Mục lục Phần I Những tác động của tự nhiên, kinh tế, xã hội đến môi trường vùng dân tộc và miền núi 8 1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng DTTS-MN 8 2 Kinh nghiệm bảo vệ môi trườ
Trang 1***
b¸o c¸o kÕt qu¶
dù ¸n: “ §iÒu tra kh¶o s¸t, x©y dùng b¸o c¸o
tæng quan hiÖn tr¹ng m«i tr−êng
Trang 2Mục lục
Phần I Những tác động của tự nhiên, kinh tế, xã hội đến
môi trường vùng dân tộc và miền núi 8
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng DTTS-MN 8
2 Kinh nghiệm bảo vệ môi trường của các DTTS 11
3 Sức ép của phát triển kinh tế – xã hội lên môi trường
vùng dân tộc và miền núi
28
4 Thực hiện chính sách dân tộc và vấn đề môi trường 34
Phần II Hoạt động bảo vệ môi trường vùng DTTS-MN 41
1 Triển khai các chính sách về bảo vệ môi trường 41
2 Từng bước kiện toàn cơ quan làm công tác BVMT 53
Phần III Hiện trạng môi trường vùng dân tộc và miền núi 54
1.8 ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ ĐBDTTS 106
2 Một số vấn đề cấp bách về môi trường trong vùng dân
tộc và miền núi hiện nay
116
3 Nguyên nhân của suy thoái môi trường vùng DT-MN 121
Phần IV Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị 127
Trang 3Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của dự án
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay Môi trường sống ngày càng có tác động không chỉ đến sản xuất,
mà còn đến cuộc sống mỗi con người và là nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia
Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách, luật pháp, chương trình, dự án về bảo vệ môi trường như: Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua năm 1993 và sau một thời gian thực hiện Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005; đồng thời nhiều bộ luật liên quan đã được ban hành; Bộ Chính trị đã ra các nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, nhằm cụ thể hóa Luật, Nghị quyết của Bộ Chính trị và nhiều chương trình dự án liên quan đến công tác bảo vệ môi trường
Nhờ đó công tác bảo vệ môi trường đã có nhiều chuyển biến tích cực: Nhận thức bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học
đã đạt được những tiến bộ rõ rệt
Bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi được xem là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia và khu vực Miền núi nước ta diện tích chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ với trên 23 triệu người sinh sống, được xem là nơi có vị trí đặc biệt quan trọng
đối với môi trường cả nước bởi nó lưu giữ các thảm thực vật, động vật phong phú, với trên 90% tổng diện tích rừng cả nước, trên 70% loài động vật và hơn 90% loài thực vật quý hiếm; là nơi lưu giữ và cung cấp nguồn sinh thủy cho cả nước; là nơi có tác dụng duy trì cân bằng sinh thái và tạo điều kiện cho hầu hết các lĩnh vực sản xuất, đời sống của quốc gia
Thực hiện Luật bảo vệ môi trường, hằng năm các bộ, ngành và địa phương đều đã tiến hành xây dựng Báo cáo Đánh giá hiện trạng môi trường
Trang 4của ngành và địa phương Những năm qua, môi trường vùng dân tộc và miền núi nước ta đã và đang có nhiều thay đổi nhanh chóng Tuy nhiên, đến nay nước ta chưa có báo cáo đánh giá hiện trạng toàn diện môi trường vùng dân tộc và miền núi Chính vì vậy, hiện nay rất thiếu thông tin về môi trường trong quá trình xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển toàn diện các vùng dân tộc và miền núi Để cung cấp có hệ thống những thông tin cơ bản, đầy đủ về môi trường cho các cơ quan quản lý trong thời gian tới, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc đã cho phép thực hiện dự án: “Điều tra, khảo sát xây dựng báo cáo tổng quan hiện trạng môi trường vùng dân tộc và miền núi”
2 Mục tiêu của Dự án
Điều tra, khảo sát thu thập thông tin về những yếu tố cơ bản tác động
đến môi trường, hiện trạng môi trường, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi trong thời gian tới
Trang 5Dự án đã tổ chức thu thập thông tin, kết quả nghiên cứu, kỷ yếu các hội thảo khoa học về môi trường vùng dân tộc và miền núi trong những năm gần
đây; thu thập thông tin từ các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia và các tỉnh vùng dân tộc và miền núi
+ Cập nhật các thông tin các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học, bài báo, ấn phẩm công bố về các nội dung liên quan
• Phương pháp chuyên gia:
+ Đặt các báo cáo chuyên đề
Dự án hợp đồng với 20 chuyên gia, cán bộ quản lý, các nhà khoa học nghiên cứu sâu theo các chuyên đề
Dự án đã tổ chức hội thảo với các sở, ban, ngành của 5 tỉnh: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Thương mại, Chi Cục Kiểm lâm Quá trình hội thảo các sở, ban, ngành có báo cáo khoa học theo chuyên đề
+ Tổ chức các buổi làm việc với lãnh đạo, cán bộ chuyên trách bảo vệ môi trường ở các huyện miền núi, nơi đoàn đến nghiên cứu, khảo sát
+ Tổ chức hội thảo khoa học, lấy ý kiến tham gia vào báo cáo kết quả thực hiện dự án ở Hà Nội
Dự án tiến hành các cuộc họp nhóm, phỏng vấn sâu tại 05 bản, thuộc
05 tỉnh dự án đã khảo sát, đối tượng là những người cao tuổi, người có uy tín, già làng, trưởng bản, thanh niên, phụ nữ
4 Nội dung của dự án
4.1 Thu thập thông tin liên quan đến hiện trạng môi trường ở vùng dân tộc và miền núi
Trang 6Thu thập thông tin cơ bản về biến động của tự nhiên và kinh tế – xã hội tác động đến môi trường vùng dân tộc và miền núi
4.2 Điều tra, khảo sát hiện trạng môi trường vùng dân tộc và miền núi
• Hiện trạng môi trường nước
• Hiện trạng môi trường đất
• Rừng và đa dạng sinh học
• Vệ sinh môi trường nông thôn
• Các sự cố môi trường quan trọng
• Môi trường đô thị và khu công nghiệp
• Môi trường không khí
• ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ đồng bào dân tộc thiểu số
• Một số vấn đề cấp bách về môi trường trong vùng dân tộc và miền núi hiện nay
• Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường ở vùng dân tộc và miền
• TS Lê Hải Đường, Phó Văn phòng, Uỷ ban Dân tộc
• TS Hoàng Văn Phấn, Phó vụ trưởng Phụ trách Vụ Hợp tác Quốc tế
• TS Nguyễn Thị Phượng, Viện Địa chất
• KS Phan Thanh Xuân, Chủ tịch Câu lạc bộ Lâm nghiệp Việt Nam, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc
• Ths Nguyễn Viễn Đàn, Bộ Tài nguyên và Môi trường
• TS Lò Giàng Páo, Viện Dân tộc
• Ths Hoàng Thị Lâm, Viện Dân tộc
Trang 7• CN Nguyễn Thị Xuân Năm, Viện Dân tộc
• Thư ký Dự án: CN Bùi Anh Thơ, Viện Dân tộc
• Thư ký Dự án: CN Nguyễn Thị Nhiên, Viện Dân tộc
• Các sở Khoa học và Công nghệ, sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Dân tộc, sở Nông nghiệp và PTNT, sở Công nghiệp, Chi cục kiểm lâm thuộc
Phần II Hoạt động bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi
Phần III Hiện trạng môi trường vùng dân tộc và miền núi
Phần III Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị
Kết luận
Trang 8Phần I Những tác động của tự nhiên, kinh tế, x∙ hội đến
môi trường vùng dân tộc và miền núi
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Miền núi nước ta chiếm khoảng 3/4 diện tích cả nước Trừ hai vùng
đồng bằng rộng lớn thuộc lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long và dải đồng bằng hẹp ven bờ biển miền trung, phần còn lại là đồi núi Trong 64 tỉnh, thành phố cả nước có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng dân tộc và miền núi, bao gồm: 12 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có huyện, xã miền núi, và 10 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
Ước tính có trên 24 triệu người đang sinh sống tại miền núi, trong đó có khoảng hơn 1/2 là đồng bào các dân tộc thiểu số Các dân tộc thiểu số nước
ta cư trú hầu khắp các địa bàn lãnh thổ từ Bắc vào Nam Bởi vậy những đặc
điểm về tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội, dân cư - tộc người cũng rất đa dạng Miền núi là vùng hiện còn giữ được trên 90% diện tích rừng còn lại cả nước, trong đó có trên 70% tổng số loài động thực vật và trên 90% các loài
động thực vật quý hiếm của cả nước Rừng núi ở nước ta rất đa dạng về chủng loại động, thực vật Nhiều loại sinh vật gồm các loại ôn đới, á nhiệt đới, á xích đạo, tạo điều kiện phát triển nông, lâm nghiệp Miền núi còn là nơi lưu giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, nơi cung cấp chính nguồn nước, thủy lực, gỗ, củi, các động vật hoang dã, cây thuốc và nhiều tài nguyên khoáng sản cho cho phát triển kinh tế đất nước ta
Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân cư- tộc người của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi thể hiện theo các vùng tiêu biểu:
Vùng Đông Bắc:
Đây là vùng rộng lớn với diện tích 63.629 km2 (chiếm 20% diện tích cả nước) bao gồm 11 tỉnh Hà Giang, Bao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Cạn, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang Vùng Đông Bắc là nơi có rất nhiều tài nguyên, khoáng sản, chiếm vị trí thứ nhất trong cả nước, với chủng loại phong phú và trữ lượng lớn như than đá, ti
Trang 9tan, đồng, apatít, graphít, thiếc v.v Vùng Đông Bắc của Tổ quốc cũng có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp với nhiều cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc Tiềm năng du lịch của vùng cũng rất lớn: Có vịnh Hạ Long
được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, có nhiều khu rừng quốc gia có giá trị lớn, nhiều di tích lịch sử như Chi Lăng, Pắc Bó, Tân Trào
Dọc theo biên giới Đông Bắc có đường biên giới giáp Cộng hoà nhân dân Trung Hoa với chiều dài 1.145 km, với nhiều cửa khẩu quốc tế quan trọng, có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá
Về dân cư tộc người, vùng Đông Bắc có tới 38 dân tộc anh em cùng chung sống (theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, toàn vùng có 9.358.300 người, cư dân các dân tộc thiểu số chiếm 41,3% dân số của vùng, trong đó đông nhất là dân tộc Tày (chiếm 12,4%), Nùng (7,3%)
Vùng Tây Bắc:
Bao gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện biên, Sơn La, Hoà Bình Vùng Tây Bắc
có đường biên giới giáp Lào (600km) và với Trung Quốc (300km) Đây là vùng núi cao nhất ở nước ta có độ dốc lớn Diện tích tự nhiên là 37.336 km2
Địa hình của Tây Bắc rất đa dạng, với nhiều núi cao, thung lũng và cao nguyên Các sông lớn như sông Đà, sông Mã có tiềm năng thuỷ điện lớn Trong vùng có nhiều mỏ kim loại màu quý hiếm như đồng, thiếc, niken, đá quý Tây Bắc có 2 mùa rõ rệt trong năm, nhiệt độ trung bình khoảng 200C, lượng mưa hàng năm từ 1.000 - 2.000 mm, độ ẩm từ 80 - 85% Tây Bắc có
điều kiện để phát triển mạnh lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển việc trồng rừng, các cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc
Dân cư toàn vùng có 2.565.000 người, với nhiều dân tộc thiểu số cư trú (chiếm gần 80% dân số của vùng) Vùng Tây bắc là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc Thái, Mông, Mường Văn hoá Thái, Mường, Mông có ảnh h-
ưởng lớn trong vùng
Vùng miền núi Bắc Trung bộ: Bao gồm các huyện, xã miền núi thuộc
các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Địa hình và khí hậu rất phức tạp, chiều ngang hẹp, các dãy núi thấp dần từ Tây sang Đông, hàng năm chịu ảnh hưởng lớn của bão lụt, gió Lào Đây là vùng có nguồn tài nguyên rừng khá lớn (với 1.621.800ha) trữ lượng gỗ lớn nhất nước với nhiều loại gỗ quý Vùng rừng núi Bắc Trung bộ
Trang 10chè, hoặc cây ăn quả: cam, bưởi, quýt Trên địa bàn có nhiều khoáng sản như crôm, vàng, thiếc, đá quý Trong vùng có nhiều cửa khẩu quốc gia và quốc tế nối liền với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và các nước ASEAN
Các dân tộc thiểu số trong toàn vùng có 1.056.617 người (chiếm 10,55% dân số của vùng) Tuy tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu số ít, nhưng nơi
đây có nhiều dân tộc rất ít người và có hoàn cảnh kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như: Dân tộc Rục cư trú tại Quảng Bình và Hà Tĩnh, có số dân là 3.829 người, dân tộc Ơ Đu ở Tương Dương, Nghệ An chỉ có 301 người, dân tộc Đan Lai sống trong vùng lõi khu bảo tồn Pù Mát, chỉ có 2.600 người,
Vùng miền núi duyên hải Nam Trung bộ: Trải dài khoảng 1.000 km từ
phía Nam đèo Hải Vân đến Bình Thuận, vùng núi duyên hải Nam Trung bộ
có diện tích rừng chiếm khoảng 21% diện tích rừng cả nước, với khá nhiều
gỗ quý thuộc vùng rừng Quảng Nam, Bình Thuận Địa hình và khí hậu khá phức tạp Thuận lợi lớn của vùng là có nhiều cảng lớn (Đà Nẵng, Chu Lai, Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh Trong toàn vùng có 535.481 người thuộc
đồng bào các dân tộc thiểu số (chiếm 6,62% dân số của vùng) Hiện nay, tốc
độ phát triển kinh tế của vùng còn chậm, tỷ lệ đói nghèo còn cao trong vùng
đồng bào dân tộc
Vùng Tây Nguyên: Đây là địa bàn thuộc 5 tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông,
Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, với diện tích tự nhiên có 54.473 km2, đất đai màu mỡ rất thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh
tế cao như cà phê, cao su, mía đường Tài nguyên rừng của Tây Nguyên cũng rất đa dạng Độ che phủ của rừng là 54%, với trữ lượng 289 triệu m3 gỗ, tiềm năng thuỷ điện của Tây Nguyên cũng rất lớn
Dân số Tây Nguyên là 4.758.900 người trong đó dân tộc thiểu số có 1.349.307, chiếm khoảng 30% dân số toàn vùng với hơn 40 dân tộc cùng sinh sống, với văn hoá tộc người rất đa dạng
Vùng miền núi Đông Nam bộ: Bao gồm các huyện, xã miền núi các tỉnh
Bà rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Phước Đây là vùng đất đai màu mỡ có
điều kiện để phát triển cây công nghiệp: cao su, cà phê, hạt điều v.v Hệ thực vật trong vùng cũng rất phong phú, có hơn 800 loại, trong đó có 25% thuộc nhóm gỗ lớn Vùng Đông Nam bộ hiện còn lưu giữ được các khu sinh thái tự nhiên, nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị lớn về kinh tế và bảo vệ môi trường Toàn vùng có 320.913 người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 11Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Vùng đồng bằng sông Cửu Long trải
rộng trên diện tích rộng lớn của các tỉnh miền Tây Nam Tổ quốc Đây là vựa lúa quan trọng nhất của cả nước Ngoài 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn của An Giang là 2 huyện miền núi, còn lại là địa bàn vùng thấp, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và một số dân tộc thiểu số khác Trong đó
đông nhất là đồng bào dân tộc Khmer với hơn 1 triệu người Do trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế và do tập quán canh tác còn lạc hậu, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào còn nhiều thiếu thốn
Nhìn chung các vùng rừng núi ở nước ta là nơi tập trung tài nguyên, khoáng sản và tiềm năng lớn về thuỷ điện, là đầu nguồn của hàng ngàn sông, suối, cung cấp nước ngọt, duy trì cân bằng sinh thái Vùng miền núi nước ta
là nơi lưu giữ các thảm thực, động vật phong phú về chủng loại, với nhiều loài quý hiếm Điều kiện khí hậu nhiều vùng thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp và chăn nuôi
Tuy nhiên, các vùng dân tộc thiểu số và miền núi có điều kiện địa lý tự nhiên, địa hình khó khăn, phức tạp, hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh hưởng
và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt Nhiều vùng có độ dốc lớn, đất đai bị xói mòn, bạc màu, cằn cỗi (nhất là khu vực Tây Bắc, Đông Bắc và miền Trung)
2 Kinh nghiệm truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bảo vệ môi trường
Kinh nghiệm truyền thống bảo vệ môi trường là một trong hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc một cộng đồng cư trú tại địa bàn cụ thể sáng tạo nên; hình thành từ thực tiễn quá trình lao động sản xuất và ứng
xử với môi trường tự nhiên xã hội ; được hoàn thiện dần và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền khẩu trong gia đình, làng bản qua hình thức ca hát, ngạn ngữ, trường ca, luật tục…
Chúng ta có thể bắt gặp rất phong phú, đa dạng các yếu tố của các loại hình văn hóa trên gắn với vấn đề bảo vệ môi trường của đồng bào các tộc người thiểu số nước ta Người Thái có “Lệ mường” quy định rất cụ thể các hình phạt đói với những người ăn cắp có liên quan đến sở hữu các nguồn lợi thiên nhiên thuộc sử dụng chung của cộng đồng : “Ai tranh chỗ săn dơi hay thung lũng chăn nai phải phạt 15 lạng bạc, kèm theo rượu, trâu, phải cúng vía cho cho chủ săn 1,5 lạng bạc Nếu được thịt thì phải trả lại số thịt bắn được
Trang 12trâu, lợn, phải cúng vía cho chủ hang 1,5 lạng bạc và phải trả lại số tôm đã
lấy”; “ Ai ăn cắp tổ ong trên cây phải phạt 3 lạng bạc, kèm theo rươụ, lợn,
phải cúng vía cho chủ ong 5 đồng cân bạc và trả lại chỗ ong đã lấy”
(Lệ mường của người Thái Mai Châu, Hòa Bình)
Người Hmông trong lễ ăn ước (Nào xồng) thường mở đầu bằng lễ
cúng thần Thổ địa - thần chung của bản, vị thần có khả năng chi phối cuộc
sống của cộng đồng Trong lễ cúng người chủ lễ khẳng định lại quy ước của
cộng đồng trong việc quy định cụ thể các nội dung liên quan đến yêu cầu
bảo vệ mùa màng, chăn thả gia súc, khai thác rừng, bảo vệ nguồn nước Đặc
biệt đối với việc bảo vệ rừng người Hmông quy định riêng và nghiêm ngặt
Đối với khu rừng cấm không ai có quyền làm nương rẫy hoặc khai thác gỗ
Nếu vì công trình công cộng như làm đập nước, cầu cong thì phải được sự
đồng ý của toàn bản Nếu ai tự đốn gỗ rừng cấm thì phải nộp phạt rượu, lợn
và phải cúng thần rừng… Đối với nguồn nước người Hmông cũng rất coi
trọng và có những quy định nghiêm ngặt để bảo vệ nguồn nước của cộng
đồng Không ai được làm bẩn đầu nguồn nước như tắm giặt, rửa các thứ dơ
dáy Ai vi phạm sẽ bị nhắc nhở, tái phạm sẽ bị phạt, phải biện lễ (một gà mái
tơ, trứng gà, rượu) đem đến nơi đầu nguồn nước cúng tạ tội với thần
nước…Ai thả chất độc vào nước để trả thù nhau sẽ bị phạt 15 lạng bạc trắng
Nếu ai để phân trâu bò làm bẩn nguồn nước dùng chung sẽ bị phạt 3 lạng
bạc…
Bên cạnh các quy định mang tính cụ thể đó trong loại hình văn hóa
mang tính luật tục trong bảo vệ môi trường, cụ thể là việc bảo vệ nguồn lợi
và quyền sở hữu các tài nguyên nhiên của cộng đồng, người Thái còn có
những hoạt động thể hiện loại hình văn hóa trong hoạt động kinh tế bảo vệ
môi trường thông qua việc canh tác nước rẫy và thung lũng để sản xuất ra
lương thực, hoa mầu phục vụ cuộc sống của các gia đình và cộng đồng Ví
dụ ở Tây Bắc người Thái và người Khơ Mú trong kinh nghiệm sản xuất chỉ
canh tác hoặc khai thác đất để trồng trọt trên một mảnh đất dốc - mảnh
nương tối đa là 3 vụ liên tục thì mới có năng suất cây trồng đảm bảo, nếu
canh tác trên 3 vụ thì sẽ cho năng suất thấp và làm cạn kiệt tài nguyên, độ
phì và sức phục hồi của đất
Trang 13Các mảnh nương được bỏ hoang trong thời gian dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào độ phì của đất ở trên các địa bàn và nhucầu bức xúc trong canh tác của đồng bào Song rõ ràng đó là biểu hiện của tri thức về môi trường
được vận dụng vào hoạt động kinh tế, một sự thích ứng “khôn ngoan”của con người, của đồng bào các dân tộc trong việc chung sống lâu dài với thiên nhiên, với môi trường sống Tuy nhiên chúng ta cũng cần thấy rằng việc làm nương thường đi đôi với việc đốt rừng, phá rừng và hiện tượng du canh du cư
Đây có thể nói là xu thế kinh tế tất yếu của các cộng đồng tộc người thiểu số sinh sống ở miền núi trong bối cảnh của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và không chỉ phổ biến ở Việt Nam trong bối cảnh của nền văn minh “tiền công nghiệp” Vấn đề ở đây là hiện tượng đó được hình thành và xử lý như thế nào trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên theo một “công thức” hay “tỷ
lệ khai thác” nào đó mà con người không bị thiên nhiên bắt trả giá - nói cách khác đó chính là yếu tố của của các loại hình văn hóa hoạt động kinh tế trong sự tác động vào tài nguyên, vào môi trường thiên nhiên của các cộng tộc người ở nước ta
Trong hoạt động kinh tế ngoài yếu tố trên các tộc người miền núi nước ta còn hình thành một hệ thống kỹ thuật canh tác phù hợp với từng loại
đất nương, đất dốc, thung lũng… cũng như sự tương thích của các loại cây trồng, vật nuôi điều đó thể hiện sự nhận thức sâu sắc của các cộng đồng đói với môi trường Đó là kinh nghiệm trong chọn mùa đất nương, sử dụng gậy chọc lỗ trên đất dốc, để gieo hạt và chống xói mòn, trôi rửa đất màu…
Trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt của vùng cao núi đá Hà Giang, người Hmông trắng huyện Đồng Văn tạo ra cách thích nghi với môi trường để trồng trọt và chăn nuôi, được nhiều nhà nghiên cứu về môi trường
và văn hóa đánh giá rất cao Lối canh tác “thổ canh hốc đá” (canh tác trong hộc đá) Trong môi trường núi đá vôi, đá nhiều hiếm đất, người Hmông trắng ở Đồng Văn đã chắt chiu trồng ngô trong hốc đá, vào mùa khô sau khi thu hoạch đồng bào lại trồng đậu răng ngựa, rau, một số cây lanh với diện tích rất hạn chế Chăn nuôi thì có dê, bò ngựa, lợn, gia cầm PGS.TS.Lê Trọng Cúc có lý khi nhận xét trong cái nhìn môi trường đối với người Hmông huyện Đồng Văn: “ Họ đã tìm ra được một chu trình trồng xen canh, luân canh ngô, rau, đậu ổn định Họ đã xây dựng nên một nền văn hóa ẩm
Trang 14thức canh tác kết hợp có trình độ cao, sử dụng rất hợp lý tài nguyên đất rất
eo hẹp trên núi đá vôi Sự kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp ở đây nếu không nói là trình độ văn hóa cao thì tính thích nghi và hòa nhập với điều kiện môi trường tự nhiên là rất hợp lý Tuy nhiên sự hiểu biết nhân quả của người nông dân ở đây khó mà so sánh
được với các khái niệm khoa học”
Đối với dân tộc Chăm ở duyên hải miền Trung sống tập trung chủ yếu ở
ven biển tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, họ đã đúc kết được một số kinh nghiệm bảo vệ đất, chống sa mạc hoá của cát biển bằng cách trồng một số cây họ “vẹt” và “phi lao” để tránh bão cát, chống sa mạc hoá, bảo vệ đất, cải tạo đất mặn, để canh tác trồng trọt…Một số nhóm người Chăm ở duyên hải miền Trung sống ở vùng thấp ven đồi núi gần các nguồn nước có truyền thống làm nông nghiệp, chủ yếu làm ruộng nước Họ là một trong dân tộc biết làm thuỷ lợi sớm nhất và có kinh nghiệm trong việc lựa chọn đất Tuỳ theo thế đất và chất đất, đồng bào chia ruộng thành nhiều loại: Thuỷ điền
(Hamu thoon) ruộng ở đồng sâu, được coi là ruộng tốt nhất; Ruộng trầm thuỷ (Hamu ya) ruộng ngập nước quanh năm; Sơn điền (Hamu eilon) ruộng
khô ven núi Từ việc chọn đất để có biện pháp chuyên canh phù hợp với từng loại đất Đây là một biện pháp để bảo vệ đất, làm cho đất sử dụng được lâu dài
Người Hrê làm rẫy kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, tháng 9 trồng lúa Người Hrê dùng rìu (choong) để đốn cây lớn, dùng rựa (tapak) phát cỏ, dây
leo và chặt cây nhỏ Đợi khi cỏ cây bị phát đã khô, trước khi gieo trồng, chọn buổi trưa thật nắng, ít gió để đốt, sau đó dọn và đốt lại nếu chưa sạch Khi
gieo hạt giống, họ dùng hai loại gậy chọc lỗ tra hạt hay gọi “trọc chỉa” Một
đám rẫy chỉ canh tác một vài vụ rồi trồng thứ khác hoặc bỏ hoá 3 -5 năm, đợi rừng tái sinh mới canh tác, rồi tiếp tục bỏ hoá…Trồng phổ biến là đa canh và xen canh các loại cây trồng như xung quanh rẫy thường trồng bầu, bí
Người Xơ đăng bên cạnh việc canh tác ruộng nước, còn làm rẫy là chính Rẫy chỉ có một loại là diếc hay dếc được khai phá theo chu kỳ khép
kín, ban đầu trồng một vụ, sau đó có thể sử dụng tiếp đến hai, ba vụ, rồi bỏ hoá khoảng 10 - 12 năm mới canh tác lại Trên rẫy trồng xen canh gối vụ thường trồng kê, ý dĩ, bầu, bí, rau, đậu, cây có củ đặc biệt là loại kê chân vịt
Trang 15Họ dùng gậy chọc lỗ tra hạt và các dụng cụ thô sơ dao rựa, nạo cỏ để làm rẫy
Người Ra glai trong kỹ thuật canh tác Họ phân thành 2 loại rẫy theo thế
đất : Kra là đất thấp vùng thấp gần chần đồi thường trồng xen canh đậu, bầu, bí Apổ là đất vùng cao là loại rẫy chính dùng canh tác cả bắp, đậu, bầu, bí,
cây ăn trái Mùa rẫy bắt đầu từ khâu phát cây sau khi đã chọn được khu đất tốt vào khoảng tháng 2 -3 dương lịch, thì họ bắt đầu tiến hành phát cây và
đốt để gieo trồng Công cụ chủ yếu là dao, rựa để phát rẫy, khi gieo hạt thì dùng gậy để chọc lỗ và tra hạt Họ cũng rất chú ý khi chọn rẫy thường chọn gần nơi cư trú, thuận tiên cho canh tác và thu hoạch Nghiêm cấm không
được phát nương rẫy ở những khu rừng thiêng, rừng ma, rừng cấm, rừng đầu nguồn…
Canh tác nương rẫy là hoạt động trồng trọt truyền thống chính yếu của hầu hết các tộc người thiểu số Tây Nguyên Tuy có những khác biệt nhất
định về kỹ thuật, phản ánh sắc thái địa phương và tộc người, nhưng quy trình canh tác rẫy ở các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tương đối thống nhất, bao
gồm các công đoạn thốt thiểu sau: chọn rẫy, phát rẫy, đốt và dọn rẫy, gieo trỉa, chăm sóc và thu hoạch, các công đoạn này đều liên quan đến môi
trường, các yếu tố của môi trường như đất, rừng Ngoài những nguyên tắc
và tập tục chung như trên, mỗi dân tộc, mỗi vùng đều có những kinh nghiệm khác nhau trong việc chọn địa hình, chất đất, hình thể của đất rẫy Nhìn chung, rẫy có độ dốc 10 0 đến 30 0, nằm ở chân núi, ven các sông, suối, hoặc trong các thung lũng được coi là thích hợp hơn cả Các dân tộc Gia rai, Ê đê, Cơ Ho thường ít phải mất thời gian để chọn đám rẫy có độ dốc như ý, vì địa bàn cư trú của họ là các cao nguyên, có địa hình tương đối bằng phẳng Ngược lại, các dân tộc cư trú trên các địa hình núi như Ba na, Xơ đăng thường phải mất nhiều thời gian hơn để có thể tìm chỗ đất rẫy có độ dốc thích hợp Do địa hình hiểm trở, nhiều khi người Ba na, Xơ đăng buộc phải làm rẫy trên những sườn núi có độ dốc cao tới 500
Đối với các cư dân nương rẫy Tây Nguyên, gieo trỉa đúng và kịp thời
vụ trên rẫy luôn được chú ý ở đây, kinh nghiệm xem xét và đoán định thời tiết có ý nghĩa quan trọng Gieo trỉa ngay sau trận mưa đầu tiên hay sau một
số trận mưa đầu mới gieo trỉa là tuỳ thuộc vào việc sau khi gieo trỉa xong các
Trang 16trận mưa tiếp theo có diễn ra hay không Gieo trỉa sớm, giống cây trồng sẽ gặp hạn không mọc được, dẫn đến phải trỉa lại Còn gieo muộn, lúa sẽ làm hạt vào đúng thời kỳ mưa liên miên Trong cả hai trường hợp đều ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng Chọc lỗ bỏ hạt là cách thức gieo trỉa truyền thống ở mọi tộc người, được bắt đầu lần lượt từ chân rẫy (chỗ thấp) lên đỉnh rẫy (chỗ cao)
Liên quan đến công đoạn gieo trỉa là kỹ thuật đa canh và xen canh Đa
canh và xen canh là những biện pháp kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trong canh tác rẫy ở các dân tộc người Tây Nguyên Đa canh là việc trồng đồng thời nhiều loại cây trên một đám đất Xen canh là việc trồng xen hai hay nhiều loại cây trồng với nhau trên cơ sở một loại cây trồng chính Loại cây trồng chính đó thường là lúa, hoặc đôi khi là ngô Bản thân việc xen canh đã hàm chứa trong nó yếu tố đa canh Nếu phân loại, có thể chia ra các loại cây thường được xen canh với nhau thành ba nhóm: Nhóm cây lương thực bao gồm lúa, ngô; nhóm cây thực phẩm bao gồm bầu, bí, cà , dưa, mướp, ớt, rau, ; và nhóm cây tiêu dùng bao gồm bông, lanh, thuốc lá Căn cứ vào hiện trạng, trên những đám rẫy ở Tây Nguyên thấy có ba kiểu xen canh chủ yếu là: Cây trồng chính là lúa, xen canh với lúa là tất cả các loại cây trồng còn lại; cây trồng chính là ngô, xen canh với ngô là tất cả các cây còn lại, trừ cây lúa là cây được trồng thành rẫy riêng; cây trồng chính là lúa, xen với lúa chỉ
là ngô Kỹ thuật xen canh và đa canh trên cùng một đám rẫy là ứng xử hợp
lý của người dân Tây Nguyên nhằm bảo vệ đất trồng Xen canh nhiều loại cây trồng bảo đảm cho đất luôn có một lớp thực bì phủ kín, vừa hạn chế cỏ dại, tăng chất mùn, giữ độ ẩm cho đất, vừa giảm xói mòn đất do mưa, góp phần ổn định năng suất cây trồng
Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên tồn tại hình thức chuyển canh
luân khoảnh khép kín, còn được gọi là du canh khép kín Đây là hình thức quay vòng đất trong đó, người ta lần lượt luân canh các đám rẫy theo thâm niên một đến hai năm bỏ hoá một lần, để rồi, cứ sau một số năm nhất định, lại quay về khai phá trên đám thứ nhất, khi ấy đã mọc lại rừng, đất đai đã khôi phục lại độ màu mỡ, mở đầu cho vòng quay mới Khoảng thời gian một
đám rẫy được khai phá từ lần trước đến lần sau gọi là chu kỳ khép kín của
đất rẫy Tuỳ điều kiện tự nhiên và dân cư mà chu kỳ khép kín của rẫy ở từng vùng dài ngắn khác nhau Yêu cầu đặt ra là chu kỳ này cần không dài quá và
Trang 17cũng không ngắn quá, vì dài quá thì đất hưu canh nhiều, mức độ quảng canh lớn, rẫy sẽ nằm xa nhà, và ngắn quá thì rừng sẽ không kịp mọc lại Trước
đây, ở Tây Nguyên, chu kỳ quay vòng rẫy thường khoảng 10 năm với đất trồng một vụ bỏ hoá và khoảng 20 năm đối với đất trồng hai vụ bỏ hoá Có thể khẳng định rằng, chuyển canh luân khoảnh khép kín giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đất, rừng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Bên cạnh nương rẫy, ruộng nước truyền thống ở Tây Nguyên (còn gọi là ruộng nước trâu quần) chiếm vị trí khiêm tốn và nhỏ bé hơn Chỉ có vài nhóm tộc người hay bộ phận tộc người ở một số vùng Tây Nguyên có truyền thống làm ruộng nước trâu quần lâu đời như: Một bộ phận người Xơ đăng quanh dãy Ngọc Linh (Kon Tum), bộ phận người Ê đê ven các sông Krông Ana và Krông Knô, nhóm Rơ lâm của người Mnông ở quanh hồ Lắc (Đắc Lắc) và đầm Ròong (Lâm Đồng) Kỹ thuật làm ruộng ở các nhóm tộc người này khá thống nhất Theo đó, ở những chỗ sình lầy, người ta dùng dao và cuốc dọn sạch cỏ, cây và củi mục Tuỳ theo địa thế mà người ta san đất, đắp
bờ, tạo nên những đám ruộng sình (diếc đác klâng hay déc đác kpô chua) có
diện tích to nhỏ khác nhau, thường vào khoảng vài trăm đến hàng nghìn m2 Ruộng chỉ được làm một vụ, trùng với mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 10 lịch địa phương Sau mỗi vụ thu hoạch, đất được bỏ hoá qua mùa khô trong trạng thái cạn nước nhưng sình lầy Khoảng tháng tư, người ta dùng tay hoặc dao nhổ hoặc phát cỏ cho quang mặt ruộng Đôi khi, cỏ sau khi phát được phơi trên mặt ruộng cho khô và đốt làm phân Với những đám ruộng đã bạc màu, để tăng thêm độ phì cho đất, đồng bào chặt cây từ rừng xung quanh mang về rải đều cho khô rồi đốt Khi những trận mưa đầu trút xuống, nước trong ruộng đã đủ, đồng bào mới tiến hành việc làm cho đất mịn và nhuyễn
bằng phương pháp: dùng trâu đàn quần dẫm (rô pô) kết hợp với người sục (chua, lác) Sau đó, người dân tiến hành gieo mạ Việc làm cỏ ít được quan
tâm Lúa ruộng không bao giờ được bón phân Đất ruộng được bồi bổ ít nhiều bằng tro cỏ đốt tại ruộng hàng năm, bằng tro đốt cây mang từ nơi khác
đến, hay bằng lá cây, chất mùn từ trên núi theo mưa xuống
Đối với các dân tộc Gia rai, Ba na, Cơ ho, hình thức ruộng nước cùng những thao tác và kỹ thuật mới lạ, lại nhiều khi mâu thuẫn với tín ngưỡng, phong tục và tập quán canh tác truyền thống ở nhiều xã vùng cao, trong thời
Trang 18gian nhiều năm, đồng bào không dùng sức kéo gia súc để cày bừa vì theo phong tục, trâu, bò là vật hiến sinh, dùng trâu, bò cày kéo là xúc phạm đến thần linh, sẽ khiến thần sét giận mà gây cháy làng; không dám dùng phân bón ruộng vì sợ làm bẩn lúa và đất trồng, theo tín ngưỡng, sẽ khiến thần đất giận mà gây mất mùa; không dám dùng liềm, hái gặt lúa, vì theo tín ngưỡng,
sợ hồn lúa đau, sẽ giận mà bỏ đi; ngại khai phá những nơi có thể làm ruộng nước, là những nơi trũng, ẩm thấp và um tùm, theo quan niệm, cũng là nơi
trú ngụ của thần sụt lở (yang tnác theo cách gọi của người Ba na), sẽ gây
động đất
Chăn nuôi là một hoạt động sản xuất có tầm quan trọng đáng chú ý trong đời sống người Tây Nguyên Tuy nhiên với kiểu chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, khi trâu, bò, gà bị bệnh, thường gây ra dịch lây lan, làm thiệt hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến môi trường như không khí có mùi khó chịu, nước bị nhiễm bẩn bởi phân gia súc, gia cầm Do vậy, luật tục các dân tộc
đều có những điều luật quy định nghiêm ngặt, khi gia súc bị dịch thì phải trình báo cho chủ làng buôn, phải chăm sóc và cách ly gia súc bị bệnh, nếu
để lây lan sẽ bị phạt tội
Một số tộc người ở Tây Nguyên, vấn đề sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên liên quan trực tiếp đến 2 phương diện: xác định các quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ; xác định quan hệ sở hữu liên quan trực tiếp tới các hình thức tổ chức sản xuất và phân phối nguồn của cải vật chất
mà con người tạo ra ; có thể quy vào 2 phạm vi: sở hữu tập thể và sở hữu cá thể Từng cộng đồng làng sở hữu tập thể về lãnh thổ mà mình sinh tụ: mỗi làng đều có một địa vực nhất định, dân làng là chủ nhân trên đó và quyền sở hữu này được kế tiếp qua các đời Giữa 2 làng cạnh nhau, ranh giới đất đai
được hình thành và duy trì bền vững, lấy những vật chuẩn tự nhiên làm mốc: dòng suối, ngọn núi, con đường, tảng đá lớn, cây cổ thụ với một lễ cúng thần để chứng giám, trong lễ đó có sự thề nguyền không xâm phạm của cả 2 làng Ranh giới đất của làng được gọi bằng những tên khác nhau ở mỗi dân
tộc: xa rang plei (Ba na), goai plei (Gia rai), kđriếc buôn (Ê đê)
Quyền sở hữu tập thể trên lãnh thổ làng thể hiện tập trung ở người đại diện cho cộng đồng về phương diện này: người trưởng làng, mà tuỳ theo mỗi
dân tộc gọi với các tên khác nhau, như Tơm plây (Ba na), Khoa pin ea (Eđê), Khoa lon (Giarai), Quăng bon (Mạ, Cơ ho), tơm bri (Mnông) Trong đa số
Trang 19tộc người, trưởng làng đồng thời có chức trách thay mặt dân làng để gìn giữ lãnh thổ chung, quản lý về mọi mặt thì ở một số dân tộc khác, như Gia rai, Cơ ho lại có riêng vị "chủ đất" (hay "chủ rừng"), người Ê đê, Mnông có vị
“chủ đất” và “chủ bến nước” chăm lo bảo vệ cương vực làng mình Già làng, chủ đất, chủ nước có trách nhiệm bảo vệ đất đai, rừng, nguồn nước, môi trường sinh thái của cộng đồng Đặc biệt, ý thức về sở hữu của tập thể dân làng đối với địa vực thuộc về cộng đồng mình càng thêm tôn nghiêm và chặt chẽ thêm, bởi ngoài ý nghĩa là không gian sinh tồn, đất làng còn gắn liền với
"thần đất" linh thiêng Theo người dân Tây Nguyên, đất làng nào có "thần
đất" làng ấy, chính thần đất là chủ sở hữu tối Tây Nguyên, tuy vô hình nhưng quyền năng, dân làng không được để đất đai bị xâm phạm cũng tức là bảo vệ thần đất, tránh hậu hoạ do thần gây ra Tài nguyên thiên nhiên được cộng
đồng phân phối định kỳ cho các gia đình trong làng canh tác và khai thác Trong làng, người dân thường xuyên có ý thức bảo vệ tài nguyên, đất đai, rừng núi làng mình một cách tự giác, đồng thời các cộng đồng làng thường tôn trọng quyền sở hữu của nhau, ít xảy ra việc xâm phạm địa phận làng khác
Chủ làng cùng với các trưởng họ thực hiện chọn đất và chia đất cho các gia đình Các gia đình có quyền sử dụng đất rừng trong thời gian định kỳ
được phân chia Nếu có người trong làng có nhu cầu trao đổi quyền sử dụng thì hai bên thoả thuận với nhau, chủ làng, chủ họ quyết định và nhất thiết phải được thần linh đồng ý bằng báo mộng Nếu thần linh phản đối bằng các
điềm (mơ thấy hạt gạo, rắn bò qua ) thì không được thực hiện việc trao đổi Trong thời gian hưu canh, đất rừng vẫn thuộc về người được phân chia, không coi đó là đất vô chủ, không ai được xâm phạm Những người vi phạm quyền sử dụng tài nguyên phải đưa ra xét xử và phải phạt theo luật tục Khi
có sự tranh chấp về tài nguyên hai bên phải tự hoà giải, nếu không, phải đưa
ra làng xét xử Trường hợp này dẫu giải quyết ra sao thì mỗi bên đều có nộp phạt Có dân tộc quy định nếu 2 bên không chấp nhận biện pháp của ban luật tục thì làng thu hồi làm của công Đã là người trong làng, ai cũng có quyền làm ăn sinh sống trên lãnh thổ làng Nhưng đối với người ngoài làng muốn xâm canh, muốn đến cư ngụ, muốn vào săn bắn, đánh bắt cá, lấy gỗ đều phải xin phép trước và nộp lễ vật bằng lợn, gà, gạo, rượu Nếu tự tiện hoặc
Trang 20tập tục sẽ bị trừng phạt nặng để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ quyền sở hữu của cộng đồng làng
Một trong những yếu tố cần chú ý thuộc sở hữu của cộng đồng buôn
làng là rừng Trước hết, đối với những khu rừng, như rừng thiêng, rừng ma,
rừng đầu nguồn, quyền sở hữu tối cao thuộc về tập thể cộng đồng Luật tục các dân tộc Ê đê, Mnông, Cơ ho, Xơ đăng, Ba na, Gia rai đều quy định: không được chặt cây cối, không phát rẫy, không đốt lửa, không được săn thú, không được chăn thả trâu, bò trong những khu rừng này Ai vi phạm sẽ bị làng phạt Qua những vi phạm và hình phạt ta có thể thấy được tầm quan trọng của những khu rừng đó đối với dân bản Đây là những khu rừng thường
có cây to, sống lâu năm và rất nhiều cây gỗ quý Như vậy, những quy định cấm khai thác ở những khu rừng này đã góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ đất nhất, mặc dù những quy định về bảo vệ rừng được xuất phát từ những lý do tín ngưỡng: nơi đây cây cối rậm rạp âm u, là nơi trú ngụ của các vị thần và
ma quỷ, nếu khai thác tức là xúc phạm đến thần, sẽ bị phạt và bắt tội dân làng (lũ lụt, mất mùa, đau ốm, dịch bệnh), nhưng qua đó thể hiện ý thức của cộng đồng về bảo vệ những khu rừng già, rừng đầu nguồn Đối với những khu rừng được phép khai thác và sử dụng, luật tục của đồng bào Tây Nguyên
đều quy định rõ việc cấm chặt một số loài gỗ quý mà bộ rễ có khả năng giữ
nước và tán lá thường xanh bốn mùa Đó là các loại cây loong sao, loong kta, loong sút, loong put ở người Ba na; cây đa (ana ruih), cây sao (ana gril), cây dầu (ana grach), cây chít (ana xít) ở người Ê đê Có những làng người Ê đê
còn quy định dành riêng khu rừng tre nứa để lấy dùng hàng ngày, ở một số nơi, người Mnông có tục “nuôi gỗ”: khi phát rẫy, gặp những cây hay chỗ có mọc nhiều cây cẩm lai, hương, sao còn nhỏ, họ chừa lại, có khi mấy chục năm sau mới chặt lấy gỗ Nếu người nào săn bắn làm chết các loài thú hiếm, luật tục buộc người đó phải nộp phạt rất nặng để tạ tội với thần linh
Đất trồng là một đối tượng sở hữu của nông dân Tây Nguyên Tại tất cả các vùng làm ruộng nước lâu đời, đất ruộng được coi là loại gia sản quý,
được thừa kế và sớm được chuyển thành đối tượng có thể sang nhượng, mua bán Với đất rẫy và nà thổ, quá trình xác lập quyền sở hữu gia đình diễn ra chậm hơn ở đa số các tộc người Tây Nguyên, đã phổ biến chế độ sở hữu cá
Trang 21thể đối với đất rẫy cả khi bỏ hoá, thậm chí việc thừa kế, chuyển nhượng rẫy cũng đã xuất hiện ở một số vùng
Người Êđê khi phát dọn cây cối thường để lại cây Kơnia trên rẫy, vừa lấy bóng mát, vừa có ý đánh dấu sở hữu đất, và nhiều tộc người Tây Nguyên
có thói quen chung là trồng cả các cây ăn quả lưu niên ở rẫy, vừa để lấy quả
ăn, vừa xem đó là tín hiệu xác định chủ quyền trong giai đoạn bỏ hoá đất Trong việc bảo vệ nguồn nước như sông, suối, khe nước, mỏ nước thì các dân tộc thiểu số đã có một số kinh nghiệm và luật tục như: cấm chặt phá rừng đầu nguồn, cấm làm bẩn nguồn nước, có nhiều nơi được linh thiêng hoá, như lễ cúng máng nước của dân tộc Ra glai…Trong canh tác thì người Chăm ở vùng thấp và người Hrê, có kinh nghiệm trong việc bảo vệ nước rất tốt Người Chăm và người Hrê canh tác ở những vùng thấp, ở các thung lũng gần chân núi, họ biết tận dụng điều kiện tự nhiên ở vùng thấp này để canh tác ruộng nước, biết đắp bờ quanh ruộng để giữ nước Việc canh tác ruộng nước, thì nguồn nước chiếm vai trò rất quan trọng trong canh tác vì vậy họ ý thức được việc bảo vệ nguồn nước…Luật tục của Raglai (Khánh Hoà) quy
định bảo vệ nguồn nước như sau: Cấm làm nhà nơi nguồn nước, nơi có mạch nước ngầm mạch phun, ỉa đái làm ngập “hầm cua hang cá lóc” “hầm cua hang cá lóc” được hiểu là mạch ngầm, luôn có nước quanh năm; người Ra glai cho rằng nếu có người nào làm dơ bẩn nơi mạch nước ngầm trong sạch
đó thì sẽ khiến cho người bị phù thũng to bụng, tả lỵ, bủng beo…
Người Chăm có ý thức được việc phải bảo vệ rừng cây để chắn gió và bão cát, cải tạo đất…họ không bao giờ chặt cây hay những rặng phi lao ở ven biển và họ luôn ý thức được phải trồng cây ở nơi ven biển Có đặc thù của họ
là làm nhà thấp và xung quanh nhà trồng cây để chống bão cát…Một số sống giáp với các tỉnh Tây Nguyên sống ở phía cao hơn so với dân tộc Chăm
ở khu vực này như dân tộc thiểu số Ra glai, Co, Hrê, Xơ đăng…họ canh tác nương rẫy ý thức được việc bảo vệ rừng là rất quan trọng Trong quá trình lao
động sản xuất họ đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong việc bảo vệ rừng Đến vụ mùa canh tác nương rẫy các dân tộc thiểu số ở đây, khi phát
đốt rừng làm rẫy họ tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định Công việc đốt nương đòi hỏi phải cẩn thận vì rừng nhiệt đới vốn nhiều tầng, nhiều lớp thì việc chặt cây nào trước, phát cây nào sau không thể làm tuỳ tiện Bao giờ
Trang 22người ta phát lôi các dây bò trên mặt đất cho bật dễ rồi phát tận gốc Chỉ làm như vậy mặt nương sau mới dỡ cỏ dại, dây leo Những cây thân mọc cao, to
được đốn sau cùng Cành lá của nó sau khi được đốn hạ sẽ được chặt ngắn, chia đều, để tạo nên lớp phủ cây cỏ khô đồng đều trên toàn bộ mặt nương, để khi đốt tạo nên một lớp tro phủ không trong tình trạng nơi thì quá dày, nơi lại quá mỏng Trong khi đốt nương, cây cỏ cháy càng kỹ thì mặt nương càng sạch và sau này cây trồng mới sinh trưởng tốt Kinh nghiệm cho thấy những mảnh nương phát cẩu thả, đốt cháy nham nhở, đất nhiều nơi bị sống thì đến khi gieo hạt, cây mọc lên thường còi cọc, cho năng xuất thấp Khi đốt rẫy cần phải chọn hướng gió và xem thời tiết khô ráo để đốt rẫy, tránh sự lây lan lửa khi đốt rẫy làm ảnh hưởng đến khu vực có rừng xung quanh Với kinh nghiệm tích luỹ được qua nhiều thế hệ, những người dân tộc thiểu số ở duyên hải miền Trung biết rõ khoảng thời gian nào của mùa khô để phát và đốt, biết khi nào thì bắt đầu mùa mưa để gieo hạt sao cho thích hợp nhất với tính thời
vụ của cây trồng Như kinh nghiệm của người Ra glai ở đây, họ phát rẫy lần lượt từ các loại cây, cây nhỏ rồi cây lớn Sau đấy khoảng 15 ngày để cây khô,
dễ cháy sẽ tiến hành đốt Cây phải được đốt như thế nào để cháy trọn vẹn và kịp trận mưa đầu mùa cách đó khoảng hai tuần và bằng kinh nghiệm tích luỹ
được, người Ra glai xem thời tiết dựa vào mây và cây rừng để tiến hành các khâu trồng rẫy Khi cây trên rừng đều xanh lá, mây trên trời nhiều hơn, thời
tiết nóng bức, gió đổi chiều, cây dáo, cây tinun có rái chín hoặc cây pô - ổ ra
hoa…là trời sắp mưa và người ta đốt rẫy Họ cũng rất chú ý khi đốt rẫy ở họ còn phát quanh rẫy để tránh lửa lây lan sang khu vực xung quanh
Trong việc bảo vệ đa dạng sinh học thì các dân tộc thiểu số đã ý thức
được phần nào trách nhiệm của mình phải bảo vệ các giống loài, nguồn gien
để đảm bảo cân bằng sinh thái, hay theo như các dân tộc ở đây cho rằng săn bắn, khai thác có mức độ để mùa sau loại được khai thác tiếp khi chúng sinh sôi nảy nở Trong các qui định bảo vệ đa dạng sinh học có Luật tục của
người Ra glai qui định về việc bảo vệ thú rừng: 1) Cấm săn bắn quá mức ; 2)
Thịt con khỉ, con độc, con vượn, con khỉ đột, con chuột, con ếch, con nhái…không được mang về nhà ăn, nếu ăn khiến cháy bắp lúa, ghẻ lở phong
độc tới người, và không được săn bắn Người Co có kinh nghiệm trong việc bảo tồn và phát triển giống quế đặc sản của địa phương Người Co trồng quế
Trang 23bằng phương pháp ươm hạt chứ không cuốc hố bỏ hạt, chiết cành và tái sinh
chồi như các cư dân trồng quế ở miền Bắc
Trong ăn ở, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều tri thức
kinh nghiệm liên quan đến môi trường được hình thành từ lâu đời Già làng
hoặc hội đồng làng là người đại diện cho chủ quyền sở hữu của mọi thành
viên trong làng có nhiệm vụ quản lý về mọi mặt Có một số vùng, người
cùng quản lý với già làng là chủ hộ: Tài nguyên thiên nhiên được cộng đồng
phân phối định kỳ cho các gia đình trong làng canh tác và khai thác Thời
gian phân phối thường lệ thuộc vào chu kỳ luân canh ; Chủ làng cùng với
các trưởng họ thực hiện chọn đất và chia đất cho các gia đình ; Các gia đình
có quyền sử dụng đất rừng trong thời gian định kỳ được phân quyền không
có quyền nhượng bán Nếu có người trong làng có nhu cầu trao đổi quyền sử
dụng thì hai bên thoả thuận với nhau chủ làng, chủ họ quyết định và nhất
thiết phải được thần linh báo mộng Nếu thần linh báo phản đối bằng các
điềm (hạt gạo, mang thét, rắn bò qua…) thì không được thực hiện việc trao
đổi Trong thời gian lưu canh, rẫy sau nhiều vụ canh tác đã bạc màu, bỏ
hoang hoá để bảo vệ đất, đất rừng đó vẫn thuộc về người được phân chia, khi
hết chu kỳ lưu canh mà người đó không canh tác nữa mà người khác đến vẫn
phải thông qua chủ cũ đó Đất bỏ hoang hoá đó không coi là đất vô chủ,
không ai được xâm phạm Những người vi phạm quyền sử dụng tài nguyên
phải đưa ra xét xử và phải phạt theo luật tục Khi có sự tranh chấp về tài
nguyên hai bên phải tự hoà giải, nếu không hoà giải được, phải đưa ra làng
xét xử gồm đại diện giải quyết là già làng (trưởng làng), hội đồng già làng Quyền sở hữu của người Ra glai còn được thiết lập trên nền tảng cấu
trúc xã hội đó Đó là quyền tư hữu mang tính chất dòng họ mẫu hệ, nghĩa là,
mọi đất đai, nhà cửa, rẫy vườn…đều thuộc quyền sở hữu trong một nhà dài
Quyền tư hữu đó được cộng đồng Raglai tuân thủ và thực hiện một cách
nghiệm ngặt bởi nó đã được thiêng hoá, được coi la sự bảo trợ của cha ông,
tổ tiên Rừng núi, sông suối, lại thuộc quyền sở hữu của công đồng palơi
Không một ai (cá nhân hoặc dòng họ) được vi phạm những quy định do cộng
đồng đặt ra Không ai được biến nó thành tài sản cá nhân hay dòng họ Và để
thiêng hoá quyền sở hữu của cộng đồng này, người Ra glai cũng quan niệm
rằng, rừng núi sông suối, palơi được các thần linh bảo trợ Nếu nhà cửa, đất
Trang 24đai, rẫy vườn được tổ tiên quan tâm, thì rừng núi, sông suối lại được đặt dưới
sự che trở, quản lý của các vi thần núi (Yà Chự) Vị thần này cai quản ngọn
núi cao nhất ngay tai địa bàn rừng núi, sông suối đó Khi dựng làng dưới chân núi phải làm lễ cúng thần núi
Không được đốt rừng làm rẫy ở khu rừng rậm, rừng nguyên sinh hoặc rừng đầu nguồn, vì đó là nơi cư ngụ của thần linh Ai đốt rừng như vậy, phải cúng lớn và buộc phải dừng ngay hành động của mình Họ quan niệm khi đốt rừng nơi rừng thiêng, rừng cấm làm cho thần linh bị nóng, bị bỏng toát mồ hôi Người Ra glai có tập quán làm rẫy theo kiểu luân canh, tương tự như một số dân tộc khác ở Tây Nguyên Một khu rẫy sau khi khai phá, sẽ được canh tác trong khoảng từ 3- 4 năm đến 5- 6 năm, sau đó được bỏ hoá trong khoảng 7 đến 10 năm cho đất phục hồi lại Trong thời gian đó, trên khu rẫy
cũ, một lớp rừng non sẽ được mọc lên, khiến cho khu rừng đó như một khu rừng hoang vô chủ Song, những người Ra glai sở tại xung quanh vùng đều biết rõ ràng, đích xác, ai là chủ của “khu rừng hoang” đó, và do ràng buộc bởi luật tục, phong tục tập quán, không một người nào dám xâm phạm tới, kể cả khi người chủ đầu tiên của khu rẫy đó đã chết và quyền sở hữu rẫy đã
được chuyển cho một người khác
Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên quan niệm rằng, cũng như con người, mọi vật trong thế giới tự nhiên như đất đai, rừng rú, nguồn nước, cây cỏ
đều chứa đựng những "linh hồn", có các vị thần cai quản Những linh hồn đó luôn luôn theo dõi và tác động đến cuộc sống của con người Bởi vậy, khi con người do có nhu cầu khai thác, sử dụng, xâm phạm tới đều phải có lời cầu khẩn, phải thực hiện nghi lễ, phải tuân thủ các tập tục nghiêm ngặt, thậm chí trong một số trường hợp con người hoàn toàn không được xâm phạm tới Hàng năm, mọi tộc người Tây Nguyên đều tổ chức các lễ thức nhằm cầu xin các thần linh phù hộ cho mùa màng như lễ cúng thần đất, thần rừng, thần lửa, cúng cầu mưa vào những thời kỳ hạn hán kéo dài (mục đích tuy giống nhau nhưng cách thức tiến hành cùng một loại lễ ở mỗi dân tộc lại khác nhau) Các quan niệm trên đã được phản ánh rõ trong luật tục và điều đó đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đối với các tộc người Tây Nguyên, mọi lỗi lầm của con người, từ lười nhác, trộm cắp, loạn luân đều để lại hậu quả làm đất đai, rừng rú, nguồn nước bị "ô uế", khiến thần linh tức giận, trừng phạt Nhìn chung, quan niệm "thiêng
Trang 25hoá" các nguồn tài nguyên thiên nhiên này của nhiều dân tộc thể hiện nét
độc đáo của cộng đồng về ứng xử môi trường, đã thực sự góp phần vào việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trước sự phá hoại của chính bản thân con người
Trong sinh hoạt, người dân Tây Nguyên rất chú ý đến bảo vệ tài nguyên sông suối, nguồn nước của cả làng Trong việc chọn đất, dựng làng, việc quan trọng nhất là tìm nơi thuận tiện, có nguồn nước tốt Ngày quan trọng nhất trong năm là ngày sửa sang máng nước sau vụ thu hoạch Máng nước là nơi linh thiêng Dân làng hứng nước pha tiết lợn cúng thần nước rồi đem về thổi xôi nhân dịp đầu năm mới (ở người Xơ Đăng) Không một ai được xúc phạm đến máng nước hay nguồn nước, vì nguồn nước là tượng trưng cho sự nghiệp thiêng liêng, sự hùng mạnh và sự tồn vong của toàn làng Để bảo vệ tài nguyên sông suối, yếu tố do cộng đồng buôn làng quản lý và sở hữu, chủ làng, chủ bến nước với tư cách là người đại diện sẽ đứng ra quy định phân chia những khu vực riêng, làm cơ sở cho việc khai thác và bảo vệ tài nguyên nước và nguồn lợi từ sông suối Mọi thành viên trong buôn làng đều có quyền khai thác và sử dụng cũng như nghĩa vụ bảo vệ đối với tài nguyên sông suối
Cụ thể là đối với nơi thờ cúng, bến nước, khu vực đầu nguồn sông, suối, luật tục quy định cấm giặt giũ, cấm đánh bắt cá, cấm làm bẩn nguồn nước Nếu người nào vi phạm điều cấm đó thì tuỳ theo tính chất nguy hại và hoàn cảnh kinh tế giàu nghèo sẽ bị phạt: trâu, bò, lợn, gà và rượu để cúng thần
(Yàng) xin tha tội, cá biệt còn có những trường hợp sẽ bị đuổi khỏi làng Hơn
nữa, luật tục các tộc người Tây Nguyên còn cấm cá nhân tự tiện ngăn sông suối gây cản trở dòng chảy ảnh hưởng đến quyền sở hữu, sử dụng liên làng
Để tránh sử dụng khai thác nguồn nước một cách bừa bãi, gây ô nhiễm, cá nhân chỉ được khai thác cá ở một số nơi quy định Nguồn tài nguyên này có
đặc điểm là “tất cả các con sông đều chảy”, nó chỉ tồn tại trong một phạm vi nhất định thuộc bản làng: khúc sông, khúc suối, khe Vì thế, những quy
định này đã góp phần vào bảo vệ nguồn nước sạch và nguồn lợi thuỷ sản Với các dụng cụ đánh bắt như nơm, đó, lao, có thể đánh bắt mọi nơi, nhưng luật tục các tộc người Tây Nguyên nghiêm cấm việc đánh bắt cạn kiệt tôm cá, nhất là dùng lá cây độc để bắt cá (thuốc cá) Việc không cho phép cá
Trang 26nhân tự do đánh bắt chỗ nhiều cá là nhằm bảo vệ nguồn cá quanh năm cho cộng đồng
Bên cạnh những kinh nghiệm truyền thống tốt đẹp trong bảo vệ môi trường, trong cộng đồng các dân tộc còn tồn tại nhiều tập quán không tốt ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Trong tục lệ của người Chăm, việc tẩm liệm thi thể bao giờ cũng thường thực hiện rất muộn, chỉ trước lúc di quan một buổi Trước đó xác chết được
để ngay ngắn, đầu hướng vào nhà, người nhà ngồi vây quanh vừa xua ruồi nhặng, quạt mát cho xác, vừa khóc, kể lể nỗi niềm của mình với thi thể Người đến chia buồn cũng ngồi vây quanh ché rượu, vừa uống vừa nói những lời thương tiếc, chia xẻ với tang gia Người Chăm quan niệm người về thế giới bên kia vẫn ăn uống, nếu khi ra đi mà no đủ thì qua bên kia được sung sướng Quan niệm đó cũng giống như người Việt đốt giấy tiền để qua thế giới bên kia người chết có tiền xài Trước khi đem xác đi hoả táng hoặc chôn, người Chăm phải cho người chết ăn, đó là điều bắt buộc Bất luận già trẻ, giàu nghèo, sang hèn khi chết đều phải được một vị thầy Páêh cho ăn Lễ
cho ăn (pa Prahuăl) gồm cả việc làm hình hài cho sự sống bên kia thế giới
Thầy cho người chết ăn bằng cách bỏ gạo vào miệng, mũi, tai mắt của người chết Khi gia chủ dọn cơm nước cho các thầy Pasêh, mỗi người một mâm, người chết cũng có một mâm và cho họ hàng khách khứa Những món ăn lúc này thường là cá, thịt gà vịt, canh, rau sống còn mâm dọn cho người chết chỉ có một tô cơm đầy, trên có một quả trứng, một tô canh, vài hạt muối Đây là tục lệ mê tín, lạc hậu gây ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường và mâu thuẫn với Luật bảo vệ Môi trường hiện nay chúng ta cần có biện pháp giúp cho họ từ bỏ các phong tục lễ nghi lạc hậu đó
Bên cạnh những kinh nghiệm, luật tục tốt đẹp, một số dân tộc vẫn còn
có những phong tục ảnh hưởng xấu tới việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là tục
lệ ma chay như chôn chung, ăn uống tại lễ bỏ mả của một số tộc người vùng Tây Nguyên (Gia rai, Ba na )…Đồng bào quan niệm khi sống ở chung với nhau, thương yêu nhau thì chết cũng phải để cho những người thân yêu được nằm chung với nhau một hòm
Vì vậy, mỗi gia đình đồng bào đều có sẵn 1 hòm gỗ (hoặc xi măng) Khi trong nhà có người chết, họ cho người chết vào hòm chôn xuống đất, nắp
Trang 27hòm lộ thiên Về sau trong gia đình lại có người chết, họ lại tiếp tục mở nắp hòm ra và chôn chung vào đó
Quy trình cứ diễn ra như vậy,
khi nào hòm đầy, họ cho chân vào
giẫm cho xác chết xẹp xuống, múc
bớt nước trong hòm ra và lại chôn
tiếp tục Họ làm hòm mới khi hòm
cũ không còn chỗ để chôn được
nữa Tục lệ này vẫn được áp dụng
với những người chết cách nhau
một khoảng thời gian ngắn
Có những nhà mả khi làm lễ
bỏ mả của người Gia rai đã có đến cả chục xác chết được chôn chung vào một mồ Vấn đề ở đây là khi tổ chức tang ma, lễ bỏ mả, đương nhiên toàn bộ cộng đồng buôn làng sẽ gắn bó với không gian khu nhà mồ, nhất là việc ăn uống tại chỗ, ăn bốc, đựng đồ ăn bằng lá cây, gây ô nhiễm môi trường và rất dễ xảy ra bệnh dịch
Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long có tục lệ hoả táng Người chết thường được mang đến chùa và thiêu trên giàn thiêu Người ta dùng các vật liệu để thiêu như: củi, cành cây Quá trình hoả thiêu thường gây ô nhiễm khói, bụi và ô nhiễm không khí
khu vực Ngày nay nhiều nơi đồng
bào đã xây được lò hoả táng theo
kiểu dáng được thiết kế kín đáo,
môi trường nước khu vực Do
những phong tục thiếu vệ sinh, làm cho nhiều người mắc các bệnh như: Đau mắt, tả, lỵ, dịch hạch, ho gà, sởi, phong ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ nhiều người
Trang 28Nhiều dân tộc còn tập tục chăn thả gia súc không có chuồng nuôi nhốt xung quanh nơi ăn ở sinh hoạt, dưới gầm sàn Phân gia súc thải ra quanh nhà gây ô nhiễm không khí, đất ở, nguồn nước…ảnh hưởng không nhỏ đến môi
trường sống và chất lượng sống, sức khoẻ của đồng bào các dân tộc
3 Sức ép của phát triển kinh tế – xã hội lên môi trường vùng dân tộc và miền núi
Vùng dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều tiềm năng, nơi chứa đựng nguồn tài nguyên vô cùng phong phú phục vụ cho phát triển kinh tế vùng và cả nước Tuy nhiên, đời sống đồng bào dân tộc nơi đây còn rất khó khăn, nghèo khổ Phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm khai thác hết tiềm năng, thế mạnh, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Tuy vùng dân tộc và miền núi mới bắt đầu phát triển kinh tế, nhưng đã có những ảnh hưởng tiêu cực tới bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái
Nhờ thực hiện các chính sách đúng đắn, được Nhà nước hỗ trợ đầu tư bằng các chương trình, dự án nền kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi
đã có những bước phát triển khá nhanh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng dân tộc và miền núi trong giai đoạn 5 năm qua (2001- 2005) tăng từ 6 đến 8% Cơ cấu kinh tế trong GDP chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp Từ năm 2000 đến 2005, tỷ trọng CN- XDCB trong GDP tăng từ 14,9% lờn 22,1% ; dịch vụ tăng từ 31,4% lờn 34,8% và khu vực nụng, lõm nghiệp giảm từ 53,7% xuống cũn 43,1%
Trong cụng nghiệp tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn của cỏc tỉnh miền nỳi giai đoạn 2001-2005 là 17,57%/năm Số lượng cơ sở hoạt động sản xuất cụng nghiệp tăng 10,8% từ 42.063 tăng lờn 46.606 cơ sở Trong đú, khu vực quốc doanh chiếm 0,38%, khu vực kinh tế cú vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,06%, cũn lại 99,56% số cơ sở thuộc khu vực ngoài quốc doanh Lao động cụng nghiệp tăng 49,17%, từ 115.150 người lờn 171.773 người
Công nghiệp phát triển nhanh những cũng gây tác động môi trường nghiêm trọng, làm cho các loài sinh vật trong hệ sinh thái bị thay đổi theo chiều hướng trở nên kém bền vững Theo số liệu nghiên cứu của các nhà khoa học, ở nước ta để tạo ra 1 tỷ đồng GDP, các đơn vị doanh nghiệp sản
Trang 29xuất kinh doanh đã thải ra mô trường nước 3,1 tấn BOD, 5,9 tấn chất thải lơ lửng; thải vào không khí 2,9 tấn CO2 và 44 tấn chất thải rắn Phát triển các nhà máy chế biến như Chế biến bột sắn (ở Kon Tum, Quảng Ngãi ); chế biến gỗ, khai khóang ở nhiều tỉnh miền núi… gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Công nghiệp khai khoáng, nhất là tình trạng khai thác tự phát các điểm
mỏ nhỏ, không tuân theo các qui định về bảo vệ môi trường, hậu quả làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đất đá, bùn đất thải ra trong quá trình khai thác các mỏ đã làm bồi lắng các con sông, suối, bồi lấp các cánh đồng màu
mỡ, làm tăng các chất lơ lửng trong nguồn nước Việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện làm ngập và biến đổi những vùng sinh thái, làm biến mất những cánh rừng rộng lớn và thay đổi dòng chảy, chế độ thuỷ văn của các khu vực hạ lưu, Do thay đổi môi trường, sinh thái, nhiều loài biến mất và tuyệt chủng hoàn toàn, những ảnh hưởng đến môi trường, các hệ sinh thái, tuy đã được dự báo trước, nhưng không dễ gì khắc phục được
Trong nông nghiệp, đồng thời với việc gia tăng diện tích canh tác, áp dụng tiến bộ khoa học, làm tăng nhanh sản lượng cây trồng An ninh lương thực tại chỗ được đảm bảo, bỡnh quõn lương thực đầu người ở vựng miền nỳi
đó tăng từ 286kg/người/năm 1998 lờn 360kg/người/năm vào năm 2005 Thời gian qua các địa phương đã mở mang diện tích cây lương thực với tốc độ khá nhanh: So với 5 năm trước các tỉnh Tây Nguyên tăng 154,17%, các tỉnh Tăy Bắc tăng 120,16%
Theo số liệu thống kê, trong vòng 10 năm qua các địa phương đã gia tăng nhanh diện tích trồng các loại cây công nghiệp: Tính đến cuối năm
2004 diện tích cây chè 118,7 nghìn ha, cây cà phê 503 nghìn ha, cây cao su 450,9 nghìn ha, cây điều với diện tích hơn 103 nghìn ha Cây cà phê tăng 269,95%, cây chè tăng 177,96%, cây cao su tăng 161,96%
Việc tiếp tục mở rộng diện tích trồng cây lương thực, cây công nghiệp
đã lấn vào diện tích đất rừng, làm suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học
Các địa phương tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã làm thay đổi nguồn thức ăn của các loài sinh vật, làm thay đổi thành phần của các hệ sinh thái
Trang 30Biểu đồ: Diện tích cây lương thực vùng miền núi qua các năm (ĐVT1000ha)
Nhiều vùng trồng rau quả tập trung có giá trị kinh tế cao cũng được hình thành như: Vùng cam Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình ;vải thiều ở Lục Ngạn, Sơn Động, Hiệp Hoà, Lạng Giang, Yên Thế (Bắc Giang); hồng ở Bảo Lâm (Lạng Sơn), Ngân Sơn (Bắc Cạn); mận tam hoa ở Bắc Hà, Sa Pa, Mường Khương, Văn Bàn, Bát Xát (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La); vùng hoa
và rau quả ở Đà Lạt (Lâm Đồng)
Chính sách của nhà nước đã tạo điều kiện cho hộ gia đình miền núi phát huy thế mạnh điều kiện tự nhiên, đẩy mạnh chăn nuôi Một số địa phương bước đầu khai thác thế mạnh phát triển nhanh đàn trâu, bò, dê, lợn, gia cầm,
Trang 31Thụng qua việc thực hiện cỏc dự ỏn đầu tư lõm nghiệp đó tạo sự chuyển dịch mạnh trong chuyển đổi cơ cấu cõy trồng Năng suất, chất lượng rừng được cải thiện rừ rệt, tỷ lệ thành rừng từ dưới 50% được nõng lờn 80%
Thực hiện chính sách phát triển ngành nghề trong nông thôn, đến nay vùng MNPB có 411 làng nghề, chiếm 20,3% tổng số làng nghề trong cả nước
Trong những năm qua bên cạnh những mặt tích cực, thì phát triển nhanh nông nghiệp vùng dân tộc và miền núi có những tác động tiêu cực đến môi trường: Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để mở rộng diện tích đất nông nghiệp đã gây sức ép đối với tài nguyên đa dạng sinh học
Vấn đề sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây nhiều tác động tiêu cực, đặc biệt khi sử dụng tùy tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, làm tăng mức quen thuốc, tính kháng thuốc của các loài sâu bệnh thúc
đẩy việc hình thành các quần thể sâu bệnh chống thuốc, tiêu diệt các loài sinh vật có ích trong hệ sinh thái nông nghiệp; gây độc nhại cho gia súc gia cầm, để lại dư lượng chất độc trong nông sản gây ngộ độc thực phẩm, gây
độc trực tiếp cho người nông dân
Các loại phân bón hóa học đựơc dùng ngày càng nhiều trong sản xuất
đã có tác động lên đa dạng sinh học, làm suy giảm nhiều số loài trong hệ sinh thái
Các tác động trên đây đã làm cho chất lượng môi trường nhiều nới nhiều lúc đã tới mức báo động, tình trạng ô nhiễm các nguồn thải khác nhau (nước thải, khí thải, chất thải rắn) là nguyên nhân đe dọa tới đa dạng sinh học Nhất là việc cháy rừng đã gây suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng,
ví dụ chỉ 5 tháng đầu năm 2005 đã xảy ra 910 vụ cháy rừng với diện tích 6284,93ha (cháy 933,38ha rừng tự nhiên và 5351,55 ha rừng trồng) nguyên nhân chính là do thời tiết khác nghiệt, phát triển kinh tế thiếu quy hoạch, tập quán sử dụng lửa trong canh tác sản xuất nông lâm nghiệp; tập quán đốt rừng làm nương rẫy
Thực hiện Chương trình 135 và các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng,
từ năm 1999 đến nay các địa phương đã xây dựng mới được 24.167 km
đường; sửa chữa, nâng cấp 150.506 km đường các loại; làm được 15.845 cầu
Trang 32gỗ; thay thế 5248 cầu khỉ; xây dựng và cải tạo được 134.752 m ngầm tràn các loại Từ năm 2000 đến nay đã mở mới đường tới 196 xã, nâng tỷ lệ số xã
có đường ô tô đến trung tâm xã đạt hơn 97% 100% các huyện, thị xã với hơn 84% số xã vùng dân tộc và miền núi đã có điện Hơn 64% số hộ đồng bào dân tộc được sử dụng điện Trên 90% số xã ở miền núi có điện thoại Toàn vùng có hơn 800 điểm bưu điện – văn hoá xã Những năm qua vựng miền nỳi phớa Bắc đó xõy dựng được 1.750 hồ chứa, tưới cho 306.037 ha; Vựng Tõy Nguyờn đó xõy dựng được 1.445 hồ chứa tưới cho 90.000 ha Tớnh đến cuối năm 2005, cả nước cú khoảng 62% dõn số nụng thụn được cấp nước sinh hoạt
Nhờ các chính sách, chương trình, dự án, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, đời sống của đồng bào được cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 55% năm 1998 xuống còn dưới 20% năm 2005 (theo tiêu chí cũ)
Đời sống đồng bào được cải thiện, nhiều người thoát nghèo, là yếu tố quan trọng, góp phần giảm áp lực đến môi trường, sinh thái và nguồn lực tự nhiên Mặc dù đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số đã được cải thiện, nhưng vùng dân tộc và miền núi vẫn là vùng nghèo Nhiều tỉnh, huyện có tỷ lệ hộ nghèo lên tới trên 60%, (theo tiêu chí mới) Trong đó người nghèo chủ yếu là
đồng bào các dân tộc thiểu số Nghèo đói gây ra những áp lực rất lớn lên môi trường vùng dân tộc và miền núi
Các hoạt động thương mại dịch vụ và du lịch góp phần gia tăng tốc độ tàn phá môi trường : Việc phát triển thương mại, dịch vụ đã làm gia tăng nhu cầu đối với các tài nguyên sinh vật (động, thực vật vật hoang dã, gỗ và các sản phẩm từ gỗ) Theo thống kê của Cục Kiểm lâm (2005), vào năm 2003 cả nước có trên 2000 nhà hàng đặc sản bán các món ăn chế biến từ động vật hoang dã, trung bình mối ngày tiêu thụ 3kg động vật hoang dã (1080kg/năm), cả nước tiêu dùng đến 2000 tấn động vật hoang dã làm thực phẩm/năm; 10-20 tấn làm thuốc và 5-10 tấn làm sinh vật cảnh
Hoạt động du lịch không được quy hoạch, không được quản lý sẽ gây tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học như hủy hoại tài nguyên sinh vật vì
sự tò mò, vì thị hiếu, gây ô nhiễm môi trường
Nhìn chung: nền kinh tế vùng dân tộc và miền núi tuy mới phát triển, nhưng ở nhiều nơi các cơ sở công nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nông nghiệp vẫn phụ thuộc vào tự nhiên, dựa vào khai thác, phát triển
Trang 33tự phát, manh mún Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng còn diễn biến phức tạp Tình trạng canh tác trên đất dốc còn phổ biến gây xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất Chất lượng và độ che phủ rừng thấp, dẫn đến cạn kiệt nguồn sinh thủy, gây thiếu nước sản xuất, nước sinh hoạt ở vùng cao Mất rừng, môi trường suy thoái góp phần làm trầm trọng thêm các sự cố môi trường ở miền núi như: trượt lở, xói mòn, lũ lụt, lũ quét, hạn hán Nhiều vấn
đề bức xúc về môi trường phát sinh chưa được giải quyết, đang tác động đến sản xuất và đời sống đồng bào, ảnh hưởng đến phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi
Đô thị hóa gia tăng làm suy thoái và phát sinh các vấn đề về môi trường
đô thị : Trong khỏang 15 năm (1990-2004), dân số tăng hơn 8 triệu người,
cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, quá trình đô thị hóa tăng nhanh Năm 1990 nước ta có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến 2004 cả nước có 682
đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 22 thành phố thuộc tỉnh, 61 thị xã và 595 thị trấn Việc mở rộng không gian đô thị sẽ dẫn đến làm giảm diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thay đổi cơ cấu sử dụng đất, làm suy giảm đa dạng sinh học Diện tích cây xanh bị thu hẹp, diện tích mặt nước giảm
Phát triển đô thị nhanh trong khí đó hạ tầng kỹ thuật đô thị không phát triển tương xứng làm gia tăng các vấn đề về rác thải, môi trường, thay đổi các hệ sinh thái, làm giảm sức sống và khả năng sinh sản của nhiều loài sinh vật Nhưng lại hình thành nhiều loài sinh vật có hại, nhiều loại vi trùng, ký sinh trùng gây bệnh cho người, cho gia súc và cây trồng Các vấn đề về môi trường đô thị như : vấn đề xử lý chôn lấp rác thải sinh hoạt, rác thải bệnh viện, vấn đề cung cấp nước sinh hoạt và nước thải, đô thị, chưa được xử lý gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống đồng bào
Gia tăng dân số, đói nghèo, di dân tạo ra áp lực với môi trường: Trong
15 năm (1990-2004), dân số nước ta tăng thêm 16 triệu người từ 66,0167 triệu (1990) lên 82,069 triệu (2004), bình quân mỗi năm tăng 1 triệu người, tạo ra mật độ dân số cao Mỗi km2 diện tích đất tự nhiên phải tạo đủ sản phẩm để sống 240 người; tính riêng đất nông nghiệp phải nuôi 860 người Một số tỉnh miền núi có mật độ dân số tăng nhanh, tỉnh Kon Tum tăng từ 32,7 người/km2 (2000) lên 37,1người/km2(2003), Lai Châu tăng từ 34,7
Trang 34miền núi kéo theo diện tích rằng bị chặt phá tăng, đa dạng sinh học giảm Qua kết quả trả lời của người dân cảm nhận về ảnh hưởng của dân số đến môi trường cho thấy: 99,0% ý kiến được hỏi cho là tình trạng gia tăng dân số
ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng cuộc sống, 67,0% ý kiến được hỏi cho là mật độ dân số ở địa phương là cao Trong số các địa phương dự án
điều tra lấy ý kiến người dân, thì chỉ có tỉnh Đác Lăk ngừơi dân cho là mật
độ dân số ở địa phương còn thấp: với 85,0% ý kiến cho là mật độ dân số ở
địa phương còn thấp
Di dân đã và đang tác động đến tài nguyên đa dạng sinh học: Quá trình
di dân có tổ chức đã làm cho dân số các tỉnh Tây Nguyên Tăng nhanh, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên được đẩy mạnh, nhiều cánh rừng bị chặt phá
để chuyển thành vườn cà phê, cao su, chè; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó di dân tự do lại càng gây nên những tác động mạnh mẽ ở một số vùng, những tác động này mang tính hủy diệt Trong 8 năm 1995-2003, tỉnh Kon Tum tăng thêm 87.000người bằng 23,9% dân số toàn tỉnh; tỉnh Gia Lai tăng thêm 224.500người bằng 20,87% dân số tòan tỉnh, tẳng Đắc Lắc tăng thêm 619.000người bằng 30,7% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lâm Đồng tăng thêm 263.800người bằng 23,55% dân số tòan tỉnh
4 Thực hiện chính sách dân tộc và vấn đề môi trường
Thời gian qua Đảng và Chính phủ đã ban hành và triển khai nhiều chính sách dân tộc, trong phạm vi của dự án xin nêu một số chính sách quan trọng
do Uỷ ban Dân tộc quản lý và có liên quan đến bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi như sau:
Chính sách giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở theo quyết định 134/2004/QĐ-TTg: Đây là chính sách quan trọng liên quan trực tiếp đến môi trường sống của đồng bào như cải thiện điều kiện nhà ở, cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh Theo báo cáo của Uỷ ban Dân tộc và tổng hợp tình hình thực hiện của 46/51 tỉnh vùng dân tộc và miền núi, kết quả đạt được đến tháng 6/2006, như sau:
Trang 35Nhà ở là mục tiêu ưu tiên của nhiều địa phương, tỷ lệ hoàn thành cao nhất ở miền núi phía Bắc là 82%, tiếp theo sau là Tây Nguyên 78%, thấp nhất là Đông Nam Bộ 39% Một số tỉnh đã cơ bản hoàn thành kế hoạch hỗ trợ như: Thừa Thiên Huế, Đắc Nông, Vĩnh Long, Phú Yên, Hà Tây
Qua kiểm tra cho thấy qui mô và chất lượng nhà ở tương đối chắc chắn, phù hợp điều kiện đời sống thực tế tại địa phương, đảm bảo 3 cứng: khung, mái và nền, một số nơi là phần bao Diện tích mỗi căn nhà tối thiểu từ 20m2trở lên (nhà xây ở Ninh Thuận), 35 m2 (nhà tôn, vách lá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long), hoặc 45 m2 (nhà sàn ở miền núi phía Bắc)
Việc giải quyết đất sản xuất, đất ở mới được thực hiện chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, với tỷ lệ hoàn thành dự kiến: về đất sản xuất là 49% số hộ, 40% về diện tích; về đất ở là 59% số hộ
Công trình nước tập trung đã xây dựng ở một số tỉnh: Điện Biên, Quảng Nam, Lâm Đồng, Cao Bằng, Bình Thuận, Thái Nguyên Về nước sinh hoạt phân tán các tỉnh làm tốt là Phú Yên, Lai Châu v.v
Riêng các tỉnh Tây Nguyên, thực hiện quyết định 132/2002/QĐ-TTg ngày 8/10/2001, quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, các tỉnh đã thực hiện được 68,1% (2005) so với nhu cầu diện tích đất sản xuất, đất ở; 5,3 vạn hộ dân có đất sản xuất, đất ở đạt 56% nhu cầu; 2,66 vạn hộ dân được giải quyết nhà ở đạt 55% nhu cầu
Quyết định 134 là một chính sách đúng đắn, thể hiện sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước đối với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số và là chính sách đầu tư trực tiếp tới hộ nghèo Với sự quan tâm chỉ đạo thực hiện của các cấp từ Trung ương tới địa phương, qua gần 2 năm thực hiện Quyết định 134,
đời sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đã được cải thiện từng bước, nhất là về điều kiện nhà ở và nước sinh hoạt, một số nơi cả đất ở và đất sản xuất Thực hiện chính sách 134 chúng ta đạt được nhiều mục tiêu : vừa cải thiện cuộc sống, xóa đói nghèo, giảm áp lực đến môi trường ; vừa cải thiện trực tiếp môi trường sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo
Trang 36Bảng 3: Tình hình thực hiện QĐ 132; QĐ 134 tại các tỉnh Tây Nguyên đến hết 2005
Diện tích (ha)
500 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 28 tỉnh trong chương trình đã đạt tỷ
lệ 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm, tỷ lệ đường giao thông cơ giới đến trung tâm xã đạt 97,42%, tăng 62,42% so với trước năm 1998 Với 2.250 công trình thuỷ lợi được xây dựng mới và sửa chữa nâng cấp đã tăng năng lực tưới cho hơn 40.000 ha đất canh tác cùng với gần 1.000 ha được khai hoang đã giúp đồng bào có đất canh tác, trồng cấy các loại cây công, nông nghiệp, cây ăn quả, tăng sản lượng lương thực hàng hoá Trước đây, chỉ
có 20% số xã thuộc phạm vi Chương trình có điện lưới quốc gia, sau 7 năm
Trang 37thực hiện đã có 84% số xã có điện và khoảng 64% số hộ trên địa bàn được dùng điện, nhiều tỉnh đã có 100% số xã có điện lưới quốc gia ; có thêm 1.050 công trình nước sạch, hàng ngàn hộ dân đã có nước sạch để dùng ; có thêm 2.552 công trình trường học và lớp học được đưa vào sử dụng, xoá bỏ phần lớn các trường tạm, lớp tạm, tạo điều kiện huy động hầu hết trẻ em trong độ tuổi ở các xã ĐBKK đến trường, góp phần tích cực hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học ở các xã vùng sâu, vùng xa Theo báo cáo các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận, Thừa Thiên Huế đã
có tốc độ tăng trưởng nhanh về KT- XH Các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lao Cai, Phú Thọ, Bắc Giang, Nghệ An, Trà Vinh, Sóc Trăng, các tỉnh Tây Nguyên là những tỉnh khó khăn điểm xuất thấp cũng đã có sự thay đổi, tiến
được các địa phương tích cực thực hiện góp phần quan trong ổn định đời sống và phát triển sản xuất của đồng bào Chương trình 135 đã làm giảm nhanh số hộ nghèo, cải thiện rõ rệt cuộc sống của đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, góp phần giảm áp lực đến môi trường vùng dân tộc và miền núi
Chương trình Định canh - Định cư: Năm 1968, Nghị định 38/CP của Chính phủ về xây dựng và thực hiện Chương trình Định canh - Định cư, gắn với hợp tác hóa đã ra đời Sau thời gian thực hiện, công tác Định canh - Định cư đạt được một số kết quả quan trọng, đến năm 1990 Bộ Lâm nghiệp đã tiến hành tổng kết, đề xuất trở thành một chương trình mục tiêu, có các dự án thành phần và được đầu tư số lượng kinh phí khá lớn Mục tiêu của Chương
Trang 38tộc; thay đổi lối canh tác truyền thống: Phát, đốt, chọc, tỉa, săn bắn, hái lượm
là chính chuyển sang phương thức canh tác mới thâm canh, ổn định, không
đốt phá rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học vùng dân tộc
và miền núi, đặc biệt là ở những vùng núi nghèo khó, xa xôi hẻo lánh
Chính sách hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: Chính sách này trực tiếp hỗ trợ đời sống, sản xuất cho các hộ dân tộc đặc biệt khó khăn, nghèo nhất trên địa bàn các xã vùng sâu, vùng xa, nhằm ổn định cuộc sống của đồng bào Hàng năm ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng hơn
30 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ sản xuất 500.000-1000.000đ/hộ/năm; hỗ trợ đời sống từ 300-500.000đ/hộ/năm Nhờ đó các hộ ổn định cuộc sống, có cơ hội vươn lên thoát nghèo, giảm áp lực lên môi trường sinh thái vùng dân tộc và miền núi
Chính sách trợ giá trợ cước: Mỗi năm ngân sách nhà nước cấp gần 300
tỷ đồng với mục đích trợ giá, trợ cước và hỗ trợ bao tiêu một số sản phẩm quan trọng như giống cây trồng, phân bón, muối I ốt, dầu hỏa thắp sáng…Nhờ đó đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa được cung ứng hàng thiết yếu với giá cả ổn định, góp phần ổn định đời sống và thúc đẩy sản xuất cho đồng bào
Chính sách giáo dục: Những năm qua nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách giáo dục miền núi như: tăng cường cơ sở vật chất trường học; miễn giảm học phí và hỗ trợ sách giáo khoa, giấy vở cho học sinh hộ nghèo, thực hiện chính sách cử tuyển, thành lập hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú, Nhờ đó con em các dân tộc được đến trường, toàn vùng cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở Công tác giáo dục, đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong những năm qua, đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sinh thái
Chính sách Văn hóa: Đã thực hiện nhiều chính sách bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số Các làn điệu dân ca, điệu múa, hát
ru được giữ gìn, tổ chức biểu diễn truyền bá trong cộng đồng Văn hoá cồng chiêng của Tây Nguyên được bảo tồn, tôn vinh, trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Bên cạnh việc giữ gìn bản sắc, tinh hoa văn hoá các dân tộc, Nhà nước ta có nhiều chính sách làm giàu vốn văn hóa các dân tộc
Trang 39thiểu số, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá, đưa văn hoá mới đến đồng bào qua các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí và các đội thông tin lưu
động
Phong trào vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
được phát động và thu được nhiều kết quả tốt, nhiều tập tục lạc hậu liên quan
đến môi trường sống đã được xóa bỏ; các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc được quan tâm, thúc đẩy góp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc; ngày hội văn hóa các dân tộc được tổ chức hàng năm, góp phần tôn vinh, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Các thiết chế văn hóa được củng cố và xây dựng, đã có hàng trăm nhà văn hóa cộng đồng được hình thành ở các thôn, bản Nhiều giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc trong bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên sinh thái
được tôn trọng và phát huy Nhờ thực hiện các chính sách văn hoá, làng văn hoá, đã vận động loại bỏ dần các hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến môi trường sống của đồng bào
Chính sách Y tế: Những năm qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách chăm lo sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số Hầu hết các bệnh dịch
có liên quan đến môi trường sống của đồng bào các dân tộc như: sốt sét, bướu cổ, lao, dịch hạch, phong… đã được kiểm soát, đẩy lùi Sức khoẻ của
đồng bào, nhất là bà mẹ, trẻ em được chăm sóc ngày càng tốt hơn Nạn suy dinh dưỡng, hữu sinh vô dưỡng đã được khống chế Hệ thống những chính sách phúc lợi xã hội vì con người đã và đang góp phần cải thiện giống nòi, thể lực của thế hệ trẻ con em đồng bào thiểu số nước ta Các tỉnh Tây Nguyên đã có 100% số xã có cán bộ y tế hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân, mạng lưới y tế thôn bản được phát triển nhanh chóng, cán bộ y tế thôn
được trợ cấp 80.000đ/tháng Trang thiết bị y tế được tăng cường và cấp đủ các loại thuốc thiết yếu theo quy định Mạng lứơi y tế được mở rộng, 100%
số huyện có trạm y tế, hầu hết trẻ em dân tộc thiểu số được tiêm chủng mở rộng; sức khỏe đồng bào được quan tâm chăm sóc và ngày càng được cải thiện
Thực hiện các chính sách dân tộc có những tác động tích cực đối với môi trường vùng dân tộc và miền núi là: đã nâng cao được độ che phủ của rừng, giảm xói mòn; xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống đồng bào, giảm
Trang 40các dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu; xây dựng các lò hoả táng hợp vệ sinh (vùng đồng bào Khmer), cải thiện môi trường nhà ở; cải thiện vệ sinh môi trường nông thôn
Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chính sách dân tộc, nhất là các dự
án, nhiều địa phương chưa chú ý đỳng mức đến yếu tố môi trường: Qui hoạch dân cư và xây dựng các cơ sở hạ tầng chưa căn cứ vào các yếu tố môi trường tự nhiên; thiếu các giải pháp phòng tránh sự cố môi trường (trượt lở
đất, động đất phóng xạ, ); xây dựng các công trình nhà ở, cấp nước chưa chú ý đến thoát nước, các công trình vệ sinh, nhà tắm,