Công nghiệp chế biến sản phẩm sử dụng da thuộc, da nhõn tạo, cỏc vật liệu khỏc như vải dệt, cao su, nhựa, các tông; nguyên vật liệu phụ như keo dán, chất xử lí bề mặt, dung môi xăng, cồn
Trang 1Viện nghiên cứu da-giầy
Báo cáo tổng kết Nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2008
Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường ngành da giầy; xây dựng sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường
cho các doanh nghiệp ngành da giầy
Chủ nhiệm nhiệm vụ: Ths Nguyễn Mạnh Khôi
Trang 21.1 C¬ së ph¸p lý vµ xuÊt xø cña nhiÖm vô b¶o vÖ m«i tr−êng 5
1.3 §èi t−îng, ph¹m vi vµ néi dung cña nhiÖm vô BVMT 5
1.4 Ph−¬ng ph¸p tiÕn hµnh nhiÖm vô BVMT 6
1.5 Tæng quan t×nh h×nh thùc hiÖn nhiÖm vô trong vµ ngoµi
n−íc
7
1.6 Kh¸i qu¸t vÒ ngµnh C«ng nghiÖp Da - GiÇy ViÖt Nam 11
PhÇn II - qu¸ tr×nh s¶n xuÊt da giÇy vµ
c¸c chÊt th¶i ®i kÌm
20
2.1 Qu¸ tr×nh s¶n xuÊt da vµ chÊt th¶i ngµnh da 20
2.2 S¶n xuÊt giÇy vµ chÊt th¶i ngµnh giÇy 33
2.3 S¶n xuÊt nguyªn phô liÖu ngµnh Da - GiÇy 43
PhÇn iII- hiÖn tr¹ng m«i tr−êng vµ c«ng
t¸c bvmt ngµnh da giÇy viÖt nam
44
3.1 HiÖn tr¹ng m«i tr−êng ngµnh c«ng nghiÖp thuéc da VN 44
3.2 HiÖn tr¹ng m«i tr−êng ngµnh s¶n xuÊt giÇy ViÖt Nam 49
3.3 HiÖn tr¹ng c«ng t¸c b¶o vÖ m«i tr−êng trong ngµnh Da -
GiÇy ViÖt Nam
Trang 3STT Hä vµ tªn NhiÖm vô-N¬i c«ng t¸c
1 Ths NguyÔn M¹nh Kh«i Chñ nhiÖm nhiÖm vô
ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
2 Ks NguyÔn H÷u C−êng Céng t¸c viªn
ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
3 Ks NguyÔn H÷u Cung Céng t¸c viªn
ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
4 Ks TrÇn V¨n Hµ Céng t¸c viªn
ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
5 Ths Vò Ngäc Giang Céng t¸c viªn
ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
6 Ths Bïi Ngäc Khoa Céng t¸c viªn
Trung t©m C«ng nghÖ m«i-ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy
7 Ks H¶i ©u Céng t¸c viªn
Chi nh¸nh Trung t©m C«ng nghÖ m«i-ViÖn nghiªn cøu Da-GiÇy, khu vùc phÝa Nam
Trang 4Tổ chức thương mại thế giới
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc
Cộng đồng châu Âu Vốn đầu tư nước ngoài Chất rắn lơ lửng
Chất hữu cơ dễ bay hơi
Đánh giá tác động môi trường Bảo vệ môi trường
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường Tiêu chuẩn Việt Nam
Trung ương
Địa phương
Trang 5Bảng 12 −ớc tính l−ợng chất thải phát sinh hàng năm của ngành Da -
Giầy Việt Nam
Sơ đồ 4 Quy trình công nghệ sản xuất giầy với nguyên liệu và các
chất thải
37
Sơ đồ 5 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải ngành giầy Việt Nam 51
Trang 6Tóm tắt nội dung nhiệm vụ BVMT
Tên nhiệm vụ BVMT: “Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường ngành Da Giầy;
xây dựng sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp ngành
Da-Giầy”
Mã số nhiệm vụ BVMT: 13-08/HĐMT- KHCN
Chủ nhiệm nhiệm vụ BVMT: Ths Nguyễn Mạnh Khôi
Cơ quan chủ trì: Viện nghiên cứu Da- Giầy, Bộ Công Thương
Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ BVMT
Hợp đồng nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2008 số 13-08/HĐMT-KHCN giữa Bộ Công Thương và Viện nghiên cứu Da-Giầy, ký ngày 18/3/2008
Xuất xứ của nhiệm vụ BVMT
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp Da-Giầy Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ và ngành đã trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng có những đóng góp to lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Sự phỏt triển của ngành cụng nghiệp Da-Giầy Việt Nam đồng thời cũng kộo theo sự ụ nhiễm mụi trường ngày càng gia tăng do cỏc nguồn chất thải thải ra mụi trường ngày càng nhiều nhưng chưa được xử lý đạt tiờu chuẩn Đặc biệt là nước thải hầu như thải tự do ra sụng ngũi, ao, hồ, đồng ruộng gõy ụ nhiễm mụi trường nước mặt, nước ngầm; ảnh hưởng đến sản xuất nụng nghiệp, sức khỏe cộng đồng
và mụi trường sinh thỏi
Thực tế trong nhiều năm qua, do khú khăn về tài chớnh, do nhận thức về bảo
vệ mụi trường chưa cao, do hạn chế về mặt bằng, cơ sở sản xuất chật hẹp, đan xen trong khu dõn cư nờn hầu hết cỏc doanh nghiệp da giầy đặc biệt là cỏc doanh nghiệp thuộc da khụng cú hệ thống xử lớ nước thải, hoặc cú mà khụng hoạt động
Trang 7thường xuyờn Hầu hết cỏc doanh nghiệp chỉ ỏp dụng biện phỏp sa lắng trong nước thải qua kờnh dẫn, hồ chứa rồi đổ thẳng vào hệ thống cống cụng cộng Cỏc chất thải rắn phần lớn vẫn được đem đi chụn lấp khụng đỳng qui cỏch Cỏc chất thải khớ được đưa thẳng ra khớ quyển
Công nghiệp chế biến sản phẩm sử dụng da thuộc, da nhõn tạo, cỏc vật liệu khỏc như vải dệt, cao su, nhựa, các tông; nguyên vật liệu phụ như keo dán, chất xử
lí bề mặt, dung môi (xăng, cồn etyl, axeton, toluen), chỉ may, vật liệu kim loại, các vật liệu trau chuốt giầy (các loại pigment, xi bóng, sáp) cũng tạo ra nhiều chất phế thải dạng rắn và khí và phần lớn các phế thải này đều chưa được xử lý đến nơi đến chốn
Vấn đề ô nhiễm môi trường do ngành Da - Giầy gây ra đã trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Nhiều doanh nghiệp da giầy trong cả nước nhất là các doanh nghiệp thuộc da vừa và nhỏ đang đứng trước nguy cơ phải ngừng sản xuất, thậm chí chấm dứt hoạt động, chuyển đổi ngành nghề do không đáp ứng được các đòi hỏi của việc bảo vệ môi trường
Để ngành Da-Giầy có thể phát triển bền vững, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏi phải sớm có nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường của ngành để từ đó có thể đề ra các giải pháp, chính sách để thúc đẩy sản xuất đồng thời có thể quản lý chất thải bảo vệ môi trường
Mục tiêu của nhiệm vụ BVMT
Nắm được hiện trạng môi trường ngành công nghiệp Da-Giầy, đề xuất
phương hướng giải quyết; xây dựng sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp da giầy
Nội dung thực hiện nhiệm vụ BVMT
Để có thể có được bức tranh về thực trạng môi trường ngành Da Giầy, đề tài
đã tiến hành điều tra một số doanh nghiệp điển hình trong ngành ở cả ba miền trong cả nước
Phương pháp tiến hành điều tra
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra thông qua quan sát và phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra về môi trường tại các doanh nghiệp da giầy trong cả nước
Trang 8Để bảo đảm tính đại diện và tính chính xác của các thông tin thu thập được, các doanh nghiẹp được lựa chọn dựa trên các tiêu chí về quy mô, loại hình doanh nghiệp cũng như số lượng trong mỗi khu vực
Phiếu điều tra được thiết kế nhằm mục đích thu được tối đa các thông tin về doanh nghiệp và môi trường Các thông tin được thu thập và ghi lại trong quá trình
điêù tra cùng các thông tin thu thập từ các cuộc hội thảo, từ các chuyên gia trong và ngoài ngành và từ nhiều nguồn thông tin khác được phân tích và tổng hợp trong báo cáo này để đưa ra bức tranh thực trạng về các vấn đề môi trường tại các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp da giầy trong cả nước
Số doanh nghiệp được điều tra là 50 trên tổng số hơn 500 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ gần 10 % và được phân bổ trên cả ba vùng của đất nước
Các doanh nghiệp được điều tra có quy mô sản xuất khỏc nhau cú doanh nghiệp qui mụ mụ vừa và nhỏ với số lượng lao động ớt và cú doanh nghiệp lớn với
số lượng lao động lên đến hàng nghìn Về phương thức sản xuất, kinh doanh phần lớn các doanh nghiệp giầy dép sản xuất gia công cho các đối tác trung gian nước ngoài, sau đó sản phẩm được xuất khẩu sang các thị trường lớn như EU, Mỹ, Canada, v.v Một số ít các doanh nghiệp lớn trực tiếp xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Doanh thu của các doanh nghiệp cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô, mặt hàng, thị trường và loại hình sản xuất kinh doanh Việc áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000 và ISO 14000 tại các doanh nghiệp còn rất hạn chế Các hình thức hỗ trợ từ các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp và các cơ quan quản lý trong việc cung cấp các thông tin về các hệ thống quản lý theo các tiêu chuẩn quốc tế còn chưa nhiều Nhiều doanh nghiệp còn chưa biết đến hoặc chưa thực sự quan tâm đến các hệ thống quản lý này trong khi một số doanh nghiệp thực hiện gia công, hợp tác sản xuất đã làm quen với cách thức quản lý tiên tiến từ trong quá trình hợp tác với các đối tác nước ngoài
Kết quả và ứng dụng
Chủ nhiệm nhiệm vụ và cỏc cộng tỏc viờn đã nghiờn cứu nhiều tài liệu trong
và ngoài nước; đó điều tra, khảo sát nhiều doanh nghiệp da giầy và đó tổng hợp thành bản báo cáo về hiện trạng môi trường của ngành Da-Giầy Việt Nam đồng
Trang 9thời đề xuõt một số nhúm giải phỏp gúp phần giải quyết vấn đề mụi trường của ngành
Trên cơ sở kết quả khảo sát hiện trạng môi trường và với mục đích trợ giúp cho công tác bảo vệ môi trường trong ngành công nghiệp Da - Giầy, chủ nhiệm nhiệm vụ cùng các cộng tác viên đã biên soạn cuốn Sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp ngành Da Giầy Cuốn Sổ tay được biên soạn và trình bày ngắn gọn, thiên về gợi ý thực hành để giúp cho việc BVMT trong ngành công nghiệp Da - Giầy một cách dễ dàng Cuốn sổ tay gồm các chương:
- Chương I Một số khái niệm về BVMT trong ngành Da- Giầy
- Chương II Tổng quan về ngành công nghiệp Da - Giầy Việt Nam và thực trạng ô nhiễm môi trường
- Chương III Các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường ngành Da - Giầy
- Chương IV Xử lý môi trường trong công nghiệp thuộc da
Phần phụ lục của cuốn sổ tay giới thiệu những vấn đề cơ bản về sản xuất sạch hơn, ISO 14000 và Hệ thống quản lý môi trường
Cuốn Sổ tay giúp cho các cấp lãnh đạo, quản lý sản xuất và công nghệ ở doanh nghiệp da- giầy biết những gì cần làm và làm thế nào để bảo vệ môi trường
mà vẫn đảm bảo sản xuất có hiệu quả góp phần sản xuất da giầy một cách bền vững theo hướng thân thiện với môi trường
Vì đây là lần đầu biên soạn nên không tránh khỏi các lỗi kỹ thuật cũng như lỗi chuyên ngành, rất mong sự đóng góp ý kiến xây dựng của độc giả để nhóm biên soạn chỉnh lý và sớm xuất bản cuốn Sổ tay này
Chủ nhiệm nhiệm vụ BVMT và cỏc cộng tỏc viờn hy vọng rằng cuốn sổ tay này cú thể là một tài liệu tham khảo hữu ớch và có thể được phộp phổ biến tới các doanh nghiệp da giầy và tới cỏc bên có liên quan
Trang 10Phần I Tổng quan
1.1 Cơ sở pháp lý, xuất xứ của nhiệm vụ BVMT
1.1.1 Cơ sở pháp lý của nhiệm vụ BVMT
Hợp đồng nghiên cứu khoa học số 13- 08/HĐMT-KHCN giữa Bộ Công Thương và Viện nghiên cứu Da-Giầy ký ngày 18/3/2008
1.1.2 Xuất xứ của nhiệm vụ BVMT
Từ nhu cầu cấp bách của nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành Da-Giầy Việt Nam
1.2 Mục tiêu của nhiệm vụ BVMT
Nắm vững hiện trạng môi trường ngành công nghiệp Da-Giầy; xây dựng sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp da giầy
1.3 Đối tượng, phạm vi và nội dung của nhiệm vụ BVMT
1.3.1 Đối tượng của nhiệm vụ BVMT:
Các doanh nghiệp Da-Giầy ở Việt Nam
1.3.2 Phạm vi của nhiệm vụ BVMT:
Hiện trạng môi trường của ngành Da-Giầy Việt Nam
1.3.3 Nội dung của nhiệm vụ BVMT:
- Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước
- Điều tra, khảo sát thực tế các doanh nghiệp da giầy
- Viết báo cáo hiện trạng môi trường ngành da-giầy
- Biên tập sổ tay hướng dẫn bảo vệ môi trường ngành da- giầy
- Tổ chức phổ biến kết quả nghiên cứu tới các bên có liên quan
• Nội dung điều tra, khảo sát tại các doanh nghiệp:
Điều tra, khảo sát thực tế quá trình sản xuất
- Thu thập các thông số kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất
Trang 11- Thu thập thông tin về danh mục các hoá chất sử dụng
- Số lượng, chủng loại hoá chất
- Quy trình sử dụng
- Biện pháp an toàn, phòng tránh rủi ro hoá chất
Điều tra, khảo sát thực tế về vấn đề nước thải
- Khảo sát lưu lượng nước thải
Điều tra, khảo sát thực tế về chất thải rắn
- Khảo sát khối lượng chất thải
- Nguồn phát sinh
- Đặc tính chất thải
- Hệ thống thu gom, quản lý
- Chất thải nguy hại
Điều tra, khảo sát thực tế về khí thải
- Điều tra, khảo sát môi trường xung quanh
- Đo kiểm chất lượng môi trường xung quanh: đất, nước, không khí
- Điều tra thông tin về ảnh hưởng môi trường tại cộng đồng dân cư xung quanh
- Tham vấn ý kiến của cơ quan quản lý địa phương và cơ quan chủ quản
1.4 Phương pháp tiến hành nhiệm vụ BVMT
Nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp sau trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ BVMT:
- Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đõy
- Điều tra, khảo sát thực tế
Trang 12- Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia
- Phân tích, tổng hợp
1.5 Tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong và ngoài nước
1.5.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong nước
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Da Giầy Việt Nam trong vài chục năm trở lại đây bên cạnh các thành tựu kinh tế, xã hội đồng thời cũng kéo theo sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng do các chất thải thải ra môi trường ngày càng nhiều nhưng chưa được xử lý, hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn Đặc biệt là nước thải của quá trình thuộc da hầu như thải tự do ra sông ngòi, ao, hồ, đồng ruộng gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, sản xuất nông nghiệp, sức khỏe cộng đồng và môi trường sinh thái
Trước tình hình nói trên, một số tổ chức và cá nhân trong nước đã tiến hành các nghiên cứu về môi trường và các biện pháp xử lý chất thải để bảo vệ môi trưòng
và đã đạt đuợc một số kết quả trong lĩnh vực này Điển hình là Viện Nghiên cứu Da- Giầy đã được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ thực hiện một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực môi trường và áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất Công ty An Sinh (Huế) đã nghiên cứu làm phân vi sinh từ chất thải ; Công ty da giầy Thuỵ Khuê đã có sáng kiến tận dụng quay vòng cao su thải ra Một số cơ sở thuộc da tư nhân đã sử dụng chất thải làm keo (keo da trâu, keo giêlatin, làm thức ăn gia súc, làm phân bón)
Tuy nhiên công việc nghiên cứu về môi trường và công nghệ xử lý môi trường đối với ngành công nghiệp Da Giầy cho đến nay còn rất hạn chế do những
khó khăn hạn chế về nhân lực vật lực cũng như nhận thức về bảo vệ môi trường
Mặc dù đã đạt được một số kết quả trong nghiên cứu về môi trường, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất còn nhiều bất cập Cho đến nay các công trình nghiên cứu về môi trường trong ngành da giầy tuy chưa nhiều nhưng quá trình nghiên cứu đã gặp không ít khó khăn do:
- Điều kiện thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu còn thiếu và nhiều thiết
bị đã bị lạc hậu nên nhiều lúc phải sử dụng phương pháp thủ công
Trang 13- Nghiên cứu trong lĩnh vực môi trường da giầy còn mới mẻ đối với cán bộ
kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ nên cỏc cỏn bộ này còn thiếu kinh nghiệm, mặt khác việc tiếp cận và cập nhật thông tin trong nước và thế giới về vấn đề này còn nhiều hạn chế
- Nhận thức của nhiều doanh nghiệp về bảo vệ môi trường còn yếu kém Đa
số các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến xử lý chất thải do chính doanh nghiệp thải ra môi trường vì chủ yếu chỉ tập trung vào việc phỏt triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Chưa có đội ngũ cán bộ đủ mạnh để xử lý triệt để các nguồn chất thải ngành Da Giầy, bên cạnh đó thiếu cơ chế chính sách để khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc Luật bảo vệ môi trường
- Việc thải các chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường vẫn chưa thực sự
ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do chưa có sự kiểm soát chất thải một cách nghiêm ngặt hoặc chưa có những biện pháp cứng rắn trong việc quản
lý môi trường để buộc doanh nghiệp phải tuân thủ
1.5.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường ngoài nước
ở khắp nơi trên thế giới, ngành công nghiệp thuộc da luôn bị coi là ngành gây ô nhiễm nặng nề Nguyên nhân chính là do sử dụng một số lượng lớn hoá chất trong quá trình thuộc và trau chuốt da Trong các hoá chất đó, nhiều hoá chất có
độc tính gây nguy hiểm cho sức khoẻ cộng đồng và huỷ hoại môi trường như Crôm (chất thuộc gây ô nhiễm và tồn tại lâu nhất trong sản phẩm da), sulphua natri, phẩm Azo độc tính và các dung môi hữu cơ.v.v.Trước đòi hỏi bảo vệ môi trường, ngay từ những năm 1960-1980 của thế kỷ trước, các công ty thuộc da ở các nước phát triển
đã phải đầu tư nhiều cho nghiên cứu xử lý chất thải, bảo vệ môi trường Tuy nhiên việc tìm giải pháp đồng bộ xử lý ô nhiễm do quá trình thuộc da gây ra dường như là không thể vì thuộc da là một quá trình phức tạp và không thể tiêu chuẩn hoá quá trình này Ngay cả với sự tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật công nghệ ngày nay, các công trình nghiên cứu về các công đoạn khác nhau của quá trình thuộc da cũng đã không tạo ra được các bước đột phá trong công nghệ sản xuất da cũng như trong việc sản xuất ra các hoá chất đầu vào thay thế với mục đích làm sạch môi trường
Trang 14Bên cạnh việc nghiên cứu công nghệ thuộc da, hoá chất thuộc da, việc xử
lý các chất thải từ sản xuất da là một trong các vấn đề chính của các nhà công nghệ thuộc da vì ngoài nước thải chứa nhiều hoỏ chất độc hại gõy nhiều tổn hại đến mụi trường, quỏ trỡnh thuộc da cũn thải ra một lượng rất lớn chất thải rắn do khoảng trên 50% da nguyên liệu không được chuyển thành da thuộc mà tồn tại dưới dạng chất thải rắn.Vì vậy các nghiên cứu về xử lý chất thải và tái sử dụng nước và dung dịch có chứa hoá chất của quá trình thuộc vẫn là xu hướng nghiên cứu của những thập kỷ này
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, có một tình trạng mang tính tương phản đú là ở các nước phát triển áp lực của việc áp dụng các quy định về xử lý chất thải, bảo vệ môi trường tăng lên một cỏch mạnh mẽ trong khi ở nhiều nước đang phát triển các quy định về xử lý chất thải không tồn tại hoặc nếu có thì cũng không
được áp đặt một cách nghiêm ngặt Hệ quả tất yếu của hai xu hướng trỏi chiều ở trờn đã dẫn đến sự chuyển dịch việc sản xuất da từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Việc sản xuất da giầy được chuyển sang các nước đang phát triển càng được thúc đẩy bởi các hạn chế trong các nước này đối với việc xuất khẩu
da nguyên liệu và các khuyến khích trong chế biến da ở các mức cao cấp hơn Tuy nhiên bên cạnh các lợi ích kinh tế xã hội do việc chuyển dịch sản xuất, các nước tiếp nhận đã phải đối diện với vấn đề ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng do chất thải của quá trình sản xuất da giầy gây ra, và vì vậy đến lượt mình các nước này cũng phải quan tâm đến vấn đề môi trường Đầu những năm 90 của thế kỷ trước các doanh nghiệp sản xuất da giầy đặc biệt là cỏc doanh nghiệp thuộc da ở các nước
đang phát triển đó bị áp lực phải đầu tư cho các công trình xử lý chất thải
Tuy nhiên cần phải thấy rằng công nghệ thuộc da truyền thống không thể
bị thay thế bởi công nghệ thuộc da sạch và hoàn toàn mới, bởi vì điều đó không thể thực hiện được vỡ vậy vẫn luụn tồn tại vấn đề chất thải và những khú khăn trong việc xử lý chỳng Mặc dù xử lý chất thải đòi hỏi đầu tư lớn, tuy nhiên trong thực tế vẫn có thể thực hiện điều này mà chỉ đòi hỏi ít hoặc thậm chí không đòi hỏi vốn
đầu tư như ỏp dụng cỏc biện phỏp kiểm soát quá trình nghiêm nghặt (tránh dùng quá nhiều hoá chất), tiết kiệm nước trong tất cả các công đoạn, tái sử dụng dung
Trang 15dịch thuộc da và nước làm mỏt, xử lý chất thải một cách đơn giản Theo tài liệu của UNIDO, ước tính ở các nước đang phát triển việc áp dụng các biện pháp này có thể loại trừ 50% lượng chất thải thải vào môi trường
Việc tìm kiếm các giải pháp sản xuất da giầy theo hướng thân thiện với môi trường không có nghĩa là các cơ sở da giầy chỉ có thua thiệt, mà họ còn được hưởng lợi từ quá trình này Thực tế việc phát triển công nghệ do sự thúc đẩy của các đạo luật về môi trường có thể làm giảm tổng chi phí sản xuất Giảm ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất da giầy có thể được xem như là tăng năng lực cạnh tranh vì thương mại có thể bị hạn chế khi các điều luật về môi trường tại các nước này không phù hợp với thông lệ quốc tế và cũng bởi vì việc áp dụng công nghệ sạch hơn có thể làm giảm tổng chi phí sản xuất
Nhận thức rõ các thách thức môi trường do ngành Da Giầy gây ra, các tổ chức quốc tế đã có nhiều chương trình hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc sản xuất da giầy theo hướng thân thiện môi trường Ví dụ Chương trình sản xuất da sạch hơn ở châu á do UNIDO tài trợ Chương trình này được triển khai năm 1995 nhằm trợ giúp một số nước ở châu á như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Nepan, Bangladesh, Srilanka trong việc sản xuất da thuộc đồng thời vẫn bảo vệ được môi trường Mục tiêu của chương trình là hạn chế tới mức thấp nhất chất thải thuộc da
(ở cả hai dạng: lỏng và rắn) từ các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ và trung bình (đây
là loại hình sản xuất da phổ biến và đồng thời cũng là loại hình sản xuất với các hạn chế về nguồn lực như nhân lực, tài chính, nhà xưởng) Phương pháp tiến hành
là thông qua các hoạt động thực tiễn như xây dựng các khu xử lý tập trung, hưóng dẫn quy trình thuộc da để đào tạo nhân lực, tuyên truyền phổ biến kiến thức về sản xuất thân thiện với môi trường Sau 5 năm thực hiện chương trình đã đào tạo
được 1030 kỹ thuật viên, xây dựng được 5 khu xử lý tập trung ở ấn độ (cho 378 cơ
sở thuộc da), 03 khu xử lý ở Trung quốc, 01 ở Nêpan, 01 ở Inđônêxia, 01 ở Srilanka, Ngoài ra chương trình còn thiết kế chi tiết các khu xử lý tập trung cho nhiều cơ sở thuộc da ở Bangladesh, và ở Calcutta (ấn Độ) Bên cạnh các hoạt động trên, chương trình còn hướng dẫn cách thức làm giảm chất thải dạng bùn và bằng việc thay thế các hoá chất truyền thống bằng polyelectrolytes Khái niệm nhãn hiệu
Trang 16sinh thái mà chương trình đưa ra cũng đã được các nước nói trên hưởng ứng tích cực và đó cũng là một trong các giải pháp thúc đẩy quá trình thuộc da thân thiện môi trường Vấn đề cuối cùng mà chương trình thực hiện là việc hướng dẫn các kỹ thuật bảo dưỡng khu xử lý với chi phí thấp và việc sử dụng chất thải qua xử lý để
tưới tiêu và khôi phục đất bị thoái hoá (Chương trình US/RAS/92/120-Trợ giúp trong kiểm soát ô nhiễm trong công nghiệp thuộc da ở Đông Nam á, tháng 10 năm 2000)
Việc chuyển các cơ sở thuộc da gây ô nhiễm phân tán ở nhiều nơi vào các khu công nghiệp có cơ sở xử lý chất thải tập trung là giải pháp có tính chất chìa khoá cho việc sản xuất da trong tương lai của ngành công nghiệp da thế giới
Trong nhóm dịch vụ xử lý môi trường, doanh thu từ hoạt động xử lý chất thải rắn và nước thải chiếm tỷ lệ cao nhất, tương ứng khoảng 24 % và 14 % tổng doanh thu từ cỏc hoạt động xử lý lý chất thải toàn ngành dịch vụ xử lý chất thải ngành Da Giầy thế giới Theo dự báo trong thời gian tới, các lĩnh vực hoạt động như công nghệ sạch hơn, thiết bị quan trắc hay năng lượng tái tạo có tốc độ phát triển cao nhất Tuy nhiên xu hướng thị trường tại các nước đang phát triển và các nước phát triển có sự khác biệt rõ rệt Tại các nước phát triển nhu cầu về các dịch
vụ liên quan đến kiểm soát ô nhiễm, làm sạch, khôi phục môi trường có xu hướng giảm, và được thay thế bằng cầu về các dịch vụ tư vấn môi trường, thiết kế sản phẩm sinh thái, đánh giá rủi ro… còn ở các nước đang phát triển, thị trường dịch vụ môi trường được định hình theo nhu cầu về các dịch vụ hạ tầng môi trường, kiểm soát ô nhiễm và khôi phục môi trường
1.6 Khái quát về ngành Công nghiệp Da giầy Việt Nam
Ngành công nghiệp Da Giầy Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời và hiện là một trong những ngành đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất, đóng góp đáng kể trong
sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Tuy nhiên việc xuất khẩu giầy dép mới chỉ được thực hiện trong vài chục năm trở lại đây Sản phẩm giầy dép từ năm 1991 trở về trước hầu như chỉ được tiêu thụ nội địa, không có xuất khẩu Đến năm 1992, ngành da giầy đã xuất khẩu được 5 triệu USD và liên tục tăng trưởng
Trang 17Sau 10 năm, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã tăng 369,2 lần, là mặt hàng có tốc
độ kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua
Ngành da giầy hiện đứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu, chiếm 8,37% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (2007) EU vẫn là thị trường xuất khẩu giầy dép lớn nhất, chiếm tỉ trọng 54% về kim ngạch Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2, chiếm tỉ trọng hơn 20% Tiếp đó là Mehicô và Nhật Bản, chiếm 3
% về kim ngạch
Năm 2006, việc EU áp thuế chống phá giá đối với sản phẩm giầy mũ da của Việt Nam đã làm chậm mức tăng trưởng của ngành Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu giầy dép năm 2006 vẫn vượt trên 6% kế hoạch đề ra, đạt 3,56 tỉ USD, tăng 16,9 % so với năm 2005 Năm 2007 kim ngạnh xuất khẩu tiếp tục tăng đạt 3,99
t ỷ USD; ước tớnh năm 2008 kim ngạch xuất khẩu đạt 4,7 tỷ USD
Vào giữa tháng 1/2007, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO Trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam có thêm nhiều cơ hội lớn đặc biệt là cơ hội xâm nhập vào thị trường Mỹ Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức cũng ngày càng lớn hơn Khó khăn thứ nhất: việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu, mở rộng thị trường sẽ làm cho sản phẩm da giầy ở nước ta ngày càng bị cạnh tranh quyết liệt hơn Thứ hai, sự phân biệt đối xử đối với các công ty tư nhân trong hệ thống tài chính làm cho việc mở rộng chiến lược theo hướng xuất khẩu và phát triển công nghiệp nguyên vật liệu trở nên khó khăn Thứ ba, người mua có thể chuyển các hoạt động sang các nước khác có chi phí công nhân rẻ hơn như Trung Quốc, Indonesia Thứ tư, nếu tham gia thị trường giầy dép với sản phẩm chất lượng cao cấp thì không cạnh tranh được với sản phẩm của các quốc gia khác như Italia, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Đức Còn nếu chọn sản phẩm cấp thấp, có chất lượng trung bình thì lại không cạnh tranh được với sản phẩm hàng loạt của Trung Quốc do công nghiệp vật liệu của Trung Quốc đã phát triển và năng suất lao động ở Trung Quốc cao hơn Thứ năm, các nước sản xuất có chi phí thấp khác có thể vượt lên Việt Nam tại các thị trường mới nổi do có sự hỗ trở mạnh mẽ của nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân
Trang 18Bảng 1 Kim ng¹ch xuÊt khÈu giÇy dÐp cña ViÖt Nam giai ®o¹n 2000 – 2007
N¨m Kim ng¹ch xuÊt khÈu (triÖu
Nguån: Tæng côc h¶i quan
VÒ c¬ cÊu së h÷u cña c¸c doanh nghiÖp ngµnh da giÇy cã thÓ thÊy như ở Bảng sau:
Bảng 2 Doanh nghiệp da giầy phân theo lĩnh vực và thành phần kinh tế -2007
(Không kể các cơ sở sản xuất nhỏ và các hộ gia đình)
Doanh nghiệp theo
thµnh phÇn kinh tÕ
Doanh nghiệp s¶n xuÊt giÇy dÐp cÆp, tói x¸ch, nguyªn phô liÖu
Doanh nghiệp vµ c¸c c¬ së thuéc da
Trang 19
Nguồn: Hiệp hội Da-Giầy Việt Nam – Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ năm 2008 Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, nguyên phụ liệu vẫn đang là vấn đề nan giải Phần lớn nguyên phụ liệu vẫn đang phải nhập từ nước ngoài, nên tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu cao, nhưng hiệu quả kinh tế thấp, giá trị gia tăng chỉ chiếm 25% Vì vậy việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành Da Giầy là hết sức cần thiết
Công nghiệp thuộc da ở Việt Nam có từ lâu đời, song kém phát triển Đến nay cả nước có gần 40 doanh nghiệp thuộc da, với năng lực thực tế huy động qua các năm gần đây như sau:
2004 2005 2006 2007
1000
Sqft
120 000 39 000 47 000 70 000 87.000
Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam
Các doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quan trọng trong ngành thuộc da với sản lượng sản xuất chiếm trên 50% Doanh nghiệp 100% vốn FDI đang vươn dậy
và trở thành lực lượng mạnh mẽ trong công nghiệp thuộc da Đa số các doanh nghiệp này do đối tác Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc đầu tư Số lượng da thành phẩm trong nước cung cấp cho các doanh nghiệp giầy còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường Năm 2006, ngành công nghiệp da giầy có năng lực sản xuất 627,5 triệu đôi giày, dép các loại và 59 triệu cặp túi các loại, trong đó 40% sản phẩm làm từ da thuộc, song trong nước mới chỉ cung cấp được 35 - 40% da thuộc thành phẩm cho nhu cầu trên Năm 2007 năng lực sản xuất da trong nước đã được tăng lên rất nhiều do việc đầu tư mở rộng sản xuât của khối đầu tư nước ngoài và thực tế là ngành da đã có thể sản xuất 87 triệu sqft da thành phẩm
Trang 20Sự hạn chế phát triển của ngành công nghiệp thuộc da chưa tương xứng với
sự phát triển của ngành chế biến do nhiều nguyên nhân Trong đó có ảnh hưởng bởi nguồn da nguyên liệu, thực trạng về đầu tư và vốn, quản lí lao động, trình độ khoa học công nghệ…
Thuộc da là ngành công nghiệp đòi hỏi đầu tư và vốn lưu động lớn, song các doanh nghiệp Việt nam lại có khả năng tài chính rất hạn chế Hầu hết các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay ngắn hạn, lãi suất vốn vay ngày càng gia tăng
Điều kiện lao động nặng nhọc, ô nhiễm, mức lương thấp đã làm cho ngành công nghiệp thuộc da đối mặt với việc thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề Bên cạnh đó, trong nước lại chưa có trường lớp đào tạo chuyên ngành Thực trạng lĩnh vực khoa học công nghệ của ngành cho thấy, trình độ công nghệ chỉ đạt mức trung bình tiên tiến, nhiều cơ sở sản xuất có trình độ lạc hậu khoảng 2 – 3 thế
hệ, so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Tuy nhiên, hiện tượng các nhà máy có năng suất lớn của nước ngoài mới chuyển dịch sang Việt Nam (Green Tech, Prime Asia Vietnam, Samwoo, Hào Dương, Vina Rongshin, Perrin Rostaing, Tong hong Vietnam) và việc xây dựng các cơ sở thuộc da lớn của doanh nghiệp mới nổi lên ( công ty thuộc da Hưng Thái, công ty thuộc da Đặng Tư Ký) hiển nhiên sẽ dẫn đến việc gia tăng sản lượng da thành phẩm
Trong ngành công nghiệp chế biến sản phẩm, mức tăng trưởng 2000 - 2006
về sản lượng giầy dép lên 168%; cặp, túi xách 176% Về giá trị xuất khẩu (tính theo giá FOB) tăng gần 2,42 lần, tạo công ăn việc làm cho thêm 150 000 lao động xã hội Đến hết năm 2006, sản xuất toàn ngành đạt 627,5 triệu đôi giầy dép các loại, trong đó xuất khẩu 485 triệu đôi, sản lượng cặp, túi, ví trên 59 triệu chiếc, kim ngạch xuất khẩu đạt 3591,56 triệu USD (trong đó khu vực liên doanh và 100% vốn FDI chiếm 57,31% với giá trị xuất khẩu 1742,08 triệu USD) tạo công ăn việc làm cho 570 000 lao động xã hội Năm 2007 toàn ngành sản xuất được 715 triệu đụi giầy dộp cỏc loại; 87 triệu sqft da thành phẩm và 70 triệu chiếc cặp tỳi xỏch; kim ngạch xuất khẩu đạt 3,99 tỷ USD Tổng số lao động toàn ngành đạt 610.000 người chiếm tỷ trọng 8,89 % lao động ngành cụng nghiệp
Trang 21Về nguyên phụ liệu cho mặt hàng giầy vải, ngành đó chủ động cân đối được phần lớn nguyên liệu trong nước đối với các mẫu mã bình thường Còn nguyên phụ liệu mũ giầy nữ, giầy thể thao, vẫn phải nhập ngoại nhiều Đến thời điểm hiện tại, trong nước hầu như đã sản xuất được các loại đế giầy (kể cả đế philon)
Về thiết bị, công nghệ và nhà xưởng trong giai đoạn 2002 – 2007, nhiều chủng loại máy móc thiết bị phục vụ sản xuất giầy dép các loại được thay thế, đổi mới Các dây chuyền thiết bị mới được bố trí theo hệ thống băng chuyền ngắn (Lean và Rink System) Từ 2008 sẽ tiếp tục đổi mới với các loại máy móc thiết bị tiên tiến hơn để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy ngành có tốc độ phát triển cao về sản lượng song về kinh tế, công nghệ, quản lý và thiết kế tạo mẫu sản phẩm vẫn phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài do nhiều doanh nghiệp vẫn làm gia công là chủ yếu Một số doanh nghiệp tiềm năng đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hóa trong thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử nghiệm phục vụ công tác ra mẫu chào hàng Những doanh nghiệp đã đầu tư mạnh vào lĩnh vực này là: công ty cổ phần giầy An Lạc, công ty cổ phần đầu tư giầy Thái Bình, các công ty 100% vốn FDI (Tea Kwang Vina, Shyang Hung Cheng, Pou Yuen, Pou Chen, Công ty Bitis, công ty TNHH một thành viên giầy Thượng
Đình…)
Về nhà xưởng: đối với các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa và các công ty liên doanh, chủ yếu tận dụng các cơ sở hiện có và cải tạo từ hệ thống kho tàng cũ Các doanh nghiệp đầu tư trong những năm từ 1996 trở lại đây có nhà xưởng khang trang, phù hợp với bố trí thiết bị, công nghệ sản xuất giầy Khu vực ngoài quốc doanh sử dụng nhà xưởng còn chật hẹp (trừ một số doanh nghiệp có tiềm năng, qui mô lớn, hoặc do phía đối tác hỗ trợ) Riêng khu vực 100% vốn FDI hầu như mới xây dựng theo tiêu chuẩn công nghiệp với qui mô hợp lý, khép kín sản xuất trong doanh nghiệp
Kết quả đầu tư trong 5 năm 2002-2007: tổng vốn đầu tư trên 6.500 tỷ đồng (kể cả nhà xưởng cải tạo và xây mới) Trong giai đoạn này, lĩnh vực thuộc da có tốc
độ phát triển nhanh Các doanh nghiệp và các cơ sở thuộc da đã được đầu tư thiết bị
và công nghệ tiên tiến của ý, Hà Lan, v.v Một số doanh nghiệp thuộc da mới ra
Trang 22đời và đi vào hoạt động ổn định, góp phần giảm nhập khẩu các loại da thuộc Để
đảm bảo chất lượng da thuộc thành phẩm, nguyên liệu da được nhập khẩu từ nước
ngoài về nhiều Chất lượng khâu trau chuốt hoàn thiện cũng ngày càng được cải
thiện
Tổng thể về kim ngạch xuất khẩu, sản lượng và lao động ngành Công nghiệp
Da giầy Việt Nam có thể tóm tắt trong bảng dưới đõy:
Bảng 4 Các chỉ tiêu và sản phẩm giai đoạn 2004-2007
Đơn vị tính
499, 00
288,16 44,37 94,59 71,89
627,50
401,73 50,71 91,68 83,38
715,00
457,30 57,83 104,55 95,32
2 Cặp túi các loại Tr chiếc 41,00 51,70 59,00 70,00
Nguồn: Số liệu cập nhật của Hiệp hội Da - Giầy VN
Về thị trường nội địa
Do những năm gần đây nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, mức
sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu thiết yếu về giầy dép cũng được
Trang 23nâng lên Với số dân trên 80 triệu người thị trường trong nước là thị trường đầy tiềm năng đối với ngành Da-Giầy, tuy nhiên trong những năm qua thị trường này hầu như còn bỏ ngỏ, chưa được ngành tập trung khai thác Hàng năm chỉ có khoảng 25-30 triệu đôi giầy dép các loại được sản xuất phục vụ cho tiêu dùng nội địa và gần 10 % sản lượng giầy dép các loại dư thừa từ xuất khẩu được tiêu thụ trong nước Số lượng này còn qúa ít so với nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước trong khi đời sống và nhu cầu văn hoá thể thao ngày càng gia tăng
Giầy dép tiêu thụ tại thị trường nội địa chủ yếu do các cơ sở thủ công, doanh nghiệp nhỏ, tư nhân sản xuất với công nghệ đơn giản, mẫu mã nghèo nàn Trong khi đó nhiều sản phẩm giầy dép, đồ da của nước ngoài với mẫu mã đẹp, đa dạng
được bán với giá rẻ do nhập lậu, trốn thuế (đặc biệt giầy dép nhập khẩu theo đường phi mậu dịch từ Trung Quốc) đã làm cho sản xuất giầy và đồ da trong nước bị thu hẹp và bị cạnh tranh gay gắt
Bộ Công Thương đó cú quyết định số 03/2007/QĐ - BCT ngày 11/9/2007, phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy đến 2010 Theo bản Quy hoạch đó được phờ duyệt này ngành Da - Giầy đó và đang huy động mọi nguồn nhân lực và vật lực vì sự phát triển bền vững của ngành Mục tiờu đến 2010, sản xuất giầy dép các loại của Việt Nam đạt 720 triệu đôi, trong đó xuất khẩu 655,2 triệu đôi; cặp, túi xách các loại đạt 80,7 triệu chiếc, trong đó xuất khẩu 78,47 triệu chiếc; da thuộc thành phẩm 100 triệu Sqft, trong đó xuất khẩu đạt 65 triệu Sqft Tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy có thể đạt 6,2 tỉ USD, trong đó sang thị trường
Mỹ sẽ đạt khoảng 3 tỷ USD
Kế hoạch hành động của ngành da giầy Việt Nam từ nay đến 2010 gồm:
- Dành 1800 tỉ đồng vốn đầu tư cho các cụm công nghiệp chuyên ngành
- Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho các cụm đầu tư công nghiệp giầy và nguyên phụ liệu cho phía Bắc và phía Nam, đầu tư khu công nghiệp chuyên ngành thuộc da và các sản phẩm chế biến từ da thuộc ở phía Nam; xây dựng trung tâm thương mại chuyên ngành tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 24- ưu tiên đầu tư các cụm công nghiệp nhỏ, tạo điều kiện di dời tập trung các cơ sở sản xuất nhỏ, đồng thời khuyến khích duy trì và phát triển sản xuất thủ công, làng nghề truyền thống
- Các doanh nghiệp chủ động hơn trong cân đối vật tư và giá bán sản phẩm, sẽ mang tính cạnh tranh hơn nếu được sản xuất nguyên phụ liệu tại chỗ
Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu sản phẩm và xuất khẩu trực tiếp
Trang 25PHần II Quá trình sản xuất da- giầy và các chất thải đi kèm
Để tìm hiểu vể hiện trạng môi trường của ngành Da Giầy cần xuất phát từ việc nghiên cứu quá trình sản xuất của ba bộ phận hợp thành của ngành đó là sản
xuất da thuộc; sản xuất, chế biến giầy dép và đồ da và sản xuất nguyên phụ liệu
2.1 Quá trình sản xuất da thuộc và chất thải ngành thuộc da
2.1.1 Quỏ trỡnh sản xuất da thuộc
Thuộc da là quá trình biến đổi da sống thành da thuộc nhờ tác động của các loại hóa chất khác nhau Trong nhà máy thuộc da, dõy chuyền sản xuất của xưởng thuộc da cú thể chia làm 3 dõy chuyền nhỏ tương ứng với 3 loại sản phẩm: da mềm, da cứng và da lụng Do lượng nguyờn liệu và sản phẩm của từng giai đoạn khỏc nhau nờn để thuận tiện cho phần trỡnh bầy ở cỏc phần tiếp theo, lượng hoỏ chất, nước và cỏc nguyờn liệu khỏc sử dụng trong cỏc cụng đoạn của dõy chuyền sản xuất được tớnh theo tỷ lệ phần trăm (%) so với lượng da nguyờn liệu
Quy trỡnh cụng nghệ thuộc da cho cỏc loại da mềm, da cứng và da lụng được mụ tả như ở sơ đồ 1 và 2 ở cỏc trang duới đõy
Da nguyờn liệu được thu mua từ cỏc địa phương về thường biến động theo mựa trong năm Để bảo đảm nguồn nguyờn liệu ổn định cho sản xuất, da cần được bảo quản dự trữ Thời gian lưu kho thường là một thỏng, vỡ thế da cần được bảo quản để khụng bị cụn trựng, vi khuẩn xõm nhập làm giảm chất lượng nguyờn liệu
Da sống được bảo quản bằng phương phỏp muối da, thực hiện tại xưởng hoặc ở cỏc điểm thu mua Trước khi muối, cần loại hết phần thịt cũn lại sau khi lột và cần rửa da cho đỡ bẩn Muối để bảo quản da là muối ăn, tỉ lệ sử dụng là 300kg/tấn da sống Tổng lượng muối sử dụng phụ thuộc vào thời gian bảo quản Khi bảo quản lõu, cần định kỳ đảo trộn da Khi thời tiết núng ẩm, cú thể sử dụng chất diệt sõu bọ như Na2SiF6 với liều lượng rất nhỏ
Trang 26Quá trình sản xuất da thuộc gồm các công đoạn được mô tả như sau:
Tẩy vôi
Da tươi Bảo quản
Rửa hồi tươi
Tẩy lông Cắt riềm,nạo
Ngâm vôi
Xẻ
Làm mềm
Làm xốp Thuộc crôm
Trang 27Sơ đồ 2 Sơ đồ công nghệ thuộc da lông
Da tươi Bảo quản
Rửa hồi tươi
Trang 28Mô tả các công đoạn
Nguyên liệu để chế biến gồm: Nước: 200- 250% , một số hoá chất cần thiết: NaHCO3( 0,2- 2g/lít); NaCl 1 g/l Tác nhân hồi tươi: 1 g/l (Chất nhũ hoá hoặc chất hoạt động bề mặt)
Tẩy lông, rửa
Là quá trình hoá học thực hiện trong cùng thiết bị hồi tươi, sử dụng sulfua Natri (Na2S) để làm lỏng chân lông, hoặc hoà tan chúng thành dạng nhão Công đoạn này còn có tác dụng mở cấu trúc sợi của da Thời gian tẩy lông: 18 giờ
Nguyên liệu hoá chất để tẩy: nước 200% , vôi bột CaO 6- 8%, Na2S 2,5- 3%
Rửa: thực hiện ngay sau tẩy lông, rửa 2 lần, tỉ lệ nước rửa 200%/ lần rửa
Trang 29Nguyên liệu: Nước 250%, vôi (CaO) 1%
Xẻ
Thực hiện trên máy xẻ, mục đích nhằm chia tấm da thành hai phần theo chiều dày, gồm phần cật và váng Tỉ lệ khối lượng giữa hai phần như sau:
- Đối với da thuộc mềm: cật 55- 60% và váng 40- 45%
- Đối với da thuộc cứng: cật 70- 65% và váng 30- 35%
Tuy nhiên, tỷ lệ trên còn hoàn toàn phụ thuộc vào từng loại da thành phẩm
Tẩy vôi
Thực hiện trong thiết bị phản ứng dạng thùng quay ( không cùng với thiết bị thực hiện những khâu trước), hay trong bể có sục khí để đảo trộn, với mục đích loại bỏ vôi ra khỏi da Sau khi kết thúc phản ứng, tiến hành rửa bằng nước
Nước và hoá chất sử dụng để tẩy:
- Nước rửa: 150 - 200%
- Nước để tẩy vôi: 100 - 150%
- Muối (NH4)2SO4 hoặc NH4Cl: 2,5%; NaHSO3 0,5%
Làm mềm
Giai đoạn này nhằm để phân huỷ protein dạng sợi elastin, tác động đến cấu trúc da bằng xúc tác men để tạo độ mềm mại, độ chun trên mặt cật cho sản phẩm Thời gian thực hiện 30- 40 phút trong cùng thiết bị tẩy vôi( loại thùng quay)
Nguyên liệu: Tính theo da vôi
- Nước: 100% - 150% ở nhiệt độ: 37- 38oC
- Enzym: Men tổng hợp oropon hoặc men vi sinh( enzym): 0,5- 2% ( peroly) Rửa sạch sau khi làm mềm da, khoảng 45 phút
Trang 30Làm xốp
Thực hiện trong cùng thiết bị làm mềm, bổ xung axit để điều chỉnh pH trong
da để đạt khả năng xuyên thấu của các chất thuộc trong những công đoạn chế biến tiếp theo
Hoá chất: Nước 100%, NaCl 8%, H2SO4 1%, HCOOH 0,8%
pH (khi thuộc xong): Na2CO3, formate Natri, muối của axit dicarboxylic: 0,1- 0,5%, pH kết thúc là 3,8- 4,2 Nếu sản phẩm cần giữ trong kho hoặc đem bán ở dạng ướt thì dùng chất chống mốc (0,1%)
- Thuộc Tanin
Thuộc tanin dùng để sản xuất da thuộc, được tiến hành trong thùng quay
(1-3 ngày) hay trong bể chứa( khoảng 45 ngày) Chất thuộc là tanin được trích ly từ thực vật Tỉ lệ sử dụng 15- 30% tanin công nghiệp
Nhiều chất thuộc khác có thể thay thế cho các chất thuộc trên nhưng ít sử dụng vì độc như muối zircon, formalđehyde Glutaraldehyde Khi quá trình thuộc kết thúc, thì rửa da: 150% nước
Ép nước
Thực hiện trên máy ép nước để loại bỏ chất lỏng trong da
Xẻ da
Trang 31Được tiến hành trong trường hợp không tiến hành xẻ da trước khi tẩy vôi
Bào
Thực hiện trên máy bào để tạo độ dày đồng đều trên toàn bộ tấm da
Trung hoà, thuộc lại, nhuộm, ăn dầu
Quá trình hoá lý thực hiện tuần tự trong cùng chất lỏng chứa trong thùng quay để tạo thành màu sắc, cảm quan và những đặc tính của da thuộc Thực hiện trong 6- 8 tiếng Nước sử dụng 150- 200% ( mỗi mẻ)
Hoá chất trong từng quá trình:
- Trung hoà: kiềm nhẹ 1% - 1,5%, syntan trung hoà 1,5- 2,5%; khi được thì rửa: 2 lần( 150% nước/ lần)
- Thuộc lại: syntan 4% - 8%, (Tamin thực vật), muối Cr 42 độ kiềm( 4%)
- Nhuộm: thuốc nhuộm, axit formic 1% - 2%
- Ăn dầu: Dầu thực vật, động vật, dầu tổng hợp đã được sulfua hoá hay sulfat hoá với liều lượng 3- 20%, pH kết thúc: 3,8
Sấy và hoàn thành
Da được đưa vào máy ép để vắt nước, đưa sang máy ty để khử các nếp gấp căng lên khung đưa sấy trong hầm sấy thổi không khí nóng hay sấy chân không Trong công đoạn hoàn thành tiếp tục gia công theo trình tự sau:
- Hồi ẩm và vò bằng máy vò hay quay đập trong thùng quay
- Xử lý bề mặt bằng cơ học như mài, chải bụi, là
- Trau chuốt da: phủ mặt cật, phun sơn, chất bóng, in là tạo mặt cật bóng đẹp,
có hình thúc cần thiết theo yêu cầu của sản phẩm
Nguyên liệu trau chuốt đa dạng, trong đó các chất dạng nhũ tương được tạo thành từ các chất tạo màng như polime (Polyuretan, polystyron, polyacrylic, butadien styron…) hoà tan trong dung môi và trộn thêm với nước
Trang 322.1.2 Chất thải ngành da
Quá trình sản xuất da tạo ra nhiều chất thải tồn tại ở cả ba dạng rắn, lỏng Khí Cụ thể các chất thải trên phát sinh từ các nguồn sau:
Nguồn phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn công đoạn thuộc da chủ yếu là chất thải từ da trước thuộc và da sau thuộc Da trước thuộc dễ bị phân huỷ sinh học gây mùi hôi thối, da sau thuộc khó phân huỷ sinh học Hệ thống xử lý nước thải thuộc da phát sinh bùn ở công đoạn hoá lý và sinh học Bùn hoá lý có chứa Crôm là chất thải nguy hại cần có biện pháp quản lý theo quy định pháp luật
Nguồn phát sinh chất thải lỏng
- Nước thải sản xuất phát sinh từ hầu hết các công đoạn thuộc da, như: bảo quản da nguyên liệu, hồi tươi, tẩy lông, ngâm vôi, thuộc, thuộc lại, hoàn thiện Đặc điểm của nước thải thuộc da là mùi hôi thối, hàm lượng BOD, COD, TSS rất cao, đặc biệt trong nước thải có chứa Crôm
Ngoài ô nhiễm hữu cơ, cặn lơ lửng, nước thải thuộc da còn chứa kim loại nặng, độ kiềm và hàm lượng muối cao, nếu nước thải này không được xử lý, xả thẳng vào tự nhiên có khả năng gây ô nhiễm trầm trọng môi trường
- Ngoài ra có thể có một lượng nước thải từ các khu vực các phòng thí nghiệm, phân tích, v.v Tuy lượng nước này không nhiều nhưng có hàm lượng các chất ô nhiễm cao, cũng cần phải thu gom xử lý
Nguồn phát sinh chất thải khí
- Khí H2S, NH3…do quá trình phân huỷ sinh học từ công đoạn bảo quản da
- Hơi dung môi từ việc trau chuốt da, như : Butin acetat, toluen, aceton
B¶ng d−íi ®©y m« t¶ nguån ph¸t sinh vµ thµnh phÇn khÝ th¶i th¶i ra trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt da
Trang 33Bảng 5 Nguồn phát sinh và thành phần khí thải trong quá trình sản xuất da
Phản ứng hóa học khi sản xuất
- Spirit trắng (có chứa Toluene và Xylene)
Quá trình thuộc da với đầu vào và chất thải tương ứng có thể được trình bày tóm tắt như trong sơ đồ 3 dưới đây
Sơ đồ 3: Công nghệ thuộc và chất thải
Hóa chất sử dụng Công đoạn Chất thải
Nước, BOD, COD, muối , chất chống khuẩn
H2S, lông, vôi, bùn, BOD, COD, kiềm,
Trang 34BOD, COD, kiÒm,
SS, RiÒm da v«i … N¹o v«i
Dung m«i, mì, BOD, COD
BOD, COD, SS, muèi, Axit, Cr3+, Tanin, Syntan chÊt V¸ng xanh
TÈy v«i, lµm mÒm
Lµm xèp, thuéc
Thuéc l¹i, nhuém ¨n dÇn
BOD, COD, Cr3+, Tanin, Syntan, phÈm, dÇu, axit
§¸nh mÆt, xÐn iÒ
ChÊt trung hßa,
thuéc l¹i, axit, phÈm,
dÇu
Dung m«i, pigment,
Trang 35Định lượng đầu vào và đầu ra cho Công nghệ thuộc và hoàn thiện 1 tấn da nguyên liệu như sau:
ảnh hưởng của các loại chất thải trên tới môi trường xung quanh có thể tóm
tắt như sau:
ảnh hưởng của các chất thải hòa tan hay phân tán trong nước:
- Muối Clorua: ảnh hưởng xấu đến sinh vật nước ngọt, gây ô nhiễm nguồn
nước ngầm
- Muối Sunfua: tạo mùi khó chịu, trong môi trường axit sẽ giải phóng khí H2S
và làm giảm nhiều lượng Oxy sinh học (BOD), là nguồn gây ăn mòn và chất
độc cho nhiều sinh vật sống trong nước
- Các muối Sunfat: không thích hợp với các sinh vật nước ngọt
SS ≈ 150kg
Cr3+ ≈ 5– 6kg
SO32-≈ 10kgChất thải rắn Chưa thuộc: Riềm ≈120kg
≈ 450–730 kg Váng ≈ 70 – 350 kg
Đã thuộc: Váng ≈ 225kg Mùn bào Riềm da Đã nhuộm hoặc hoàn thiện: Bụi
da ≈ 2kg Khí ≈ 40 kg VOC
Trang 36- Độ kiềm cao (pH cao): ức chế nhiều loại động vật và thực vật sống trong nước
- SS: có thể gây ra ách tắc dòng chảy Nếu giữ nguyên ở dạng huyền phù, chúng sẽ làm đục nước và cản trở sự xuyên thấu ánh sáng và quang hợp của
hệ thực vật Tùy thuộc vào bản chất, chúng có thể gây ra mùi khó chịu bởi
sự thối rữa và làm tăng các giá trị BOD, COD của nước thải
- Dầu, mỡ: có thể lắng đọng trong rãnh thoát nước; tại các hồ nước, chúng có
xu hướng nổi lên bề mặt, hạn chế sự hấp thụ Oxi và ánh sáng Khi dầu mỡ tồn tại ở dạng nhũ nhờ các chất hoạt động bề mặt, chúng sẽ cản trở quá trình
sa lắng của các chất rắn lơ lửng và gây ra các lớp bọt không mong muốn Khi quá trình tẩy mỡ được áp dụng, nước thải còn chứa một lượng dung môi xác
định, có thể gây cháy hay mùi độc hại
- BOD: chỉ số xác định khả năng làm giảm lượng Oxi của nước thải do hoạt
động của các vi sinh vật trong quá trình phân hủy chất hữu cơ có trong đó
- COD: đây là chỉ số đo khả năng phản ứng hóa học của chất thải, nghĩa là khả năng phá hủy hàm lượng Oxi có trong nước
- Chất bảo quản, chống mốc: tuy có hàm lượng rất nhỏ trong nước thải nhưng gây tác động xấu đến các vi sinh vật trong nước
ảnh hưởng của các chất thải rắn:
- Các chất thải rắn từ da chưa thuộc (da sống, da ngâm vôi) như bạc nhạc, riềm
da, vụn da, váng da … dễ bị phân hủy tạo ra mùi khó chịu và gây ách tắc dòng chảy nếu rơi xuống rãnh nước
- Các phế liệu da đã thuộc (mùn bào, rẻo da, bụi da, ) có thể làm mất vệ sinh nhà xưởng
Trang 37- Các chất thải rắn khác như cặn vôi, bã rắn của pigment trau chuốt cũng gây
mất vệ sinh và mùi khó chịu khi làm việc
ảnh hưởng của các chất thải dạng khí, hơi:
Các sản phẩm khí sinh ra trong quá trình bảo quản da nguyên liệu, quá trình
sản xuất như khí H2F, NH3 gây ra mùi khó chịu, ở nồng độ cao sẽ gây ngộ độc cho
người lao động; hơi của các dung môi hữu cơ (VOC) trong việc tẩy mỡ, xử lý bề
mặt, trau chuốt da có ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người nếu không
được thông thoát tốt
Theo nghiờn cứu của cỏc nhà cụng nghệ thuộc da nước ngoài khi thuộc mỗi
tấn da bũ nguyờn liệu sẽ thu được cỏc thụng số gõy ụ nhiễm sau:
Năm 2007 ngành da Việt Nam sản xuất được 87 triệu sqft cú nghĩa là
khoảng 72.500 tấn nguyờn liệu da đó được đưa vào sản xuất Dựa vào bảng trờn cú
thể sơ bộ đưa ra bức tranh tổng quỏt về lượng cỏc yếu tố gõy ụ nhiễm của ngành
năm 2007như ở Bảng 3 dưới đõy:
Trang 38Bảng 7 Tổng lượng các thông số gây ô nhiễm của ngành da Việt Nam năm 2007
2.2 S¶n xuÊt giÇy vµ chÊt th¶i ngành giÇy
2.2.1 Công nghệ sản xuất giầy
Ngành giầy hiện đang áp dụng những công nghệ sản xuất chính dưới đây:
- Công nghệ ép dán: hiện đang rất phổ biến để sản xuất các loại giầy dép da
nam, nữ, trẻ em, giầy thể thao các loại Keo dán được coi là phương tiện liên kết
trung gian Mũ giầy được gò trùm lên phom và gắn chặt vào đế trong bằng đinh,
keo hoặc ghim nhỏ Chân gò và đế được mài nhám, phết keo, sau đó sấy khô và
dán vào nhau
Thứ tự của các bước công việc:
1 Đế được gắn vào phom bằng ghim
2 Mũ giầy được đóng và gò trên phom đã đính đế trong bằng đinh hoặc keo
dán hoặc bằng ghim nhỏ
Trang 393 Chân gò được mài nhám Mục đích của việc mài nhám là làm đồng đều bề mặt nguyên liệu và để keo thẩm thấu tốt hơn
4 Khoảng lõm được tạo ra bởi chân gò trên mặt đế được làm đầy với nguyên liệu độn phù hợp và độn sắt được gắn đúng vị trí
5 Phết một lớp keo mỏng lên chân gò và mặt đế sau đó sấy khô màng keo
6 Gắn đế vào giầy sau đó đưa vào máy ép
- Công nghệ lưu hoá: áp dụng để sản xuất giầy vải, nhưng hiện nay công
nghệ này còn được áp dụng để sản xuất giầy vải cao cấp thời trang với phần mũ
có sử dụng nguyên liệu da Với công nghệ lưu hoá nóng, các chi tiết giầy như đế ngoài, bím, pho hậu, pho mũi, độn được làm từ hỗn hợp cao su sống và được dán đính vào mũ giầy đã gò trên phom nhôm Các vị trí dán đính được xử lý như mài nhám, bôi keo Các chi tiết nêu trên đã được in dáng và vân hoa trên bề mặt theo mẫu đã thiết kế trên các thiết bị cán, đùn, ép sau đó giầy được treo trên nóc xe rồi đưa vào nồi hấp lưu hoá ở nhiệt độ 140 0C và áp suất 3 atm trong thời gian khoảng
55 phút sau đó giầy được lấy ra khỏi nồi hấp, để nguội và hoàn thiện Công nghệ này được áp dụng chủ yếu để sản xuất giầy vải
Có hai công nghệ đúc:
+ Đúc trực tiếp
Đúc trực tiếp là phương pháp cũ nhất, sử dụng để đúc đế vào phần dưới giầy Nguyên liệu chủ yếu để làm đế là cao su và quá trình đúc đòi hỏi phải lưu hoá Bước lưu hoá này cần nhiệt, khuôn gia nhiệt là bộ phận thiết yếu của thiết bị
Trang 40được sử dụng Đúc trực tiếp cho phép loại trừ được tất cả các công đoạn hoàn thiện trừ việc làm bóng và xén bavia ở phân xưởng hoàn chỉnh
+ Phun đúc
Với phương pháp phun đúc, ban đầu PVC được sử dụng như vật liệu chính làm đế nhưng ngày nay có nhiều loại cao su nhiệt dẻo khác nhau được sử dụng Với quá trình phun đúc người ta có thể sử dụng nhiều đầu phun với nhiều mầu làm cho giầy hoàn chỉnh có đế đẹp và hấp dẫn hơn
- Công nghệ khâu: hiện áp dụng rất hạn chế do năng suất lao động thấp,
chủ yếu áp dụng để sản xuất các loại giầy đặc biệt như: giầy leo núi, giầy bảo hộ cao cấp.v.v
Có ba kiểu khâu: khâu riễu, khâu cóp và khâu trực tiếp
+ Khâu riễu
Riễu là một dây da hẹp khâu vào giầy liên kết giữa mũ với đế giầy Đôi khi riễu được khâu vào mũ giầy với mục đích trang trí.Ở phương pháp công nghệ này, một trong những chi tiết quan trọng nhất là đế trong Đế trong được chuẩn bị đặc biệt với bệ riễu nằm ở mặt trái của đế
Trình tự các bước công việc như sau:
1 Đính đế trong vào phom (đế trong đã được chuẩn bị có bệ khâu riễu) bằng keo hoặc bằng ghim
2 Gò mũ giầy vào phom đã gắn đế trong
3 Khâu riễu: riễu được khâu vào đế trong cùng với mũ giầy trên máy khâu riễu
4 Làm độn: độn bằng vật liệu thích hợp vào phần lõm giữa chân gò và đế trong hoặc gắn độn sắt
5 Gắn đế và khâu cóp Khâu đế với riễu bằng đường khâu hai chỉ gọi là khâu cóp Đế giầy được xẻ rãnh hoặc tạo lòng máng
+ Phương pháp khâu có riễu khâu xuyên qua đế trong