1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản

481 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Tác giả KS. Lê Minh Châu
Người hướng dẫn Thủ trưởng cơ quan chủ quản
Trường học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Mỏ - Luyện Kim
Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Quản lý tài nguyên khoáng sản
Thể loại Báo cáo tổng kết dự án
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 481
Dung lượng 8,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo cáo tổng kết dự án “điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai

Trang 1

Bé c«ng th−¬ng

viÖn KHOA HäC Vµ C¤NG NGHÖ má-LUYÖN KIM

B¸o c¸o tæng kÕt Dù ¸N

§IÒU TRA §¸NH GI¸ HIÖN TR¹NG C¤NG T¸C

HOµN THæ PHôC HåI M¤I TR¦êNG Vµ X¢Y DùNG

Trang 2

Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Trang 3

Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

¸n thùc hiÖn ch−¬ng tr×nh hoµn thæ phôc håi m«i

Chñ nhiÖm dù ¸n: KS Lª Minh Ch©u Ngµy th¸ng n¨m 2007

Thñ tr−ëng c¬ quan chñ qu¶n

Ngµy th¸ng n¨m 2007 thñ tr−ëng c¬ quan chñ tr×

Trang 4

các cơ quan tham gia, phối hợp cung cấp thông tin

1 Sở Tài nguyên môi trường các tỉnh: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang,

Phú Thọ, Yên Bái, Cao Bằng, Lào cai, Ninh Bình, Nam Hà, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai, Lâm Đồng

2 Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam

3 Tổng công ty khoáng sản Việt Nam

4 Công ty TNHH NN một thành viên kim loại màu Thái Nguyên

5 Công ty TNHH NN một thành viên Apatit Lào Cai

6 Xí nghiệp Liên doanh mỏ tuyển đồng Sin Quyền - Lào Cai

21 Mỏ đá Cam Ly - Công ty Vật liệu xây dựng Lâm Đồng

Và nhiều Công ty, đơn vị khai thác và chế biến khoáng sản khác

Trang 5

báo cáo tổng kết dự án “điều tra đánh giá hiện trạng công

tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự

án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản” gồm có các phần sau đây:

Phần 2 Tiềm năng tài nguyên khoáng sản, hiện trạng ngành khai thác khoáng

sản

Phần 3 Hiện trạng môi trường và hoạt động hoàn thổ phục hồi môi trường tại

các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam

pháp luật và cơ chế chính sách về BVMT, hoàn thổ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản

nước trên thế giới

Phần 6 Xây dựng các dự án cụ thể thực hiện chương trình phục hồi môi trường

ở các vùng khai thác khoáng sản cho năm 2007-2008

Phần 8 Xây dựng lộ trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác

khoáng sản

Phần 9 Biên soạn sổ tay kỹ thuật môi trường trong khai thác khoáng sản

Phần 10 Kết luận và kiến nghị

Phần 11 Một số hình ảnh về ảnh hưởng môi trường của các hoạt động khai thác

và chế biến khoáng sản và hoàn thổ phục hồi môi trường

Trang 6

PhÇn 1

Giíi thiÖu chung

Trang 7

I Lời nói đầu

Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng Cho đến nay chúng ta đã xác định được hơn 5000 điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản có ích với quy mô trữ lượng khác nhau Nền công nghiệp mỏ Việt Nam đã được bắt đầu từ rất lâu

và đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên ngành công nghiệp mỏ của Việt Nam cũng có những tác động trực tiếp đến nguồn tài nguyên không thể tái tạo cũng như nhiều yếu tố môi trường khác như đất, nước, không khí, cảnh quan và hệ sinh thái khu vực Các hoạt động khai thác khoáng sản vừa gây ô nhiễm môi trường vừa chiếm dụng đất và để lại những diện tích đất bị hoang hoá và suy thoái do đã được sử dụng trực tiếp vào quá trình khai thác, vừa gây tác hại gián tiếp

ở các mức độ khác nhau tới những vùng đất có liên quan Cho đến nay nhiều khu vực khai thác và chế biến khoáng sản chưa được hoàn thổ phục hồi môi trường, các khu vực này tiếp tục gây ô nhiễm môi trường Trong thực tế vấn đề bảo vệ môi trường chưa thực sự có được vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của ngành mỏ do đó nhiều nơi đang phải gánh chịu hậu quả của các tác động do khai thác và chế biến khoáng sản gây ra

Để từng bước hạn chế và khắc phục các tác động của ngành khai thác và chế biến khoáng sản lên môi trường nhằm phát triển các nguồn nguyên liệu khoáng phù hợp với các nguyên tắc của phát triển bền vững, góp phần thực hiện “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ Công nghiệp đã có quyết định số 3591/QĐ-KHCN ngày 31 tháng 12 năm 2004 về “Xây dựng chương trình phục hồi môi trường vùng khai thác khoáng sản tại Việt Nam” và quyết định số 312/QĐ-BCN ngày 15 tháng 2 năm 2006 về việc thực hiện dư án: “Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản” Đây là dự án khởi động của toàn bộ Chương trình Thông qua việc đánh giá hiện trạng môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường từ đó xây dựng các dự án/nhiệm vụ cụ thể, xây dựng lộ trình hoàn thổ phục hồi môi trường nhằm góp phần ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Cũng trong khuôn khổ thực hiện dự án này sẽ tiến hành thu thập thông tin, kinh nghiệm của các nước để biên soạn sổ tay Quản lý môi trường trong khai thác và chế biến khoáng sản, nhằm cung cấp các thông tin và kỹ thuật cần thiết cho các doanh nghiệp đang hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản có thêm lựa chọn để thực hiện tốt hơn công tác quản lý môi trường trong các hoạt động của mình

Trang 8

II Việc thực hiện dự án

Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản” được tiến hành thực hiện từ tháng 10 năm 2006 đến tháng

12 năm 2007 Các công việc được tiến hành liên tục và xen kẽ giữa các hoạt động khác nhau giữa đi hiện trường kết hợp điều tra, phỏng vấn, khảo sát, lấy mẫu, đo đạc phân tích với đánh giá, biên soạn sổ tay Công việc đi hiện trường bao gồm các chuyến đi thực địa để điều tra phỏng vấn, kiểm toán môi trường của các hoạt động, mỗi một khu vực khai thác thường kéo dài trong 1 – 3 ngày Tất cả có trên 70 khu vực đã được điều tra tham quan khảo sát Mỗi khu vực như vậy đều được lập một tài liệu riêng (được trình bày ở trong phần 3) Tất cả các công việc trên được thực hiện với sự tham gia nhiệt tình của đội ngũ cán bộ kỹ thuật trực tiếp thực hiện dự án thuộc Viện Khoa học

và Công nghệ Mỏ – Luyện kim

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình

và tạo điều kiện thuận lợi của Vụ Quản lý KHCN - Bộ Công thương; sự giúp đỡ quý báu của các cán bộ lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của sở tài nguyên môi trường các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Cao Bằng, Lào cai, Ninh Bình, Nam Hà, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẳng, Đồng Nai, Lâm Đồng ; của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam; Tổng công ty khoáng sản Việt Nam Trong quá trình khảo sát đánh giá, Dự án

đã nhận được sự hợp tác, cung cấp thông tin và sự giúp đỡ cần thiết của các đơn vị: Công ty TNHH NN một thành viên kim loại màu Thái Nguyên, Xí nghiệp thiếc Bắc Lũng, Xí nghiệp thiếc Sơn Dương, Công ty TNHH NN một thành viên kim loại màu Nghệ Tĩnh, Công ty TNHH NN một thành viên Apatit Lào Cai, Mỏ sắt Trại Cau, Xí nghiệp sắt Nà Lũng - Công ty khoáng sản và luyện kim Cao Bằng, Mỏ thiếc Tĩnh Túc,

Mỏ Crômit Cổ Định, Công ty TNHH NN một thành viên phát triển khoáng sản 4, Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh, Công ty Cổ Phần Khoáng sản Quảng Trị, Công ty Cổ phần Đá Quý và Vàng Lâm Đồng, Mỏ Bôxit Bảo Lộc, Mỏ đá Cam Ly - Công ty Vật liệu xây dựng Lâm Đồng và nhiều tập thể, cá nhân khác Các thành viên tham gia Dự án xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành nhất về sự giúp đỡ quý báu đó

Trang 9

PhÇn 2

TiÒm n¨ng tµi nguyªn kho¸ng s¶n hiÖn tr¹ng ngµnh khai th¸c kho¸ng s¶n

Trang 10

Mục lục

I Tiềm năng tài nguyên khoáng sản 2

II Tổng hợp đánh giá hiện trạng ngành khai thác khoáng sản 3

2.1 Cơ cấu thành phần doanh nghiệp KTKS và tổ chức 4

2.2 Phân bổ, vị trí địa lý và loại hình KTKS của các doanh nghiệp 6

2.2.1 Hiện trạng ngành khai thác than 7

2.2.2 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản Vật liệu xây dựng 8

2.2.3 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản kim loại: thiếc, sắt, đồng, chì, kẽm, crom, mangan, vàng, đá quý, antimon, titan 10

2.2.4 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản hoá chất, phân bón 19

2.3 Đầu tư trong và ngoài nước 20

Trang 11

I Tiềm năng tài nguyên khoáng sản

Việt Nam nằm trong vành đai sinh khoáng Châu á - Thái Bình Dương, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng Việt Nam là nước giầu trung bình về tài nguyên khoáng sản: có khoáng sản kim loại đen, kim loại màu và quý hiếm, khoáng sản năng lượng, khoáng chất công nghiệp, vật liệu xây dựng, gốm sứ thuỷ tinh Quy mô trữ lượng thuộc loại nhỏ và rất nhỏ; không có mỏ có quy mô trữ lượng cực lớn, nhưng có một số mỏ thuộc quy mô trữ lượng lớn và vừa như bauxit,

đất hiếm, vật liệu xây dựng, apatit, cromit Cho đến nay chúng ta đã xác định được hơn 5000 điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản với các quy mô trữ lượng khác nhau Các số liệu thống kê trong bảng 1 cho thấy tiềm năng một số khoáng sản chính của Việt Nam

Bảng 1: Trữ lượng và phân bố các khoáng sản chủ yếu ở Việt Nam

Khoáng sản Đơn vị TL A+B+C1+C2 TN dự báo

Than [1]

Than antraxit 106 tấn 3.521 6.600 Than nâu 106 tấn 318.6 300-5.000 Than vữa 106 tấn 21.2 29.435

KS kim loại [2]

Bauxit 106 tấn 4.400 1.100 Sắt 106 tấn 656,0 2.913 Mangan 103 tấn 9.251 2.515 Crômít 103 tấn 20.700 1.690 Niken 103 tấn 170,44 5.865 Côban 103 tấn 15,8 620,7 Molipđen 103 tấn 7,43 72,71 Vonframit 103 tấn 2,93 243,22 Chì - kẽm 103 tấn 1.413,24 96.933,06 Antimon 103 tấn 94,5 1.214,47

Thiếc 103 tấn Gốc: 19,45

S.K: 90,05

Gốc: 192,85 S.K: 95,47

Đồng 103 tấn 727,87 6.787,54 Inmenhít 103 tấn 14.000 20.000 Vàng tấn 45,36 366,92 Bạc tấn - 3587,7

Trang 12

Platin tấn - 4,29 Thuỷ ngân tấn - 220,0

Uranium tấn - 533.887

Đất hiếm 106 tấn 914,00 1.665,00

KS phi kim loại [1]

Apatit 106 tấn 908 1.665 Pyrit 106 tấn 363,2 10,6 Cao lanh 106 tấn 320 80 Cát thuỷ tinh 106 tấn 301 727 Bentonit 106 tấn 47 350 Secpentin 106 tấn 15 21 Graphit 106 tấn 13,5 21,7 Fluorit 106 tấn 2,6 32,1 Baryit 106 tấn 1,65 0,5 Phophorit 106 tấn 1,3 1,4

Vật liệu XD [1]

Đá vôi XM 106 tấn 10.692

Đá XD 106 m3 785 41.839

Đá ốp lát 106 m3 133,5 11936

(1) Nguồn: Viện chiến lược, Chính sách công nghiệp: Báo cáo kế hoạch tổng

thể phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ngành công nghiệp Hà Nội

2004

(2) Hoàng Văn Khanh: Tổng quan tình hình tài nguyên, khai thác và chế

biến khoáng sản kim loại

II Tổng hợp đánh giá hiện trạng ngành khai thác khoáng sản

Theo thống kê, hiện nay ở Việt Nam có gần 1000 cơ sở khai thác, chế biến và sản xuất các sản phẩm khoáng sản Trong đó có khoảng 2.000 điểm khai thác khoáng sản có đăng ký hợp pháp của 1000 khu mỏ Ngoài ra còn có hàng trăm điểm khai thác khoáng sản tự do tại nhiều vùng trong cả nước Số điểm khai thác nhiều nhất là vật liệu xây dựng và than Các khoáng sản khác chỉ có từ 10 đến 20 điểm khai thác Có gần 20

mỏ có quy mô lớn (>1.000.000 m3/năm) thuộc về các mỏ đá xi măng và than Số còn lại chủ yếu là quy mô nhỏ và rất nhỏ(10.000-100.000 t/năm) Rất ít mỏ có quy mô hơn 200.000 t/năm Việt Nam đang khai thác hơn 40 loại khoáng sản để sử dụng trong

Trang 13

nước cũng như để xuất khẩu Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam đã tạo ra hơn 1 triệu việc làm và đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước Tiềm năng phát triển của ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam là rất to lớn, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp có liên quan cũng như tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động đáng kể ở các vùng có các hoạt

động khai thác khoáng sản mà phần lớn nằm ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa

2.1 Cơ cấu thành phần doanh nghiệp KTKS và tổ chức

Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá, tham gia hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản chỉ có các doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngoài sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước như trước đây đã có nhiều thành phần kinh tế tham gia khai thác khoáng sản như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, hợp tác xã, tổ hợp tác

Theo kết quả thống kê năm 2003, trong số các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt

động khai thác khoáng sản hợp pháp, số lượng các doanh nghiệp nhà nước chiếm 55,2%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm: công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân chiếm 14,5%, tổ hợp, hợp tác xã chiếm 13,8 % và cá nhân chiếm 14,2

%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ khiêm tốn là 2,2% chủ yếu trong lĩnh vực khai thác đá làm nguyên liệu sản xuất xi măng lò quay, khai thác vàng, vonfram, đồng Đến năm 2006-2007, tỷ lệ này đã có sự thay đổi đáng kể, đó là số doanh nghiệp nhà nước hoặc một phần vốn nhà nước chiếm 20%; công ty TNHH, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân 62%; Hợp tác xã, tổ hợp 11,2%; doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài chiếm 4,7% và các cá nhân tham gia khai thác vật liệu xây dựng thông thường (đá, cát, sỏi, sét gạch ngói) 2,1%

Tổng công ty Than Việt Nam luôn giữ tốc độ phát triển trong công nghiệp khai thác, chế biến than Tổng công ty Hoá chất Việt Nam chủ yếu khai thác, chế biến khoáng sản phục vụ lĩnh vực sản xuất phân bón và hoá chất Đối với các mỏ sắt, việc tổ chức đầu tư, khai thác các nguồn quặng trong nước do Tổng công ty Thép Việt Nam thực hiện Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chủ yếu khai thác quặng thiếc, đồng, chì - kẽm, nhưng trong quá trình khai thác do thiếu kinh phí và thiếu sự chủ động tổ chức thăm dò mở rộng và bổ sung, nên đến nay trữ lượng các nguồn quặng đã cạn kiệt, không bảo đảm hoạt động ổn định và lâu dài Hiện nay đã thành lập Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam Hy vọng công nghiệp khai thác, chế biến than, khoáng sản sẽ phát triển mạnh trong những năm tới

Doanh nghiệp nhà nước của các địa phương có mức độ đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản còn rất hạn chế và hầu hết là các doanh nghiệp nhỏ, chưa có đủ năng lực về tài chính, thiết bị để đảm bảo chế biến sâu; chủ yếu các doanh nghiệp này chỉ khai thác

Trang 14

khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường hoặc khai thác các khoáng sản kim loại với quy mô nhỏ, xuất khẩu quặng tinh hoặc quặng thô

Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia chủ yếu trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và khai thác tận thu khoáng sản kim loại Năng lực đầu tư cho chế biến sâu rất hạn chế, chủ yếu xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô hoặc quặng tinh

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia chủ yếu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng (Công ty Xi măng Nghi Sơn, Công ty Xi măng Chinphon ), đá ốp lát (Công ty liên doanh Latina Ang Giang), đá vôi trắng (Công ty Khoáng sản Việt Nhật, Công ty BanPu Thái Lan), nước khoáng (Công ty Lavie), Vonfram (Công ty Tiberon) Đối với khoáng sản quý, hiếm, tiến độ thực hiện các dự án đầu tư đã được cấp phép (Công ty Vàng Bồng Miêu, Công ty liên doanh Niken Bản Phúc) triển khai còn chậm do hạn chế về năng lực đầu tư và quy mô trữ lượng các mỏ hiện có Một số công ty như Công ty liên doanh Đá quý Việt - Nga, Công ty liên doanh đá quý Việt-Thái, Công ty khai thác titan Austinh, Công ty khai thác đá ốp lát Dalim do việc đầu tư không có hiệu quả đã phải ngừng hoạt động

Nhìn chung, trong những năm gần đây, sản lượng khai thác một số loại khoáng sản đã duy trì mức tăng trưởng khá như than, quặng sắt, thiếc, titan, chì- kẽm, apatit, nước khoáng, khoáng sản phục vụ sản xuất xi măng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường

- Ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản của nước ta mặc dù còn

đầu tư ở quy mô nhỏ, nhưng cũng đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Hoạt động khai thác khoáng sản bước đầu đã có sự tập trung theo quy hoạch, một số mỏ đã chú ý đầu tư chiều sâu vào khai thác, chế biến và đã tạo cơ sở cho sự phát triển ngành công nghiệp khai khoáng

- Tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo từng bước cơ sở hạ tầng của các

địa phương, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa

- Trật tự khai thác, bảo vệ tài nguyên khoáng sản đã từng bước được thiết lập, hạn chế dần các hoạt động khai thác trái phép khoáng sản

- Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản nhìn chung đã có ý thức tuân thủ quy định của pháp luật, gắn mục tiêu lợi ích sản xuất, kinh doanh khoáng sản với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, môi sinh, an ninh quốc phòng và an toàn lao động

Trang 15

2.2 Phân bố, vị trí địa lý và loại hình KTKS của các doanh nghiệp

Tài nguyên khoáng sản của nước ta chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi, trung

du Đây là khu vực địa lý có điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng còn có rất nhiều khó khăn hạn chế, giao thông chưa phát triển, giáo duc, y tế, trình độ dân trí còn ở mức độ thấp, lạc hậu Dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số thuộc nhiều dân tộc anh em Dân cư chủ yếu sống bằng nông nghiệp, chăn nuôi và săn bắn Một số khu vực, đồng bào còn nghèo đói Sản xuất nông nghiệp chưa đủ cung cấp cho cuộc sống hàng ngày Thu nhập bình quân của những tỉnh miền núi, trung du thấp hơn nhiều

so với các tỉnh đồng bằng và đô thị

Khai thác khoáng sản quy mô công nghiệp lớn gồm có:

Các mỏ than vùng đông bắc, tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh, một số mỏ ở tỉnh Thái Nguyên

Mỏ Apatit Lào Cai của Tổng Công ty hoá chất Việt Nam khai thác quặng apatit

để sản xuất phân bón

Mỏ đồng Sin Quyền Lào Cai hiện nay đang khai thác, tuyển quặng đồng

Các mỏ đá vôi được khai thác để phục vụ các nhà máy xi măng lò quay với công suất trên 1,0 triệu tấn clanhke/năm ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Kiên Giang

Các mỏ đá vật liệu xây dựng thông thường đang được khai thác tại các tỉnh

Đồng Nai, Bình Dương

Khai thác khoáng sản quy mô vừa và nhỏ đang được tiến hành trên hầu hết các tỉnh trong cả nước Loại khoáng sản được khai thác có số lượng mỏ nhiều nhất là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đá, cát, sỏi, sét gạch ngói), tiếp đến là các mỏ khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng (cao lanh, fenspat, đá ốp lát, đá blôk), khai thác khoáng sản nguyên liệu hoá chất (đá vôi trắng, pyrit, bau xit, đá ba zan), khai thác quặng ilmenhit ven biển, khai thác quặng sắt, quặng chì-kẽm, mangan, thiếc, vàng

Các doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân) tham gia hoạt động khoáng sản rất đa dạng Đứng đầu là các tập đoàn kinh tế như Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam nắm

vị trí chủ đạo về khai thác than, khai thác các mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn Tiếp

đến là các Tổng Công ty Trung ương, Tổng Công ty địa phương như Tổng Công ty Xi măng, Tổng Công ty phân bón hoá chất, Tổng Công ty thép, Tổng Công ty xây dựng, Tổng Công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh Các Công ty nhà nước, Công ty tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty liên doanh, Công ty 100% vốn nước ngoài, Hợp tác xã, cá nhân

Trang 16

2.2.1 Hiện trạng ngành khai thác than

Ngành công nghiệp khai thác than của nước ta đã có truyền thống hơn 100 năm

và vùng than Quảng Ninh là khu vực tập trung của ngành công nghiệp này Sản lượng than khai thác ở Quảng Ninh luôn chiếm hơn 90% sản lượng than của cả nước trong mọi thời kỳ

Hiện nay, trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam - VINACOMIN (trước đây là Tổng Công ty Than Việt Nam - VINACOAL) có 20 Công

ty thành viên đang quản lý, khai thác 52 mỏ than lộ thiên và hầm lò trên phạm vi cả nước, tập trung chủ yếu tại vùng than tỉnh Quảng Ninh

Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010 có xét triển vọng đến 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 20/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2003 Theo quy hoạch được duyệt, dự kiến

đến năm 2005, sản lượng than thương phẩm toàn Tổng Công ty đạt được là 16 đến 17 triệu tấn và đến năm 2010 dự kiến đạt được 23 đến 24 triệu tấn Trong thực tế, sản lượng khai thác than của Tổng Công ty Than Việt Nam phát triển nhanh hơn rất nhiều

so với dự kiến trong sơ đồ quy hoạch Năm 2005, sản lượng than sạch của Tổng Công

ty là 30,2 triệu tấn, tăng gần 200% so với kế hoạch dự kiến Kế hoạch này không phải

là dự báo xa, chỉ 2 năm sau khi kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt Năm

2006, sản lượng than sạch của Tổng Công ty đã lên tới 42 triệu tấn

Sản lượng khai thác than tăng nhanh, mỏ lộ thiên càng phải xuống sâu hơn và

mở rộng hơn, các mỏ hầm lò phải mở thêm các lò chợ mới, đầu tư cho khai thác, đặc biệt là đầu tư máy móc hiện đại, trang thiết bị bảo hộ lao động, phòng ngừa sự cố tai nạn, phòng chống cháy nổ, vẫn còn chậm hơn tốc độ tăng sản lượng nên đã đặt ra những thách thức mới về an toàn lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động và bảo vệ môi trường, môi sinh

Hiện nay thiết bị công nghệ kỹ thuật của ngành than còn khá lạc hậu so với thế giới Mặc dầu trong những năm gần đây, ngành than đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ kỹ thuật nên mới đạt được sự tăng trưởng khá So với các mỏ than hầm lò thì công

Trang 17

nghệ kỹ thuật của các mỏ than lộ thiên có mức độ cao hơn Chính vì vậy mà tổng sản lượng khai thác than lộ thiên hiện nay vẫn chiếm ưu thế Việc đầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào các mỏ than hầm lò của ta cần phải đi từng bước vững chắc vì điều kiện sản trạng các mỏ than hầm lò của ta cũng như điều kiện địa chất công trình, địa chất thuỷ văn mỏ cũng khá phức tạp Năng suất thiết bị tại các mỏ than hầm lò mới chỉ

đạt mức độ trung bình Đặc biệt là nhiều chủng loại thiết bị đã lạc hậu nhưng vẫn còn

đang được sử dụng

Đối với vùng than Quảng Ninh, một thực trạng khó khăn và thách thức đối với các mỏ khai thác lộ thiên là các bãi thải đất đá hiện nay đã ở trong tình trạng quá tải Những vấn đề về bụi, tiếng ồn, chấn động, nước thải mỏ, ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sụt lún, trượt lở đất đá cũng đang đe doạ đến cuộc sống của nhân dân, đến khu vực du lịch vịnh Hạ Long Đồng thời với việc duy trì hoặc tăng sản lượng khai thác than, cần thiết phải nghiên cứu, giải quyết đồng bộ các vấn đề nêu trên

2.2.2 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản Vật liệu xây dựng

Khoáng sản vật liệu xây dựng phân bổ hầu hết trên địa bàn lãnh thổ nước ta, từ các tỉnh miền núi, trung du đến vùng đồng bằng ven biển và các hải đảo Khoáng sản vật liệu xây dựng chủ yếu ở nước ta là sét gạch ngói, sét xi măng, puzolan, cát sỏi, đá vôi, đá xây dựng và đá ốp lát, đá ong, đá phiến

Trong những năm vừa qua, ngành xây dựng phát triển rất nhanh và mạnh Do đó nhu cầu về vật liệu xây dựng cũng đòi hỏi lớn Công nghiệp xây dựng tập trung vào các hạng mục có đầu tư lớn như xây dựng giao thông, xây dựng đô thị, mặt bằng các khu công nghiệp, nhà máy điện Ngoài ra xây dựng của nhân dân cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu chung của toàn ngành xây dựng Hoạt động khai thác, chế biến vật liệu xây dựng diễn ra trên hầu hết các địa phương trong cả nước, từ vùng rừng núi

đến trung du, đồng bằng đến các hải đảo Số lượng các mỏ khai thác vật liệu xây dựng cũng chiếm tỷ lệ cao nhất Quy mô sản lượng mỏ cũng đa dạng và phong phú nhất Thành phần tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, chế biến vật liệu xây dựng

là từ tập đoàn công nghiệp, tổng công ty, các dạng công ty, hợp tác xã, tổ sản xuất đến các cá nhân Về phương diện đầu tư có cả đầu tư của Nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài

Khai thác đá vôi sản xuất xi măng tập trung chủ yếu tại Tổng Công ty xi măng Việt Nam Sản lượng khai thác hàng năm của các mỏ đá vôi của các nhà máy xi măng

lò quay từ 2 – 4 triệu tấn Các nhà máy xi măng lò đứng mỗi năm tiêu thụ bình quân 5 triệu tấn đá vôi Tổng sản lượng đá vôi khai thác để sản xuất xi măng năm 2006 là 49,50 triệu tấn và sản lượng sét phụ gia sản xuất xi măng là 8,7 triệu tấn Ngoài ra ngành sản xuất xi măng còn tiêu thụ hàng triệu tấn phụ gia khác như than, bazan bọt, bôxit

Trang 18

Công nghệ khai thác của các mỏ đá vôi của các nhà máy xi măng công suất lớn

đều ở mức tiên tiến Một số mỏ được đầu tư dây chuyền công nghệ khai thác, vận tải hiện đại như mỏ đá vôi xi măng Hoàng Mai, Hoàng Thạch, Bút Sơn, Tam Điệp, Quảng Trạch

Các mỏ khai thác đá vôi của các nhà máy xi măng lò đứng đều hạn chế về mức

độ đầu tư cho khâu khai thác mỏ Cá biệt có những nơi thu mua nguyên liệu từ bên ngoài vào chế biến hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác khai thác để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy Vì vậy các mỏ đá vôi được khai thác không tuân thủ đúng thiết kế mỏ Tình trạng mất an toàn trong khai thác, không đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ thường xuyên xẩy ra

Khai thác đá ốp lát, đá chẻ phát triển mạnh ở các tỉnh nam Trung Bộ như Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà và một số tỉnh khác như An Giang, Thanh Hoá Chỉ có một số mỏ được đầu tư dây chuyền công nghệ khai thác, còn lại phần lớn các mỏ được khai thác theo hình thức thủ công truyền thống của các làng nghề sản xuất đá Vì vậy nên những khu vực khai thác đá ốp lát, đá chẻ chưa tận thu được tối đa tài nguyên

Khai thác vật liệu xây dựng thông thường: đá vật liệu xây dựng thông thường; cát, sỏi, sét gạch ngói, đất san lấp, cát san lấp phát triển mạnh trên tất cả các tỉnh trong cả nước Theo quy định của pháp luật về khoáng sản thì các loại khoáng sản này do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép khai thác Tình trạng khai thác vật liệu xây dựng thông thường hiện nay có thể phản ánh như sau: Bên cạnh một số ít các mỏ đá được

đầu tư dây chuyền công nghệ khoan, nổ mìn, xúc, vận tải, nghiền sàng tiên tiến thì vẫn

có hàng ngàn mỏ đá khai thác thủ công hoặc bán cơ giới Trong một số trường hợp, mỏ

đá vật liệu xây dựng thông thường có quy mô trữ lượng lớn (một núi hoặc một dãy núi) nhưng lại được chia nhỏ ra hàng chục điểm khai thác kế tiếp nhau Điều này dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi như: đầu tư không tập trung, sản xuất manh mún, không đảm bảo

an toàn lao động, gây ô nhiễm môi trường, làm mất mỹ quan, gây lãng phí tài nguyên Sản lượng đá vật liệu xây dựng thông thường tổng hợp được từ các địa phương có báo cáo là từ 30 – 35 triệu m3/năm Bên cạnh một số mỏ sét gạch ngói khai thác cơ giới, sản xuất gạch bằng lò tuy nen thì vẫn tồn tại hàng chục ngàn điểm khai thác đất sét, nung gạch bằng lò thủ công Dọc các sông suối trên cả nước, bên cạnh một số mỏ cát sỏi khai thác quy mô công nghiệp thì vẫn có hàng ngàn điểm khai thác cát, sỏi và bến bãi kinh doanh loại vật liệu này Có thể nói sản lượng các loại khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường được khai thác hàng năm không thể thống kê được một cách chính xác Việc khai thác, chế biến vật liệu xây dựng thông thường hiện nay gây ra tình trạng lộn xộn, khó kiểm soát về an toàn lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động, bảo vệ môi trường, cảnh quan

Trang 19

2.2.3 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản kim loại: thiếc, sắt, đồng, chì, kẽm, crom, mangan, vàng, đá quý, antimon, titan

Khai thác quặng thiếc: 3 vùng thiếc quan trọng là Tĩnh Túc (Cao Bằng), Tam Đảo

(Tuyên Quang), Quỳ Hợp (Nghệ An) đã được khai thác trong nhiều năm qua và tài nguyên đã bị cạn kiệt Những khu vực quặng giàu, dễ khai thác (chủ yếu là quặng thiếc

sa khoáng aluvi, deluvi) đã bị khai thác gần hết Phần còn lại chủ yếu là những khu vực quặng nghèo hoặc các điểm quặng nhỏ Những khu vực có quặng thiếc gốc chưa được

đầu tư thăm dò để xác định chính xác trữ lượng, chất lượng quặng và tính chất công nghệ để phục vụ cho khai thác, chế biến Vùng quặng thiếc nam Trung bộ (Ninh Thuận) và nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) mới được điều tra, đánh giá sau năm 1976 và

dự báo có tiềm năng lớn Cho đến nay, ở đây chưa được đầu tư thăm dò, đánh giá trữ lượng Tuy nhiên trong những năm vừa qua việc khai thác vẫn được tiến hành một cách trái phép, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, kể cả trong khu vực thành phố du lịch Đà Lạt (Thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở, v.v)

Hiện nay việc khai thác quặng thiếc được tiến hành chủ yếu ở quy mô nhỏ Đối với quặng thiếc sa khoáng, việc khai thác chủ yếu bằng sức nước hoặc thủ công, tuyển

đãi quặng bằng máng đãi, bằng phương pháp trọng lực hoặc tuyển đãi thủ công Đối với quặng thiếc gốc được khai thác bằng phương pháp hầm lò hoặc giếng đứng, giếng nghiêng, lò bằng có sử dụng vật liệu nổ Công nghệ khai thác thủ công là chính Quặng sau khi khai thác ra được đưa vào đập, nghiền và tuyển đãi bằng phương pháp trọng lực

Sản lượng quặng thiếc khai thác phụ thuộc nhiều vào giá kim loại thiếc trên thị trường thế giới Khi giá kim loại thiếc trên thị trường tăng thì các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác thiếc tăng lên rất nhanh về số lượng Quặng thiếc được khai thác, tuyển rửa đến các hàm lượng khác nhau và bán cho các cơ sở luyện thiếc Do các khu vực có quặng thiếc thuộc vùng rừng núi, giao thông còn nhiều hạn chế nên việc kiểm soát khai thác, chế biến gặp nhiều khó khăn Điển hình là các “thung lũng treo” có quặng thiếc ở vùng Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Khu vực này có khoảng gần trăm điểm tích tụ quặng thiếc, quy mô nhỏ và rất nhỏ, nằm độc lập và tách biệt nhau Việc khai thác và vận chuyển rất khó khăn nhưng các tổ chức, cá nhân vẫn đầu tư dưới nhiều hình thức để khai thác trái phép Theo số liệu của cơ quan chức năng địa phương, lúc cao

điểm có hơn 60 tổ hợp khai thác thiếc ở vùng này bằng phương pháp lộ thiên, giếng và

lò Theo dự tính thì có đến khoảng 50% sản lượng quặng thiếc cung cấp cho các lò luyện thiếc kim loại là từ nguồn khai thác trái phép

Sản lượng thiếc kim loại (tấn):

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Sn 1800 1700 1700 2100 3500 3650 3900

Trang 20

Khai thác quặng sắt:

Mỏ quặng sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh là mỏ có trữ lượng lớn nhất (hơn 500 triệu tấn) là nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ cho ngành công nghiệp luyện thép trong tương lai ở nước ta Mỏ sắt Thạch Khê đã được Nhà nước giao cho Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam tổ chức đầu tư để khai thác Ngoài mỏ quặng sắt Thạch Khê, ở nước ta còn có các mỏ quặng sắt khác có quy mô trữ lượng vừa và nhỏ, phân bổ rải rác trên địa bàn các tỉnh miền núi phía bắc, miền trung, các tỉnh trung du Bắc Bộ và Trung

Mỏ sắt Quý Sa, xã Sơn Thuỷ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã được cấp giấy phép cho Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim Việt-Trung (liên doanh giữa Tổng Công ty Thép Việt Nam và Tập đoàn gang thép Côn Gang Trung Quốc) Mỏ sẽ bắt đầu khai thác vào đầu năm 2008 với sản lượng 1,5 đến 3,0 triệu tấn quặng sắt/năm

Vùng quặng sắt Cao Bằng có nhiều điểm mỏ, chủ yếu là loại quặng sắt manhetit chất lượng tốt Tổng Công ty thép Việt Nam khai thác mỏ Ngườm Cháng, Công ty gang thép Cao Bằng khai thác mỏ Nà Rụa Ngoài ra tỉnh còn cấp giấy phép cho 6 công

ty khai thác 9 điểm mỏ quặng sắt khác với sản lượng hàng năm 400 – 450 ngàn tấn quặng xuất khẩu sang Trung Quốc

Khi các nhà máy xi măng công suất lớn đi vào hoạt động, nhiều điểm quặng sắt nhỏ khai thác tận thu đã đi vào khai thác để cung cấp nguyên liệu phụ gia trong quá trình sản xuất xi măng Các mỏ quặng sắt này có hàm lượng sắt thấp, không đủ điều kiện khai thác phục vụ công nghiệp luyện kim cả về quy mô trữ lượng lẫn chất lượng

Từ năm 2000, việc nước ngoài tiến hành thu mua quặng sắt của nước ta, hàng loạt mỏ quặng sắt nhỏ đã được các tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác trên phạm vi cả nước ở các tỉnh biên giới phía bắc, quặng sắt được khai thác ở Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Kạn được vận chuyển bằng ô tô để xuất khẩu qua các cửa khẩu hoặc vận chuyển thủ công qua biên giới bằng đường bộ ở các tỉnh

Trang 21

Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh quặng sắt được khai thác và vận chuyển bán ra nước ngoài bằng đường biển qua các cảng nhỏ (thường là các cảng cá của ngư dân) Sản lượng quặng sắt đã được khai thác và bán ra nước ngoài rất khó thống kê một cách chính xác Riêng quặng sắt bị khai thác trái phép ở Thanh Kỳ, Như Thanh huyện Thạch Thành và Cao Ngọc huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá ước tính 350 – 400 ngàn tấn năm, xuất khẩu qua cảng Lệ Môn (Sầm Sơn) hoặc các cảng sông dọc bờ biển

Sản lượng quặng sắt (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng tinh Fe 350 500 560 730 750 950 1200

Khai thác quặng đồng:

Trong những năm trước đây, việc khai thác quặng đồng ở nước ta chưa phát triển Về tài nguyên, cho đến nay đã phát hiện, thăm dò được 2 khu vực mỏ có tiềm năng về khoáng sản đồng là Sin Quyền (Lào Cai) và Bản Phúc (Sơn La) Trong đó mỏ Bản Phúc là loại hình khoáng sản đồng-niken Hiện nay, mỏ đồng-niken Bản Phúc đã

được Công ty liên doanh Mỏ Nikel Bản Phúc thăm dò, đánh giá trữ lượng và lập Báo cáo nghiên cứu khả thi khai thác

Đối với mỏ đồng Sin Quyền, từ năm 1992 đã thành lập Xí nghiệp liên doanh khai thác quy mô nhỏ, với sản lượng quặng tinh đồng 4 – 5 ngàn tấn/năm (hàm lượng 18%), sản phẩm phụ thu hồi là quặng manhetit, giữa Công ty kim loại màu Thái Nguyên và Sở Công nghiệp tỉnh Lào Cai Hiện nay mỏ này đang được Xí nghiệp mỏ tuyển đồng Sin Quyền khai thác

Sản lượng Xí nghiệp mỏ tuyển đồng Sin Quyền:

Năm 2005: 90.000 tấn quặng tinh Cu,

Năm 2006: 804.770 tấn quặng tinh Cu,

Công nghệ khai thác lộ thiên với sản lượng thiết kế 1,1 triệu tấn quặng nguyên khai/năm và khối lượng đất bóc trên 3 triệu m3/năm Thiết bị khai thác được đầu tư mua sắm các chủng loại có tính năng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Công nghệ tuyển khoáng kết hợp giữa tuyển nổi và tuyển từ Điều chỉnh các thông số kỹ thuật tuyển khoáng bằng tự động hoá Quặng tinh đồng sau tuyển đạt hàm lượng Cu = 25%

Ngoài ra còn thu hồi các sản phẩm phụ như quặng tinh manhetit với hàm lượng sắt = 65%

Mỏ đồng Sin Quyền hiện nay là một mô hình khai thác quặng kim loại bằng phương pháp lộ thiên được đầu tư dây chuyền công nghệ khai thác, tuyển khoáng tiên tiến Công tác quản lý kỹ thuật đã được quan tâm chú ý đúng mức Mỏ đã sử dụng các thiết bị khoan, nổ mìn, xúc bốc, vận tải hợp lý nên khai trường đảm bảo được các thông

số kỹ thuật theo thiết kế đã được phê duyệt Nhà máy tuyển nổi đồng được trang bị máy móc tiên tiến nhằm xử lý, thu hồi tốt tài nguyên khoáng sản, bảo đảm an toàn lao

động và bảo vệ môi trường

Trang 22

Sản lượng quặng tinh đồng (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng tinh Cu 2,4 1,6 1,1 1,2 1,5 90 804,8

Khai thác quặng chì-kẽm:

Quặng chì-kẽm được tập trung khai thác ở các mỏ thuộc tỉnh Bắc Cạn và tỉnh Thái Nguyên Ngoài ra quặng chì-kẽm cũng đang được khai thác ở một số địa phương khác như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, song quy mô sản lượng các mỏ đều ở mức thấp

Các mỏ quặng chì-kẽm Chợ Điền, tỉnh Bắc Kạn và Lang Hích, tỉnh Thái Nguyên đang được Công ty TNHH nhà nước một thành viên kim loại màu Thái Nguyên quản lý và khai thác quy mô công nghiệp Phương pháp khai thác kết hợp lộ thiên và hầm lò tuỳ theo điều kiện thực tế của các thân quặng chì-kẽm Tuy nhiên do hạn chế về vốn đầu tư nên dây chuyền công nghệ khai thác vẫn còn lạc hậu, đặc biệt là

đối với các mỏ hầm lò Trong các lò khai thác chưa được cơ giới hoá đồng bộ, nhiều công đoạn sản xuất vẫn còn thủ công hoặc bán cơ giới, chưa đảm bảo tốt sức khoẻ cho người công nhân mỏ

Mỏ Chợ Điền với tổng trữ lượng có thể khai thác là 1,46 triệu tấn quặng ôxyt và

650 ngàn tấn quặng sunfua chì-kẽm Nay trữ lượng này còn lại có thể tiếp tục khai thác khoảng 9 – 10 năm với sản lượng khoảng 70 ngàn tấn/năm quặng ôxyt (hàm lượng Pb+Zn > 12%), 40 ngàn tấn/năm quặng sunfua (hàm lượng 11% Zn, 2% Pb) như hiện nay

Mỏ Lang Hích có 3 khu khai thác: Metis, Mỏ Ba, Sa Lung với tổng trữ lượng

được huy động vào khai thác 422,5 ngàn tấn quặng sunfua (hàm lượng Pb+Zn = 13,5%) và 65,7 ngàn tấn quặng ôxyt (hàm lượng Pb+Zn = 15%) Đến nay phần quặng

ôxyt đã khai thác hết, quặng sunfua đang được khai thác với sản lượng 18 – 20 ngàn tấn/năm

Ngoài Công ty TNHH nhà nước một thành viên kim loại màu Thái Nguyên ra còn có nhiều doanh nghiệp tham gia khai thác quặng Chì-Kẽm Tỉnh Bắc Kạn có 11 doanh nghiệp khai thác 20 điểm quặng, tỉnh Thái Nguyên có 4 doanh nghiệp khai thác

5 điểm, tỉnh Tuyên Quang có 2 doanh nghiệp khai thác 3 điểm (riêng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có số lượng điểm quặng kẽm khai thác trái phép lớn trên cả 5 huyện: Yên Sơn, Hàm Yên, Na Hang, Chiêm Hoá, thị xã Tuyên Quang), Hà Giang có 3 doanh nghiệp khai thác 3 điểm Tổng số khu vực quặng chì-kẽm được cấp có thẩm quyền bàn giao để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép khai thác là 52 Riêng tỉnh Bắc Kạn đã

được bàn giao 20 điểm và sản lượng khai thác đạt hàng năm từ 120 – 150 ngàn tấn/năm

Đã có 2 cơ sở chế biến (tuyển nổi) quặng sunfua đang hoạt động do Công ty TNHH một thành viên kim loại màu Thái Nguyên xây dựng tại Thái Nguyên và Chợ

Điền, Bắc Kạn, 2 cơ sở khác do các doanh nghiệp địa phương tỉnh Bắc Kạn xây dựng ở

Trang 23

Chợ Đồn Một cơ sở liên doanh với nước ngoài xây dựng lò quay xử lý quặng nghèo

được thực hiện ở khu vực mỏ Chợ Điền

Quặng chì-kẽm nước ta có trữ lượng không lớn, phân bổ không tập trung, rải rác trong một số tỉnh miền núi phía bắc và bắc Trung Bộ Tuy nhiên công tác quản lý, khai thác trong những năm vừa qua đã bộc lộ nhiều nhược điểm Trong khi chưa có cơ sở chế biến thì quặng vẫn được khai thác dưới nhiều hình thức: công nghiệp, tận thu và cả khai thác trái phép để xuất ra nước ngoài, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên quốc gia

Sản lượng quặng/quặng tinh chì-kẽm (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng Pb+Zn 124 161 159 213 268 276 283 Quặng tinh Pb 1,2 0,9 1,1 1,1 1,1 1,2 1,2 Quặng tinh Zn 12,5 32 42 45 40 47 51

Khai thác quặng crom:

Mỏ quặng crom duy nhất ở nước ta đã và đang được khai thác là mỏ cromit Cổ

Định, Thanh Hoá Quặng được khai thác bằng phương pháp lộ thiên Trước năm 1990,

mỏ này được trang bị dây chuyền khai thác, tuyển khoáng đồng bộ Sau năm 1990, công tác quản lý khai thác mỏ bị buông lỏng Mỏ được phân chia thành nhiều khu vực cho nhiều tổ chức khai thác, thậm chí khoán cho các tổ công nhân hoặc hộ gia đình khai thác Từ đó việc khai thác thủ công được áp dụng, dẫn đến tình trạng tranh chấp, khai thác bừa bãi trong nhiều năm, gây tổn thất tài nguyên, phá vỡ cảnh quan, môi trường Do khai thác quặng cromit một cách bừa bãi, khó kiểm soát nên năm 2005, chính quyền địa phương tỉnh Thanh Hoá đã có quyết định tạm thời đình chỉ mọi hoạt

động khai thác, chế biến quặng crom trên toàn bộ vùng mỏ Cổ Định

Sản lượng quặng crom (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng Cr2O3 76,3 70,2 80 120 150 90 48

Khai thác mangan:

Về tài nguyên, quặng mangan ở nước ta có trữ lượng nhỏ, phân bổ rải rác trên

địa bàn nhiều tỉnh miền bắc và miền trung Quặng mangan tập trung thành cụm điểm khoáng sản là ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An

Mỏ mangan Tốc Tát, tỉnh Cao Bằng đã được khai thác trong những năm trước

đây để phục vụ cho ngành luyện kim, quy mô sản lượng nhỏ Công ty Cổ phần mangan Cao Bằng đang khai thác 4 điểm mỏ mangan bằng phương pháp lộ thiên, sản lượng hàng năm của Công ty này đạt 20 đến 25 ngàn tấn sản phẩm tinh quặng mangan xuất khẩu

Trang 24

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 14 doanh nghiệp được cấp giấy phép để khai thác quặng mangan Ngoài ra việc khai thác trái phép quặng mangan trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cũng diễn ra khá phức tạp và ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các huyện có biên giới với Trung Quốc như Trùng Khánh, Trà Lĩnh Ví dụ trong năm 2006, tại vùng biên giới Lũng Phiăc, xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh có thời điểm có tới 600 – 700 con

la vận chuyển quặng mangan sang bán cho Trung Quốc mỗi ngày hơn 100 tấn

Xí nghiệp mangan thuộc Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh khai thác tận thu các điểm khoáng sản mangan ở huyện Can Lộc, Đức Thọ Những

điểm khoáng sản mangan này đều ở dạng deluvi nghèo, phân bổ rải rác Xí nghiệp khai thác đã kết hợp tận thu quặng với công tác hoàn thổ, cải tạo đất để hình thành các trang trại trồng cây ăn quả trên những vùng đồi rất cằn cỗi, hoang hoá trước khi khai thác Sản lượng quặng mangan hàng năm đạt 2 đến 3 ngàn tấn

Sản lượng quặng tinh mangan (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng tinh Mn 65 67 68 68 70 72 71

Khai thác quặng antimon:

Antimon là kim loại màu được sử dụng trong ngành in, cơ khí, hoá chất, quốc phòng và một số ngành khác

Trước đây ở nước ta đã khai thác mỏ antimon Đầm Hồng, tỉnh Tuyên Quang bằng phương pháp hầm lò Mỏ này đã ngừng khai thác từ năm 1998 và được tạm thời

mỏ antimon Mậu Duệ, huyện Yên Minh

Do nhu cầu về antimon trong nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nên hiện nay có một

số điểm antimon đang được khai thác dạng tận thu hoặc khai thác trái phép ở quy mô nhỏ, mang tính chất thời vụ (ở Lăng Can, huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang, ở Yên Minh, tỉnh Hà Giang và một số địa phương khác) Trên thị trường, quặng antimon vẫn

được vận chuyển, buôn bán, cung cấp cho các cơ sở chế biến Cho đến nay chưa có doanh nghiệp nào xin cấp giấy phép thăm dò để tiến tới khai thác quặng antimon theo

đúng quy định của pháp luật

Trang 25

Sản lượng quặng tinh antimon (tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quặng tinh Sb 85 67 89 76 75 97 95

Khai thác vàng:

Khoáng sản vàng ở nước ta có nguồn gốc sa khoáng, vàng gốc và vàng đi kèm các loại khoáng sản khác như đồng, pyrit, antimon, thiếc, v.v và phân bố rải rác trên nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên vùng tập trung khoáng sản này là ở các tỉnh miền núi phía bắc, miền trung, tây nguyên và các tỉnh miền núi đông Nam Bộ

Hiện nay khai thác vàng chủ yếu từ quặng vàng sa khoáng và vàng gốc

Đối với vàng sa khoáng, đã có nhiều tổ chức, cá nhân xin khai thác tận thu nhiều điểm ở các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Hoà Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng và một số tỉnh khác Tuy nhiên do hàm lượng vàng phân bổ không đều, phương pháp quản lý chưa tốt nên nhìn chung hiệu quả kinh tế thấp Tại điểm vàng sa khoáng Bản Ná, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình khai thác đã xảy tai nạn nghiêm trọng làm cho hàng chục người bị chết Mặc dù

được cấp giấy phép khai thác tận thu nhưng các cơ quan quản lý không thống kê đầy

đủ được sản lượng vàng mà các tổ chức, cá nhân đã thu được Nhiều khu vực sau khi cấp giấy phép xong đã bị bỏ vì không có vàng hoặc hàm lượng quá thấp

Trong khi đó hàng trăm địa điểm vàng sa khoáng bị khai thác trái phép dưới nhiều hình thức Những điểm khai thác vàng sa khoáng trái phép thường là các thung lũng ven sông suối, ruộng lúa, các khu vực đồi thấp Phương pháp khai thác hoàn toàn bằng thủ công

Đối với vàng gốc đã phát hiện một số vùng có triển vọng lớn như Minh Lương

và Sa Phìn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Pak Lạng, tỉnh Bắc Kạn; Dakrông, tỉnh Quảng Trị; Phước Sơn, Bồng Miêu, tỉnh Quảng Nam Trong thời gian qua, chỉ có mỏ vàng Bồng Miêu đã được thăm dò và đang đi vào khai thác; vàng Phước Sơn được cấp giấy phép khai thác tận thu cho một số tổ chức, cá nhân; vàng Dakrông cũng được cấp giấy phép khai thác tận thu ở một số điểm nhưng do quản lý kém nên hiện tại đã dừng khai thác; vàng Minh Lương và Sa Phìn đang được giao cho Công ty khoáng sản 3 tổ chức quản lý, chuẩn bị công tác thăm dò; vàng Pak Lạng sau một thời gian cấp giấy phép khai thác tận thu cho Công ty Thanh Bình, nay đã được cấp giấy phép thăm dò,

đánh giá trữ lượng để khai thác quy mô công nghiệp Tuy nhiên các khu vực quặng vàng nói trên luôn là điểm nóng của khai thác trái phép Ngoài ra một số điểm quặng vàng gốc khác cũng đã được cấp giấy phép khai thác tận thu nhưng hiệu quả không cao, không kiểm soát được tình hình hoạt động cũng như không thống kê chính xác sản lượng vàng khai thác được

Các doanh nghiệp nhà nước tham gia hoạt động khai thác vàng đều không có hiệu quả kinh tế Liên doanh Việt Nga khai thác vàng sa khoáng ở Na Rì, tỉnh Bắc Kạn cũng phải giải thể sau một thời gian ngắn đi vào hoạt động

Trang 26

Năm 2006, 3 doanh nghiệp khai thác vàng ở Quảng Nam có báo cáo về sản lượng khai thác vàng là 50 kg Khu Hố Gần, mỏ vàng Bồng Miêu từ tháng 4 năm 2006

đến 7 năm 2007 sản xuất được 255 kg vàng thỏi và 34 kg bạc

Sản lượng vàng (kg)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Au 175 161 168 165 172 198 343 Để có được sự nghiên cứu, đánh giá trữ lượng, chất lượng các mỏ vàng, Nhà nước

đã cấp giấy phép thăm dò khoáng sản theo quy định của pháp luật:

- Giấy phép thăm dò vàng gốc xã Trà Năng, Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng cấp cho Công ty Đá quý và Vàng Lâm Đồng

- Giấy phép thăm dò vàng Pu Sam Cap, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cấp cho liên doanh Công ty Triple Plate Junction Ltd., Tổng Công ty khoáng sản Việt Nam, Công ty khoáng sản Lai Châu và Công ty xây dựng, thương mại miền núi

- Giấy phép thăm dò vàng Apey, Abung, huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị cho Công ty phát triển khoáng sản 4

- Giấy phép thăm dò vàng gốc xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai cấp cho Công ty phát triển khoáng sản 3

- Giấy phép thăm dò vàng Nà Pái, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn cấp cho Công

ty N.P Mining và Tổng Công ty khoáng sản Việt Nam

- Giấy phép thăm dò vàng, bạc, đồng Xà Khía, Vít Thu Lu, Bạch Đàn, xã Kim Thuý và Lâm Thuý, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình cấp cho liên doanh Công ty Vietnam Resources Coporation (VRC) Pty Limited và Công ty lâm, công nghiệp Long

Đại (Quảng Bình)

- Giấy phép thăm dò vàng sa khoáng Cắm Muộn, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An cấp cho Công ty Cổ phần Thành Tân

- Giấy phép thăm dò vàng Tà Sỏi, xã Châu Hạnh, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ

An cấp cho Công ty Cổ phần Đô Linh

- Giấy phép thăm dò vàng xã Đạ Đờn, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng cấp cho Công ty đá quý và vàng Lâm Đồng

- Giấy phép thăm dò vàng Pắc Lạng, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn cấp cho Công ty Archipelago ResourcesPlc

Khai thác đá quý:

Các mỏ đá quý được khai thác là Lục Yên, tỉnh Yên Bái; Quỳ Châu, tỉnh Nghệ

An

Trang 27

Đá quý bắt đầu được chú ý và khai thác từ cuối những năm 80 của thể kỷ XX với vùng đá quý Lục Yên và Quỳ Châu là tâm điểm Tại mỏ đá quý Tân Hương, liên doanh đá quý Việt Thái đã khai thác từ năm 1990 đến 1995 Vùng đá quý Quỳ Châu

được UBND tỉnh Nghệ An quy định là đặc khu riêng trong những năm 90, quản lý nghiêm ngặt việc khai thác, buôn bán đá quý Chính phủ cũng có Nghị định riêng về khai thác, tiêu thụ đá quý Nhà nước đã thành lập Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam Quản lý nhà nước về đá quý và vàng thuộc thẩm quyền của Chính phủ (tương tự như quản lý nhà nước về dầu khí)

Công nghệ khai thác đá quý chủ yếu là sử dụng súng nước áp lực cao làm tơi đất quặng Sau đó quặng được dẫn về hố bơm Bơm cát làm nhiệm vụ đưa quặng lên sàng quay để rửa và loại bỏ sét, tạp chất Phần cuội, sỏi có chứa sản phẩm đá quý được dẫn

đến thùng thu quặng có khoá và niêm phong Định kỳ, những người có trách nhiệm

được mở thùng chứa quặng để thu hồi sản phẩm

Mô hình đấu thầu khai thác khoáng sản đầu tiên được áp dụng ở nước ta là việc

đấu thầu khai thác đá quý tại khu vực Đồi Tỷ, xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Giá trúng thầu là 2 tỷ đồng (thời điểm 1996) Hoạt động của mỏ cũng gặp nhiều khó khăn sau khi đấu thầu, đó là vấn đề tranh chấp ranh giới mỏ và quản lý sản phẩm sau khi tuyển Sản phẩm bị thất thoát nên lợi nhuận của công ty trúng thầu thu

được thấp Sau khi trúng thầu, Công ty chỉ khai thác được 4 năm và phải dừng hoạt

động

Từ năm 1995, tại địa bàn tỉnh Yên Bái đã có 3 giấy phép và Nghệ An có 6 giấy phép được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để khai thác đá quý tại Lục Yên và Quỳ Châu Cho đến nay các giấy phép này đều đã hết hiệu lực và không có giấy phép khai thác đá quý được cấp mới

Mặc dầu đã có nhiều biện pháp mạnh nhằm quản lý chặt chẽ việc khai thác, thu hồi sản phẩm đá quý, tuy nhiên các doanh nghiệp tham gia khai thác đá quý đều gặp rất nhiều khó khăn Liên doanh đá quý Việt Thái sau một số năm hoạt động không có hiệu quả kinh tế đã phải tự giải thể Cho đến nay có thể nói việc khai thác đá quý ở nước ta chưa phát triển Sản phẩm đá quý có chất lượng thấp, sản lượng không lớn và phần lớn được cung cấp để làm các sản phẩm mỹ nghệ, một phần nhỏ phục vụ chế tác

đồ trang sức

Tuy nhiên hoạt động khai thác đá quý trái phép vẫn diễn ra thường xuyên trên

địa bàn các mỏ Lục Yên và Quỳ Châu Hoạt động khai thác chủ yếu thủ công, đơn lẻ

và mang tính chất thời vụ Sản phẩm khai thác được chỉ phục vụ cho hoạt động thương mại tự do, chất lượng sản phẩm đá quý không có giá trị cao, sản lượng nhỏ Các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương cũng như ở địa phương không thống kê được sản lượng đá quý hàng năm do các tổ chức và cá nhân khai thác

Trang 28

Khai thác titan:

Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất cho tới nay, đã phát hiện 59 mỏ và

điểm quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ trung bình có trữ lượng > 100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng Trong số mỏ đó có 9 mỏ là: mỏ Cây Châm (Thái Nguyên) có trữ lượng lớn nhất 4,8 triệu tấn, mỏ Cẩm Hoà, mỏ Cẩm Nhượng, mỏ Kỳ Khang, mỏ Kỳ Xuân (Hà Tĩnh), mỏ Vĩnh Thái (Quảng Trị), một phần mỏ Kế Sung – Vinh Mỹ (Thừa Thiên Huế), mỏ Đề Gi (Bình Định), mỏ Hàm Tân (Bình Thuận) đã được điều tra, thăm dò đủ cơ sở để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi khai thác; có 23 điểm mỏ quặng đã được điều tra, thăm dò chưa đủ điều kiện lập báo cáo khai thác công nghiệp, cần phải tiếp tục điều tra, thăm dò bổ sung

2.2.4 Hiện trạng ngành khai thác khoáng sản hoá chất, phân bón

Hiện nay ngành khai thác khoáng sản hoá chất, phân bón ở nước ta khai thác

mỏ Apatit Lào Cai, là mỏ có quy mô trữ lượng lớn, là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất phân lân phục vụ sản xuất nông nghiệp Mỏ Apatit Lào Cai có trữ lượng đã

được thăm dò 908 triệu tấn và trữ lượng dự báo 2,1 tỷ tấn, phân chia thành nhiều khai trường trên tuyến dài khoảng 40 km, rộng 1,5 km

Đã qua nhiều năm khai thác và mỏ Apatit Lào Cai có những đặc điểm:

Thành phần quặng có thể chia làm 3 loại: Loại I, loại II và loại III

Quặng Apatit loại I là loại quặng có thành phần P2O5 trung bình 33% Loại quặng này có dạng cục lẫn bột tơi xốp dùng để sản xuất supe phốt phát đơn tại nhà máy Lâm Thao và công ty phân bón miền Nam, không cần qua giai đoạn tuyển khoáng

Quặng Apatit loại II là loại quặng có thành phần P2O5 bình quân 25% là loại quặng cacbonat dạng cục, rắn chắc Sau khi khai thác, quặng được cung cấp cho cơ các

sở sản xuất phân lân nung chảy ở Văn Điển, Hàm Rồng, Ninh Bình và một số cơ sở sản xuất khác

Quặng Apatit loại III là loại quặng nghèo lân Trong quá trình khai thác mỏ apatit Lào Cai trong nhiều năm qua cho thấy tỷ lệ quặng I+II và III là 1/3

Trang 29

Quặng Apatit loại III là quặng có hàm lượng P2O5 thấp Loại quặng này hiện nay đang được tập trung, hình thành dưới dạng bãi thải tạm thời vì chúng có thể sẽ

được tuyển, nâng cao hàm lượng để sử dụng (tới khoảng 33%) Tuy nhiên sau rất nhiều năm khai thác, loại quặng này đang được gom đống, trong lúc chưa có phương án xử lý nên đã hình thành các khu bãi thải lớn, rất khó bảo vệ, ảnh hưởng đến an toàn, môi trường, sinh thái

Công suất khai thác mỏ theo thiết kế: Quặng apatit I: 800 ngàn tấn/năm; quặng apatit II: 650 ngàn tấn/năm và quặng apatit III khoảng 3,3 triệu tấn/năm Phương pháp khai thác lộ thiên, khoan, nổ mìn, xúc bốc bằng máy xúc thuỷ lực, máy xúc cáp, vận tải bằng ô tô, tầu hoả

Hiện nay nhà máy tuyển Apatit Lào Cai đã được xây dựng, sản lượng hàng năm theo thiết kế 760 ngàn tấn sản phẩm quặng tinh

Ngoài apatit, các mỏ pyrit đã và đang được đầu tư khai thác gồm: mỏ pyrit Giáp Lai, tỉnh Phú Thọ, pyrit Ba Trại tỉnh Hà Tây, pyrit Đại Từ tỉnh Thái Nguyên (khai thác tận thu) là nguồn nguyên liệu để sản xuất axit sunfuric Các mỏ này đều có sản lượng thấp Riêng mỏ pyrit Giáp Lai đã khai thác hết quặng

Trong những năm gần đây, một số mỏ đá vôi trắng ở Yên Bái, Nghệ An đã được

đưa vào khai thác Sản phẩm của các mỏ đá vôi trắng được cung cấp để xuất khẩu dưới dạng đá khối, để sản xuất các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, để nghiền bột đá vôi trắng

sử dụng trong công nghiệp hoá chất

Sản lượng khoáng sản hoá chất, phân bón (ngàn tấn)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Apatit 785 677 680 823 800 1123 1165 Pyrit 22 20 23 27 32 28 28

Đá vôi* 156 154 175 236 281 280 348

* Bột đá vôi trắng

2.3 Đầu tư trong và ngoài nước

Đầu tư cho ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta đang

được Nhà nước, các tổ chức, cá nhân chú ý một cách thích đáng thể hiện trong các quan điểm và chính sách sau đây:

- Nhà nước chủ trương thành lập các tập đoàn kinh tế trong đó có nội dung hoạt

động khai thác khoáng sản Chỉ có tập đoàn kinh tế từng bước vững mạnh thì mới có tiềm lực đầu tư khoa học công nghệ để phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản

- Nhà nước chủ trương kêu gọi mọi thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư để khai thác khoáng sản, trong đó có kêu gọi, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, nhằm

Trang 30

đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng phải đảm bảo phát triển bền vững, khai thác, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội

- Nhà nước đã ban hành Luật khoáng sản năm 1996, đã tiến hành sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản vào năm 2005 cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển và sẽ sửa đổi Luật này trong vài năm tới Pháp luật hoàn thiện sẽ là hành lang thuận lợi tạo điều kiện cho ngành công nghiệp khai thác, chế biến phát triển đúng định hướng mục tiêu

- Đầu tư trong nước cho khai thác khoáng sản cũng đã được các doanh nghiệp trong nước chú trọng như Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, các mỏ đá khai thác vật liệu xây dựng thông thường

ở Bình Dương, Đồng Nai Các đơn vị này đã tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị máy móc, quản lý để khai thác mỏ theo quy trình, quy phạm, bảo đảm sản lượng cao, sản xuất an toàn, bảo vệ sức khoẻ người lao động, bảo vệ môi trường

- Một số doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài khai thác, chế biến khoáng sản đã phát huy tốt hiệu quả đầu tư Đã tạo ra được những mô hình tốt về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản Tạo điều kiện đào tạo công nhân lành nghề, cán bộ quản lý tốt cho ngành công nghiệp khai khoáng của nước ta

- Các Viện nghiên cứu đã triển khai nhiều đề tài thiết thực phục vụ trực tiếp cho ngành công nghiệp khai khoáng và đã từng bước được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế đáng trân trọng

Một số khó khăn và tồn tại:

- Các khoáng sản của nước ta phân bố rải rác, phần lớn có trữ lượng nhỏ (trừ khoáng sản vật liệu xây dựng), mức độ thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng còn thấp đã dẫn đến những khó khăn cho công tác đầu tư và quản lý các hoạt động khai thác, chế biến

- Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản ở nước ta còn phát triển ở mức độ thấp, công nghệ khai thác, chế biến còn lạc hậu nên chưa tận thu triệt để quặng nghèo, các thành phần có ích đi kèm trong quặng

- Các tổ chức khai thác khoáng sản, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước, còn thiếu vốn để đầu tư công nghệ và thiết bị tiên tiến (trừ một số mỏ của các Tập đoàn khoáng sản và Tổng công ty lớn) cho thăm dò để làm tăng trữ lượng và khai thác, chế biến tiết kiệm tài nguyên, làm tăng giá trị kinh tế sản phẩm

- Một số loại khoáng sản như thiếc, chì kẽm, mangan, do đã khai thác từ lâu, trữ lượng cạn kiệt hoặc còn lại không nhiều, cần phải đầu tư thăm dò, nhưng vốn thăm dò

bổ sung trữ lượng lại rất hạn chế

Trang 31

- Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, cạnh tranh mua bán không lành mạnh vẫn còn xẩy ra, gây mất an toàn lao động, trật tự trị an và ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh Tình trạng xuất khẩu khoáng sản thô vẫn chưa có biện pháp quản lý kiên quyết, thống nhất và chặt chẽ tại các địa phương, nên chưa hạn chế được việc mua, bán, vận chuyển quặng trái phép và xuất khẩu quặng (như quặng chì-kẽm, sắt, crôm )

- Công tác xây dựng, triển khai quy hoạch về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản còn chậm so với yêu cầu đặt ra Các doanh nghiệp nói chung còn hạn chế

về năng lực vốn và công nghệ nên chưa đủ điều kiện tham gia đầu tư chế biến sâu, chủ yếu xuất khẩu khoáng sản ở dạng thô hoặc tinh quặng, gây tổn thất giá trị tài nguyên khoáng sản quốc gia

Trang 32

PhÇn 3

hiÖn tr¹ng m«i tr−êng, hoµn thæ phôc håi m«i tr−êng t¹i c¸c vïng

khai th¸c kho¸ng s¶n

Trang 33

mục lục

I Những vấn đề môi trường trong khai thác mỏ 27

II Các nguồn thông tin về hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường 29

2.1 Các tài liệu số liệu đã có trong các năm gần đây 292.2 Khảo sát đánh giá bổ sung 29

III Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam 30

3.1 Công ty công nghiệp miền Trung 333.2 Công ty khai thác vàng Bồng Miêu 363.3 Công ty cổ phần đá quý và vàng Lâm Đồng 413.4 Công ty mỏ tuyển đồng Sin Quyền (tỉnh Lào Cai) 443.5 Mỏ pyrit Giáp Lai 473.6 Mỏ Ngọt 503.7 Xí nghiệp kẽm chì Làng Hích 533.8 Xí nghiệp kẽm chì Chợ Điền 553.9 Công ty cổ phần khoáng sản Bắc Kạn 573.10 Xí nghiệp sắt Nà Lũng 593.11 Mỏ sắt Trại Cau 613.12 Công ty TNHH NN Một thành viên Khoáng sản 3 663.13 Công ty cổ phần crômit Cổ Định - Thanh Hoá 673.14 Công ty cổ phần mangan Cao Bằng 703.15 Công ty cơ khí và khai thác khoáng sản Hà Giang 723.16 Xí nghiệp thiếc Sơn Dương 733.17 Mỏ thiếc Bắc Lũng 783.18 Công ty TNHH - NN - một TV kim loại màu Nghệ Tĩnh 833.19 Khai thác thiếc tự do ở khu vực Quỳ Hợp 863.20 Mỏ Thiếc Tĩnh Túc 903.21 Công ty TNHH - NN - Một TV phát triển khoáng sản 4 923.22 Tổng Công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh 953.23 Công ty khoáng sản Thừa Thiên - Huế 993.24 Công ty cổ phần khoáng sản Bình Định 1013.25 Công ty đầu tư và phát triển Kỳ Hà Chu Lai Quảng Nam 102

Trang 34

3.26 Công ty cổ phần khoáng sản Quảng Trị 1043.27 Xí nghiệp khai thác ruby ở Quỳ Châu 1063.28 Công ty cổ phần đá quý và vàng Yên Bái 1073.29 Công ty TNHH - 1 TV Apatit Việt Nam 1093.30 Mỏ bauxit Bảo Lộc 1153.31 Công ty TNHH một thành viên than Mạo Khê 1183.32 Công ty than Cao Sơn 1223.33 Công ty than Khe chàm 1273.34 Công ty cổ phần than Đèo Nai 1303.35 Công ty cổ phần than Cọc Sáu 1323.36 Công ty than Vàng Danh 1353.37 Công ty TNHH một thành viên than Nam Mẫu 1383.38 Công tyTNHH một thành viên than Hồng Thái 1403.39 Công ty than Đồng Vông 1423.40 Xí nghiệp sàng tuyển & cảng 1453.41 Xí nghiệp than Hoành Bồ 1473.42 Xí nghiệp than Thành Công 1483.43 Xí nghiệp than Cẩm Thành 1493.44 Xí nghiệp than Hà Ráng 1503.45 Xí nghiệp than Khe Tam 1523.46 Công ty than Thống Nhất 1533.47 Công ty than Dương Huy 1553.48 Công ty than Quang Hanh 1563.49 Công ty than Hòn Gai 1583.50 Công ty cổ phần than Núi Béo 1613.51 Công ty cổ phần than Hà Tu 1633.52 Công ty TNHH một thành viên 45 1643.53 Xí nghiệp khai thác khoáng sản của Tổng công ty Đông Bắc 1653.54 Xí nghiệp khai thác than 790 1673.55 Công ty TNHH một thành viên 86 1683.56 Xí nghiệp khai thác than Thăng Long 1703.57 Công ty TNHH một thành viên 35 1713.58 Xí nghiệp 397 thuộc Tổng công ty Đông Bắc 1723.59 Công ty TNHH một thành viên 91 174

Trang 35

3.60 Xí nghiệp Khe Sim thuộc Tổng công ty Đông Bắc 1753.61 Công ty TNHH một thành viên công nghiệp mỏ Việt Bắc 1763.62 Công ty xi măng Bút Sơn 1793.63 Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 1813.64 Công ty xi măng Tam Điệp 1843.65 Công ty xi măng Hoàng Thạch 1883.66 Mỏ đá vôi Tiến Hóa 1903.67 Mỏ đá Phước Tường 1913.68 Mỏ đá Hố Khế 1933.69 Mỏ đá Rú Mượu 1943.70 Mỏ đá Bửu Long 1963.71 Công ty cổ phần Thiên Tân 1963.72 Doanh nghiệp tư nhân Tuấn Thành 1993.73 Mỏ đá Núi Nghẽn thuộc công ty TNHH Hoàng Long 2013.74 Mỏ đá Tân Hạnh của Công ty Đồng Tân 2023.75 Mỏ đá Camly - Xí nghiệp đá cát, Công ty vật liệu xây dựng Lâm Đồng 204

IV Một số nhận xét chung về hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam 205

4.1 Hiện trạng môi trường 2064.2 Hiện trạng hoàn thổ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam 2124.3 Tổng hợp các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường đang được áp dụng ở các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam 2134.4 Hiện trạng sử dụng đất sau khi hoàn thổ phục hồi môi trường 216

Trang 36

I Những vấn đề môi trường trong khai thác mỏ

Đi đôi với sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản những thách thức về vấn đề môi trường cũng trở nên nghiêm trọng và cấp bách hơn Cùng với sự phát triển của ngành khai thác khoáng sản là sự gia tăng tất yếu của các tác động môi trường trong đó có vấn đề nổi cộm là làm hoang hoá và thoái hoá một diện tích lớn đất dân cư, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất hữu ích nói chung Hoạt động khai thác khoáng sản đang được tiến hành ở phạm vi toàn quốc với quy mô ngày càng lớn, nhu cầu sử dụng đất và tác hại môi trường của nó cũng gia tăng ở phạm

vi và quy mô tương ứng Bên cạnh đó, các hoạt động khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản đang là một vấn đề thời sự gây nên các hậu quả nghiêm trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát lãng phí tài nguyên, gây mất trật tự an toàn xã hội

Các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản được liệt vào loại các hoạt động công nghiệp có nhiều các tác động môi trường tiêu cực Các hoạt động khoáng sản có tác động lên hầu hết các thành phần môi trường vật lý: đất, nước, không khí; môi trường sinh thái: thảm thực vật, loài động vật hoang dã, cây trồng, vật nuôi; môi trường cảnh quan, du lịch, di tích lịch sử và văn hoá…; môi trường lao động: người lao động, sức khoẻ cộng đồng; cơ sở hạ tầng: hệ thống giao thông, cung cấp điện, thuỷ lợi, công trình công cộng…; môi trường kinh tế: thay đổi cơ cấu kinh tế, chênh lệch mức sống…; môi trường văn hoá xã hội: tập quán, cộng đồng dân cư, trình độ dân trí… Các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản kể cả các hoạt động ở quy mô nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến những vùng đất rộng lớn Khai thác và chế biến khoáng sản sử dụng nhiều loại hoá chất ở phạm vi khá rộng, như các loại thuốc tạo bọt, thuốc tập hợp, các loại dầu mỡ, nhiên liệu, các loại hoá chất khác như xyanua, thuỷ ngân mà cuối cùng chúng thường đi vào các chất thải Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng, khai thác khoáng sản là một hoạt động công nghiệp mà tác động của nó lên môi trường có nhiều

điểm rất khác biệt so với các các hoạt động công nghiệp khác, cụ thể như:

- Vị trí của các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản không thể lựa chọn một cách tự do, mà phụ thuộc vào vị trí xuất hiện của các khoáng vật có ích

- Việc khai thác chính là đào bới, dịch chuyển một khối lượng lớn vật liệu (đất bóc và quặng) ra khỏi lòng đất nên thường tàn phá cảnh quan hình thái của khu vực

- So với các hoạt động công nghiệp khác thì khai thác và chế biến khoáng sản bao giờ cũng tạo ra một khối lượng rất lớn các chất thải rắn, đôi khi gần bằng lượng đất đá đào được do đó chiếm dụng nhiều diện tích đất đai để chứa các loại chất thải này

- Khác với các hoạt động công nghiệp khác, các tác động môi trường thường bắt đầu và kết thúc khi các hoạt động công nghiệp đó bắt đầu hay kết thúc thì các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản lại có tác động môi trường sớm hơn rất nhiều từ khi thăm dò xác định nguồn tài nguyên và kết thúc rất

Trang 37

muộn thậm chí hàng trăm năm sau khi các hoạt động đó chất dứt Do đó trong nhiều trường hợp nhất định, nếu không được nghiên cứu đánh giá đầy

đủ ngay từ đầu thì việc đóng cửa hay di dời các cơ sở khai thác và chế biến khoáng gây ô nhiễm cũng không có tác dụng hạn chế việc ô nhiễm tiếp tục kéo dài

- Ngoài các loại hoá chất và thuốc tuyển được sử dụng trong các quá trình tuyển khoáng, môi trường còn có thể bị tác động nặng nề bởi việc phong hoá các loại đất đá tạp tạo nên các dòng axit mỏ có khả năng hoà tan các kim loại

có mặt trong đất đá thải gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm… và sự ô nhiễm này còn nghiêm trọng hơn nhiều so với các hoá chất được sử dụng trong quá trình chế biến

Gánh nặng về môi trường của các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản không chỉ đối với các hoạt động đang diễn ra hiện nay mà còn đối với các hoạt động đã xảy ra từ rất lâu trong quá khứ Trước đây phần lớn các chất thải hình thành trong các giai đoạn khác nhau của quá trình khai thác và chế biến khoáng sản thường được thải xung quanh khu vực đã khai thác hoặc ở các khu vực hồ thải quặng đuôi Phần lớn việc

đổ thải không được lập kế hoạch hoặc có lập nhưng không đầy đủ và không chú ý đến vấn đề địa mạo cuối cùng cũng như tính ổn định của vật liệu thải Vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường trong các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản cũng chưa

được chú ý đúng mức trong khi đó việc khai thác chính là đào bới, dịch chuyển một khối lượng lớn vật liệu đất bóc, đất đá thải và quặng ra khỏi khu vực khai thác nên thường tàn phá cảnh quan hình thái của khu vực Các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản bao giờ cũng tạo ra một khối lượng rất lớn các chất thải rắn, đôi khi gần bằng lượng đất đá đào được, do đó ngoài diện tích đất bị chiếm dụng trực tiếp cho các hoạt động khai thác, diện tích đất bị chiếm dụng để làm các bãi thải và hồ thải quặng

đuôi cũng rất lớn Cho đến nay phần lớn các diện tích này vẫn còn bị để hoang hoá, chưa được hoàn thổ Điều này càng đặc biệt nghiêm trọng đối với các mỏ mà đất đá thải có chứa các khoáng vật sunphua có tiềm năng hình thành dòng axit mỏ Dòng axit

mỏ có khả năng hoà tan, chuyển tải các kim loại nặng, độc hại có mặt trong đất đá thải

ra môi trường xung quanh, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và sự ô nhiễm này trong nhiều trường hợp còn nghiêm trọng hơn nhiều so mức độ ô nhiễm do hoá chất, thuốc tuyển được sử dụng trong các quá trình tuyển khoáng gây ra Trong thực tế mức

độ ô nhiễm do dòng axit mỏ gây ra thường rất nghiêm trọng và kéo dài nhiều năm sau khi các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản kết thúc Vì vậy nếu không được

đánh giá đầy đủ và có kế hoạch phòng ngừa thích đáng ngay từ đầu, một khi dòng axit

mỏ đã xảy ra thì việc đóng cửa hay di dời các cơ sở gây ô nhiễm này cũng không có tác dụng hạn chế việc ô nhiễm tiếp tục kéo dài, mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi phải áp dụng công nghệ xử lý phức tạp với chi phí rất tốn kém

Trang 38

II Các nguồn thông tin về hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường

Để đánh giá hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường tại các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam đã tiến hành thu thập, hệ thống hoá các tài liệu số liệu đã có, khảo sát đánh giá bổ sung hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường tại các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam

2.1 Các tài liệu số liệu đã có trong các năm gần đây

o Báo cáo “Đánh giá môi trường ngành khai thác và chế biến khoáng sản” do Công

ty SGAB (Thuỵ Điển) và Environet thực hiện năm 2001- 2002

o Báo cáo tổng kết nhiệm vụ “Xây dựng chương trình phục hồi môi trường vùng khai thác khoáng sản tại Việt Nam”; Năm 2005

o Tuyển tập báo cáo tại Hội nghị Khoa học Công nghệ Tuyển khoáng toàn quốc lần thứ II: Chế biến hợp lý và và sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản Việt Nam; Tháng 11 năm 2005

o Báo cáo tổng kết đề tài "Điều tra khảo sát hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi trường của các mỏ khai thác khoáng sản ở Việt Nam"; Năm 2004

o Tuyển tập báo cáo tại các Hội nghị kỹ thuật mỏ toàn quốc lần thứ 15, 16, 17, 18 (Các năm 2003, 2004, 2006, 2007)

o Báo cáo kết quả một năm thực hiện chương trình hợp tác về môi trường của VINACOMIN – RAME; Tháng 9 năm 2006

o Các báo cáo về bảo vệ môi trường của các Công ty khai thác và chế biến khoáng sản đang hoạt động trong các năm 2005, 2006

2.2 Khảo sát đánh giá bổ sung

Để có các số liệu bổ sung về hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản đã tiến hành khảo sát đánh giá bổ sung hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường ở một số cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản trong cả nước Việc điều tra khảo sát được tiến hành thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 9 năm 2007 Công việc điều tra khảo sát được tiến hành không liên tục (thường là 1 – 2 tuần) xen lẫn với thời gian dài hơn

để phân tích và xử lý số liệu Công việc đi hiện trường chủ yếu bao gồm các chuyến đi thăm mỏ để điều tra khảo sát, phỏng vấn, đo đạc, lấy mẫu phân tích nhằm kiểm toán (một cách sơ bộ) môi trường của các hoạt động, mỗi một vị trí thường kéo dài trong 1-

2 ngày Tất cả có hơn 50 điểm hoạt động khai thác đại diện cho các hoạt động khai thác khoáng sản chính của đất nước đã được khảo sát, đánh giá Việc đánh giá mang tính kiểm toán ở mỗi một mỏ được giới hạn về mặt quy mô và mang đặc trưng của việc

đánh giá nhanh hơn là những kiểm toán môi trường thật sự Như vậy mục tiêu chính phải đạt của việc điều tra khảo sát đánh giá bổ sung là chẩn đoán tổng thể hiện trạng

Trang 39

hoàn thổ phục hồi môi trường của ngành khai thác khoáng sản chứ không phải là xử lý tất cả các vấn đề ở mỗi một mỏ cụ thể Mỗi một điểm tham quan khảo sát đều được lập một tài liệu khảo sát môi trường riêng trong phần kết quả điều tra khảo sát hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam Các thông tin, số liệu thu được thông qua các phiếu điều tra, phỏng vấn cũng đã

được cân nhắc sử dụng trong báo cáo này

III Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam

Việc điều tra khảo sát hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi trường của các đơn vị đang khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam trước hết nhằm vào các đối tượng khai thác và chế biến khoáng sản có công suất tương đối lớn, có diện tích đất sử dụng cho mục đích khai thác, cho các bãi thải, hồ thải quặng đuôi và các công trình công nghiệp phụ trợ khác tương đối lớn hoặc có tính chất đặc trưng cho loại hình khai thác và chế biến khoáng sản nói chung của Việt Nam nhằm đưa ra

được bức tranh tổng quát về hiện trạng hoàn thổ phục hồi môi trường cũng như nhu cầu hoàn thổ của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam Các khoáng sản chủ yếu đang được khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp ở Việt Nam gồm: than, quặng titan, quặng măng gan, quặng crômit, quặng thiếc, quặng đồng, quặng chì kẽm, quặng sắt, vàng, đá quý, một số khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng Vì vậy việc điều tra khảo sát hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi trường trong các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản

ở Việt Nam được tập trung vào các mỏ khai thác và chế biến các loại khoáng sản đã nêu ở trên Danh sách các mỏ đã thu thập thông tin, điều tra khảo sát ở các mức độ khác nhau gồm các loại khoáng sản như được liệt kê ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Danh sách các mỏ đã được điều tra đánh giá hiện trạng và nhu cầu hoàn

thổ phục hồi môi trường

Trang 40

18 Công ty TNHH NN 1 TV kim loại màu Nghệ Tĩnh

19 Khai thác thiếc tự do ở khu vực Quỳ Hợp

20 Mỏ thiếc Tỉnh Túc

Titan

21 Công ty TNHH NN 1 TV phát triển khoáng sản 4

22 Công ty thương mại và khoáng sản Hà Tĩnh (TEPEC)

23 Công ty khoáng sản Thừa Thiên - Huế

24 Công ty cổ phần khoáng sản Bình Định

25 Tổng Công ty đầu tư và phát triển Kỳ Hà - Chu Lai, Quảng Nam

26 Công ty cổ phần Khoáng sản Quảng Trị

Đá quý

27 Xí nghiệp khai thác ruby ở Quỳ Châu

28 Công ty cổ phần đá quý và vàng Yên Bái

Ngày đăng: 06/05/2014, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công nghiệp nặng: Tổng quan về tài nguyên khoáng sản. Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về tài nguyên khoáng sản
2. Dự án kinh tế chất thải: Kinh tế chất thải, nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chất thải
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
3. Nguyễn Đức Quý: Môi tr−ờng chế biến khoáng sản. Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi tr−ờng chế biến khoáng sản
4. Nguyễn Đức Quý: Tổng quan tình hình công nghiệp môi tr−ờng khoáng sản. Hà Néi 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình công nghiệp môi tr−ờng khoáng sản
5. Nguyễn Đức Quý: Nghiên cứu xây dựng quan điểm và định hướng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý một số tài nguyên khoáng sản Việt Nam. Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng quan điểm và định h−ớng bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý một số tài nguyên khoáng sản Việt Nam
6. Phạm Việt Anh: Kiểm toán môi trường, nhà xuất bản đại học quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán môi tr−ờng
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia
7. Best practice environmental management in mining: Environmental Auditing, Environment Protection Agency Australian 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Auditing
8. Best practice environmental management in mining: Water management. Environment Protection agency 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water management
9. Best practice environmental management in mining: Tailing containment. Environment Protection agency 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tailing containment
10. Best practice environmental management in mining: Hazadous Material management, storage and disposal. Environment Protection agency. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hazadous Material management, storage and disposal
11. Best practice environmental management in mining: Rehabilitation and revegetation. Environment Protection agency. June 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rehabilitation and revegetation
12. David R. Mulligan: Environmental Management in the Australian Minerals and Energy Industries. Principles and Practices. UNSW Press 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Management in the Australian Minerals and Energy Industries. Principles and Practices
13. Department of Industry Tourism and Resources: Overview of Best Practice Environmental management in Mining. Commonwealth of Australia 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview of Best Practice Environmental management in Mining
14. Department of Industry Tourism and Resources: Tailings management. Commonwealth of Australia 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tailings management
15. Department of Industry Tourism and Resources: Biodiversity management. Commonwealth of Australia. February 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biodiversity management
16. Department of Industry Tourism and Resources: Managing acid and metalliferous drainage. Commonwealth of Australia 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing acid and metalliferous drainage
17. Environment Protection Agency: Environmental Impact Assessment. Commonwealth of Australia 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Impact Assessment
19. Environment Protection Agency: Water Management. Commonwealth of Australia 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water Management
20. Environment Protection Agency: Dust control. Commonwealth of Australia 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dust control
21. Environment Protection Agency: Environmental risk Management. Commonwealth of Australia 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental risk Management

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả điều tra ở Mỏ Ngọt - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả điều tra ở Mỏ Ngọt (Trang 61)
Bảng 3.19: Tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ (Trang 66)
Bảng 3.24: Kết quả phân tích mẫu đất trong hồ thải quặng đuôi - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.24 Kết quả phân tích mẫu đất trong hồ thải quặng đuôi (Trang 73)
Hình 3.1: Sơ đồ khai thác và hoàn thổ đang đ−ợc áp dụng ở mỏ Kỳ Xuân - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 3.1 Sơ đồ khai thác và hoàn thổ đang đ−ợc áp dụng ở mỏ Kỳ Xuân (Trang 103)
Bảng 3.77: Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu HTPHMT tại Công ty than Đồng Vông - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.77 Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu HTPHMT tại Công ty than Đồng Vông (Trang 153)
Bảng 3.91: Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.91 Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng (Trang 175)
Bảng 3.93: Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.93 Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng (Trang 178)
Bảng 3.96: Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.96 Tổng hợp hiện trạng, nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi tr−ờng (Trang 182)
Bảng 3.110: Tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 3.110 Tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ (Trang 197)
Hình 1. Trang chủ Mining Envi-Dat - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 1. Trang chủ Mining Envi-Dat (Trang 330)
Hình 2. Trang liên kết cấp 1 - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 2. Trang liên kết cấp 1 (Trang 331)
Hình 3. Trang liên kết đồng cấp - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 3. Trang liên kết đồng cấp (Trang 332)
Hình 3.1: Cân bằng n−ớc tại một hồ thải quặng đuôi - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 3.1 Cân bằng n−ớc tại một hồ thải quặng đuôi (Trang 380)
Bảng 9.3: Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh (àg/m 3 ) - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Bảng 9.3 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh (àg/m 3 ) (Trang 425)
Hình 11.1:  Các b−ớc tiến hành trong kiểm toán môi tr−ờng - Điều tra đánh giá hiện trạng công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và xây dựng kế hoạch, dự án thực hiện chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản
Hình 11.1 Các b−ớc tiến hành trong kiểm toán môi tr−ờng (Trang 446)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w