MỞ ĐẦU1. Lý do tính cấp thiết của đề tàiTrong thời đại ngày nay, nguồn lực con ngư¬ời đư¬ợc khẳng định có vai trò quyết định nhất trong tất cả các nguồn lực và đư¬ợc đặt ở vị trí trung tâm trong chiến l¬ược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia. Do vậy, đầu t¬ư vào con ngư¬ời là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều n¬ước đã tăng trư¬ởng kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, phát triển khoa học công nghệ gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được sự tăng tr¬ưởng kinh tế cao và ổn định dứt khoát phải nâng cao chất lư¬ợng nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chất l¬ượng cao.Nư¬ớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND) đang b¬ước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n¬ước. Sự nghiệp này có thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân con người Lào. Nhận thức đư¬ợc tầm quan trọng của nguồn lực con ngư¬ời, nên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã chỉ rõ: Con ngư¬ời là yếu tố quyết định cho sự phát triển và coi con ng¬ười là đối t¬ượng ¬ưu tiên của sự nghiệp phát triển. Việc phát triển đất n¬ước có hiệu quả hay không, ít hay nhiều luôn phụ thuộc vào yếu tố con ng¬ười 50, tr.69. Trong những năm qua, tỉnh Viêng Chăn đã xây dựng chiến l¬ược phát triển nguồn lực con ng¬ười và b¬ước đầu đã đạt đ¬ược một số thành tựu nhất định. Tuy vậy, quá trình này vẫn còn nhiều bất cập nh¬ư: chất l¬ượng nguồn nhân lực chư¬a đáp ứng đ¬ược yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý; đời sống của một bộ phận lao động tỉnh rất khó khăn, sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống trong một bộ phận dân cư¬ ở giữa các vùng trên địa bàn tỉnh diễn ra với tốc độ nhanh, làm ảnh h¬ưởng đến tình hình chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh. Thực trạng thiếu việc làm, hoặc có việc làm nh¬ưng hiệu qủa kém và thu nhập thấp là khá phổ biến. Nguồn lao động của tỉnh tăng khá nhanh, tác phong công nghiệp của phần lớn ng¬ười lao động còn chư¬a hình thành; phần lớn lao động thuộc kinh tế hộ gia đình nên năng suất thấp, tính chuyên môn hoá hạn chế. Vấn đề việc làm vẫn là thách thức lớn. Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên ch¬ưa ý thức đư¬ợc vai trò quan trọng của nguồn lực con ng¬ười đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là một số cán bộ có quyền quyết định trong vấn đề nhân sự. Thực trạng thiếu cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn khác trong các cấp, các ngành, không chỉ là vấn đề của Tỉnh, mà đã trở thành vấn đề chung của cả nước.Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Tỉnh là một đòi hỏi cấp bách hiện nay. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài Nguồn lực con ng¬ười trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn n¬ước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học ngành Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, nguồn lực con người được khẳng định có vaitrò quyết định nhất trong tất cả các nguồn lực và được đặt ở vị trí trung tâmtrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Do vậy, đầu
tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển nhanh và bềnvững Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởngkinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, phát triển khoa học - công nghệgắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực Lịch sử phát triển kinh tế thếgiới đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định dứtkhoát phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao
Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND) đang bước vàothời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp này có thành cônghay không hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân con người Lào Nhận thứcđược tầm quan trọng của nguồn lực con người, nên Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX (2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã chỉ rõ: "Con người
là yếu tố quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối tượng ưu tiêncủa sự nghiệp phát triển Việc phát triển đất nước có hiệu quả hay không,
ít hay nhiều luôn phụ thuộc vào yếu tố con người" [ 50, tr.69].
Trong những năm qua, tỉnh Viêng Chăn đã xây dựng chiến lược pháttriển nguồn lực con người và bước đầu đã đạt được một số thành tựu nhấtđịnh Tuy vậy, quá trình này vẫn còn nhiều bất cập như: chất lượng nguồnnhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý; đời sống của một bộ phận lao động tỉnh rấtkhó khăn, sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống trong một bộphận dân cư ở giữa các vùng trên địa bàn tỉnh diễn ra với tốc độ nhanh, làm
1
Trang 2ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Thựctrạng thiếu việc làm, hoặc có việc làm nhưng hiệu qủa kém và thu nhập thấp
là khá phổ biến Nguồn lao động của tỉnh tăng khá nhanh, tác phong côngnghiệp của phần lớn người lao động còn chưa hình thành; phần lớn lao độngthuộc kinh tế hộ gia đình nên năng suất thấp, tính chuyên môn hoá hạnchế. Vấn đề việc làm vẫn là thách thức lớn
Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên chưa ý thức được vai trò quantrọng của nguồn lực con người đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá, nhất là một số cán bộ có quyền quyết định trong vấn đề nhân sự Thựctrạng thiếu cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý và cán bộ chuyên mônkhác trong các cấp, các ngành, không chỉ là vấn đề của Tỉnh, mà đã trở thànhvấn đề chung của cả nước
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu khoa học nhằm nâng caochất lượng nguồn nhân lực ở Tỉnh là một đòi hỏi cấp bách hiện nay Với ý
nghĩa đó, tác giả chọn đề tài "Nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học ngành Triết học,
chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tình hình nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do
đó vấn đề con người luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngànhkhoa học. Cho đến nay, nhiều công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thốngvấn đề này, đáng chú ý là những công trình tiêu biểu và một số luận văn, luận
án như sau:
- “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn Việt
Nam” của PGS Trần Văn Tùng, Lê ái Lâm (Viện kinh tế thế giới), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Quyển sách đã giới thiệu khái quát về vaitrò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của giáo dục
Trang 3- đào tạo, đồng thời nêu bật vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc phát triểnnguồn nhân lực ở Việt Nam.
- “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh
tế- xã hội” của GS.VS.TS Phạm Minh Hạc, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,
1996 Công trình đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục-đào tạo trongviệc phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vàxây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam đểphục vụ hiệu quả việc phát triển con người
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước” do PTS Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực
và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất nhữnggiải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đápứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của TS Bùi
Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã phân tích rõ
vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nênchất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của nguồn nhân lực và là tài sản vôgiá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại Trên cơ sở đó, tác giả đềxuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quảnguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hư-ớng xã hội chủ nghĩa
- “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn
Hữu Dũng, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2003 Tác giả đã trình bày có tính
hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố,
sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các chính sách và giải
3
Trang 4pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực conngười trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam” của TS Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005.
Tác giả đã trình bày nội dung, đặc điểm và tính tất yếu của công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay; phân tích vai trò của nguồn lực con người-yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; từ đó, đề ra một
số giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn lực con người đápứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
- “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị tưrờng, toàn cầu hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”do GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, PGS.TS Phan Văn Kha (đồng
chủ biên), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005. Cuốn sách đã hệ thống hoá
cơ sở lý luận và chỉ ra thực trạng của lực lượng lao động cũng như đào tạonhân lực có trình độ Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển nhân lựcnày để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trongđiều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
- “Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở
Việt Nam hiện nay” của TS Phạm Công Nhất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2007 Trên cơ sở khẳng định phát triển nguồn lực con người là yếu tốquyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác giả đãnêu thực trạng của nguồn nhân lực Việt Nam và những định hướng chủ yếu
để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở Việt Nam hiện nay
Vấn đề nguồn lực con người cũng là đề tài nghiên cứu của một số luậnvăn thạc sỹ, đáng chú ý như luận văn triết học như:
- “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre”, luận văn thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mai
(2005) Trong luận văn tác giả đã nêu tính tất yếu, đặc điểm và những yêu cầu
Trang 5cơ bản về phát triển nguồn lực con người ở Bến Tre như thế nào, từ đó phântích thực trạng và xu hướng vận động cơ bản của nó, đồng thời tác giả đãphân tích những quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằmphát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Tỉnh Bến Tre
- “Nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Long An trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận văn thạc sỹ Triết học của Nguyễn Thị
Phương Loan (2008) Tác giả đã trình bày quan niệm, vai trò và đặc điểmnguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Qua phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở TỉnhLong An, tác giả đã đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủyếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Tỉnh Long An trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
* Các công trình liên quan đến nguồn nhân lực của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào:
- “Vai trò của chính sách xã hội đối với việc phát huy nhân tố con ười ở Lào hiện nay”, luận án tiến sỹ Triết học của Xi Tha Lườn Khăm Phu
ng-Vông (2005) Trên cơ sở phân tích khái quát một số khía cạnh lý luận về nhân
tố con người và phát huy nhân tố con người; đồng thời làm rõ tầm quan trọngcủa chính sách xã hội trong việc phát huy nhân tố con người, luận án đã phântích rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra của chính sách xã hội của Lào trongviệc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay, từ đó nêu phương hướng vàcác giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới chính sách xã hội để phát huy hiệuquả nhân tố con người ở Lào trong những năm tiếp theo
- “Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Tỉnh Viêng
Chăn”, luận văn thạc sỹ kinh tế của Xư Lao Xô Tu Ky (2007) Tác giả đã
trình bày khái niệm, những yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá; trình bày kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển
5
Trang 6nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ đó, tác giả đã làm rõthực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Viêng Chăn và đề ra các giải pháp phát triểnnguồn nhân lực ở Tỉnh.
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lực conngười của Việt Nam và của Lào, song chưa có công trình khoa học nào trựctiếp nghiên cứu vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá của tỉnh Viêng Chăn thuộc nước CHDCND Lào Do vậy, đềtài mà tác giả thực hiện không trùng lặp với các công trình đi trước
3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ởtỉnh Viêng Chăn, nuớc CHDCND Lào Tập trung khảo sát chủ yếu nguồn nhânlực trong độ tuổi lao động theo qui định của luật pháp CHDCND Lào, (từ 15 -
60 tuổi đối với nam, từ 15 - 55 tuổi đối với nữ)
3.2 Giới hạn nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu nguồn lực con người trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn nước CHDCND Lào(từ 2006 đến nay)
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh, khoá luận đề xuất quanđiểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người đápứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh ViêngChăn, nước CHDCND Lào
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích mối quan hệ giữa nguồn lực con người với quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn
Trang 7- Làm rõ đặc điểm và thực trạng phát triển nguồn lực con người ở tỉnhViêng Chăn.
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnhViêng Chăn
5 Đóng góp mới về khoa học của khoá luận
- Khoá luận góp phần làm rõ thực trạng nguồn lực con người của tỉnhViêng Chăn và dự báo những xu hướng biến đổi chủ yếu của nguồn nhân lựcnày trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Khoá luận góp phần xây dựng một số quan điểm, giải pháp hữu hiệunhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Viêng Chăn
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở lý luận
Khoá luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào, các quan điểm khoahọc hiện đại về nguồn lực con người
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và điều tra xã hộihọc; dự báo khoa học
7. Ý nghĩa thực tiễn của khoá luận
- Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại tỉnh ViêngChăn
- Khoá luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảngdạy và học tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâmđào tạo, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấphuyện ở Lào
7
Trang 88 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm 3 chương, 6 tiết
Trang 9Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH VIÊNG CHĂN
1.1 QUAN NIỆM VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
1.1.1 Quan niệm về nguồn lực con người
1.1.1.1 Khái niệm về nguồn lực con người
Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người (NLCN) (còn gọi lànguồn nhân lực hay vốn người) là quan trọng nhất vì nó tham gia vào quátrình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Tìmhiểu các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, quan niệm về NLCN khá đadạng, được đề cập trên nhiều góc độ, theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp khác nhau Liên hợp quốc đưa ra khái niệm NLCN: là tất cả những kiến thức, kỹnăng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước.Nguồn lực con người ở đây được xem xét chủ yếu ở chất lượng con người vàvai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội
Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc chương trình khoa công nghệ cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của
học-sự phát triển kinh tế-xã hội” thì NLCN được hiểu là “dân số và chất lượngcon người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực vàphẩm chất, thái độ và phong cách làm việc” [14, tr.328] Từ cách tiếp cận
đó, có thể thấy rằng, NLCN không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động, mà
nó còn gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của conngười Giáo sư Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “Nguồn lực con người là sựkết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quảhoạt động và triển vọng mới phát triển con người” [1, tr.14] Ngoài thể lực
và trí lực, theo tác giả “Cái làm nên nguồn lực là kinh nghiệm sống, đặc biệt
9
Trang 10là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thóiquen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vàoviệc tìm tòi, sáng tạo” [1, tr.15] Tóm lại, NLCN được hiểu theo nghĩa rộng vàhẹp như sau:
Theo nghĩa rộng: NLCN là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con
người, của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn
bị để huy động vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước hoặc mộtvùng, một địa phương cụ thể [33, tr.22] Với cách tiếp cận này, NLCN đượcxem như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia, như nguồn lựcvật chất (trừ con người), nguồn tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám), nhữngnguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo thành động lực đểphát triển kinh tế-xã hội Trong đó, NLCN nằm ở vị trí trung tâm
Theo nghĩa hẹp: Nguồn lực con người là toàn bộ lực lượng lao động
trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa làbao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng laođộng thực tế đang có việc làm và kể cả những người thất nghiệp
Với khái niệm trên và căn cứ ở Lào, lực lượng lao động Lào bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động đang có việc làm; những người ngoài độtuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp Nghĩa làtheo quan niệm này không bao gồm những người trong độ tuổi lao động, cókhả năng lao động nhưng còn đang đi học hoặc đang làm nội trợ trong giađình hoặc không có nhu cầu làm việc Bộ luật Lao động Lào quy định độtuổi lao động là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, và từ 15 tuổi đến 55 tuổiđối với nữ
Qua tiếp cận các khái niệm trên có thể hiểu: nguồn lực con người là
tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình
độ tri thức, vị thế xã hội v.v tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.
Trang 11Khi nói tới NLCN là nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sángtạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội.
1.1.1.2 Quan niệm về phát triển nguồn lực con người
Liên quan đến vấn đề này có 2 thuật ngữ cần phân biệt rõ Đó là pháttriển con người và phát triển nguồn lực con người
Phát triển con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng củacon người như giáo dục, y tế, kỹ năng để con người có thể làm việc mộtcách sáng tạo và có năng suất cao nhất Phát triển vì con người là bảo đảm sựtăng trưởng kinh tế, mà con người tạo ra phải được phân phối rộng rãi vàcông bằng Phát triển do con người là hướng việc tạo ra cho con người có cơhội tham gia mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội)
UNESCO sử dụng khái niệm “phát triển con người” theo nghĩa hẹp, đó
là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan
hệ với sự phát triển của đất nước Như vậy, theo quan điểm của Liên hợpquốc, khái niệm “phát triển con người” nhấn mạnh đến mục tiêu hơn làphương tiện của sự phát triển Mục tiêu của sự phát triển không chỉ là pháttriển xã hội mà chính là phát triển con người Bởi vì trong xã hội hiện đại, sựphát triển xã hội chưa hẳn đã đồng nghĩa với sự phát triển con người Thực
tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, xã hội phát triển cao nhưng conngười lại bị quên lãng, không được quan tâm Như vậy, mục đích thật sự của
sự phát triển là cần phải tạo ra một môi trường đảm bảo cho con người pháthuy khả năng sáng tạo, được hưởng một cuộc sống khoẻ mạnh, được họchành và trường thọ, các quyền tự do chính trị, quyền con người và cá nhânđược đảm bảo Quan điểm phát triển con người như vậy hoàn toàn phù hợpvới quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênnin về phát triển con người toàn diện
mà cách đây hơn 150 năm C.Mác đã nói tới
11
Trang 12Phát triển nguồn lực con người có xu hướng tập trung vào các hoạtđộng, nhằm nâng cao khả năng thực hiện vai trò sản xuất của con người nhưtrí tuệ, kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức, lãnh đạo và quản lý Ở đây có sựkhác biệt, nội hàm khái niệm phát triển NLCN sâu hơn, hợp hơn nội hàm kháiniệm phát triển con người.
Ở Việt Nam, “phát triển nguồn lực con người” được các nhà khoa họcnêu khá nhiều trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “phát triển nguồn lực conngười được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt nhưđạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thànhngười lao động có năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được yêu cầu tolớn của sự phát triển kinh tế-xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước” [14, tr.285]
TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: phát triển NLCN được coi là “quátrình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngàycàng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội” [12, tr.13].Theo tác giả, quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khảnăng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sứcsáng tạo của con người Trong đó, nền văn hoá truyền thống, lịch sử dân tộcgóp phần quan trọng hun đúc lên bản lĩnh, ý chí của mỗi người
Từ quan điểm coi con người là trung tâm của phát triển kinh tế-xã hội,phát triển NLCN là quá trình gia tăng về kiến thức, kỹ năng và năng lực củamọi người trong xã hội Nó được xem xét dưới các góc độ sau:
Dưới góc độ kinh tế, quá trình này được mô tả như sự tích luỹ vốn conngười và sự đầu tư vốn đó một cách hiệu quả vào sự phát triển của nền kinh tế
Dưới góc độ của chính trị, phát triển nguồn lực con người là nhằmchuẩn bị cho con người chủ động, sẵn sàng tham gia vào hoạt động chính trịnhư là công dân của một nền dân chủ
Trang 13Dưới góc độ xã hội học, phát triển nguồn lực con người là góp phầngiúp mọi người biết sống một cuộc sống trọn vẹn, phong phú hơn; con ngườitiến từ cá nhân thành nhân cách, thành con người xã hội
Vậy, trên góc độ vĩ mô, phát triển NLCN là các hoạt động đầu tư nhằmtạo NLCN xã hội với số lượng phù hợp và chất lượng cao nhằm đáp ứng đượcnhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự pháttriển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trường Phát triển nguồnlực con người có các cách thức sau:
- Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu
của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạtđộng mới Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độtuổi, cơ cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu về giới
- Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn,
trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ của các thành viên trong xã hộihoặc trong tổ chức Thước đo để so sánh với nhau là chỉ số phát triển conngười, do Liên hợp quốc sử dụng
Như vậy, có thể hiểu phát triển nguồn lực con người là quá trình làm
thay đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, đồng thời gia tăng các giá trị tinh thần, đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, thể chất cho con người nhằm đáp ứng một cách tối ưu những yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Mỗi một giai đoạn lịch sử đều có nhu cầu về NLCN phù hợp với giaiđoạn lịch sử đó Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Cộng hòadân chủ nhân dân Lào, phát triển NLCN được hiểu là gia tăng giá trị conngười trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực , làm chocon người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mớingày càng cao để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước Lào nói chung và ở tỉnh Viêng Chăn nóiriêng hiện nay Do vậy, phát triển NLCN còn bao hàm các mặt: giáo dục và
13
Trang 14đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng cao đời sống vật chất,tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng lao động Pháttriển NLCN còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra NLCN với số lượng vàchất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; đồng thờiđảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
1.1.2 Vài nét khái quát về tỉnh Viêng Chăn
1.1.2.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên
Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh có vị trí địa lý quan trọng và nhiều lợi
thế so với các tỉnh khác, được tách ra từ Thủ đô Viêng Chăn trong năm 1983,
là một tỉnh miền Trung của nước CHDCND Lào, có vị trí quan trọng về pháttriển kinh tế - xã hội, nhất là về trao đổi hàng hoá, dịch vụ du lịch, quốcphòng, an ninh v.v… cả trong và ngoài nước Về mặt địa lý, tỉnh Viêng Chăn
là một tỉnh biên giới, đồng thời là một tỉnh miền núi, với diện tích 22.554
km2, 4/5 là đồi núi, 1/5 là đồng bằng, phía Bắc giáp tỉnh Luông Pha Bang (45km), phía Nam giáp với Thủ đô Viêng Chăn (68 km), phía Đông Bắc giáptỉnh Xiêng Khoảng (75 km), phía Đông Nam giáp tỉnh Bo Ly Khăm Say (45km), phía Tây Bắc giáp tỉnh Say Nha Bu Ly (110 km) Tỉnh Viêng Chăn baogồm 13 huyện, trong đó (9 huyện là đồi núi, 4 huyện là đồng bằng), có 505làng và có 82.717 hộ dân với dân số là 473,127 người, nữ 231.315 người, mật
độ dân cư trung bình là 20 người/km2, trong đó dân tộc Lào Lùm chiếm
62,3%, Kưmmụ chiếm 15,8%, Lào Xủng (H’Mông) chiếm 21,8%, tốc độ tăngtrưởng của dân số trung bình 2,7%/ năm [45, tr 2]
Từ sự đa dạng, phong phú về mặt địa lý, tỉnh Viêng Chăn có nhiều tiềmnăng lớn về kinh tế như:
- Có khoáng sản cho sản xuất nhiều ngành công nghiệp như: than, đá,cát trắng, đất sét chứa nhiều ôxít sắt và đá vôi với khối lượng lớn là nguồnnguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao
Trang 15- Quỹ đất nông nghiệp, đất rừng lớn, đủ để sản xuất nông nghiệp - lâmnghiệp
- Về cơ sở hạ tầng đã phát triển tương đối đầy đủ nhất là về giao thôngvận tải, thuỷ lợi, thuỷ điện, hệ thống thông tin, nhà trường, bệnh viện…
1.1.2.2 Đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội, văn hóa của tỉnh
Tỉnh Viêng chăn có 13 huyện, 505 làng, 82.717 hộ gia đình sinh sống,dân số 473,127 người, nữ 231,315 người, mật độ dân cư trung bình là 20người/ km2, bao gồm các tộc người như Lào Lùm chiếm 62,3%, Kưmmụchiếm 15,8%, Lào Xủng (H’Mông) chiếm 21,8%, tốc độ tăng trưởng của dân
số trung bình 2,7%/ năm
Về kinh tế
Những năm gần đây, với xu thế đổi mới và phát triển chung của cảnước, nền kinh tế và đời sống xã hội của tỉnh Viêng Chăn đã từng bước ổnđịnh và đang trên đà phát triển Kinh tế đã có bước tăng trưởng đáng kể Tốc
độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2006-2010 đạt 8,6%/năm, tổng giá trị sảnphẩm trong tỉnh đạt 624,14 tỷ kíp, trong đó nông-lâm nghiệp 74,7%/năm,công nghiệp-thủ công tăng lên 6,4%, dịch vụ tăng 18,9% Thu nhập bình quânđầu người 751,4$/người so với năm 2005 tăng lên 1,3%.[ 45, tr 3]
Về văn hoá - xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội cũng có những bướcphát triển đáng kể
- Về giáo dục: Đã có bước phát triển cả số lượng và chất lượng khánhanh, các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm, coi việc giáo dục là nhiệm vụtrọng tâm của phát triển nguồn nhân lực
- Về công tác y tế: Mạng lưới y tế được phát triển rộng khắp đến cácvùng nông thôn miền núi Các cơ quan, tổ chức, đoàn thể vận động tuyêntruyền việc bảo vệ và giữ gìn sức khoẻ, đồng thời thúc đẩy nhân dân tham giaphong trào vệ sinh, phòng - chống dịch bệnh
15
Trang 16- Về văn hoá - thông tin: Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao,cán bộ, công chức và nhân dân có vô tuyến truyền hình xem ở nhà, đài phátthanh truyền hình ngày càng mở rộng độ phủ sóng Tập trung xây dựng vàphát triển làng văn hoá, hiện nay có 63 làng văn hoá; 12.313 gia đình văn hoá;
có 1 đài phát thanh; nhà cửa đã xây bằng gạch, lợp bằng gốm, bằng ngói vàbằng tôn Phong trào xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, tương thântương ái ngày càng phát triển sâu rộng Chính sách dân tộc được Đảng và Nhànước quan tâm ngày càng toàn diện và thiết thực, nhất là ở những vùng khókhăn, vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu- vùng xa
Phong trào xã hội hoá trên tất cả các lĩnh vực ngày càng được mở rộng và đivào chiều sâu Tính chủ động, sáng tạo của nhân dân được khơi dậy và phát huy,nội bộ nhân dân có sự đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lýcủa Nhà nước
Bên cạnh những thành tựu về mặt kinh tế - xã hội nêu, tự trên, tỉnh ViêngChăn vẫn còn một số mặt yếu kém Nền kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu là nôngnghiệp cung tự cấp, sự chuyển hướng sản xuất còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưađồng đều giữa các vùng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng chậm, nhất là các bảnlàng ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế chủ yếu là thuần nông.Tình trạng du canh, du cư ở một số vùng chưa được giải quyết một cách triệt để, kịpthời, nhất là việc tập hợp bản nhỏ thành bản lớn, hộ gia đình rời rạc vẫn còn ở một
số địa phương
Nhìn chung, đời sống nhân dân của tỉnh chưa cao và vẫn còn nhiều khókhăn, nhất là ở vùng sâu vùng xa và có sự chênh lệnh về sự phát triển giữa cácvùng Đây là vấn đề đáng quan tâm Mức độ tăng dân số còn cao; sốt rét, sốt xuấthuyết, di cư tự do, tệ nạn ma tuý, mại dâm, bỏ học, thiếu công ăn việc làm, buônlậu, kết hôn sớm vẫn diễn ra… Số trẻ em suy dinh dưỡng ở vùng cao, vùng sâu,vùng xa và tỷ lệ mù chữ vẫn còn cao
Giáo dục, y tế còn nhiều khó khăn ở vùng cao, vùng sâu; chất lượng dạy vàhọc còn thấp Số học sinh con em các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng cao theo
Trang 17học cấp 2, cấp 3 còn ít, không đủ để tuyển chọn đào tạo cán bộ theo yêu cầu Số cán
bộ được đào tạo qua các trường còn thấp
Phong tục tập quán ở một số vùng dân tộc vẫn còn lạc hậu, kết cấu hạ tầng
về đường giao thông, trường học, trạm y tế… vẫn còn thiếu và kém
Trong những năm tới, tỉnh Viêng Chăn cần tận dụng lợi thế của mình để đẩynhanh phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao và bền vững trên cơ sở phát triển cácngành kinh tế mũi nhọn, làm động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển,tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực văn hoá- xã hội, nâng cao hơn nữađời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH VIÊNG CHĂN
1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Viêng Chăn đặt ra yêu cầu khách quan phải phát triển nhanh nguồn lực con người của tỉnh
Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)được coi là con đường phát triển tất yếu, hợp quy luật với tất cả các nướcđang phát triển Ở CHDCND Lào, từ tháng 12 năm 1975 dưới sự lãnh đạo củaChủ tịch Cay Xỏn Phôn Vi Hản, Đảng nhân dân cách mạng ( NDCM) Lào đãkhởi xướng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tư duy về công nghiệp hoá đãđược đề cập trong các Nghị quyết của Đảng NDCM Lào từ Đại hội III (năm1981) cho đến Đại hội lần thứ IV (1986) và Đại hội lần thứ VI (1996 ) ĐảngNDCM Lào bắt đầu quan tâm mở rộng dự án phát triển thuỷ điện để tăngnguồn vốn đầu ra và phục vụ quá trình CNH, HĐH đất nước, đi đôi với việchợp tác và đầu tư của nước ngoài
Đại hội Đảng NDCM Lào VII (2001) đã đề ra chiến lược từ nay cho đến
2020 là “Phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại để tạo điều kiện thuận lợi phát triển
và hội nhập kinh tế khu vực” Đây là chiến lược chung của CNH, HĐH ởCHDCND Lào Đại hội toàn quốc lần thứ VIII (2006) của Đảng NDCM Lào
17
Trang 18tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, và từng bước CNH,HĐH, gắn chặt với tăng cường phát triển các lĩnh vực và hội nhập quốc tế
CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn đặt ra yêu cầu khách quan phải pháttriển nhanh nguồn lực con người của tỉnh là bởi vì:
Thứ nhất, quá trình CNH, HĐH là một xu thế tất yếu của lịch sử CNH,
HĐH đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Đối với Lào, từ một nền kinh tế nông nghiệp phấn đấu lên xã hội hiện đạithì không có con đường nào khác là con đường CNH, HĐH Đây là một cuộccách mạng toàn diện, sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.Tỉnh Viêng Chăn không nằm ngoài xu thế chung của đất nước, nên tất yếuphải tiến hành CNH, HĐH CNH, HĐH ở tỉnh trong giai đoạn hiện nay lànhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất xã hội từ lao động thủ công
là chính sang lao động dùng máy móc, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiệnđại, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững củakinh tế của tỉnh Song hiện nay, NLCN của tỉnh phần lớn còn ở trình độ thấp,chưa đủ sức làm chủ quá trình CNH, HĐH Nhưng muốn cho tỉnh trở thànhmột tỉnh văn minh, hiện đại, không có cách nào khác là phải tập trung mọinguồn lực để tiến hành CNH, HĐH Rõ ràng là nhu cầu phát triển CNH, HĐHcủa tỉnh tự bản thân nó đã đặt ra yêu cầu khách quan cấp bách phải đầu tư đểphát triển nhanh NLCN của tỉnh
Thứ hai, do yêu cầu của sản xuất, việc sản xuất ra sản phẩm cho xã hội
luôn xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của con người Nhu cầu tiêu dùng củanhân dân ngày càng phong phú đa dạng, nên sản phẩm của sản xuất ngàycàng phải đạt đến trình độ, đa dạng hoá tốt hơn Làm được điều này chỉ có thể
là lao động của những con người có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghềcao Việc sản xuất của tỉnh cũng luôn vươn tới cái đích đó Vì vậy, tỉnh ViêngChăn nhất thiết phải tạo ra được NLCN có chất lượng cao
Thứ ba, CNH, HĐH của tỉnh chính là nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày
càng cao của nhân dân tỉnh: nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường sức
Trang 19khoẻ, mở rộng tri thức, nâng cao tay nghề Song hiện nay, trình độ CNH,HĐH của tỉnh còn rất thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp hiệu quả chưacao, chưa đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bởi vìtrên thực tế, tỉnh đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao.
Do vậy, nền kinh tế-xã hội của tỉnh muốn phát triển được thì cần phải nhanhchóng phát triển NLCN, bởi NLCN là nguồn lực của mọi nguồn lực, là điềukiện tiên quyết cho sự phát triển
Thứ tư, hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế phát
triển, sự giao lưu kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ với sự mở cửa, hội nhập,chuyển giao công nghệ hợp tác liên doanh, đầu tư cùng phát triển thì tỉnh phải
có sự chuẩn bị về NLCN với chất lượng cao, vừa nắm được tri thức khoa họccông nghệ hiện đại, có sức khoẻ, vừa có tính tổ chức cao, mạnh dạn trongsáng tạo, biết kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, biết tiếp thu chọn lọcnhững giá trị, tinh hoa văn hoá của thế giới Nguồn lực con người có chấtlượng cao được chuẩn bị là để đón nhận, tranh thủ và vận dụng khoa học côngnghệ vào quá trình lao động, sản xuất nhằm phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.Như vậy, quá trình CNH, HĐH của tỉnh đòi hỏi phải phát triển nhanh NLCN
19
Trang 20Xem xét vai trò của NLCN, cần đặt nó trong quan hệ với các nguồn lựckhác, đồng thời phải đặt công nghiệp hoá trong tình hình hiện nay Khi cuộccách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, laođộng trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại, khicông nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá mà thực chất là hiện đại hoá lực lượngsản xuất Với cách tiếp cận như vậy, vai trò quyết định của NLCN biểu hiện ởnhững điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, nguồn lực con người là chủ thể hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho phù hợp với điều kiện của tỉnh
Nguồn lực con người là chủ thể và động lực của quá trình CNH, HĐH,bởi đây là lực lượng lao động có chất lượng cao, làm chủ các dây chuyền sảnxuất, các công nghệ hiện đại và tạo ra sản phẩm, năng suất lao động cao Đâycũng là nguồn lực có khả năng soạn thảo chiến lược, xây dựng các chính sách
để tiến hành CNH, HĐH; sáng tạo ra những thành tựu khoa học-công nghệhiện đại và ứng dụng chúng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sảnxuất vật chất, quản lý kinh tế - xã hội; đưa ra các giải pháp để điều chỉnh vàgiải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH; dự báo khảnăng phát triển, những nguy cơ tụt hậu có thể xảy ra và thực hiện vai trò đàotạo, bồi dưỡng nguồn lực con người
Trước yêu cầu phát triển đất nước Lào trong xu thế toàn cầu hoá và hộinhập kinh tế quốc tế, để tiến hành CNH, HĐH đòi hỏi phải lấy việc phát triểncon người làm trung tâm CNH, HĐH là quá trình phát triển kinh tế-xã hội từthực trạng một nền sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp, dựavào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu chuyển sangmột nền sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên sản xuấtcông nghiệp và những thành tựu mới của khoa học và công nghệ CNH, HĐHcũng chính là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăngnhanh các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ, có giá trị gia tăng cao
Trang 21Hiện nay, CNH, HĐH còn bao gồm những yếu tố của kinh tế tri thức Nhưvậy, thực chất của CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn là quá trình xây dựng cơ sởvật chất - kỹ thuật của sản xuất hiện đại, để phát triển tỉnh trở thành tỉnh vănminh, hiện đại, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội ởCHDCND Lào.
Muốn đạt những yêu cầu trên, chúng ta phải nỗ lực và sáng tạo rất cao,phải biết tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới về khoa học - công nghệcủa nhân loại, phải sử dụng và phát huy đến mức tối đa lợi thế vốn có củaNLCN của tỉnh; biến nó thành động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH củatỉnh Chỉ có NLCN với những con người có năng lực phát triển toàn diện,nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng đượcnhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội,chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp CNH, HĐH đến thắng lợi
Như vậy, trong số các nguồn lực, thì động lực chủ yếu của sự nghiệpCNH, HĐH chính là NLCN CNH, HĐH của tỉnh chỉ có thể thành công khibiết phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, trong đó, đặc biệt là khơidậy và phát huy mạnh mẽ NLCN của tỉnh Đó là yếu tố hàng đầu quyết định
sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Viêng Chăn
Thứ hai, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định trong các nguồn lực của quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn
Để thực hiện CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn, cần phải sử dụng có hiệuquả các lợi thế của tỉnh
Như phần trên đã phân tích, tỉnh Viêng Chăn có những lợi thế rõ rệt về
vị trí địa lý, các nguồn lực tự nhiên như khoáng sản, rừng, khí hậu, nguồnnước v.v… khá thuận lợi cho phát triển CNH, HĐH của tỉnh Song tất cả cácnguồn lực này chỉ là những khách thể chịu sự khai thác cải tạo của con người,
và phục vụ cho nhu cầu lợi ích của con người Các nguồn lực này tự nó chỉtồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy một cách tích cực trong quá trình
21
Trang 22CNH, HĐH thì phải kết hợp với NLCN, thông qua hoạt động có ý thức củacon người mà trước hết là nguồn nhân lực của tỉnh.
Từ sự phân tích vai trò quyết định của NLCN trong mối quan hệ vớicác nguồn lực khác thì NLCN là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và ýthức để sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạothành sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH, HĐH
Như vậy, trong số các nguồn lực thì NLCN giữ vị trí trung tâm của quátrình CNH, HĐH Mặc dù tất cả các nguồn lực đều rất cần cho công cuộcCNH, HĐH nhưng xét đến cùng thì các nguồn lực đó sẽ vô nghĩa, nếu thiếuNLCN Tuy nhiên con người mà chúng ta cần đến để đáp ứng các đòi hỏi của
sự nghiệp này có những điểm khác biệt với các đòi hỏi của giai đoạn trước.Trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế thế giới đang từng bước chuyển sangkinh tế tri thức, thì vai trò và tầm quan trọng của trí tuệ con người tăng lêngấp bội Để tiến hành CNH, HĐH đất nước, để không bị tụt hậu về kinh tế,chúng ta phải nhanh chóng nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ học vấn, vốnvăn hoá, kỹ năng và trình độ nghề nghiệp cho người lao động
Tóm lại, đối với việc thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH nước Lào nóichung, ở tỉnh Viêng Chăn nói riêng, NLCN được xem là một trong nhữngnhân tố quyết định Do đó, chỉ khi nào chúng ta đào tạo một nguồn lực vớinhững con người có thể lực, trí lực, nhân cách, có năng lực phát triển toàndiện, nắm bắt nhanh khoa học, công nghệ, đáp ứng được nhu cầu khai thác và
sử dụng các nguồn lực khác cho sự phát triển xã hội, chúng ta mới có thể đưa
sự nghiệp CNH, HĐH đến thắng lợi Đây là một luận điểm có ý nghĩa phươngpháp luận quan trọng cần được rút ra khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vềphát triển con người, phát huy nhân tố con người vào việc xây dựng và pháttriển NLCN cho CNH, HĐH ở CHDCND Lào hiện nay
Trang 24Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH VIÊNG CHĂN 2.1 ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LỰC CON NGƯỜI CỦA TỈNH VIÊNG CHĂN HIỆN NAY
2.1.1 Đặc điểm về số lượng, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của nguồn lực con người ở tỉnh Viêng Chăn
2.1.1.1 Về số lượng
Ở CHDCND Lào số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồmtổng số người trong độ tuổi lao động (nam 15-60, nữ 15-55) vì người lao độngphải ít nhất đủ 15 tuổi, được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ điềukiện về tuổi đời (55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam), đây là lực lượng laođộng tiềm tàng của nền kinh tế - xã hội Luật lao động đã quy định giới hạncủa độ tuổi lao động đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi
Số lượng nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn trước hết thể hiện ởquy mô và cơ cấu dân số mà trực tiếp là lực lượng lao động
Tỉnh Viêng Chăn là tỉnh đông dân tổng số dân của tỉnh là 473,127người, trong đó nữ: 231,315 người; mật độ dân số trung bình là 20 người/km2.Trong nhiều năm qua dân số tỉnh luôn biến động theo chiều hướng tăng, cụthể qua từng giai đoạn:
Bảng 2.1: Số lượng dân số tỉnh Viêng Chăn qua từng thời kỳ:
Giai đoạn (năm) Số dân (người) Tốc độ tăng (người/năm)
Trang 25Qua bảng trên cho thấy, dân số tỉnh tăng qua các năm từ 334.022 người(2000) lên 413.130 người (2005) và 473.127 người (2010) Sự biến động này
là do ngoài việc gia tăng dân số tự nhiên cao, tỉnh còn tiếp nhận sự di dân từcác nơi khác tới (các tỉnh trong cả nước) Trong nhiều năm qua, cơ cấu dân sốtheo giới tính ở tỉnh khá cân bằng giữa nam và nữ Năm 2000, dân số củatỉnh là 334.022 người, đến năm 2005 dân số tỉnh là 413.130 người, và đếnnăm 2010 dân số của tỉnh là 473.127 người, nữ 231.315 người, tỷ lệ củatỉnh là nam chiếm nhiều hơn nữ Điều này cho thấy xu thế tăng cơ học dân
số nam trong tuổi lao động rất lớn, thuận lợi cho phát triển trong tương lai
vì năng suất lao động của nam thường cao hơn của nữ Tốc độ tăng dân sốnội thành còn chậm, tuy nhiên luôn cao hơn tốc độ tăng dân số ngoại thành
Nhìn chung, tỉnh Viêng Chăn có quy mô, cơ cấu nguồn lao động dồidào, cơ cấu dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh Điều đócho thấy tỉnh có tiềm năng to lớn về nguồn nhân lực Đây sẽ là một trongnhững lợi thế so sánh quan trọng, điểm hấp dẫn của tỉnh để thu hút các nhàđầu tư trong và ngoài nước đến làm ăn Đây là điều kiện cần để phát triểnNLCN của tỉnh Nếu tiềm năng to lớn này được bồi dưỡng, khai thác và sửdụng có hiệu quả sẽ là nguồn nội lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế của tỉnhphát triển nhanh Vì vậy, hiện nay lực lượng lao động đông vừa là cơ hội, vừa
là thách thức trong quá trình phát triển ở tỉnh Viêng Chăn
2.1.1.2 Về trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ thuật của nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn
Xét về mặt chất lượng và so với yêu cầu thực tiễn CNH, HĐH thì NLCN
ở tỉnh còn nhiều hạn chế, bất cập Riêng nguồn nhân lực có chất lượng caocòn đang thiếu nghiêm trọng về số lượng, yếu về chất lượng Trong nhữngnăm trước, số người trong độ tuổi lao động khá đông, nhưng trình độ học vấncủa người dân trong độ tuổi đi học mặc dù được nâng lên nhưng vẫn ở mứcthấp
25
Trang 26Hiện nay, tỉnh đang tiếp tục tổ chức học bổ túc lớp trung học cấp II chongười dân trong độ tuổi từ 15-35 tuổi với 3.968 người (trong đó nữ 1.800người); ngoài ra, tổ chức các lớp bổ túc trung học cấp III cho cán bộ, bộ đội,công an đã thi đỗ đầu vào ở cả nội và ngoại thành
Mở rộng mạng lưới giáo dục từ thành thị đến nông thôn Xã hội hóagiáo dục ngày càng phát triển, do vậy, số lượng các trường phổ thông tănglên, đặc biệt là năm học 2010-2011, toàn tỉnh đã thực hiện chương trình khaigiảng cho hệ lớp 12 Tỷ lệ học sinh vào học tiểu học đạt 96,51%, trung học
cơ sở đạt 78,19% và trung học phổ thông đạt 40,23% Đến nay, 100% sốngười trong độ tuổi đi học của tỉnh đã được phổ cập tiểu học và tiếp tục bồidưỡng để phổ cập trung học cơ sở cho đối tượng trong độ tuổi 15-35 Chấtlượng dạy-học và sự quản lý của nhà trường ngày càng được cải thiện [58,tr.3-4]
“Hiện tại, Sở đào tạo tỉnh quản lý 4 trung tâm bồi dưỡng dân chúng,trong đó có 2 trung tâm bồi dưỡng dạy nghề (đào tạo nghề) cho thanh niên,phụ nữ theo từng nghề nghiệp như ngành dệt, chế biến, thẩm mỹ và tin học,bồi dưỡng cho nhân dân theo ngành nghề như: nuôi cá, ếch, trồng ngô, nấm,trồng cây, hoa , sửa chữa máy móc, di động
Để phát triển NLCN của tỉnh thì chất lượng của đội ngũ giáo viên có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, do vậy, Sở giáo dục tỉnh đã liên tục mở các lớpbồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, cho giáo viên không đạt tiêu chuẩn đi học
để nâng cao trình độ học vấn, liên thông đại học và cao đẳng Sinh viên họctập trong nước (theo quy hoạch của Bộ giáo dục) cao đẳng 11, trong đó nữ 2người, đại học 24 người, nữ 6 người, Thạc sỹ 11 người, nữ 2 người Ngoài racòn cho sinh viên đi học nước ngoài như nước Việt Nam, Trung Quốc…[58, tr 6]
Trang 27Việc đầu tư cho giáo dục chính là tạo tiền đề cho phát triển NLCN củatỉnh Đây là nguồn lao động dự trữ dồi dào, trẻ, khoẻ, có trình độ học vấn vàtrình độ chuyên môn, chuyên nghiệp (nếu được tiếp tục đào tạo), sẽ là nguồn
bổ sung lực lượng lao động chất lượng cao cho tỉnh trong những năm tới
Hiện nay, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở tỉnh có xuhướng tăng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH Nhìnchung, chất lượng lực lượng lao động chưa nâng lên tương xứng, điều này thểhiện ở tỷ lệ lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên rất ít.Những năm gần đây, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng khá nhanh, nhưng chủyếu là do tăng tỷ lệ lao động đào tạo ở trình độ sơ cấp, chứng chỉ nghề (đàotạo ngắn hạn) và tập trung các ngành nghề phục vụ lao động tại tỉnh (có đi nơikhác nhưng chỉ sang Thái Lan) chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầucủa các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao và xuất khẩu lao động
Công tác đào tạo nghề tuy có bước phát triển, nhưng hệ thống cơ sở đàotạo nghề còn ít, cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viêndạy nghề vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng Tỉnh chưa có chínhsách khuyến khích đào tạo nghề và học nghề Chương trình đào tạo, giáo trìnhgiảng dạy chậm đổi mới, chưa theo kịp công nghệ sản xuất mới Do đó, chấtlượng của công tác đào tạo nghề chưa được nâng cao, chưa đáp ứng yêu cầuthực tiễn Lực lượng lao động tập trung ở nông thôn, chủ yếu là lao động phổthông, chưa qua đào tạo (hơn 70%) nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làmLao động ở mức 2,8% so với tổng số lao động trong độ tuổi
Về đội ngũ cán bộ công chức: trong chiến lược phát triển NLCN của
tỉnh, đội ngũ cán bộ công chức được coi trọng đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Công tác đào tạo coi trọng cả về
số lượng và chất lượng để đảm bảo tính kế thừa và đảm bảo nguyên tắc tăngcường số lượng cán bộ trẻ và có đội ngũ cán bộ gồm 3 thế hệ trong trước mắt
và lâu dài
27
Trang 28+ Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ cấp tỉnh theo chương trình bồidưỡng tiếng Anh của sở giáo dục tỉnh
Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, cán bộ khoa học kỹ thuật đãđược đào tạo bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, góp phần đáng kểcho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Tuy nhiên, trình độ, năng lực củamột bộ phận cán bộ chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nhiệm vụ mới Phần đôngcán bộ yếu về ngoại ngữ, tin học và kiến thức quản lý kinh tế Số cán bộ đượcđào tạo cơ bản chính quy còn ít, chủ yếu vừa học vừa làm, qua các lớp tạichức, đào tạo từ xa, ngắn hạn nên chất lượng đào tạo không cao Ngoài ra một
bộ phận cán bộ chưa thật sự vươn lên, nhiệt tình trong công việc, thiếu rènluyện phẩm chất đạo đức Vấn đề quản lý, đào tạo đội ngũ cán bộ còn lỏnglẻo nặng về hợp thức hoá tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chưa gắn với yêu cầunhiệm vụ; phân bố, sử dụng chưa đúng với ngành nghề đào tạo, thiếu cán bộ
kế cận Chính sách đối với cán bộ chưa động viên khuyến khích họ cống hiếnnhiều hơn cũng như phấn đấu tự học tập nâng cao trình độ
Tóm lại, chất lượng NLCN ở tỉnh Viêng Chăn xét ở trình độ học vấn vàchuyên môn kỹ thuật còn thấp so với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH Đây lànguyên nhân làm hạn chế cơ hội phát triển và khả năng lao động sáng tạo củangười lao động, từ đó làm hạn chế tốc độ CNH, HĐH của tỉnh Vì vậy, nângcao chất lượng, phát triển NLCN ở tỉnh là yêu cầu cơ bản có tính cấp báchnhằm đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của quá trình phát triển kinh tế-xãhội và là điều kiện để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của tỉnh trong thờigian tới
2.1.2 Đăc điểm phân bố nguồn lực con người của tỉnh Viêng Chăn
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, NLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chấtlượng cao chủ yếu tập trung ở các khu công nghiệp và hệ thống chính trị củatỉnh Ngược lại, các khu vực nông thôn, các vùng có tiềm năng về phát triển
Trang 29kinh tế trang trại, du lịch, khai thác khoáng sản nhưng do dân cư ít tập trung,dẫn đến NLCN có trình độ cao lại không được đầu tư phát triển đúng mức
So sánh giữa các huyện, thị và các sở, ngành trong tỉnh, NLCN tậptrung và gia tăng ở các sở, ngành của cấp tỉnh so với các huyện, thị Theođánh giá tổng kết việc thực hiện phát triển NLCN từ 2006-2010 của Ban Tổchức tỉnh ủy Nói chung số lượng cán bộ cấp huyện, thị có trình độ từ caođẳng trở lên vẫn còn thấp và nguồn nhân lực chất lượng cao ở các sở, ngànhtrong tỉnh cũng phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trong ở khu vực hànhchính sự nghiệp như giáo dục và y tế, nông nghiệp phát triển nông thôn, cáctrường trong tỉnh
Việc phân bố NLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tronglĩnh vực quản lý nhà nước có sự không đồng đều giữa cấp tỉnh và cấp huyện,đặc biệt đối với cấp bản (thôn bản) thì tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao cótrình độ cao đẳng, đại học là rất thấp, điều này cho thấy từ sự cần thiết phải đề
ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài
Phân bố nguồn lực con người theo ngành kinh tế: Hiện nay, phân bố
theo ngành kinh tế ở tỉnh Viêng Chăn được thực hiện trong mối quan hệ vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH, HĐH, cơ cấu lao động theo ngành nghề ở tỉnh cũng từngbước chuyển đổi theo hướng tăng dần tỷ lệ lao động trong khu vực côngnghiệp và dịch vụ giảm dần lao động trong khu vực nông nghiệp
Phân bố trong các thành phần kinh tế Nhìn chung, NLCN ở tỉnh phân
bố nhiều trong khu vực kinh tế Nhà nước và khối hành chính sự nghiệp Ởkhu vực sản xuất kinh doanh cá thể, NLCN còn thiếu về số lượng và yếu vềchất lượng, nhất là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, các hộ sản xuất kinhdoanh cá thể Phần lớn lao động ở khu vực kinh tế tư nhân và khối sản xuấtkinh doanh cá thể chưa được đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp
29
Trang 30vụ, do đó ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, chất lượng, hiệu quả của cácdoanh nghiệp này NLCN của tỉnh có những điểm mạnh và hạn chế sau đây:
Về điểm mạnh: lực lượng lao động trong năm 2006-2010 gồm 208,500
người, cơ cấu lao động trẻ với trên 44,1% trong độ tuổi thanh niên từ 15-29tuổi; trình độ của người lao động khá cao so với trình độ chung của cả nước.Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy chính quyền các cấp đượcđào tạo có hệ thống ở trong và nước ngoài, có năng lực tiếp thu những kiếnthức và kỹ năng của các nước tiên tiến Lực lượng lao động trong các ngành
cơ khí sản xuất phụ tinh và lắp ráp xe máy, chế biến lương thực - thực phẩm,công ty xi măng Văng Viêng I, Văng Viêng II, công ty khai thác mỏ vàngPhubia, đồ trang sức có kỹ năng và trình độ chuyên môn khá; Trình độ phâncông lao động khá phát triển, cơ cấu lao động tiến bộ
Những hạn chế: Lao động có trình độ lành nghề chưa nhiều do thiếu
các cơ sở đào tạo Tác phong làm việc công nghiệp mới hình thành và chưaphổ biến rộng rãi Lao động làm việc trong kinh tế hộ gia đình chiếm tỷ trọnglớn, chủ yếu vẫn là loại lao động phổ thông chưa được đào tạo, nên năng suấtthấp, tính chuyên môn hoá thấp
Tóm lại, sự phân bố lao động theo thành phần kinh tế là rất quan trọngtrong phân bố NLCN Nó cho phép khai thác tiềm năng, thế mạnh của cácthành phần kinh tế trong một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nhưng thực tế cho thấy, các thành phần kinh tế của tỉnh hiện nay pháttriển không đồng bộ, khu vực kinh tế tư nhân phát triển chưa tương xứng vớitiềm năng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn ít Vì vậy, coi trọng pháttriển mạnh các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không chỉ là chính sáchphát triển kinh tế mà còn là một giải pháp cho phép sử dụng có hiệu quả vàphát triển NLCN ở tỉnh Viêng Chăn hiện nay
Trang 312.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIÊNG CHĂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA TỈNH
2.2.1 Những thành tựu đạt được trong phát triển nguồn lưc con người ở tỉnh Viêng Chăn và nguyên nhân
2.2.1.1 Về thành tựu
Để phát triển NLCN đảm bảo chất lượng, đáp ứng đựơc những đòi hỏingày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH, Đảng bộ của tỉnh đã xác định: quátrình phát triển kinh tế-xã hội phải gắn với quá trình phát triển NLCN Do đó,quá trình phát triển NLCN ở tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng kể:
Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh có quy mô dân số lớn ngày càng tăng.Dân số càng nhiều thì NLCN càng dồi dào Nhưng dân số tăng nhanh quá sẽgây áp lực lớn về đảm bảo đời sống và cải thiện đời sống nhân dân, ảnhhưởng đến chất lượng của NLCN Vì vậy, Bộ y tế đã triển khai và thực hiệntốt công tác kế hoạch hoá gia đình (từ năm 2005 cho đến nay) hạ thấp được tỷ
lệ tăng tự nhiên dân số của cả nước nói chung, ở tỉnh Viêng Chăn nói riêng.Việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu dân số kế hoạch hoá gia đình góp phầnthiết thực vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời gian qua,đồng thời trực tiếp đóng góp mức tăng thu nhập bình quân đầu người, giảmsức ép về sự gia tăng dân số và những yêu cầu bức xúc về chi phí cho các nhucầu xã hội do sự tăng dân số, góp phần ổn định đời sống nhân dân, xoá đóigiảm nghèo
Những thành tựu đạt được trong việc phát triển nguồn lực con ngườicủa tỉnh được biểu hiện như sau:
Một là, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực phù hợp với quá trình CNH, HĐH của tỉnh
Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Nghị quyết Đại hội IV của ĐảngNDCM Lào, tỉnh đã quán triệt và thể hiện thành phương hướng, nhiệm vụ, mụctiêu kinh tế-xã hội của tỉnh Hiện nay, tỉnh đang quán triệt và thực hiện Nghị
31
Trang 32quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng NDCM Lào cũng như Nghị quyết đại hộilần thứ IV của Đảng bộ tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong
5 năm (2011-2015) nhằm làm cho tỉnh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, có cơ sở
để thực hiện được sự nghiệp CNH, HĐH trong một số ngành
Trong những năm qua, nền kinh tế-xã hội tỉnh phát triển liên tục Tổngthu nhập quốc nội (GDP) của tỉnh tăng trưởng khá tốt so với những giai đoạntrước đây và làm cho sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế đúng hướng (Xemphụ lục 2)
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành tương đối rõ và cơbản là đúng hướng đã kéo theo sự chuyển dịch của cơ cấu lao động tỉnh theochiều hướng tích cực Đó là lao động trong ngành nông - lâm nghiệp chiếm tỷtrọng trong GDP có xu hướng giảm dần, trong khi đó lực lượng lao động củangành dịch vụ và công nghiệp tăng nhanh và chiếm tỷ trọng nhiều hơn so vớinông nghiệp
Hai là, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh được nâng lên
Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chếthị trường có sự quản lý của nhà nước, Đảng bộ và chính quyền tỉnh chú trọngkhuyến khích sự đầu tư vào việc sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế củanhà nước, tập thể và tư nhân theo cơ chế thị trường Do đường lối đúng đắn
và sự cố gắng của nhân dân tỉnh nên kinh tế tăng trưởng và phát triển liên tục,
đã làm cho quá trình sản xuất, dịch vụ, thương mại và môi trường đầu tư cảtrong và ngoài nước có bước tiến mới, mức sống của nhân dân tỉnh được cảithiện, tình trạng đói nghèo của nhân dân ngày càng giảm dần
Ba là, đại bộ phận nhân dân trong tỉnh yêu nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước
Trong những năm qua, đường lối đổi mới đúng đắn cũng như sự củng
cố bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đã tạo nhiều điềukiện thuận lợi, làm cho tỉnh đạt được nhiều thành công Chính sách và cơ chế
Trang 33quản lý kinh tế của nhà nước và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nhànước trong việc xây dựng kinh tế theo cơ chế thị trường đã làm cho sự tăngtrưởng của kinh tế phát triển liên tục Do vậy, trong giai đoạn 2001-2005,kinh tế đã tăng bình quân là 7,4% và trong 5 năm từ 2006-2010 trung bìnhtăng 8,9% Chính sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện vật chất và tácđộng tích cực đến nhận thức chính trị của nhân dân tỉnh Đảng và Nhà nướcLào rất coi trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị cho con người Lào Chiếnlược phát triển NLCN đến năm 2020 đã chỉ ra rằng: “Con người Lào tronghiện tại và tương lai cần phải kiên định về chính trị, kiên trì trong lý tưởngcủa Đảng, của xã hội chủ nghĩa, trung thành với tổ quốc và với nhân dân, cótinh thần độc lập, thống nhất, tự chủ” [47, tr.8].
Trong điều kiện mở cửa hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế theo cơ chếthị trường, không chỉ cần những con người có tài về nghề nghiệp chuyên môn
mà còn cần phải có bản lĩnh chính trị kiên cường, yêu êu chế đnước, yộ mới,trung thành với tổ quốc Do vậy, ở tỉnh Viêng Chăn, Đảng bộ tỉnh và các cấplãnh đạo đã coi việc giáo dục chính trị - tư tưởng gắn liền với việc xây dựng
cơ sở chính trị làm gốc Tổ chức quán triệt và phổ biến các nghị quyết của các
kỳ Đại hội Đảng, của Đảng bộ tỉnh xuống tới các cơ sở địa phương và nhândân nhằm nâng cao trình độ kiến thức lý luận chính trị và hành chính, nêu caotinh thần yêu nước, yêu chế độ mới; phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, tựcường, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là sự đổimới toàn diện có nguyên tắc của Đảng theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa; chốngmọi âm mưu diễn biến hoà bình, hoặc đòi đa đảng, đa nguyên
Do nhận thức rõ con người là yếu tố quyết định của sự nghiệp đổi mới,CNH, HĐH ở tỉnh Viêng Chăn, nên Đảng bộ tỉnh rất coi trọng công tác Đảng
và công tác cán bộ Hiện nay, cán bộ đảng viên ở tỉnh đã tăng cả về số lượng
và chất lượng Trong giai đoạn năm 2006-2010, tỉnh có 12.360 đảng viên, nữ
33
Trang 342.601 đồng chí (so với năm 2005 tăng 3.171 đồng chí, nữ 989 đồng chí), trong
đó ở cấp bản có 5.069 đồng chí, nữ 48 đồng chí, [38, tr.2-3]
Trong điều kiện mới, cán bộ không chỉ có những kiến thức về chuyênmôn mà còn cần phải biết và nắm vững những kiến thức về lĩnh vực chính trị,hành chính Vì vậy, tỉnh rất chú trọng phát triển con người về trình độ lý luậnchính trị và trình độ về quản lý nhà nước Trong những năm qua, tỉnh đào tạođược cán bộ lý luận qua các khoá học ở các trường chính trị với trình độ nhưsau:
- Trong nước:
+ Thạc sĩ 11 người, nữ 2 người
+ Cử nhân 24 người, nữ 6 người
+ Cao đẳng 11 người, nữ 2 người
+ Bồi dưỡng (5 tháng) 30 người, nữ 5 người
- Ngoài nước:
+ Thạc sĩ 3 người, nữ 0 người
+ Cử nhân 18 người, nữ 6 người
+ Cao đẳng 1 người, nữ 0 người
+ Tuyên huấn 16 người, nữ 1 người [38, tr 4]
Ngoài ra, tỉnh còn dạy học lý luận chính trị hành chính trung cấp củatỉnh 2 lượt, trong đó có 116 người, nữ 19 người; và bồi dưỡng lý luận chínhtrị (45 ngày) có 2 lượt, trong đó có 67 người [38, tr 4-5]
Phát huy nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế-xã hội cũng cầnphải gắn liền với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mặt trận xâydựng đất nước và các tổ chức quần chúng trở thành lực lượng bảo vệ và pháttriển tỉnh Tất cả các thành tựu và thắng lợi mà đạt được trước hết là do chúng
ta có những con người vững vàng về bản lĩnh chính trị, tin tưởng vào đườnglối lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là thấm nhuần đường lối đổi mới của Đảng, là
Trang 35kết quả tổng hợp của sự đoàn kết và sự quyết tâm tiến lên của toàn Đảng, toàndân, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân.
Bốn là, coi trọng phát triển văn hóa giáo dục, y tế, giải quyết lao động việc làm, phúc lợi xã hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
+ Về văn hóa giáo dục
Tỉnh tiếp tục củng cố phương tiện truyền thông như báo tỉnh ViêngChăn, đài phát thanh tỉnh Bên cạnh đó, tỉnh quan tâm quản lý các cơ sở vuichơi giải trí, cửa hàng bán và cho thuê băng đĩa, hiệu sách, các đội văn nghệchuyên nghiệp, không chuyên, hoạt động của các lễ hội nhằm đảm bảo hoạtđộng phù hợp với truyền thống văn hoá các bộ tộc Đẩy mạnh tuyên truyềnđường lối chính sách, pháp luật, quy chế, thông tư của các cấp lãnh đạo, độngviên nhân dân sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự, và sản xuất hàng hoá, xâydựng bản văn hoá, gia đình văn hoá chú trọng công tác bảo vệ cổ vật, cácđịa điểm danh lam thắng cảnh, dấu tích lịch sử là di sản của tỉnh cũng như củaquốc gia
Hiện nay, toàn tỉnh có 63 bản văn hoá và 12.313 hộ gia đình văn hoá.Tỉnh có 1 hệ thống đài phát thanh FM với tần số (5KW), phát thanh được 9huyện trong tỉnh [45, tr.20]
Phát triển giáo dục, nâng cao trình độ làm cho cán bộ công nhân viênngành văn hoá thông tin tương đối vững vàng về tư tưởng, chính trị, trí tuệcao, có lòng tự hào, tâm huyết với sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh, có khảnăng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến, nhanh nhạy và có năng lực trongsản xuất, kinh doanh, có lối sống văn minh, thanh lịch, hiện đại
Theo báo cáo tổng kết về việc thực hiện chiến lược phát triển NLCNnăm 2006-2010 của Ban Tổ chức tỉnh uỷ Viêng Chăn : “Từ học kỳ 2006 đến
2010, Đảng uỷ tỉnh đã quan tâm thúc đẩy các trường triển khai chương trình:
“xây dựng trường xanh sạch, môi trường và chất lượng” Hiện nay, tỉnh có
35
Trang 36trường mầm non-mẫu giáo, trường tiểu học và trung học tất cả là 682 trường,trong đó cả trường công và trường tư Đội ngũ giáo viên có 4.742 người(trong đó giáo viên nữ 2.252 người) Tổng số học sinh là 116.932 người, họcsinh nữ 53.792 người Cụ thể như sau:
- Toàn tỉnh, số trường mầm non (cả trường công và trường tư) là 82trường, so với học kỳ 2005 tăng lên (11%); Giáo viên là 227 người (giáo viên
nữ 227 người) Tổng số học sinh là 4.725 học sinh, trong đó nữ 2.344 họcsinh Trẻ em độ tuổi từ 3-5 tuổi tăng 345 em bằng 8,93% so với học kỳ trước
- Trường tiểu học (cả trường công và tư) có 502 trường có 67.247 họcsinh, nữ 32.115 học sinh, so với học kỳ trước giảm 438 học sinh bằng 0,65%.Đội ngũ giáo viên có 2.511 người (nữ 1.206 người) Tỷ lệ vào học chiếm99,24%, nhưng tỷ lệ vào học chung chiếm 114,81%,và tỷ lệ vào học mới là95,50% so với học kỳ trước chưa đạt được kết quả 1,71%
- Năm 2009-2010 toàn tỉnh có trường trung học cả trường công vàtrường tư có 98 trường, trong đó có cả trường phổ thông cấp II và cấp III, có42.541 học sinh, nữ 18.239 người, so với học kỳ trước tăng lên 2.590 ngườibằng 6,49% Đội ngũ giáo viên có 2.004 người, nữ 821 người[58, tr.17]
Hiện nay, tỉnh Viêng Chăn thực hiện cải cách và phát triển mạng lướigiáo dục, nâng cao trình độ tri thức và tài năng cho học sinh các cấp, thườngxuyên kiểm tra việc dạy và học, quan hệ giữa thầy và trò cả ở trường công lập
và tư nhân nhằm nâng cao chất lượng của công tác giáo dục cũng như chấtlượng của học sinh Để tạo điều kiện cho công tác giáo dục phát triển và đạtđược mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh đã đầu tư tăng lớphọc, trường học và tăng đội ngũ cán bộ giảng viên, huy động học sinh đi học
Sở giáo dục của tỉnh đã tổ chức tập huấn phương pháp giảng dạy cho giảngviên và gửi các giảng viên đi học nâng cao trình độ ở trong và ngoài nước
+ Về y tế:
Trang 37Tỉnh chú trọng việc phục vụ y tế phòng chống và chữa các căn bệnhxảy ra “Tỉnh có 1 bệnh viện cấp tỉnh tổng số 90 giường và 12 bệnh viện cấphuyện với tổng số 145 giường, 52 trạm xá với 100 giường, và có 1 bệnh việncai nghiện, 79 phòng khám tư nhân, 2 quỹ thuốc luân chuyển, 164 quỹ thuốcbản, 195 cửa hàng thuốc tư nhân [56, tr.12].
Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em đã trở thành phongtrào toàn xã hội Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân được nâng cao,ngăn chặn không để các dịch lớn xảy ra Y tế vùng sâu, vùng xa được chútrọng Hiện nay, tỉnh đang tiếp tục sắp xếp cán bộ theo trình độ kiến thức, khảnăng và năng khiếu vào các ngành để cân đối cán bộ theo hướng của Bộ y tế
đề ra
+ Công tác lao động và phúc lợi xã hội, trong thời gian qua đã thực
hiện nghiêm túc và đạt nhiều thành tựu trong công tác chăm lo quản lý, pháttriển tay nghề và tìm kiếm việc làm, kiểm tra số lao động trong các cơ sở laođộng, đăng ký lên danh sách lao động nước ngoài, kiểm tra sử dụng lao độngtrẻ em trong các cơ sở lao động Quan tâm, chăm lo quyền lợi, sức khoẻ vànghề nghiệp của người lao động là rất cần thiết, vì nó tác động trực tiếp đếnđời sống của người lao động và sự phát triển con người, nó có ảnh hưởng trựctiếp đến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia và kế hoạch phát triểnkinh tế-xã hội của tỉnh
Ngành lao động và phúc lợi xã hội tỉnh đã phổ biến Bộ Luật Lao độngcho các cơ sở lao động và giải quyết mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động
và người lao động Phối hợp với sở Y tế phổ biến cách đề phòng căn bệnh lâynhiễm qua đường tình dục cho người lao động, dạy nghề cho người khuyếttật Phối hợp với Bộ lao động và phúc lợi xã hội phát thẻ bảo hiểm y tế (6.006thẻ) cho các cán bộ công chức, cán bộ nghỉ hưu (1.227 thẻ), các cặp vợ chồng(6.039 thẻ) và con cái của cán bộ (15.845 thẻ) Ngoài ra tỉnh còn trao tiền trợcấp cho cán bộ đã nghỉ hưu, đã thực hiện chính sách cho người khuyết tật,
37