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ. Những mục tiêu đó phù hợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Sách lược của Đảng nêu rõ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, thu phục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông; tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi đế quốc, đánh đuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, người cày có ruộng. Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu chính xác tên Đảng, tôn chỉ của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương. Toàn bộ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đó là của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng Mác – Lênin. 2.Nội dung bản Cương lĩnh chính trị Trong các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, có hai văn kiện, đó là: Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, hai văn kiện trên là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam: Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, đi đến xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản. Xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu. Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: Dân chúng được tự do tổ chức. Nam nữ bình quyền, v.v… Phổ thông giáo dục theo công nông hoá. Về phương diện kinh tế, Cương lĩnh xác định: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ (“Giá trị to lớn của Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng,” n.d.). Những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện xã hội và phương diện kinh tế nêu trên vừa phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội, cần được giải quyết ở Việt Nam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận gốc ách thống trị, bóc lột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đặc biệt là giải phóng cho hai giai cấp công nhân và nông dân. Xác định lực lượng cách mạng: phải đoàn kết công nhân, nông dân đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Do vậy, Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, “phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày… hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”. Đây là cơ sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam. Xác định phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh khẳng định phải bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được thoả hiệp “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”. Có sách lược đấu tranh cách mạng thích hợp để lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, nhưng kiên quyết: “bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ” Xác định tinh thần đoàn kết quốc tế, Cương lĩnh chỉ rõ trong khi thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp. Cương lĩnh nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới: “trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Như vậy, ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. Xác định vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”. “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra. Như vậy, trước yêu cầu của lịch sử cách mạng Việt Nam cần phải thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, chấm dứt sự chia rẽ bất lợi cho cách mạng, với uy tín chính trị và phương thức hợp nhất phù hợp, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì hợp nhất các tổ chức cộng sản. Những văn kiện được thông qua trong Hội nghị hợp nhất dù “vắt tắt”, nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới AI.Đối chiếu với Luận cương chính trị tháng 101930 1.Điểm giống nhau Về phương hướng chiến lược của cách mạng: Cả hai văn kiện đều xác định được tính chất của cách mạng Việt Nam là Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản. Về nhiệm vụ cách mạng: Chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lập dân tộc. Về lực lượng cách mạng: Chủ yếu là công nhân và nông dân hai lực lượng nòng cốt và cơ bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc nước ta. Về phương pháp cách mạng: Sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông. Tuyệt đối không đi vào con đường thỏa hiệp. Về vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách mạng thế giới đã thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. 2. Điểm khác nhau STT Tiêu chí CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ 1 Phạm vi Cương lĩnh chính trị xây dựng Luận cương chính trị xây dựng đường lối của cách mạng Việt đường lối cách mạng cho Việt Nam Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung. 2 Tính chất xã Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc Xã hội Đông Dương gồm hai hội địa nửa phong kiến, bao gồm mâu thuẫn dân tộc và giai cấp, hai mâu thuẫn: trong đó mâu thuẫn giai cấp là Mâu thuẫn giữa toàn thể dân cơ bản nhất. tộc Việt Nam với đế quốc Pháp (mâu thuẫn cơ bản nhất, gay gắt nhất). Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động (chủ yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến. 3 Tính chất Cách mạng trải qua hai giai Cách mạng Đông Dương lúc cách mạng đoạn: Cách mạng tư sản dân đầu là cách mạng tư sản dân quyền và Cách mạng thổ địa để quyền, sau khi thắng lợi tiến lên tiến lên chủ nghĩa cộng sản. XHCN không qua giai đoạn phát triển TBCN. 4 Xác định kẻ Cương lĩnh chính trị xác định Luận cương chính trị xác định thù và nhiệm kẻ thù, nhiệm vụ của cách kẻ thù là Đế quốc và phong vụ, mục tiêu mạng là đánh đổ giặc Pháp sau kiến. Luận cương chưa xác định cách mạng đó mới đánh đổ phong kiến và được kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu 5 tay sai phản cách mạng. Cương ở một nước thuộc địa nửa lĩnh đã xác định rõ kẻ thù phong kiến nên không nêu cao không phải toàn bộ là phong vấn đề dân tộc lên hàng đầu đó kiến và tư sản. là nêu cao vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề cách mạng ruộng đất. Luận cương không phân biệt rõ trong hàng ngũ giai cấp phong kiến còn có bộ phận tiến bộ. Nhiệm vụ Mục tiêu của cương lĩnh: Làm Luận cương chính trị xác định cách mạng cho Việt Nam hoàn toàn độc phải tranh đấu để đánh đổ các di lập, nhân dân được tự do, dân tích phong kiến, đánh đổ các chủ, bình đẳng, tịch thu ruộng cách bóc lột theo lối tiền tư bản đất của bọn đế quốc Việt gian và để thực hành thổ địa cách chia cho dân cày nghèo, thành mạng cho triệt để; đánh đổ đế lập chính phủ công nông binh quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho và tổ chức cho quân đội công Đông Dương hoàn toàn độc lập. nông, thì hành chính sách tự do dân chủ bình đẳng phổ thông giáo dục theo hướng công nông hoá. Đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam độc lập. Dựng lên chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp của đế quốc, tịch thu ruộng đất,… chia cho dân nghèo, tiến hành cải cách ruộng đất. 6 Vai trò lãnh Giai cấp công nhân thông qua Giai cấp vô sản với đội tiên đạo đội tiên phong là Đảng Cộng phong là Đảng Cộng sản Đông sản Việt Nam Dương 7 Lực lượng Cương lĩnh chính trị xác định Luận cương chính trị xác định cách mạng lực lượng cách mạng là giai cấp giai cấp vô sản và nông dân là công nhân và nông dân nhưng hai động lực chính của cách bên cạnh đó cũng phải liên mạng tư sản dân quyền, trong minh đoàn kết với tiểu tư sản, đó giai cấp vô sản là động lực lợi dụng hoặc trung lập phú chính và mạnh, là giai cấp lãnh nông, trung nông, tiểu địa chủ. đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảo nhất, là một động lực mạnh của cách mạng (LuatMinhKhue.vn, 2022). 3.Nhận xét Về phương pháp cách mạng và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và thế giới, cả Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị 101930 đều xác định giống nhau. Với Luận cương chính trị thì xác định giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính của cách mạng mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảo nhất, là một động lực mạnh của cách mạng, còn những giai cấp và tầng lớp khác ngoài công nông như tư sản thương nghiệp thì đứng về phía đế quốc chống cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Vậy nên hạn chế lớn nhất của Luận cương chính trị 101930 chưa vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của 1 xã hội thuộc địa nên không nêu cao được vấn đề dân tộc lên hàng đầu mà nặng về vấn đề đấu tranh giai cấp, chưa xác định được mâu thuẫn dân tộc hay mâu thuẫn giai cấp là chủ yếu, kẻ thù nào là chủ yếu. Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, trung và tiểu địa chủ…. và khả năng liên minh với giai cấp tư sản dân tộc; không thấy được khả năng phân hóa và lôi kéo 1 bộ phận giai cấp địa chủ trong cách mạng giải phóng dân tộc. Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên thể hiện ở việc xác định đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, xác định đúng lực lượng và kẻ thù cách mạng, Như vậy, ngoài việc xác định lực lượng nòng cốt của cách mạng là giai cấp công nhân thì cương lĩnh cũng phát huy được sức mạnh của cả khối đoàn kết dân tộc, hướng vào nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc. Đây là 1 cương lĩnh cách giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo của Đảng đã soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do. Nhìn chung, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đúng đắn và hoàn thiện hơn so với Luận cương. Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn liền mạch hơn khi chỉ rõ được mâu thuẫn cấp thiết nhất. Còn Trần Phú tuy khởi thảo chi tiết hơn nhưng chỉ tập trung vào vấn đề giai cấp. Cả hai văn kiên tuy có nhiều điểm khác biệt, song, đều đóng vai trò rất lớn. Đó là sự chuẩn bị tất yếu. Có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta. Đồng thời, là nền tảng cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện lí luận, tư tưởng ngày nay. BI.Giá trị bản Cương lĩnh chính trị Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa phong kiến. Đó chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng (“GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM Khoa Lý luận cơ sở,” n.d.). Nội dung được đề cập trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích những vấn đề cơ bản có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, thể hiện sự đúng đắn của Đảng trong đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa phong kiến ở Việt Nam, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trong xã hội. Từ đó, xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam; xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra. 1. Đối với bối cảnh VN lúc bấy giờ 1.1 Giá trị lý luận Cương lĩnh chính trị đầu tiên là sự đột phá và sáng tạo về mặt lý luận trong việc xác lập con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, phát triển đất nước. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta Đảng của giai cấp công nhân không ngừng củng cố và tăng cường. Chính vì vậy, con đường cách mạng vô sản mà Cương lĩnh đã khẳng định là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ năm 1930. Trong bối cảnh những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã lựa chọn: Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta. (“Giá trị lý luận và thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,” n.d.) Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua, đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra. Những nội dung cơ bản ấy đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận cách mạng thế giới mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến; đồng thời, bao hàm sự phát triển sáng tạo lý luận hết sức độc đáo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc ở một nước thuộc địa. Đó chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: Kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; Kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; Đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, đặc điểm thực tiễn, yêu cầu của cách mạng Việt Nam với tư tưởng tiên tiến cách mạng của thời đại. 1.2 Giá trị thực tiễn Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt 90 thập kỷ qua, dân tộc Việt Nam đã giành những thắng lợi vĩ đại, tạo nên những kỳ tích làm thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Khi đánh giá quá trình cách mạng Việt Nam hơn 80 năm thực hiện Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhận định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.” Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, những luận điểm đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên vừa đặt nền móng rất cơ bản và toàn diện, vừa tạo sự khởi đầu cho quá trình bổ sung phát triển đường lối chiến lược và sách lược, cho sức sáng tạo phương pháp lãnh đạo và cách thức tiến hành cách mạng trên các chặng đường hoạt động của Đảng, là dấu mốc xuất phát của tiến trình Đảng không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====***=====
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI:
NỘI DUNG, GIÁ TRỊ CỦA CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ
ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 3/2/1930 2
1 Hoàn cảnh ra đời 2
2 Nội dung bản Cương lĩnh chính trị 3
II Đối chiếu với Luận cương chính trị tháng 10/1930 6
1 Điểm giống nhau 6
2 Điểm khác nhau 7
3 Nhận xét 9
III Giá trị bản Cương lĩnh chính trị 10
1 Đối với bối cảnh VN lúc bấy giờ 11
1.1 Giá trị lý luận 11
1.2 Giá trị thực tiễn 12
2 Đối với bối cảnh đất nước hiện nay 14
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 đã thể hiện một bước tiến lớn đốivới Cách mạng Việt Nam Bởi vậy, để đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục đi lên giànhđược thắng lợi cần phải có đường lối, chiến lược cụ thể Chính vì thế, Đảng ta đã nhất tríthông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình tóm tắtcủa Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được gọi chung thành “Cương lĩnh đầu tiêncủa Đảng” Cương lĩnh ấy đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đườngcách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thànhngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng vàtoàn thể dân tộc Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam được coi làvăn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên
cả Điều lệ Đảng Vậy Cương lĩnh cụ thể có nội dung và giá trị to lớn thế nào đối với tiếntrình cách mạng Việt Nam?
Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề này, nhóm chúng em muốn nghiêncứu một cách cụ thể, toàn diện và đầy đủ về vấn đề này Do đó, chúng em chọn “Nội dung,giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng” làm đề tài tiểu luận của nhóm mình
1
Trang 4I Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 3/2/1930
- Chính cương vắn tắt của Đảng
- Sách lược vắn tắt của Đảng
- Chương trình tóm tắt của Đảng
- Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tấ cả các tài liệu, văn kiện nói trên đều do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo dựa trên cơ
sở vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối Đại hội VI (1928) của Quốc tế Cộng sản;nghiên cứu các Cương lĩnh chính trị của những tổ chức cộng sản trong nước, tình hìnhcách mạng thế giới và Đông Dương Dù là vắn tắt, tóm tắt, song nội dung các tài liệu, vănkiện chủ yếu của Hội nghị được sắp xếp theo một logic hợp lý của một Cương lĩnh chínhtrị của Đảng
Trong Chính cương của Đảng đã nêu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng vàthổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng vàcách mạng Việt Nam Mục tiêu trước mắt về xã hội làm cho nhân dân được tự do hội họp,nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục cho dân chúng; về chính trị đánh đổ đế quốc chủnghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ,quân đội của nhân dân (công, nông, binh); về kinh tế là xóa bỏ các thứ quốc trái,
Trang 5bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc giao chính phủ nhândân quản lý, thu hết ruộng đất chiếm đoạt của đế quốc làm của công chia cho dân càynghèo, phát triển công, nông nghiệp và thực hiện lao động 8 giờ Những mục tiêu đó phùhợp với lợi ích cơ bản của dân tộc, nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta.
Sách lược của Đảng nêu rõ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, thuphục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông;tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị ápbức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi đế quốc, đánhđuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, ngườicày có ruộng
Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu chính xác tênĐảng, tôn chỉ của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khubộ; tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương
Toàn bộ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộcdân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đó là của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam – Đảng Mác – Lênin
2 Nội dung bản Cương lĩnh chính trị
Trong các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hộinghị thành lập Đảng, có hai văn kiện, đó là: Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lượcvắn tắt của Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản vềchiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam Vì vậy, hai văn kiện trên là Cương lĩnhchính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam:
Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam - một xã hội thuộc địa nửaphong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nông dân với đế quốcngày càng gay gắt cần phải giải quyết, đi đến xác định đường lối chiến lược của cách
Trang 6mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đitới xã hội cộng sản” Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiêncủa Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cáchmạng vô sản.
Xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”.Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản đểgiành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độclập cho dân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu
Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ:
- Dân chúng được tự do tổ chức
- Nam nữ bình quyền, v.v…
- Phổ thông giáo dục theo công nông hoá
Về phương diện kinh tế, Cương lĩnh xác định: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; thâu
hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủnghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; thâu hết ruộng đất của đếquốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo;
mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ (“Giá trị to lớn củaCương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng,” n.d.)
Những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện xã hội và phương diệnkinh tế nêu trên vừa phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội, cần được giải quyết ở ViệtNam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận gốc ách thống trị, bóclột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xãhội, đặc biệt là giải phóng cho hai giai cấp công nhân và nông dân
Xác định lực lượng cách mạng: phải đoàn kết công nhân, nông dân - đây là lực
lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả cácgiai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai Do vậy,
Trang 7Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, “phải thu phục cho được đại bộphận dân cày… hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi vào phe
vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõmặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập” Đây là cơ sởcủa tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi cácgiai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên cơ sởđánh giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam
Xác định phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh
khẳng định phải bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bất cứ hoàncảnh nào cũng không được thoả hiệp “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của côngnông mà đi vào đường thoả hiệp” Có sách lược đấu tranh cách mạng thích hợp để lôi kéotiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, nhưng kiên quyết: “bộ phận nào
đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”
Xác định tinh thần đoàn kết quốc tế, Cương lĩnh chỉ rõ trong khi thực hiện
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị
áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp Cương lĩnh nêu rõ cáchmạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới:
“trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền
và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới” Như vậy, ngay từkhi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chấtquốc tế của giai cấp công nhân
Xác định vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp
phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạođược dân chúng” “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giaicấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm
cơ bản của cách mạng Việt Nam Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng
Trang 8tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trongnhững năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc ViệtNam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối vớinhiệm vụ giải phóng dân tộc Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sáchcủa cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng
và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra
Như vậy, trước yêu cầu của lịch sử cách mạng Việt Nam cần phải thống nhất các
tổ chức cộng sản trong nước, chấm dứt sự chia rẽ bất lợi cho cách mạng, với uy tín chínhtrị và phương thức hợp nhất phù hợp, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì hợpnhất các tổ chức cộng sản Những văn kiện được thông qua trong Hội nghị hợp nhất dù
“vắt tắt”, nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạngViệt Nam, đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới
II Đối chiếu với Luận cương chính trị tháng 10/1930
1 Điểm giống nhau
Về phương hướng chiến lược của cách mạng: Cả hai văn kiện đều xác định được
tính chất của cách mạng Việt Nam là Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng,
bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản
Về nhiệm vụ cách mạng: Chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và
giành độc lập dân tộc
Về lực lượng cách mạng: Chủ yếu là công nhân và nông dân - hai lực lượng nòng
cốt và cơ bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộcnước ta
Về phương pháp cách mạng: Sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt
Nam cả về chính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ
đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông Tuyệt đối không đi vào conđường thỏa hiệp
Trang 9Về vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách mạng
thế giới đã thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình
Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 Điểm khác nhau
STT Tiêu chí CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ
1 Phạm vi Cương lĩnh chính trị xây dựng Luận cương chính trị xây dựng
đường lối của cách mạng Việt đường lối cách mạng cho ViệtNam Nam nói riêng và các nước
Đông Dương nói chung
2 Tính chất xã Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc Xã hội Đông Dương gồm hai
hội địa nửa phong kiến, bao gồm mâu thuẫn dân tộc và giai cấp,
hai mâu thuẫn: trong đó mâu thuẫn giai cấp là
- Mâu thuẫn giữa toàn thể dân cơ bản nhất
tộc Việt Nam với đế quốc Pháp(mâu thuẫn cơ bản nhất, gay gắtnhất)
- Mâu thuẫn giữa nhân dân laođộng (chủ yếu là nông dân) vớiđịa chủ phong kiến
3 Tính chất Cách mạng trải qua hai giai Cách mạng Đông Dương lúc
cách mạng đoạn: Cách mạng tư sản dân đầu là cách mạng tư sản dân
quyền và Cách mạng thổ địa để quyền, sau khi thắng lợi tiến lêntiến lên chủ nghĩa cộng sản XHCN không qua giai đoạn
phát triển TBCN
4 Xác định kẻ Cương lĩnh chính trị xác định Luận cương chính trị xác định
thù và nhiệm kẻ thù, nhiệm vụ của cách kẻ thù là Đế quốc và phong
vụ, mục tiêu mạng là đánh đổ giặc Pháp sau kiến Luận cương chưa xác địnhcách mạng đó mới đánh đổ phong kiến và được kẻ thù, nhiệm vụ hàng đầu
Trang 10tay sai phản cách mạng Cương ở một nước thuộc địa nửalĩnh đã xác định rõ kẻ thù phong kiến nên không nêu caokhông phải toàn bộ là phong vấn đề dân tộc lên hàng đầu đókiến và tư sản là nêu cao vấn đề đấu tranh giai
cấp, vấn đề cách mạng ruộngđất Luận cương không phânbiệt rõ trong hàng ngũ giai cấpphong kiến còn có bộ phận tiếnbộ
Nhiệm vụ Mục tiêu của cương lĩnh: Làm Luận cương chính trị xác địnhcách mạng cho Việt Nam hoàn toàn độc phải tranh đấu để đánh đổ các di
lập, nhân dân được tự do, dân tích phong kiến, đánh đổ cácchủ, bình đẳng, tịch thu ruộng cách bóc lột theo lối tiền tư bảnđất của bọn đế quốc Việt gian và để thực hành thổ địa cáchchia cho dân cày nghèo, thành mạng cho triệt để; đánh đổ đếlập chính phủ công nông binh quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho
và tổ chức cho quân đội công Đông Dương hoàn toàn độc lập.nông, thì hành chính sách tự do
dân chủ bình đẳng phổ thônggiáo dục theo hướng công nônghoá
Đánh đổ đế quốc Pháp, bọnphong kiến và tư sản phản cáchmạng, làm cho nước Việt Namđộc lập Dựng lên chính phủcông nông binh, tổ chức ra quânđội công nông, tịch thu hết sảnnghiệp của đế quốc, tịch thu
Trang 11ruộng đất,… chia cho dânnghèo, tiến hành cải cách ruộngđất.
6 Vai trò lãnh Giai cấp công nhân thông qua Giai cấp vô sản với đội tiênđạo đội tiên phong là Đảng Cộng phong là Đảng Cộng sản Đông
sản Việt Nam Dương
7 Lực lượng Cương lĩnh chính trị xác định Luận cương chính trị xác địnhcách mạng lực lượng cách mạng là giai cấp giai cấp vô sản và nông dân là
công nhân và nông dân nhưng hai động lực chính của cáchbên cạnh đó cũng phải liên mạng tư sản dân quyền, trongminh đoàn kết với tiểu tư sản, đó giai cấp vô sản là động lựclợi dụng hoặc trung lập phú chính và mạnh, là giai cấp lãnhnông, trung nông, tiểu địa chủ đạo cách mạng, nông dân có số
lượng đông đảo nhất, là mộtđộng lực mạnh của cách mạng(LuatMinhKhue.vn, 2022)
3 Nhận xét
Về phương pháp cách mạng và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và thế giới,
cả Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương chính trị 10/1930 đều xác định giống nhau
Với Luận cương chính trị thì xác định giai cấp vô sản và nông dân là hai động lựcchính của cách mạng mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính vàmạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảo nhất, là một động lựcmạnh của cách mạng, còn những giai cấp và tầng lớp khác ngoài công nông như tư sảnthương nghiệp thì đứng về phía đế quốc chống cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng
về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc
Vậy nên hạn chế lớn nhất của Luận cương chính trị 10/1930 chưa vạch rõ được mâuthuẫn chủ yếu của 1 xã hội thuộc địa nên không nêu cao được vấn đề dân tộc lên hàng đầu