Phần mở đầu Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp. Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, với mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Vì vậy, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Tinh thần yêu nước đã trở thành truyền thống đấu tranh bất khuất trong lịch sử dân tộc, có vai trò hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong các phong trào cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc đã bắt đầu. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh với mục tiêu giành lại nền độc lập dân tộc. Đó là cuộc chiến đấu của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực... Đó là các cuộc khởi nghĩa theo tiếng gọi Cần Vương của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng... Những cuộc đấu tranh vô cùng oanh liệt đó của Nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị đàn áp tàn bạo và thất bại. Mặc dù bị đàn áp dã man nhưng các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các phong trào đó đã không đi đến thành công. Phong trào nông dân không giải quyết được mâu thuẫn giữa địa chủ, phong kiến và nông dân, nhân dân lao động nói chung. Phong trào yêu nước muốn phát triển đất nước theo chiều hướng tư sản và tiểu tư sản không giải quyết được mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân đang phát triển ngày càng mạnh với giai cấp tư sản mà chủ yếu là tư sản Pháp; do đó, cũng không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, không tranh thủ được sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới đang dâng lên mạnh mẽ. Bài học rút ra ở đây là phải có một tổ chức đủ sức lãnh đạo quần chúng nhân dân đi tới thắng lợi. Đó chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. 3 Phần nội dung I. Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng ra đời 1. Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước. Với truyền thống đoàn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Từ đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâm lược nước ta, mở đầu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo. Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta. Vua quan triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng chúng. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Từ đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Dưới chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Về chính trị thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn. Chúng thi hành chính sách chia để trị. Chúng chia rẽ giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới. Đánh giá về chính sách này, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết: Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn chia để trị của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia nǎm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một Liên bang gọi là Liên bang Đông Dương... Về kinh tế tư bản Pháp không phát triển công nghiệp ở nước ta, mà chỉ mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp. Chính sách độc quyền kinh tế Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường của chính quốc, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ mạt. Bên cạnh sự bóc lột nhân công và cướp đoạt tài nguyên, đất đai, bọn thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến để giúp chúng bóc lột địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề. Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến địa chủ chưa được giải quyết, thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc 4 Pháp thống trị và phong kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng của nhân dân ta. Đánh giá về hiện tượng xã hội nói trên, đồng chí Nguyễn ái Quốc viết: Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của tư bản Pháp trùm lên phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đã làm phân hoá các giai cấp cũ, tạo ra kết cấu giai cấp mới. 2. Giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hoá, giai cấp công nhân ra đời Giai cấp địa chủ phong kiến trong những thế kỷ trước đã từng giữ vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử. Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế quốc Pháp thì bản thân giai cấp này cũng bị phân hóa. Một bộ phận can tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp để duy trì quyền lợi của bản thân, một bộ phận không ít tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xướng và lãnh đạo các phong trào Vǎn thân, Cần vương chống đế quốc Pháp xâm lược, khôi phục triều đình phong kiến. Một số trở thành những lãnh tụ của phong trào quần chúng nông dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp, vừa chống lại triều đình bán nước. Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (19141918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận. Một số ít ôm chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản. Một bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triều đình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng chính trị cải lương. Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh đạo cách mạng. Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định. Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến và thực dân đào tạo. Nhưng do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập, tự do, dân chủ, nên cũng bị phân hoá. Một số ít cam tâm làm tay sai. Số đồng vẫn giữ được khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước. Khi có điều kiện, những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế quốc và phong kiến. Sau phong trào Vǎn thân, Cần vương, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên thế (1913), phong trào nông dân bị phân tán. Nông dân là một lực lượng 5 đông đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đôn trại và thành phố phục vụ cho cuộc xâm lược và binh định nước ta. Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (19141918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn người và trình độ còn thấp. Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (19241929), số lượng công nhân chuyên nghiệp đã có 22 vạn người, chiếm 1,2% số dân. Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước nǎm 1930 có đến hàng triệu người. Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nông dân. Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng. 3. Giai đoạn khủng hoảng đường lối giải phóng dân tộc Năm 1958, liên quân Pháp Tây Ban Nha đổ bộ tấn công Sài Gòn, sau đó mở rộng xâm lược Đại Nam. Đầu tiên tại vùng Đông Nam Bộ, sau đó củng cố vị trí tại Nam Kỳ và xâm chiếm miền toàn bộ miền Bắc hậu chiến tranh Pháp Thanh. Chính phủ Pháp sau đó tuyên bố bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời duy trì chính quyền phong kiến bù nhìn cho tới thời vua Bảo Đại. Đại Nam chính thức mất đi độc lập, trở thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến và bị chia cắt thành 3 miền sau khi nhà Nguyễn kí Hòa ước Giáp Thân năm 1884. Tuy vậy, phái chủ chiến trên khắp cả nước tại triều đình và địa phương vẫn mưu khôi phục, xây dựng lực lượng nhằm lấy lại độc lập. Sự chia rẽ giai cấp và mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, giữa địa chủ và phong kiến, giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản trong suốt những năm tiếp theo. Một số phong trào lớn có thể kể tới như: Phong trào Cần Vương (18851896) nhằm khôi phục ngôi vua, khởi nghĩa nông dân Yên Thế (18841913), phong trào Đông Du (19061908) theo thiên hướng bạo động, phong trào Duy Tân (19061908) theo thiên hướng cải lương, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm nâng cao dân trí, các phong trào yêu nước dân chủ công khai, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, phong trào cách mạng quốc gia tư sản, phong trào quốc gia cải lương của tầng lớp tiểu tư sản thành thị và địa chủ lớp trên. 6 Phong trào Cần Vương dần bị đàn áp bởi ưu thế về hoả lực của Pháp do các cuộc khởi nghĩa diễn ra ở các vùng đồng bằng (Ba Đình, Nghệ An, Bình Định, Thái Bình,..). Sau các thất bại liên tiếp, vua Hàm Nghi bị bắt năm 1888, Tống Duy Tân bị bắt năm 1892, căn cứ tại Bãi Sậy tan rã, Đốc Ngữ bị sát hại tại vùng núi phía Bắc, Phan Đình Phùng hi sinh năm 1895, phong trào Cần Vương suy yếu và tan rã, trở thành phong trào giải phóng dân tộc theo ý thức hệ phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Trong giai đoạn 1858 trước 1930, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh chống Pháp anh dũng, bất khuất đã nổ ra nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại, các lãnh đạo bị xử chém. Tồn tại ở nhiều hình thức, tư tưởng, mục đích khác nhau tuy nhiên điểm chung là chúng chưa phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại. Cách mạng nước ta đứng trước khủng hoảng, bế tắc đường lối nghiêm trọng và yêu cầu cấp thiết là tìm được một đường lối đấu tranh đúng đắn, phù hợp với thực tiễn bấy giờ. II. Các phong trào yêu nước 1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến Ngay từ cuối thế kỷ XIX , khi triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) đầu hàng thực dân Pháp song phong trào chống thực dân Pháp vẫn diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương (18851896) một phong trào đấu tranh vũ trang do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, phong trào chia làm hai giai đoạn : Giai đoạn một (18851888): Đây là giai đoạn phong trào Cần Vương đặt dưới sự chỉ huy tương đối thống nhất của triều đình . Mở đầu là các cuộc nổi dậy của Văn Thân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thái Bình, Nam Định… nên thời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc và Trung Bộ. Khi vua Hàm Nghi bị bắt ngày 1111888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX và có xu hướng ngày càng đi vào chiều sâu. Giai đoạn hai (18881896): Phong trào Cần Vương không còn đặt dưới sự lãnh đạo của triều đình kháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quy tụ xung quanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình (18811887) do Đốc học 7 Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mở Thịnh, Thượng Thọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Pháp kiên cố. Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và sự giúp đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng trăm tên. Ngoài việc xây dựng và bảo vệ căn cứ, nghĩa quân Ba Đình còn tổ chức các cuộc phục kích, chặn đánh các đoàn xe địch và tập kích tiêu diệt các toán quân của giặc đi lẻ. Trước sự phát triển lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng lớn quân lính đàn áp nghĩa quân. Tuy chiến đấu dũng cảm nhưng do lực lượng quá chênh lệch, cuối cùng khởi nghĩa đã thất bại, căn cứ Ba Đình vỡ, một bộ phận nghĩa quân rút lên rừng núi gia nhập các toán nghĩa binh khác. Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập cho lịch sử đặt ra và từ đây phong trào cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. 2.Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản Đầu thế kỷ XIX, châu Á thức tỉnh: Phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ…mang một nội dung mới đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kết hợp với đấu tranh giành quyền dân chủ ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX. Trước những yêu cầu mới của lịch sử, những phần tử ưu tú trong trong hàng ngũ trí thức phong kiến đã nhận thấy “quan niệm trung quân ái quốc” thời kỳ Cần Vương không có tác dụng tập hợp nhân dân nữa đúng lúc đó, các tân thư, tân báo của Trung Quốc dội vào nước ta, đáng kể nhất là các tác phẩm, ẩm băng Thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến, Tân dần tuần báo…của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi cũng giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương tây. Dưới lăng kính của tư tưởng lập hiến, các trào lưu tư tưởng đó đã cổ vũ, hướng họ theo lý tưởng của cuộc cách mạng Pháp năm 1789, cuộc vận động Duy Tân năm 1898 và cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ lập hiến chuyển sang tư tưởng cộng hoà. Mặt khác, công cuộc xây dựng đất nước thành công của tư bản Nhật càng củng cố niềm tin của các sỹ phu yêu nước vào con đường cách mạng tư sản. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các phong trào: Phan Bội Châu, phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân. Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu Phan Bội Châu đã kiên trì giành độc lập bằng con đường bạo lực. Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX, ông đã chuẩn bị công cuộc bạo động đánh Pháp. Tuy nhiên, như ông nói: “Là một người trong tay không có một miếng sắt , trên mặt đất không có lấy một chỗ đứng chân, chẳng qua chỉ là một thằng tay không chân trắng , tài hèn sức yếu, mà lại đòi vật lộn 8 với hùm beo có nanh dài vuốt nhọn” và: “ Đến nỗi này tôi không thể nào không sang con đường bạo động. Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu tình thế buộc phải tự sát thì thà rằng xoay ra bạo động, thà chết còn hơn. Nếu bạo động thì may ra trông được có chỗ thành công trong muôn một. Huống gì tôi đã suy đi tính lại, lúc này bỏ sự bạo động ra thì không còn việc gì đáng làm nữa”. Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Vào tháng 51904, Phan Bội Châu, Cường Để và trên hai mươi đồng chí họp tại nhà riêng của ông. Nguyễn Hàm bí mật lập ra Duy Tân hội, mục đích của hội là “cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác”. Ông tổ chức phong trào Đông Du (19061908), tức phong trào đi du học ở phương tây và ông cho rằng nên cầu viện Nhật Bản là nước đồng Văn, đồng chủng. Những người du học sinh được đào tạo về văn hoá và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước. Phong trào Đông Du ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp một mặt tiến hành khủng bố, mặt khác tiến hành cấu kết với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam ra khỏi nước Nhật trong đó có cả Phan Bội Châu. Phan Bội Châu nhận thấy được bản chất của chủ nghĩa thực dân chúng đều như nhau, đều đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân. Chủ trương dựa vào Nhật đánh Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời cơ. Giữa lúc đó cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam quang phục hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc nhưng cuối cùng cũng thất bại. Phong trào Duy Tân (19061908), được Phan Chu Trinh và một số sĩ phu yêu nước chủ trương tiến hành trong lúc phong trào Đông Du, những hoạt động của Duy Tân Hội diễn ra sôi nổi. Phan Chu Trinh kịch liệt lên án bọn vua quan phong kiến thối nát, tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ Tư Sản với các yêu cầu, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, hô hào mở mang trường học, phát triển công thương nghiệp, cải cách phong tục, chống lề thói phong kiến cổ hủ, xem đó là điều kiện để giải phóng dân tộc: “Không cần hô hào để đánh Pháp chỉ cần đề xướng dân quyền , dân đã giác ngộ quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần mưu tính những việc khác Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản ở Việt Nam. Tuy nhiên, cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH TẠI VIỆT
NAM TRƯỚC KHI ĐẢNG RA ĐỜI
1
Trang 22
Trang 3Phần mở đầu
Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến Trong
xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, với mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu Vì vậy, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ
Tinh thần yêu nước đã trở thành truyền thống đấu tranh bất khuất trong lịch sử dân tộc, có vai trò hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong các phong trào cách mạng Việt Nam Ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo
vệ nền độc lập dân tộc đã bắt đầu Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh với mục tiêu giành lại nền độc lập dân tộc Đó
là cuộc chiến đấu của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực
Đó là các cuộc khởi nghĩa theo tiếng gọi "Cần Vương" của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng Những cuộc đấu tranh vô cùng oanh liệt đó của Nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị đàn áp tàn bạo và thất bại Mặc dù bị đàn áp dã man nhưng các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ
Tuy nhiên, các phong trào đó đã không đi đến thành công Phong trào nông dân không giải quyết được mâu thuẫn giữa địa chủ, phong kiến và nông dân, nhân dân lao động nói chung Phong trào yêu nước muốn phát triển đất nước theo chiều hướng tư sản và tiểu tư sản không giải quyết được mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân đang phát triển ngày càng mạnh với giai cấp tư sản mà chủ yếu là tư sản Pháp; do đó, cũng không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, không tranh thủ được sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới đang dâng lên mạnh mẽ Bài học rút ra ở đây là phải có một tổ chức đủ sức lãnh đạo quần chúng nhân dân đi tới thắng lợi Đó chính là Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 4Phần nội dung
I Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng ra đời
1 Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa
Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước Với truyền thống đoàn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh Từ đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâm lược nước ta, mở đầu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta Vua quan triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng chúng Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng nước ta cho đế quốc Pháp Từ
đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp Dưới chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi
Về chính trị thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên Mọi quyền hành đều
nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn Chúng thi hành chính sách chia để trị Chúng chia rẽ giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới Đánh giá về chính sách này, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết: "Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn "chia để trị" của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia nǎm sẻ bảy Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một
"Liên bang" gọi là Liên bang Đông Dương"
Về kinh tế tư bản Pháp không phát triển công nghiệp ở nước ta, mà chỉ mở
mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp Chính sách độc quyền kinh tế Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường của chính quốc, nơi vơ vét tài nguyên
và bóc lột nhân công rẻ mạt Bên cạnh sự bóc lột nhân công và cướp đoạt tài nguyên, đất đai, bọn thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến để giúp chúng bóc lột địa
tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến địa chủ chưa được giải quyết, thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc
Trang 5Pháp thống trị và phong kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng của nhân dân ta Đánh giá về hiện tượng xã hội nói trên, đồng chí Nguyễn ái Quốc viết: "Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa
xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi" Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của tư bản Pháp trùm lên phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đã làm phân hoá các giai cấp cũ, tạo ra kết cấu giai cấp mới
2 Giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hoá, giai cấp công nhân ra đời
Giai cấp địa chủ phong kiến trong những thế kỷ trước đã từng giữ vai trò tiến
bộ nhất định trong lịch sử Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế quốc Pháp thì bản thân giai cấp này cũng bị phân hóa Một bộ phận can tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp để duy trì quyền lợi của bản thân, một bộ phận không ít tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xướng và lãnh đạo các phong trào Vǎn thân, Cần vương chống đế quốc Pháp xâm lược, khôi phục triều đình phong kiến Một số trở thành những lãnh
tụ của phong trào quần chúng nông dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp, vừa chống lại triều đình bán nước Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận Một số ít ôm chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh
tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản Một bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triều đình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu
ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng chính trị cải lương Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh đạo cách mạng Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định
Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến và thực dân đào tạo Nhưng do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập, tự
do, dân chủ, nên cũng bị phân hoá Một số ít cam tâm làm tay sai Số đồng vẫn giữ được khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước Khi có điều kiện, những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến
Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế quốc và phong kiến Sau phong trào Vǎn thân, Cần vương, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên thế (1913), phong trào nông dân bị phân tán Nông dân là một lực lượng
Trang 6đông đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải
phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đôn trại và thành phố phục
vụ cho cuộc xâm lược và binh định nước ta Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), giai cấp công nhân còn ít, chỉ 10 vạn người và trình độ còn thấp Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924-1929), số lượng công nhân chuyên nghiệp đã có 22 vạn người, chiếm 1,2% số dân Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước nǎm 1930 có đến hàng triệu người
Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và các tầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nông dân Đó là cơ sở
khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng
3 Giai đoạn khủng hoảng đường lối giải phóng dân tộc
Năm 1958, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đổ bộ tấn công Sài Gòn, sau đó mở rộng xâm lược Đại Nam Đầu tiên tại vùng Đông Nam Bộ, sau đó củng cố vị trí tại Nam Kỳ và xâm chiếm miền toàn bộ miền Bắc hậu chiến tranh Pháp - Thanh Chính phủ Pháp sau đó tuyên bố bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời duy trì chính
quyền phong kiến bù nhìn cho tới thời vua Bảo Đại Đại Nam chính thức mất đi độc lập, trở thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến và bị chia cắt thành 3 miền sau khi nhà Nguyễn kí Hòa ước Giáp Thân năm 1884 Tuy vậy, phái chủ chiến trên khắp cả nước tại triều đình và địa phương vẫn mưu khôi phục, xây dựng lực lượng nhằm lấy lại độc lập
Sự chia rẽ giai cấp và mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, giữa địa chủ và phong kiến, giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp Các cuộc khởi nghĩa
nổ ra khắp nơi theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản trong suốt những năm tiếp theo Một số phong trào lớn có thể kể tới như: Phong trào Cần Vương
(1885-1896) nhằm khôi phục ngôi vua, khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884-1913), phong trào Đông Du (1906-1908) theo thiên hướng bạo động, phong trào Duy Tân (1906-1908) theo thiên hướng cải lương, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nhằm nâng cao dân trí, các phong trào yêu nước dân chủ công khai, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, phong trào cách mạng quốc gia tư sản, phong trào quốc gia cải
lương của tầng lớp tiểu tư sản thành thị và địa chủ lớp trên
Trang 7Phong trào Cần Vương dần bị đàn áp bởi ưu thế về hoả lực của Pháp do các cuộc khởi nghĩa diễn ra ở các vùng đồng bằng (Ba Đình, Nghệ An, Bình Định, Thái Bình, ) Sau các thất bại liên tiếp, vua Hàm Nghi bị bắt năm 1888, Tống Duy Tân
bị bắt năm 1892, căn cứ tại Bãi Sậy tan rã, Đốc Ngữ bị sát hại tại vùng núi phía Bắc, Phan Đình Phùng hi sinh năm 1895, phong trào Cần Vương suy yếu và tan rã, trở thành phong trào giải phóng dân tộc theo ý thức hệ phong kiến cuối cùng của Việt Nam
Trong giai đoạn 1858 - trước 1930, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh chống Pháp anh dũng, bất khuất đã nổ ra nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại, các lãnh đạo bị xử chém Tồn tại ở nhiều hình thức, tư tưởng, mục đích khác nhau tuy nhiên điểm chung là chúng chưa phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại Cách mạng nước ta đứng trước khủng hoảng, bế tắc đường lối nghiêm trọng và yêu cầu cấp thiết là tìm được một đường lối đấu tranh đúng đắn, phù hợp với thực tiễn bấy giờ
II Các phong trào yêu nước
1 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Ngay từ cuối thế kỷ XIX , khi triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884) đầu hàng thực dân Pháp song phong trào chống thực dân Pháp vẫn diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương (1885-1896) - một phong trào đấu tranh vũ trang do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, phong trào chia làm hai giai đoạn :
Giai đoạn một (1885-1888): Đây là giai đoạn phong trào Cần Vương đặt dưới
sự chỉ huy tương đối thống nhất của triều đình Mở đầu là các cuộc nổi dậy của Văn Thân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thái Bình, Nam Định… nên thời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc và Trung Bộ Khi vua Hàm Nghi bị bắt ngày 1/11/1888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX
và có xu hướng ngày càng đi vào chiều sâu
Giai đoạn hai (1888-1896): Phong trào Cần Vương không còn đặt dưới sự lãnh
đạo của triều đình kháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quy tụ xung quanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình (1881-1887) do Đốc học
Trang 8Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mở Thịnh, Thượng Thọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Pháp kiên cố Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và
sự giúp đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng trăm tên Ngoài việc xây dựng và bảo vệ căn cứ, nghĩa quân Ba Đình còn tổ chức các cuộc phục kích, chặn đánh các đoàn xe địch và tập kích tiêu diệt các toán quân của giặc đi
lẻ Trước sự phát triển lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng lớn quân lính đàn áp nghĩa quân Tuy chiến đấu dũng cảm nhưng do lực lượng quá chênh lệch, cuối cùng khởi nghĩa đã thất bại, căn cứ Ba Đình vỡ, một bộ phận nghĩa quân rút lên rừng núi gia nhập các toán nghĩa binh khác
Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập cho lịch sử đặt ra và từ đây phong trào cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Đầu thế kỷ XIX, châu Á thức tỉnh: Phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ…mang một nội dung mới đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kết hợp với đấu tranh giành quyền dân chủ ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX Trước những yêu cầu mới của lịch sử, những phần tử ưu tú trong trong hàng ngũ trí thức phong kiến đã nhận thấy “quan niệm trung quân ái quốc” thời kỳ Cần Vương không có tác dụng tập hợp nhân dân nữa đúng lúc đó, các tân thư, tân báo của Trung Quốc dội vào nước ta, đáng
kể nhất là các tác phẩm, ẩm băng Thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến, Tân dần tuần báo…của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi cũng giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương tây Dưới lăng kính của tư tưởng lập hiến, các trào lưu tư tưởng đó đã cổ vũ, hướng họ theo lý tưởng của cuộc cách mạng Pháp năm
1789, cuộc vận động Duy Tân năm 1898 và cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ lập hiến chuyển sang tư tưởng cộng hoà Mặt khác, công cuộc xây dựng đất nước thành công của tư bản Nhật càng củng cố niềm tin của các sỹ phu yêu nước vào con đường cách mạng tư sản Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các phong trào: Phan Bội Châu, phong trào Đông
Du và phong trào Duy Tân
Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu Phan Bội Châu
đã kiên trì giành độc lập bằng con đường bạo lực Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX, ông đã
chuẩn bị công cuộc bạo động đánh Pháp Tuy nhiên, như ông nói: “Là một người trong tay không có một miếng sắt , trên mặt đất không có lấy một chỗ đứng chân, chẳng qua chỉ là một thằng tay không chân trắng , tài hèn sức yếu, mà lại đòi vật lộn
Trang 9với hùm beo có nanh dài vuốt nhọn” và: “ Đến nỗi này tôi không thể nào không sang con đường bạo động Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu tình thế buộc phải tự sát thì thà rằng xoay
ra bạo động, thà chết còn hơn Nếu bạo động thì may ra trông được có chỗ thành công trong muôn một Huống gì tôi đã suy đi tính lại, lúc này bỏ sự bạo động ra thì không còn việc gì đáng làm nữa” Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên
ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Vào tháng 5/1904, Phan Bội Châu, Cường Để và trên hai mươi đồng chí họp tại nhà riêng của ông
Nguyễn Hàm bí mật lập ra Duy Tân hội, mục đích của hội là “cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác” Ông tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908), tức phong trào đi du học ở phương tây và ông cho rằng nên cầu viện Nhật Bản là nước đồng Văn, đồng chủng Những người du học
sinh được đào tạo về văn hoá và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước Phong trào Đông Du ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp một mặt tiến hành khủng bố, mặt khác tiến hành cấu kết với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam ra khỏi nước Nhật trong đó có cả Phan Bội Châu Phan Bội Châu nhận thấy được bản chất của chủ nghĩa thực dân chúng đều như nhau, đều đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân Chủ trương dựa vào Nhật đánh Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời cơ Giữa lúc đó cách mạng Tân Hợi bùng nổ
và thắng lợi (1911) Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam quang phục hội (1912) với
ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc nhưng cuối cùng cũng thất bại
Phong trào Duy Tân (1906-1908), được Phan Chu Trinh và một số sĩ phu yêu
nước chủ trương tiến hành trong lúc phong trào Đông Du, những hoạt động của Duy Tân Hội diễn ra sôi nổi Phan Chu Trinh kịch liệt lên án bọn vua quan phong kiến
thối nát, tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ Tư Sản với các yêu cầu, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, hô hào mở mang trường học, phát triển công thương
nghiệp, cải cách phong tục, chống lề thói phong kiến cổ hủ, xem đó là điều kiện để
giải phóng dân tộc: “Không cần hô hào để đánh Pháp chỉ cần đề xướng dân quyền , dân đã giác ngộ quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần mưu tính những việc khác"
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản ở Việt Nam Tuy nhiên, cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự
Trang 10nghiệp giải phóng dân tộc, chưa có đường lối chính trị rõ ràng và một hình thức tổ chức chặt chẽ
Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam Từ đây, ngọn cờ lãnh đạo cách mạng chuyển sang giai cấp vô sản Cách mạng Việt Nam bắt đầu một quá trình phát triển mới về chất
3 Phong trào cách mạng theo khuynh hướng cách mạng vô sản
Cách mạng vô sản được định nghĩa là cuộc cách mạng xã hội, với đối tượng tham gia chính là giai cấp công nhân với mục tiêu là cố gắng lật đổ giai cấp tư sản áp bức bóc lột Có nhiều quan điểm liên quan đến việc lãnh đạo phong trào cách mạng, như được dẫn dắt bởi những người tiên phong chuyên nghiệp (Lenin), hay bởi toàn
bộ lực lượng đông đảo giai cấp công nhân (Rosa Luxemburg) Ở góc nhìn của
Alexander Berkman, ông cho rằng một cuộc cách mạng thành công cần phải thay đổi sâu rộng “tính cách xã hội”, loại bỏ quyền lực đàn áp của một giai cấp với những giai cấp khác
Tại Việt Nam, trước khi Đảng ra đời năm 1930, nhiều phong trào quy mô đã
nổ ra trên khắp cả nước dưới nhiều hình thức và lãnh đạo khác nhau, song đều chưa thành công
a Giai đoạn tự phát (1919-1925)
Sau khởi đầu quá trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp tại Việt Nam, giai cấp công nhân đã ra đời và dần tăng về số lượng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ Nhất Các phong trào công nhân thường rải rác ở cấp quy mô nhỏ hẹp do
sự yếu thế của giai cấp công nhân và thiếu sự lãnh đạo dẫn dắt chủ trương: cuộc bãi công của công nhân viên chức ở các cơ sở tư nhân (1922), bãi công nổ ra tại các nhà máy (1924), các thợ máy tại xưởng đóng tàu Pháp đã tổ chức bãi công, không sửa chữa chiến hạm tại cảng Ba Son (1925)
Phong trào công nhân đã phát triển dần về thời gian, hình thức, số lượng
tham gia bãi công, tuy vẫn còn nhiều hạn chế Hầu hết các phong trào đều diễn ra tự phát, tập trung chủ yếu vào vấn đề kinh tế mà chưa ý thức được sứ mệnh giải phóng
áp bức Chỉ có duy nhất cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son 8/1925 là có yếu tố lãnh đạo, tổ chức
b Giai đoạn tự giác (1926-1929)
Sau năm 1925, nhờ những điều kiện thuận lợi đã thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng