Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu tìm ra biện pháp xử lý thích hợp nhất đối với nguồn nước bị ô nhiễm kim loại nặng chì xuống mức đạt tiêu chuẩn cho phép để có thể dùng làm nước sinh hoạ
Trang 1Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Hội Khoa học Đất Việt Nam
Báo cáo tổng kết Đề tài Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp công nghệ để
xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng (chì - Pb) dùng làm nước sinh hoạt cho đồn biên phòng tại x∙ Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang
Cơ quan chủ trì: Hội Khoa học Đất Việt Nam Chủ trì đề tài: PGS.TS Lê Đức
6685
05/12/2007
Hà Nội – 2007
Trang 2Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Hội Khoa học Đất Việt Nam
Báo cáo tổng kết Đề tài
Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp công nghệ
để xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng (chì - Pb) dùng làm nước sinh hoạt cho
đồn biên phòng tại x∙ Bản Máy, huyện
Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
Cơ quan chủ trì: Hội Khoa học Đất Việt Nam Chủ trì đề tài: PGS.TS Lê Đức
Hà Nội, 2007
Trang 3Mở đầu
1 Đặt vấn đề
Xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang là một xã nghèo, nằm sát biên giới Việt Trung Nhân dân và Bộ đội biên phòng nơi đây bị nghi là ô nhiễm chì do sử dụng nguồn nước từ suối Đỏ, có thể bị ô nhiễm vì đầu nguồn, nơi có mỏ chì hoặc có thể do Xí nghiệp Khai thác kim loại nặng phía trên thải ra
Vì vậy, việc nghiên cứu xác định có hay không có việc sử dụng nguồn nước đã bị ô nhiễm chì tại xã Bản Máy được đặt ra, nếu có thì cần nghiên cứu và lựa chọn các giải pháp xử lý nước bị ô nhiễm chì làm nước tưới cho nông nghiệp tại xã Bản Máy huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang với mục tiêu là nghiên cứu tìm ra các biện pháp xử lý thích hợp nhất đối với nguồn nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng (chì) để có thể làm nước tưới cho nông nghiệp đạt tiêu chuẩn cho phép Đồng thời hạn chế ảnh hưởng của kim loại nặng (chì) tới môi trường đất, nước và sức khoẻ của người dân trong khu vực góp phần tăng cường an ninh biên giới
Qua các kết quả điều tra khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu, đề tài nhận thấy nguồn nước sử dụng tại địa phương chủ yếu là nước mương và nước ngầm từ núi chảy
ra Nguồn nước suối Đỏ không được sử dụng vào mục đích nào (kể cả làm nước tưới
cho nông nghiệp) Do đó, ban đầu đề tài được đặt ra là "Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp công nghệ để xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng (chì - Pb) làm nước tưới cho nông nghiệp tại x∙ Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang", sau đó đề tài đã
báo cáo với Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và đề nghị đổi tên đề
tài thành "Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp công nghệ để xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng (chì - Pb) dùng làm nước sinh hoạt cho đồn biên phòng x∙ Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang" nhằm mục đích đưa ra các giải pháp xử lý ô
nhiễm kim loại nặng trong nước sinh hoạt cho người dân trong xã Bản Máy và các chiến sĩ biên phòng góp phần ổn định xã hội vùng biên giới
2 Thông tin chung về đề tài
2.1 Tên đề tài: Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp công nghệ để xử lý nước bị ô
nhiễm kim loại nặng (chì - Pb) dùng làm nước sinh hoạt cho đồn biên phòng xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
2.2 Cơ quan chủ quản: Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
2.3 Cơ quan chủ trì : Hội Khoa học Đất Việt Nam
2.4 Thời gian thực hiện : 2005-2007
2.5 Quyết định phê duyệt đề cương: Quyết định số 616/QĐ-LHH ngày 25 tháng
05 năm 2005 của Đoàn chủ tịch Hội đồng trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam về phê duyệt thuyết minh nội dung và tổng dự toán đề tài nghiên cứu KH&CN năm 2005
Trang 42.6 Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS Lê Đức
2.7 Thư ký đề tài : ThS Trần Thiện Cường
2.8 Cơ quan tham gia:
- Khoa Môi trường, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
- Trung tâm Công nghệ Môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học
- Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc gia
- Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang
- UBND huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
- UBND xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
- Đồn biên phòng xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
2.9 Các cá nhân chính tham gia thực hiện đề tài:
1 PGS.TS Lê Đức - Chủ trì đề tài
2 ThS Trần Thiện Cường - Thư ký đề tài
3 TS Lê Văn Thiện - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
4 ThS Nguyễn Quốc Việt - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
5 PGS.TS Lê Thái Bạt - Hội Khoa học Đất Việt Nam
6 TSKH Nguyễn Xuân Hải - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
7 CN Nguyễn Thế Phương - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang
8 CN Trần Anh Quân - Trường Đại học Mỏ địa chất, Hà Nội
9 CN Cao Phương Ly - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
Cùng một số cán bộ khác của Hội Khoa học Đất Việt Nam, Cán bộ Bộ môn Thổ nhưỡng-Môi trường đất, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN và một số cán bộ địa phương khác
2.10 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu tìm ra biện pháp xử lý thích hợp nhất đối với nguồn nước bị ô nhiễm kim loại nặng (chì) xuống mức đạt tiêu chuẩn cho phép để có thể dùng làm nước sinh hoạt cho các bộ chiến sĩ Đồn biên phòng xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, đồng thời góp phần làm ổn định tâm lý cho cán bộ chiến sĩ đồn biên phòng nhằm gìn giữ và bảo vệ vùng biên giới Tổ Quốc
- Dự án được thực hiện sẽ tạo cơ sở Khoa học trong việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp hữu hiệu để xử lý nước bị ô nhiễm kim loại nặng nói chung và ô nhiễm chì nói riêng
2.11 Nội dung nghiên cứu của đề tài
a Nội dung cụ thể
- Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng chất lượng một số nguồn nước khu vực nghiên cứu như nước suối Đỏ, nước sinh hoạt và nước canh tác nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm chì ở nguồn nước
Trang 5- Tác động của nước tưới bị ô nhiễm đến sức khoẻ cộng đồng, chất lượng đất, chất lượng nước khu vực
- Xây dựng giải pháp công nghệ để xử lý có hiệu quả nguồn nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ đồn biên phòng xã Bản Máy
- Giải pháp tổng hợp để xử lý nước ô nhiễm: Kết hợp các biện pháp xử lý sinh học, hoá học, hoá lý học
Trong quá trình thực hiện các giải pháp được đưa ra, đề tài luôn chú ý tới các nguồn nguyên liệu có sẵn tại địa phương như cao lanh, lau, sậy,
c Biện pháp thực hiện
- Điều tra khảo sát hiện trường
- Thu thập mẫu đất, nước và phân tích đánh giá
- Bố trí thí nghiệm xử lý nước ô nhiễm theo các giải pháp đã nêu
- Đề xuất giải pháp xử lý nước ô nhiễm chì thích hợp nhất tại địa bàn nghiên cứu
2.12 Kinh phí:
Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 230 triệu đồng, trong đó:
- Năm 2005: 150.000.000 đồng
- Năm 2006: 80.000.000 đồng
Kinh phí hàng năm được duyệt theo các nội dung mà Liên hiệp Các Hội Khoa học
và Kỹ thuật đã giao cho đề tài Đề tài đã thực hiện tốt các quy định về tài chính của Nhà nước và tuân thủ nguyên tắc chi theo kế hoạch dự trù kinh phí được duyệt từng năm và đã quyết toán theo từng đợt
Trang 6Chương 1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
I Điều kiện tự nhiên, kinh tế và x∙ hội tỉnh Hà Giang
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc có toạ độ địa lý từ 22010' đến 23030' vĩ độ Bắc và104020' đến 105034' kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, có
đỉnh Lũng Cú là điểm cực bắc của đất nước
- Phía Bắc giáp Trung Quốc có chiều dài đường biên giới 274 Km
- Phía Nam giáp Tỉnh Tuyên Quang
- Phía Đông giáp Tỉnh Cao Bằng
- Phía Tây giáp Tỉnh Lào Cai và Yên Bái
1.1.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Căn cứ vào đặc điểm địa hình của Hà Giang chia làm 3 vùng rõ rệt
Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 Huyện (Quản Bạ, Yên Minh, Đồng
Văn và Mèo Vạc) Vùng này chủ yếu là núi đá, địa hình dốc và chia cắt mạnh, thung lũng hẹp có nhiều hang, hiện tượng Caster rất phổ biến, khả năng giữ nước kém, đại bộ phận là trầm tích đá vôi và đất pha trầm tích Dòng chảy bề mặt về mùa khô ít và lưu lượng nhỏ
Vùng II: Là vùng cao núi đất phía Tây, gồm 2 Huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần
ở đây đá mẹ chủ yếu là đá Granít, lớp đất phủ là Feralit có màu vàng đỏ đến vàng nhạt, vàng xám, và một phần đất mùn Alit trên núi Vùng này chủ yếu là núi đất, sườn núi dốc bị chia cắt mạnh bởi các khe suối Ngoài các dãy núi cao còn có các thung lũng nhỏ hẹp tạo thành những cánh đồng từ 5 -10 ha, chủ yếu là ruộng bậc thang,
Vùng III: Là vùng thấp núi đất gồm 4 huyện và một thị xã (Vị Xuyên, Bắc Mê,
Bắc Quang, Quang Bình và Thị xã Hà Giang) ở đây đá mẹ chủ yếu là Sa diệp thạch, lớp đất phủ là Feralit màu vàng đỏ đến vàng nâu, vàng xám Độ dày tầng đất từ 0,8m
đến hơn 2,0m Địa hình chủ yếu là vùng thấp núi đất dốc, thoai thoải, tạo thành cánh
đồng khá rộng có diện tích từ 50 ha trở lên Các cánh đồng có địa hình phức tạp nên gây khó khăn cho việc xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi
Đất trên toàn tỉnh Hà Giang phân loại theo thổ nhưỡng gồm 17 loại đất khác nhau Nhóm đất có diện tích lớn nhất là đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá mẹ Granit 319.246 ha chiếm 40,5% tổng diện tích Nhóm đất thứ hai là đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét và đá biến chất 171.152 ha chiếm 21,7% Nhìn chung, Hà Giang
có rất nhiều các loại đất khác nhau, đặc trưng cho các loại đất phân bố trên địa hình miền núi cao
Trang 71.1.3 Thời tiết, khí hậu
- Nhiệt độ: Đặc điểm địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện khí hậu của tỉnh
Hà Giang Tại Hà Giang có 04 trạm quan trắc khí tượng, trong năm 2004 nhiệt độ
không khí trung bình tại trạm Hà Giang là 22,8oC, Trạm Bắc Quang là 22,7oC, trạm
Bắc Mê là 22,2oC và trạm Hoàng Su Phì là 20,9oC Nhiệt độ cao nhất trong năm đo
được tại Bắc Mê là 39,7oC vào tháng 7 và thấp nhất là 4,7oC tháng 12 (Tại vùng cao
núi đá nhiệt độ trung bình và nhiệt độ thấp nhất còn thấp hơn Chênh lệch nhiệt độ giữa
ngày và đêm khoảng 8oC Giữa mùa đông và mùa hè khoảng 15- 20oC Về mùa đông
có lúc nhiệt độ xuống dưới 5oC, kèm theo sương muối và mây mù, vùng cao núi đá có
băng giá và tuyết
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình thường đạt hơn 80% Năm 2004 qua số liệu
quan trắc cho thấy độ ẩm trung bình tại trạm Hà Giang là 84%, tại trạm Bắc Quang là
87%, tại trạm Bắc Mê là 84% và tại trạm Hoàng Su Phì là 80,7%
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm của Hà Giang tại các trạm quan trắc
trung bình trong khoảng từ 1.600 đến 5.000 mm (Số liệu tổng hợp trung bình nhiều
năm) Năm 2004 lượng mưa giảm hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm Tổng
lượng mưa tại trạm Hà Giang là 2.393 mm, trạm Bắc Quang là 3.448 mm, trạm Bắc Mê
là 1.164 mm và trạm Hoàng Su Phì là 1.521 mm Trong đó mùa mưa từ tháng (4 -10)
hàng năm Theo thống kê của cục khí tượng thuỷ văn thì khu vực Bắc Quang được
mệnh danh là rốn mưa của miền Bắc có năm lượng mưa lớn hơn 6000 mm Các đợt
mưa lớn thường tạo nên lũ và các dòng chảy bề mặt tạm thời gây xói lở lớp phủ thổ
nhưỡng
- Gió: Hướng gió chính của Hà Giang là hướng Đông Nam với vận tốc trung bình
là 1-5 m/s Do vị trí trí nằm sâu trong lục địa nên Hà Giang chủ yếu chịu ảnh hưởng
gió lốc địa hình, ít bị ảnh hưởng của các đợt bão trong năm
Điều kiện vi khí hậu của Hà Giang mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa và á nhiệt
đới Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh có diễn biến bất
thường, Hạn hán xảy ra nhiều vùng thường xuyên hơn và mùa khô kéo dài hơn gây
nhiều ảnh hưởng xấu đến đời sống sản xuất của nhân dân Các đợt mưa tập trung và có
cường độ lớn và kèm theo gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra làm xuất hiện các đợt
lũ ống, lũ quét ngày càng nhiều hơn gây nhiều thiệt hại lớn về sản xuất, người và tài
Trang 8d Sức khoẻ cộng đồng
* Tình hình khám chữa bệnh
Số lượt người khám chữa bệnh tại các cơ sở Y tế năm 2004
- Cả tỉnh: 772.580 (Lượt), Số lượt người điều trị nội trú: 55.499 (lượt)
- Đô thị: 23.779 (Lượt), Số lượt người điều trị nội trú: 41.155 (lượt)
- Nông thôn: 558.801 (Lượt), Số lượt người điều trị nội trú: 14.344 (lượt)
* Một số loại bệnh chính thường gặp
Tỷ lệ mắc một số bệnh chính trong tổng dân số (%):
1.2.3 Chương trình xoá đói giảm nghèo
Để giải quyết những bức xúc đòi hỏi của chương trình xoá đói giảm nghèo của Hà Giang, tỉnh đã thống nhất lãnh đạo và ban hành một số cơ chế chính sách, giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo bằng nhiều biện pháp cụ thể như: Thông qua những chính sách hỗ trợ lãi xuất ngân hàng khuyến khích nhân dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi Tỉnh hỗ trợ lãi xuất ngân hàng khuyến khích các hộ nghèo tham gia đầu tư các loại cây con đặc sản của địa phương như: Chè, cây ăn quả có múi, cây dược liệu, nuôi trâu, bò, dê hàng hoá Trên cơ sở mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm tỉnh Hà Giang đã cụ thể hoá thành nội dung chương trình xoá đói giảm nghèo trên
địa bàn toàn tỉnh phù hợp với đặc điểm và điều kiện thực tế của địa phương Các dự án, chương trình xoá đói, giảm nghèo được xây dựng và triển khai thực hiện khá hiệu quả
Trang 9Năm 2002 có 29.233 hộ nghèo đến năm 2004 đã giảm xuống chỉ còn 15.182 hộ Trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản không còn tình trạng đói kéo dài trong năm và có 17.383
hộ thoát nghèo đói Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 25,7% xuống còn 12% vào cuối năm 2004,
tỷ lệ hộ khá, giầu tăng từ 8,3% lệ 20,7% Hộ tái nghèo là 3.333 hộ chủ yếu là do thiên tai gây nên
1.2.4 Phát triển kinh tế
a Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Hà Giang
Sự phát triển GDP và bình quân thu nhập đầu người tỉnh Hà Giang trong 2 năm
Trong đó, cơ cấu GDP chia theo nhóm ngành và tốc độ tăng trưởng GDP được thể hiện ở bảng 2 và 3
b Tình hình phát triển công nghiệp/ Cụm công nghiệp
Công nghiệp Hà Giang phát triển còn phân tán và nhỏ lẻ Trong năm 2004 tỉnh Hà Giang không xây dựng cơ sở công nghiệp nào lớn, chủ yếu phát triển ngành công nghiệp điện năng và khai thác chế biến khoáng sản, như năng lượng (Thuỷ điện Thái An) và khai thác chế biến khoáng sản với quy mô nhỏ theo hình thức tận thu, các cơ sở
Trang 10sản xuất chế biến lâm sản với quy mô nhỏ Tỉnh mới quy hoạch và thành lập 01 khu kinh tế cửa khẩu và 01 cụm công nghiệp ở phía nam của tỉnh
Bảng 4 Quy mô các cụm công nghiệp tỉnh Hà Giang
TT
Tên khu cụm
công nghiệp Vị trí
Năm thành lập
Diện tích Ngành sản xuất
1
Khu kinh tế cửa
khẩu Thanh thuỷ
c Mục tiêu tăng trưởng kinh tế đến 2010
1) Giá trị SXCN (giá CĐ): 1.000 tỷ đồng; nhịp độ tăng trưởng bình quân thời kỳ
2006 - 2010: là 26,2%
2) Giá trị SXCN (giá thực tế): 1.200 tỷ đồng
3) Cơ cấu CN - XD trong GDP: 37,5 %
4) Tốc độ tăng trưởng CN - XD trong GDP: 22%
II Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙ hội Huyện Hoàng Su Phì
2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Hoàng Su Phì
2.1.1 Vị trí địa lý
Hoàng Su Phì là một huyện biên giới nằm ở phía tây của tỉnh Hà Giang, cách thị xã
Hà Giang 110Km Có toạ độ địa lý 22026'30" đến 22051'07" vĩ độ Bắc; 104031'12" đến
4 xã giáp với Trung Quốc
Với những đặc điểm như trên, Hoàng Su Phì có những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội như:
Là huyện thuộc tiểu vùng II (vùng cao núi đất), mặc dù có những điều kiện để phát triển sản xuất và sinh hoạt khó khăn hơn các huyện thuộc tiểu vùng III (vùng thấp), nhưng lại thuận lợi hơn nhiều so với các huyện thuộc tiểu vùng I (vùng cao núi đá) của tỉnh Hà Giang
Trang 11Trên địa bàn huyện có tỉnh lộ 117, chạy qua huyện Xín Mần và huyện Bắc Quang xuống quốc lộ 2, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
- Là một huyện miền núi Hoàng Su Phì có tiềm năng phong phú và đa dạng về tài nguyên, đất đai, có nguồn lao động dồi dào của nhân dân các dân tộc với những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời
Bên cạnh những thuận lợi trên thì Hoàng Su Phì vẫn còn một số hạn chế như:
- Điều kiện địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng còn thấp, phần lớn dân số là đồng bào dân tội ít người, có trình độ dân trí không cao là một thách thức lớn đối với địa phương cho việc phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, trong xu hướng hoà nhập nền kinh tế của huyện nói riêng và của tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nước và trong khu vực
- Diện tích đất trống đồi núi trọc lớn, thêm vào đó hiện tượng phá rừng làm nương rẫy, hiện tượng du canh của một số đồng bào dân tộc ít người vùng cao vẫn còn tồn tại
đã và đang làm đất đai bị suy thoái (xói mòn, rửa trôi ), phá vỡ môi trường sinh thái,
ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất lâm - nông nghiệp
2.1.2 Địa hình, đá mẹ và mẫu chất
a Địa hình
Hoàng Su Phì có địa hình tương đối phức tạp thường bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao và trung bình (Có độ cao từ 600 - 2400m), theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và thấp dần theo hướng của dòng chảy (Sông Chảy và sông Bạc) Về cơ bản có thể chia ra
3 dạng địa hình chính:
+ Địa hình núi cao và trung bình: Có diện tích khoảng 60.000 ha (chiếm 75% tổng diện tích tự nhiên) Bao gồm hầu hết các xã của huyện, địa hình này được tạo bởi các dãy núi có độ cao trên 900m và có độ dốc trên 250, nhìn chung các dãy núi này đều chạy theo hai hướng: Một hướng bao gồm các dãy núi chạy dài theo đường địa giới tiếp giáp với các huyện và đường biên giới Quốc gia tạo thành một vòng cung lớn bao quanh huyện (từ xã Hồ Thầu tới xã Tả Sử Choóng) Trên dạng địa hình này chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng trồng, tạo thành khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn sông Chảy và cải thiện môi sinh cho vùng
+ Địa hình đồi núi thấp: Có diện tích khoảng 1.900 ha (chiếm 24% tổng diện tích
tự nhiên được tạo bởi các dãy đồi núi có độ cao dưới 900m Phân bố tập trung ở vùng giữa dọc theo sông Chảy và sông Nậm Khoà Dạng địa hình này thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp
+ Địa hình thung lũng hẹp: Có diện tích khoảng 1000 ha gồm các dải đất bằng thoải hoặc lượn sóng dọc theo các triền sông, khe suối thuận lợ cho việc trồng lúa nước
và hoa màu
Trang 12Tóm lại, Hoàng Su Phì là huyện có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và độ dốc lớn nên về mùa mưa khả năng tập trung dòng chảy rất nhanh và tốc độ dòng chảy lớn vì vậy việc trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất
và đời sống của nhân dân trong huyện
b Đá mẹ và mẫu chất
Hoàng Su Phì nằm trên khối Granít thượng nguồn sông Chảy lớn nhất và cổ nhất nước ta khối Granít này khó phong hoá nhưng lại có cấu tạo khoáng vật và mức độ biến chất khác nhau tạo nên mức độ phức tạp của mỗi loại đất hình thành từ cùng một loại đá mẹ Dưới đây là một vài đặc điểm của các loại đá mẹ và mẫu chất có ở huyện Hoàng Su Phì:
- Đá Granít: Là loại đá khó phong hoá nên đã tạo nên dạng địa hình bị chia cắt và phức tạp, khi phong hoá thường cho các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, lẫn nhiều sỏi sạn và nghèo dinh dưỡng
- Đá Gơnai: Phân bố chủ yếu ở các xã phía nam của huyện Đây là loại đá Granit bị biến chất nên dễ phong hoá hơn đá Granit, khi phong hoá cho đất có tầng dầy hơn, nhưng thành phần cơ giới vẫn nhẹ và còn lẫn nhiều sỏi sạn
- Sản phẩm bồi tụ phù sa: Được phân bố dải rác ở các khe suối nhỏ thuộc phía nam của huyện tạo ra dạng địa hình thung lũng hẹp, hình thành nên khóm đất phù sa ngòi suối
2.1.3 Khí hậu và thời tiết
Hoàng Su Phì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa, nhưng do nằm sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão trong mùa hè, gió mùa đông bắc trong mùa đông kém các nơi khác thuộc vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ Theo số liệu quan trắc trong nhiều năm của trạm khí tượng Hoàng Su Phì cho thấy những đặc trưng khí hậu cơ bản trên địa bàn huyện như sau: Thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
a Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm là 21,5 0C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 26,2 0C (tháng 7) Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 13,9 0C (tháng 1)
Nhiệt độ tối cao trung bình: 31,5 0C
Nhiệt độ tối thấp trung bình: 10,9 0C
Tổng tích ôn cả năm đạt khoảng: 7500-8000 0C
Càng lên các xã vùng cao của huyện thì nhiệt độ bình quân càng giảm
Nhìn chung yếu tố nhiệt độ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây ăn quả và cây công nghiệp có nguồn gốc á nhiệt đới
Trang 13b Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm là 1962 mm và phân bố không đều, tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9 (đạt 1344,2 mm chiếm 79,5% tổng lượng mưa cả năm) Tuy lượng mưa trung bình cả năm không lớn nhưng lại tập trung vào một số tháng nên thường gây lũ lụt, xói mòn, sạt lở đất đai ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống
Sương mù: Hàng năm xuất hiện khoảng 17,2 ngày
Sương muối và mưa đá chỉ xuất hiện đột xuất ít ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống
Nhìn chung các yếu tố khí hậu thời tiết ở Hoàng Su Phì khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp với một cơ cấu cây trồng đa dạng bao gồm cả cây nhiệt đới
và cây có nguồn gốc á nhiệt đới, tuy nhiên bên cạnh đó còn có những yếu tố bất lợi cần chú ý để phòng chống như: Lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô
2.1.4 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Dựa trên kết quả bản đồ thổ nhường huyện Hoàng Su Phì tỷ lệ 1/50.000 biên vẽ năm 1999 do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra xây dựng theo tiêu chuẩn phân loại định lượng của FAO-UNESCO Đất đai huyện Hoàng Su Phì được chia thành 3 nhóm (Major soil group), 6 đơn vị đất (Soil units), 17 đơn vị đất phụ (Sub - soil units) và được mô tả như sau:
* Nhóm đất phù sa (P)
Diện tích 227 ha, chiếm 0,28 % tổng diện tích tự nhiên Phân bố ven sông Chảy, suối Nậm Khoà và các con suối khác trong huyện Phản ứng của đất chua Hàm lượng mùn khá, đạm tổng số và kali tổng số ở mức khá Lân tổng số, kali và lân đễ tiêu ở mức nghèo Dung tích hấp thu của đất thay đổi từ 5-10 meq/100g đất Thành phần cơ giới
đất biến động phức tạp, thay đổi từ nhẹ đến trung bình và nặng Nhìn chung đây là nhóm đất có độ phì khá, diện tích nhỏ nhưng thích hợp với nhiều loại cây trồng ngắn ngày, đặc biệt là trồng lúa nước Vì vậy cần có biện pháp bảo vệ và cải tạo đất như: Bón phân hữu cơ, bón vôi cải tạo độ chua, thoát nước cho những vùng ngập úng
* Nhóm đất xám (X)
Có diện tích 7.7045,0 ha, chiếm 96,36% tổng diện tích tự nhiên của huyện Phân
bố ở tất cả các xã trong huyện Đất có phản ứng chua đến rất chua Thành phần cơ giới
Trang 14biến động từ nhẹ đến trung bình Hàm lượng mùn và đạm tổng số ở lớp đất mặt từ trung bình đến khá Lân, kali tổng số trung bình đến khá; Lân, kali dễ tiêu đều ở mức nghèo Dung tích hấp thu trong đất thường ở mức trung bình Đây là nhóm đất có có diện tích lớn thích hợp với nhiều loại cây trồng ngắn và dài ngày, nhưng lại có hạn chế
là có độ dốc lớn nên việc sử dụng chúng gặp rất nhiều khó khăn, khi khai thác sử dụng trong nông nghiệp cần gắn với các biện pháp chống xói mòn, rửa trôi bảo vệ đất
* Nhóm đất mùn Alit trên núi cao
Có diện tích 1316 ha chiếm 1,65% tổng diện tích tự nhiên của huyện Phân bố ở các xã Đản Ván, Tùng Sán, Phố Lồ và Thèn Chu Phìn, nhóm đất này nằm trên độ cao > 1.800m, địa hình bị chia cắt mạnh hơn so với nhóm đất xám Phản ứng của đất chua, mùn và đạm tổng số từ giàu đến rất giàu Lân, kali tổng số thấp Lân, kali dễ tiêu từ khá đến giàu Nhìn chung đây là nhóm đất có hàm lượng dinh dưỡng khá nhưng khả năng phong hoá yếu, tầng đất mỏng, độ dốc lớn, ít có khả năng phát triển nông nghiệp
- Hệ thống sông Bạc: Bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc xã Nậm Ty, chảy qua các xã Thông Nguyên, Nậm Khoà, Xuân Minh và đổ ra sông Con Hệ thống sông này lòng sông cũng có độ dốc lớn, nên việc sử dụng nguồn nước này cũng rất hạn chế
Ngoài hai hệ thống sông trên huyện Hoàng Su Phì còn có nhiều khe suối chủ yếu chỉ có nước vào mùa mưa và có khả năng khai thác nước tưới bổ xung cho vụ hè thu
Hệ thống sông suối của Hoàng Su Phì do địa hình phức tạp và lượng mưa phân bố không đều, thêm vào đó là tình trạng phá rừng làm dẫy trong nhiều năm qua đã làm cho độ che phủ bị suy giảm Vì vậy thường xảy ra tình trạng lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Hoàng Su Phì chỉ có thể khai thác nguồn nước cho sinh hoạt và tưới tiêu, không có khả năng giao thông vận tải
* Nguồn nước ngầm
Nhìn chung chưa có tài liệu nào thăm dò trữ lượng nước ngầm trên địa bàn huyện, nhưng theo các nghiên cứu cho thấy ở các huyện vùng núi cao mực nước ngầm rất sâu, trữ lượng thấp, rất khó khăn cho việc khai thác nguồn nước này để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 15c Tài nguyên rừng
Là một huyện miền núi Hoàng Su Phì có tài nguyên rừng khá lớn Tổng diện tích
đất rừng trên địa bàn huyện là 32.293,11 ha chiếm 40,39% tổng diện tích tự nhiên, trong đó:
Rừng tự nhiên là 25.559,64 ha chiếm 79,15% diện tích đất rừng hiện có Diện tích rừng phân bố không đều, rừng tập trung còn lại thuộc vùng núi cao, xa như ở xã Bản Máy, Túng Sán, Pờ Ly Ngài, Bản Luốc Tại đây vẫn còn các loài cây quý hiếm như:
Đinh, Trai Lý, Lát hoa, Nghiến ở các vùng thấp và gần đây do trải qua một quá trình tác động mạnh và liên tục của việc phát nương làm rẫy đã làm cho chất lượng rừng trở lên nghèo nàn, ở đây chỉ còn lại các loài như Trám, Sáng máu chó, De, Vạng, Sồi giẻ
và các loài cây ưu sáng, nhanh phục hồi sau nương rẫy
Rừng trồng là 6.732,97 ha chiếm 20,85% diện tích đất rừng hiện có, với các cây trồng: Thông ba lá, Sa Mộc
Đây là khu vực thượng nguồn sông Chảy nên rừng được đầu tư tu bổ và bảo vệ, việc khai thác lâm sản được kiểm soát chặt chẽ Trong năm 2001 trên địa bàn huyện nhân dân đã khai thác lượng tre, nứa, gỗ khá lớn tương đương với 100.000 tấn đũa tre
và 250m3 gỗ tận thu từ vườn rừng Với tầm quan trọng của rừng phòng hộ đầu nguồn như vậy nhưng trong những năm qua việc bảo vệ, trồng rừng chưa nhiều, phần vì do ý thức của người dân địa phương, phần vì thiếu kinh phí từ nguồn đầu tư của Nhà nước cho Lâm trường
d Tài nguyên khoáng sản
Cho đến nay việc khảo sát thăm dò địa chất trên đại bàn huyện chưa được nhiều, vì vậy nguồn tài nguyên khoáng sản về cơ bản vẫn chưa được phát hiện
Hiện nay một số nơi đã được nhân dân địa phương khai thác đá, cát, sỏi phục vụ cho nhu cầu xây dựng tại chỗ nhưng với số lượng không đáng kể Tại thị trấn Vinh Quang đã phát hiện ra suối nước khoáng có nhiệt độ nước khi chảy lên khỏi mặt đất khoảng 37-38 oC, lưu lượng tự nhiên khoảng 1,5 m3/h Trữ lượng và chất lượng của nước vẫn chưa được cơ quan chuyên môn xác định
e Tài nguyên nhân văn
Hoàng Su Phì có một nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn Với
10 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn huyện đã tạo nên một sự đa dạng về phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và lễ hội Ngay cả các ngành nghề truyền thống, tập quán sản xuất, kinh doanh của mỗi dân tộc cũng mang những sắc thái riêng Nhìn chung mọi người dân đều cần cù, chịu khó, ham học hỏi chính nhờ vậy mà dân trí ngày càng được nâng lên rõ rệt, thu dần khoảng cách với vùng xuôi
f Cảnh quan môi trường
Hoàng Su Phì là một huyện miền núi có cảnh quan môi trường đẹp với những khối núi cao Tây Côn Lĩnh, những cánh rừng tự nhiên phát triển trên địa hình có độ dốc lớn,
Trang 16chia cắt mạnh và cũng chính vì vậy mà môi trường đất và môi trường nước là những thành phần môi trường chịu sự tác động mạnh nhất bởi các hoạt động của con người
Đối với môi trường đất, do trình độ kỹ thuật thâm canh thấp, ý thức bảo vệ môi trường kém nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân đã làm cho đất bị suy thoái nghiêm trọng, mà chủ yếu là quá trình xói mòn, rửa trôi
Thêm vào đó do tập quán du canh, phá rừng làm nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số đã làm rừng suy giảm cả về diện tích lẫn chất lượng, kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học (có nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm cũng bị xâm hại, một số loài
đang bị đe doạ tuyệt chủng) Tuy nhiên trong những năm gần đây việc trồng rừng trên
địa bàn huyện được đẩy mạnh nhằm nâng cao độ che phủ rừng, ngăn ngừa các tác động tiêu cực đến môi trường Ngoài ra việc lớp phủ thực vật bị tàn phá đã góp phần tạo ra các hiện tượng tiêu cực như lũ ống, lũ quét, lũ bùn đá
Đối với môi trường nước, việc mất rừng gây nên sự suy thoái về chất lượng nước làm ô nhiễm nguồn nước mặt Dạng nhiễm bẩn phổ biến nhất là cát bùn và tăng độ đục của nước sông suối Việc sử dụng phân hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp hiện tại chưa có tác động lớn đến môi trường nước, tuy nhiên đó là một nguyên nhân tiềm ẩn tác động đến chất lượng nước mà chúng ta cần phải quan tâm
2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
a Lợi thế
Hoàng Su Phì là một huyện nằm ở phía tây của tỉnh Hà Giang có 4 xã giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa vì vậy trong bối cảnh các vấn đề kinh tế và phát triển ngày càng mang tính toàn cầu thì việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá và Khoa học kỹ thuật với nước bạn rất thuận lợi
Là một huyện miền núi Hoàng Su Phì có tiềm năng phong phú và đa dạng về tài nguyên, đất đai có nguồn lao động dồi dào của nhân dân các dân tộc với những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời
- Tiềm năng thuỷ điện nhỏ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt tại chỗ của huyện rất lớn do hệ thống sông, suối ở đây dày và dốc
Trang 17Do địa hình phức tạp, bị chia cắt nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như: Giao thông, thuỷ lợi gặp nhiều khó khăn
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế x∙ hội
2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển triển kinh tế chung của tỉnh và của cả nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện Uỷ, Uỷ ban Nhân dân Huyện, sự quan tâm
đầu tư của Nhà nước, sự giúp đỡ của các ngành và sự nỗ lực của nhân dân, nền kinh tế Hoàng Su Phì đã có nhiều chuyển biến tích cực
Trong 5 năm qua, nền kinh tế của Huyện liên tục đạt mức tăng trưởng khá, với nhịp
độ tăng trưởng hàng năm bình quân 13,0% Nền kinh tế chuyển dần từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá Tỷ trọng của các ngành kinh tế chuyển dịch
đúng hướng, năm 1996 ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 87,2% đến năm 2001 đã giảm xuống chỉ còn dưới 70% Năm 2001 tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 21.353 tấn (năm 1996 đạt 14.247 tấn) Bình quân thu nhập đầu người đạt 2,02 triệu
đồng (năm 1996 đạt 1,1 triệu đồng) Tình trạng phát nương làm rẫy giảm hẳn, người dân đã đầu tư thâm canh cây lương thực, trồng cây ăn quả tập trung cây công nghiệp dài ngày như: chè, sở , cây công nghiệp ngắn ngày như: Đỗ tương, lạc và các cây dược liệu như: thảo quả
Thu ngân sách trên địa bàn tăng từ 790 triệu đồng năm 1996 lên 2524 triệu đồng năm 2001
Đến năm 2001, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 16,7% (khoảng 1.532 hộ) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,77% năm 2000 xuống còn 1,7% năm
2001
Nhìn chung, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hoàng Su Phì đang đi đúng hướng song tốc độ diễn ra còn chậm Tỷ trọng của ngành nông - nghiệp vẫn còn cao, ngành công nghiệp dịch vụ lại chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu GDP Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu nhập bình quân đầu người của Hoàng Su Phì còn thấp và cũng là khó khăn và thách thức đối với chủ trương chuyển mạnh nền kinh
tế huyện Hoàng Su Phì sang cơ cấu nông lâm nghiệp - công nghiệp - dịch vụ hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn vào năm 2010
2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành
a Nông nghiệp
Trong 6 năm qua ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tích quan trọng cả về
bề rộng và chiều sâu Cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu giống và thời vụ đã chuyển hướng rõ rệt theo hướng sản xuất hàng hoá và đem lại hiệu quả kinh tế cao Các tiến bộ Khoa học kỹ thuật như: Cơ cấu giống, kỹ thuật gieo trồng, phân bón được áp dụng vào sản xuất ngày càng nhiều Trong nông thôn đã xuất hiện nhiều hộ gia đình làm kinh tế
Trang 18giỏi, hộ đói nghèo ngày càng giảm Bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt
* Về trồng trọt
Thông qua việc tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ứng dụng tiến bộ vào sản xuất, chú trọng công tác khuyến nông và đầu tư hỗ trợ cho nhân dân phát triển sản xuất nông nghiệp nên sản xuất lương thực của huyện tăng trưởng khá và
ổn định Năm 2001 diện tích lúa cả năm 3.997,3 ha, năng suất bình quân 42,1 tạ/ha; diện tích ngô cả năm 2.362 ha, năng suất bình quân 17,1 tạ/ha Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1996 là 15.273 tấn thì năm 2001 là 21.353 tấn, tăng 40% Bình quân lương thực đầu người đạt 370kg/người/năm
Các loại cây công nghiệp và cây ăn quả cho sản phẩm hàng hoá được chú trọng phát triển nên diện tích tăng nhanh, đã tạo thành các tiểu vùng sản xuất hàng hoá tập trung Tính đến nay diện tích chè trồng mới là 320 ha, nâng diện tích chè toàn huyện lên 3.018,7 ha chè cho sản phẩm hàng hoá Cây đậu tương mỗi năm trồng mới được từ
120 ha đến 140 ha đưa diện tích đậu tượng năm 2001 là 1.949 ha Cây lạc 135,7 ha Cây thảo quả 95 ha
* Về chăn nuôi
Trong những năm qua tăng trưởng khá ổn định và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Trong các hộ nhân dân, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh mỗi năm, so với năm 1996: Tổng đàn trâu, bò đạt 27.754 con tăng 41,1% Đàn lợn 43.800 con, tăng 53,4 % Ngoài ra đàn ngựa, dê, gia cầm cũng tăng lên một cách đáng kể Nhiều tiến
bộ Khoa học kỹ thuật được áp dụng vào chăn nuôi như: Giống, thức ăn công nghiệp, tiêm phòng
Nhìn chung ngành nông nghiệp của Hoàng Su Phì đã có sự tăng trưởng mạnh và tương đối ổn định theo hướng sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm Bước đầu đã tạo ra được một số sản phẩm mũi nhọn như (chè, đậu tương ) chiếm được uy tín trên thị trường Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm qua
Mặc dù ngành nông nghiệp bước đầu đã được áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật (kỹ thuật canh tác trên đất rốc, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, chế biến ) nhưng chưa được sâu, rộng và đồng bộ nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh của ngành còn thấp
b Lâm nghiệp
Nhờ tổ chức tốt công tác giao đất, giao rừng đến nay 100% diện tích rừng và đất rừng đã có chủ quản lý Đi đôi với giao đất, giao rừng, công tác tuyên truyền phổ biến thực hiện bảo vệ và phát triển rừng cũng được chú trọng Các lâm trường quốc doanh
và các hộ gia đình đã, đang tiến hành trồng, Khoanh nuôi bảo vệ rừng bằng vốn tự có, vốn đầu tư của các chương trình dự án như: Định canh, định cư, 661, dự án lâm nghiệp, trang trại nhưng tốc độ vẫn còn chậm, phần vì do kinh tế của địa phương còn khó khăn, phần vì do sự đầu tư của nhà nước còn hạn chế Đến nay toàn huyện có 6.732,97
Trang 19ha rừng trồng, 25.559,64 ha rừng tự nhiên được bảo vệ tốt Từ những kết quả đó đưa độ che phủ của rừng từ 28,5% năm 1996 lên 40,39% năm 2001
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác trồng mới, chăm sóc và Khoanh nuôi bảo vệ rừng, nhưng rải rác vẫn còn tình trạng phá rừng làm nương rẫy ở các xã vùng sâu, vùng xa ở các vùng giáp ranh và diện tích đất trống đồi núi trọc vẫn còn khá lớn Tổng diện tích đất trống đồi núi trọc có thể đưa vào trồng mới và Khoanh nuôi tái sinh rừng trong những năm tới là 30.935,46 ha, chiếm 38,69% diện tích tự nhiên và 98,10% diện tích đất chưa sử dụng
c Ngành công nghiệp - xây dựng
Trong những năm qua công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện cũng đã từng bước phát triển, nhưng còn ở trình độ thấp, không tập trung, công nghệ lạc hậu, chủ yếu vẫn là khai thác vật liệu xây dựng, dịch vụ, xay sát chế biến lương thực, chế biến chè, sản xuất công cụ cầm tay Gần đây phong trào làm thuỷ điện nhỏ trong dân phát triển mạnh với hơn 3.327 máy thuỷ điện cực nhỏ đã góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, 14 xã đã có điện lưới quốc gia
Về xây dựng kết cấu hạ tầng: Trong những năm qua đã được sự quan tâm đầu tư của nhà nước cùng với sự nỗ lực đóng góp công sức của nhân dân nên công tác xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng được tăng cường 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã Năm 2001, hàng loạt các tuyến đường ô tô và đường dân sinh đã và đang được
mở với tổng chiều dài lên tới 314,6 km, cũng trong thời gian này: 17 công trình trường học, 3 trung tâm cụm xã, 3 điểm bưu điện văn hoá xã, 120 bể nước sinh hoạt và công trình nước sạch , đã được xây dựng với số vốn lên tới hàng chục tỉ đồng Đến nay cơ bản các công trình đã đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả
Ngoài ra, thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ về đầu tư xây dựng, nâng cấp huyện lỵ Hoàng Su Phì tại thị trấn Vinh Quang từ năm 1998, đến nay nhiều công trình xây dựng
đã và đang được triển khai trong đó một số đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng
d Thương mại dịch vụ
Trong những năm qua thương nghiệp quốc doanh cùng với nhiều thành phần kinh
tế khác trong và ngoài địa bàn đã tham gia lưu thông hàng hoá đến tận vùng sâu vùng
xa của huyện Do có nhiều chính sách, cơ chế thông thoáng nên các thành phần kinh tế trên địa bàn đã từng bước phát triển góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế và
được củng cố và phát triển tạo điều kiện cho nhân dân trao đổi hàng hoá góp phần thúc
đẩy kinh tế phát triển
Trang 20e Giáo dục đào tạo
Từ những điều kiện khó khăn chung của một huyện miền núi nhưng với tinh thần khắc phục khó khăn của cán bộ, giáo viên ngành giáo dục, được sự quan tâm chỉ đạo của các ngành các cấp, sự nghiệp giáo dục đào tạo huyện Hoàng Su Phì đã không ngừng được củng cố và phát triển tương đối toàn diện từ giáo dục mầm non đến các bậc học phổ thông, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, tổ chức tốt công tác
đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
Năm học 2000-2001, các cấp học đã được duy trì, đảm bảo tốt sỹ số giáo viên và học sinh Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất, thiết bị dạy
và học không ngừng được củng cố Tỷ lệ huy động trẻ em đi học (6-14 tuổi) đạt 94,8%,
tỷ lệ học sinh chuyển lớp 90%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 98%, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm suống còn dưới 1%, 27/27 xã và toàn huyện đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về xoá mù chữ phổ cập giáo dục tiểu học
Tuy nhiên công tác giáo dục đào tạo trong những năm qua cũng còn một số vấn đề cần quan tâm đó là: Chất lượng dạy và học của các nhà trường chưa đồng đều, đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng nhất là giáo viên cấp II, cấp III, giáo viên nhạc hoạ, ngoại ngữ ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người thì các cơ
sở vật chất như phòng làm việc, phòng học, nhà lưu trú giáo viên còn tạm bợ, chủ yếu
là tranh, tre, nứa lá ở nhiều đơn vị các thiết bị dạy và học hầu như không có dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay là không tránh khỏi
f Y tế - Dân số KHHGĐ
Theo báo cáo của trung tâm y tế huyện đến năm 2001 toàn huyện hiện có 1 trung tâm y tế, 2 phòng khám khu vực, tất cả các xã đều có trạm y tế với gần 100 giường bệnh
Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân trong những năm qua được chú trọng quan tâm và ngày càng tạo được lòng tin đối với người dân Mạng lưới y tế cơ sở
được củng cố và tăng cường, bước đầu đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Các chương trình y tế quốc gia (tiêm chủng, uống vitamin A ) được thực hiện tốt và có hiệu quả Công tác chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em được tăng cường Đội ngũ thầy thuốc được nâng cao cả về trình độ chuyên môn và tinh thần thái độ phục vụ người bệnh
Công tác lãnh đạo, tuyên truyền thực hiện chương trình dân số - KHHGĐ đạt kết quả tốt Ban chỉ đạo chương trình từ huyện đến cơ sở hoạt động tích cực, có hiệu quả, góp phần hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,36% năm 1996 xuống còn 1,7% năm 2001 Trong 5 năm qua, công tác y tế, dân số KHHGĐ cũng còn những mặt tồn tại cần khắc phục, đó là trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng chữa bệnh cho nhân dân còn thiếu nhất là tuyến cơ sở Chương trình xây dựng các công trình vệ sinh ở nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm chưa thường xuyên
Trang 21g Thông tin - Văn hoá - TDTT - Truyền hình, truyền thanh
Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, đời sống vật chất của nhân dân được nâng lên, hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT, thông tin, truyền thanh truyền hình cũng có bước phát triển khá Duy trì và giữ vững được phong trào đưa thông tin về cơ sở bằng nhiều hình thức phù hợp với thực tiễn, nội dung phong phú, đa dạng hơn nhằm phục vụ tốt nhu cầu về văn hoá, tinh thần của nhân dân như: Phát tờ rơi, tuyên truyền trong ngày chợ, thông tin lưu động và cũng nhờ đó mà các đường lối, chủ trương chính sách của
Đảng, Pháp luật nhà nước đã đến được mọi người dân và có những tác động tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giữ gìn an ninh, trật tự và bản sắc văn hoá dân tộc
Đến nay trên địa bàn huyện đã xây dựng được 109 làng văn hoá (trong đó có 9 làng
đạt chuẩn cấp tỉnh) với 2950 hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, hàng năm
tổ chức thành công ngày hội văn hoá thể thao các dân tộc toàn huyện Phong trào thể thao từng bước phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động góp phần nâng cao sức khoẻ trong nhân dân
Tuy nhiên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, truyền thanh truyền hình trong những năm qua còn có những hạn chế nhất định Đó là chức năng quản lý nhà nước chưa được chú ý đúng mức, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hoá thể thao còn nghèo nàn, sân bãi, dụng cụ chưa đáp ứng được nhu cầu, diện tích đất dành cho thể thao chưa có Các hoạt động chưa thực sự phát triển sâu rộng trong nhân dân, cuộc vận động thực hiện nếp sống văn hoá ở khu dân cư chuyển biến chậm, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn, công tác tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước đến người dân còn hạn chế
đảm bảo chất lượng Tuy nhiên diện tích đất dành cho an ninh quốc phòng hiện vẫn còn thiếu, đặc biệt là thao trường chiến thuật huấn luyện dân quân tự vệ và dự bị động viên của các xã nên chất lượng huấn luyện chưa cao
Trang 22Tỉnh lộ 177 là tuyến giao thông huyết mạch của huyện nối liền trung tâm huyện lỵ với huyện Xín Mần và huyện Bắc Quang Tổng chiều dài là 59km, đã được rải nhựa và
hệ thống thoát nước tương đối hoàn chỉnh
Đường liên xã và vùng kinh tế có 15 tuyến với tổng chiều dài 171,2km Hầu hết các tuyến đường trên là đường đất, mặt đường hẹp, chất lượng đường xấu, các công trình thoát nước hầu như chưa có nên năng lực vận tải thấp và thường gây ách tắc vào mùa mưa
Đường liên thôn bản với tổng số 837,5km, chủ yếu là đường đất, đường mòn với chiều rộng bình quân 2-2,5m, có nơi chỉ rộng 1-1,5m Hệ thống thoát nước hầu như chưa có hoặc nếu có chỉ mang tính chất tạm thời nên việc đi lại và vận chuyển nông sản phẩm gặp nhiều khó khăn
Năm 1995 diện tích đất giao thông của huyện là 102,4 ha tăng lên 320,98 ha vào năm 2001, bình quân mỗi năm tăng 36,43 ha Tuy có tăng hàng năm nhưng tỷ lệ này còn rất thấp với bình quân chung toàn tỉnh Chính vì vậy mà trong những năm tới để
đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thì huyện sẽ phải tăng cường đầu tư mở rộng, nâng cấp và làm mơí thêm một số tuyến giao thông nên diện tích đất giao thông
từ nay đến 2010 sẽ tăng
* Thuỷ lợi
Thuỷ lợi là ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nhiệp, đặc biệt là sự bố trí cơ cấu cây trồng trên đất canh tác nhưng do diều kiện địa hình phức tạp, các sông suối lớn có lòng sông hẹp và dốc, các khe suối nhỏ phần lớn chỉ có nước vào mùa mưa nên việc đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn, kiên cố là rất tốn kém, hiệu quả kinh
tế thấp
Việc đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi hầu như chỉ tập trung vào các công trình nhỏ, tạm thời và năng lực tưới thấp, đến nay toàn huyện có 751 công trình rải đều trong các xã (Trong đó có 109 công trình do nhà nước đầu tư) với năng lực tưới cho
286 vụ đông xuân và tưới bổ xung 2200 ha vụ mùa, chưa đáp ứng được nhu cầu tưới cho diện tích màu và cây công nghiệp Phần lớn các công trình đang bị xuống cấp và hiệu xuất sử dụng chưa cao Để đáp ứng nhu cầu tăng vụ và mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp cần tập trung sửa chữa nâng cấp các công trình hiện có, kết hợp xây dựng thêm một số công trình mới Do đó cần có sự đầu tư rất lớn của Trung ương, tỉnh và nỗ lực của cán bộ, nhân dân trong huyện
* Điện
Hiện mạng lưới điện Quốc gia đã và đang được xây dựng trên địa bàn huyện, đến nay lưới điện quốc gia đã được kéo đến 14 xã là: Chiến Phố, Pờ Ly Ngài, Sán Sả Hồ, Nàng Đôn, Ngàn Đăng Vài, Bản Luốc, Thông Nguyên, Nậm Ty, Tụ Nhân, Tân Tiến, Vinh Quang, Tiên Nguyên, Xuân Minh Ngoài ra còn có 2 trạm thuỷ điện nhỏ tại Hồ Thầu (công suất 200KW), 1 trạm Diezen (công suất 70 KVA) và 3327 máy thuỷ điện cực nhỏ (công suất mỗi máy từ 200 - 500 W)
Trang 23Để chuyển đổi cơ cấu dân số đô thị và nông thôn phù hợp với chương trình phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm chuyển đổi một phần lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Việc bố trí
đất đai cho các điểm dân cư này cần phải được chú trọng xem xét hợp lý, tạo điều kiện phát triển dân cư đô thị mà vẫn đảm bảo được đất đai cho sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
2.2.4 Dân số, lao động và mức sống dân cư
a Đặc điểm chung
Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Hoàng Su Phì, đến cuối năm 2001 dân số toàn huyện là 58.186 người, bao gồm 11 dân tộc, đông nhất là dân tộc Nùng 19.847 người chiếm 34% và ít nhất là dân tộc Mường chỉ có 2 người Toàn vùng có 27.189 lao động trong độ tuổi, trong đó có khoảng trên 90% là lao động nông nghiệp Chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội Tuy đã được công nhận là phổ cập giáo dục và xoá mù chữ nhưng trên thực
tế số người mù chữ và có nguy cơ tái mù chữ trong và trên độ tuổi lao động còn khá cao Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên là 1,7% Sự gia tăng nhanh về dân số đã góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện như tăng cường nguồn nhân lực Song cũng do dân
số tăng nhanh lại thiếu được đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng nên đời sống của nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, hơn nữa dân số tăng nhanh
đã làm cho nhu cầu về đất ở, đất canh tác cây lương thực thực phẩm tăng theo tạo nên sức ép rất mạnh lên tài nguyên đất
Mật độ dân số toàn huyện 71,56 người/km2, phân bố không đồng đều
Dân số chủ yếu tập trung ở trung tâm huyện lỵ (442 người/km2), và một số xã: Ngàn Đăng vài (159 người/km2), Tân Tiến (170 người/km2), Bản Phùng (128 người/km2) , ở các xã khác mật độ này thưa hơn nhiều: Xuân Minh (30 người/km2), Tiên Nguyên (35,5 người/km2), Hồ Thầu (34 người/km2)
b Dân số và đất ở
Nhìn chung đất ở của huyện Hoàng Su Phì bình quân đầu người thuộc loại thấp so với toàn quốc Bình quân đất ở toàn huyện là 62,78 m2/người (toàn quốc 95 m2/người)
Trang 24trong đó đất ở nông thôn là 62,78 m/người và đất ở đô thị là 63 m /người (tiêu chuẩn
đất ở đô thị loại III - IV là 35 m2/người)
Hồ thầu là xã có bình quân đất ở nông thôn cao nhất 415,97 m2/hộ và thấp nhất là xã Thông Nguyên 223,94 m2/hộ, các xã còn lại có mức bình quân chung khoảng 360
m2/hộ
c Dân số với đất nông nghiệp và đất chuyên dùng
Diện tích đất nông nghiệp của huyện bình quân đầu người là 2.642 m2, cao hơn so với bình quân chung toàn tỉnh (bình quân toàn tỉnh là 2.225 m2/người) nhưng phân bố không đều giữa các xã trong huyện Những xã có bình quân đất nông nghiệp cao là Nậm Ty 4.605,53 m2, Hồ Thầu 4.750,53 m2, Tả Sử Choóng 4.150,5 m2
Diện tích đất chuyên dùng bình quân đầu người toàn huyện là 61,7 m2, thấp hơn so với bình quân chung toàn tỉnh (94 m2) Các xã có bình quân đất chuyên dùng cao là Nậm Ty 132,79 m2, Bản Luốc 17,99 m2 Nếu xét về tỷ lệ diện tích chuyên dùng trên diện tích tự nhiên thì cao nhất là thị trấn Vinh Quang 4,94% và thấp nhất là Tiên Nguyên 0,07%
tự cấp, tự túc
e Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế x∙ hội gây áp lực đối với đất đai
Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian qua đã có những bước tiến đáng kể Tốc độ phát triển kinh tế giai đoạn năm 1996-2001 đạt 13%/ năm Trong cơ cấu kinh tế tuy Nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng tỷ trọng ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ cũng vẫn tăng dần Sản xuất nông nghiệp
đang chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá, giảm dần diện tích cây lương thực hiệu quả thấp và thay thế bằng cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có hiệu quả cao hơn Tuy nhiên so với lợi thế và tiềm năng của huyện thì nhịp độ phát triển kinh tế chưa cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chưa đồng bộ, tiềm năng đất nông- lâm nghiệp còn lớn Dân số tăng dẫn đến bình quân diện tích đất trên đầu người giảm, trong khi đó nhu cầu đất đai cho phát triển các ngành ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu đất đai cho đô thị hoá và xây dựng cơ sở hạ tầng.Tất cả những vấn đề trên đã gây
áp lực lớn đối với quỹ đất đai và tình hình sử dụng đất trong huyện Do đó, nghiên cứu khai thác sử dụng quỹ đất một cách hợp lý và có hiệu quả là mục tiêu chiến lược của
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hoàng Su Phì
Trang 25III Điều kiện, tự nhiện, kinh tế x∙ hội x∙ Bản Máy
3.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Xã Bản Máy nằm ở phí Tây Bắc của huyện Hoàng Su Phì, ở độ cao 956m
+ Phía Bắc giáp với Trung Quốc
+ Phía Tây giáp huyện Xí Mần
+ Phía Đông và Phía Nam giáp xã Thàng Tín
3.2 Điều kiện x∙ hội
Toàn xã có 4 thôn bản với diện tích tự nhiêm toàn xã là 3005 ha trong đó đất Nông nghiệp là 320,20 ha, đất lâm nghiệp là 1201,40 ha, Đất chuyên dụng là 11,50 ha, đất ở
là 11,50 ha, Đất chưa sử dụng là 1460,40 ha
Với dân số năm 2005 là 2304 người (324 hộ) Toàn xã có 26 hộ khá, 248 hộ trung bình và 47 hộ nghèo Trong xã có 5 dân tộc gồm: La chí, Phù Lá, Tầy, Nùng và Mông Cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu là nông, lâm nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của xã chưa hình thành và phát triển Trong cơ cấu nông nghiệp chủ yếu là cây lúa và cây ngô, những năm gần đây xã đã đẩy mạnh phát triển cây đậu tương năm 2005 xã có kế hoạch trồng 100 ha cây đậu tương Diện tích lúa là 120ha cho năng suất 4-5 tạ/vụ Diện tích ngô toàn xã năm 2005 là khoảng 80 ha với năng suất ước đạt 21 tạ/ ha Chăn nuôi chủ yếu là đại gia súc: năm 2005 có khoảng 595 con trâu, 297 con bò, 249 con ngựa, 718 con dê, ngoài ra còn có 997 con lợn và 7.698 gia cầm các loại
Năm 2005, xã chú trọng công tác chăm sóc 130 ha rừng trồng, bảo vệ diện tích rừng đầu nguồn và rừng của các hộ được giao khoán nên diện tích rừng liên tục tăng trong những năm qua
Toàn xã có 15,4km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc Tại địa bàn xã hiện
có 1 Đồn biên phòng đóng quân
Trang 26Chương 2
Tổng quan về ô nhiễm kim loại nặng
I Tổng quan về kim loại nặng và ô nhiễm chì
Kim loại nặng (KLN) là những kim loại trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev trừ các kim loại nhóm I và nhóm II, đó là các kim loại có tỉ khối lớn hơn 5 Hiện có trên 70 nguyên tố KLN trong đó Hg, Cu, Pb, Cr, Ni, Mo, Zn, Sn, V, Co, Cd, As, Fe, Mn, thường xuyên xuất hiện trong môi trường với hàm lượng lớn Những KLN có tính độc cao rất nguy hiểm gồm: As, Hg, Cd, Pb, Se, Ni; các kim loại có độ nguy hiểm trung bình - B, Co, Zn, Mo, Cu, Cr, Sb; các nguyên tố nguy hiểm thấp - Ba, V, Mn, Sn,
Fe Có 8 nguyên tố KLN cơ bản được coi là những nguyên tố vi lượng cho sinh vật như
Cu, Cr, Mo, Mn, Co, Sn, V, Ni Trong thực tế, một số KLN nếu ở hàm lượng thích hợp rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, động vật và con người Tuy nhiên, nếu hàm lượng các KLN trên cao vượt giới hạn cho phép thì chúng sẽ trở nên độc hại Hàm lượng của các kim loại vi lượng trong cơ thể sinh vật dao động từ 1mg Co đến 100mg Cu
Ô nhiễm môi trường do sự độc hại của KLN đang là vấn đề toàn cầu Nguyên nhân chủ yếu do KLN là chất độc bền vững khó bị phân giải sinh học, được tích luỹ trong cơ thể sinh vật theo chuỗi thức ăn, từ đó ảnh hưởng xấu đến động vật và sức khoẻ con người
Hầu hết các kim loại nặng như Pb, Hg, Cd, As, Cu, Zn, Fe, Cr, Mn, Se, Mo, tồn tại trong nước ở dạng ion Chúng phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu
là từ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, chất thải sinh hoạt và các hoạt
động nông nghiệp Nguồn ô nhiễm KLN từ các hoạt động công nghiệp là hết sức phong phú: công nghiệp hoá chất, khai khoáng, gia công và chế biến kim loại, công nghiệp pin và ắc quy, công nghiệp thuộc da
Một trong các KLN có độc tính cao là chì Chì tồn tại ở 2 dạng ion hoá trị +2 và +4 Muối chì có hoá trị hai (+2) là hay gặp nhất và có độ bền cao nhất Chì lan truyền trong hệ sinh thái chủ yếu do nguồn nước ô nhiễm Công nghiệp sản xuất chì hàng năm thải ra môi trường 330.000 tấn Pb2+ Sự phát tán chì do con người gây ra trên 450.000 tấn/năm, 61% trong số đó là do sự đốt cháy nhiên liệu động cơ Theo ước tính trung bình cứ sản xuất ra 1 tấn chì thì sẽ có khoảng 25 kg vào môi trường Với sản lượng khai thác chì hiện nay trên thế giới là 2 triệu tấn/năm thì chỉ riêng ngành khai khoáng chì mỗi năm đã có khoảng 50 nghìn tấn đưa vào môi trường Chì xâm nhập vào đất thông qua khí quyển theo nước mưa và bụi Chì có trong nước thải các xí nghiệp sản xuất pin, ắc quy, luyện kim, hoá dầu, công nghiệp mỏ, than đá, trong xăng pha chì, hệ thống dẫn
Một trong những tác động xấu đến môi trường đất và nước là do ảnh hưởng của các hoạt động làng nghề thủ công sử dụng các KLN Theo kết quả nghiên cứu của bộ môn Thổ nhưỡng - Môi trường đất, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Trang 27(ĐHQGHN) tại làng nghề tái chế chì ở xã Chỉ Đạo, Mỹ Văn, Hưng Yên cho thấy hàm lượng chì trong bùn ao và đất trồng lúa rất cao, vượt nhiều lần so với giới hạn cho phép (bảng 5) Giới hạn cho phép chì trong đất là 100mg/kg đất
Bảng 5 Hàm lượng chì trong bùn và trong đất tại xã Chỉ Đạo (Hưng Yên)
1
2
3
4
Mẫu bùn trong ao chứa nước thải phá ắc quy
Mẫu đất trồng lúa gần nơi nấu chì
Mẫu đất giữa cánh đồng
Mẫu đất gần làng
2166,0 387,6 125,4 2911,4 Cũng theo nguồn trên, việc nấu tái chế chì không chỉ gây ô nhiễm môi trường đất
mà còn gây ô nhiễm nặng nguồn nước khu vực (bảng 6)
Bảng 6 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước ở xã Chỉ Đạo, Mỹ Văn, Hưng Yên
6,70
0,0810,835,130,140,074,450,000,00
1,18
0,0078 0,0780 0,0120 0,0018 0,0019 0,0750 0,0000 0,0000
207 (22,60%); 208 (53,34%) khá phong phú trong tự nhiên, nhưng các đồng vị này chiếm tỷ lệ khác nhau trong các loại khoáng vật
Các mức ôxi hoá đặc trưng của chì là: +2 và +4 Các hợp chất với mức oxi hoá +2 của chì bền và nhiều hơn Trong môi trường, chì tồn tại chủ yếu dưới dạng ion Pb2+trong các hợp chất vô cơ và hữu cơ
Trang 28Hàm lượng chì trong vỏ Trái Đất là 10-20mg/kg, độ trương nước bề mặt khoảng 0,02àg/l
Chì có ái lực mạnh với S và trong tự nhiên hình thành các loại quặng chì PbS, PbCO3, PbSO4 Quặng quan trọng nhất để khai thác chì là Galen (PbS), trong quá trình nung PbS sẽ chuyển thành PbO:
PbS + O2 → PbO + SO2Chì (II) oxit thu được đem nấu luyện trong hỗn hợp than cốc, kết quả điều chế được chì thô có chứa nhiều tạp chất của các kim loại khác Muốn được sản phẩm chì nguyên chất thì phải tinh chế tiếp
Trong không khí chì nhanh chóng được lớp ôxi mỏng bảo vệ khỏi bị ôxi hoá tiếp,
do đó chì có khả năng chống lại sự ăn mòn cao
Chì phản ứng với axit H2SO4 đặc nóng tạo thành muối tan Pb(HSO4)2, dễ tan trong axit HNO3 loãng, dễ tan trong axit axetic có chứa oxi hoà tan Chì cũng tan trong kiềm dư, sự hoà tan xảy ra mạnh hơn trong dung dịch kiềm nóng tạo thành hydroxoplombit
Ví dụ:
6Pb + 4KOH + 2H2O = K4[Pb(OH)]6 + H2 Các hợp chất của chì chủ yếu là ôxit chì (II) và chì (II) hydroxit Chì ôxit (PbO) là chất bột màu vàng được tạo thành khi nung nóng bột chì trong không khí ở 5000C PbO dùng trong ắc quy và được dùng trong sản xuất một vài loại thuỷ tinh, các hợp chất khác của chì chủ yếu được điều chế từ PbO Chì hydroxit [Pb(OH)2] có tính chất lưỡng tính, khi tan trong axit tạo thành muối Pb2+, tác dụng với kiềm tạo thành hydroxoplombit
Chì có tính mềm, dễ cán mỏng, dễ cắt và dễ định hình Chính vì vậy mà chì được dùng nhiều trong công nghiệp và cuộc sống ngay từ thời xưa Trong công nghiệp, chì
được dùng làm sơn công nghiệp, ắc quy chì trong xe hơi, làm nguyên liệu trong luyện kim chì, làm chất xúc tác trong sản xuất polyme Những hợp chất hữu cơ chì (IV), đặc biệt là tetra-alkyl và tetra-aryl chì được sử dụng rộng rãi và gây nguy hại cho sinh vật
và môi trường, nhất là chì pha trong xăng
III Trạng thái của chì trong tự nhiên và trong môi trường
Chì là một nguyên tố vi lượng (<0,1% khối lượng) trong đá và đất tự nhiên Bán kính ion Pb là 124 pm và nó thay thế đồng hình K (bán kính 133 pm) trong mạng lưới alumosilicat Hàm lượng chì trong đất, đá tăng tự nhiên do hoạt động của núi lửa tạo thành đá núi lửa Hàm lượng trung bình của chì đá vỏ cứng khoảng 16àg/g Nriagi (1992) tính được rằng, hàm lượng chì trung bình trong đá gabbro là 1,9àgPb/g, trong andesit là 8,3àgPb/g và trong granit là 22,7àgPb/g Như vậy, hàm lượng chì tăng cùng với hàm lượng silicat trong đá
Như đã biết thành phần chủ yếu của đá trầm tích là diệp thạch và đá sét kết (khoảng 80%), trong đó hàm lượng chì trung bình là 23 àg/g Diệp thạch đen chứa
Trang 29nhiều chất hữu cơ và có hàm lượng chì cao do chứa khoáng sunfit Sa thạch chiếm 15%
đá trầm tích và chứa 10 àg/g Trong khi đó đá dolomit và đá vôi (5% trầm tích) chứa khoảng 7 àg/g Hàm lượng chì trong đá mẹ quyết định hàm lượng chì trong đất tự nhiên và hàm lượng chì trong đất tự nhiên vào khoảng 10 - 40 àg/g
Chì phát thải từ các nguồn ô nhiễm có xu hướng tích luỹ một cách tự nhiên trong lớp đất mặt Colbourn và Thornton sử dụng tỷ lệ về hàm lượng chì trong lớp đất mặt (0
- 15 cm) so với lớp đất dưới (30 - 45 cm) (RTE) như một minh chứng về sự ô nhiễm chì trên bề mặt đất Trong đất nông nghiệp thường đất bị ô nhiễm chì thấp, khi đó RTE là khoảng 1,2 tới 2,0, còn trong đất có ảnh hưởng của khai mỏ hoặc luyện kim quặng chì, giá trị RTE khoảng 4,0 đến 20,0 Thêm vào đó, chì từ các nguồn ô nhiễm khi đưa vào
đất nó có khuynh hướng cố định trong lớp đất bề mặt Theo Ganze hầu hết các KLN, bao gồm cả chì, tồn tại ở dạng không tan và bền sau khi dùng phân hữu cơ từ bùn cống bón vào đất Không có sự di chuyển của chì ra khỏi vùng được bón phân và nước bề mặt cũng không bị ô nhiễm Zimdahl và Skogerboe (1994) cho rằng, tỷ lệ hữu cơ trong
đất có vai trò chính trong việc cố định chì trong lớp đất mặt khi có chì thêm vào đất từ nguồn ô nhiễm Theo các kết quả điều tra của Scohart (1992), ở gần nhà máy luyện kẽm Bengian cho thấy, sự cố định chì trong lớp đất mặt không phụ thuộc vào loại đất Biện pháp ngâm chiết cũng không làm giảm đáng kể hàm lượng chì trong đất
Trong đất chì tồn tại trong dung dịch đất, trên bề mặt hấp phụ trao đổi của keo đất, dạng kết tủa, liên kết với Fe - Mn oxit thứ cấp, dạng kiềm cacbonat và trong mạng tinh thể aluminosilicat Tuy nhiên, phần quan trọng nhất là chì trong dung dịch đất, bởi vì
đây là nguồn chì cho thực vật hấp thụ và cân bằng động học có thể xảy ra giữa dung dịch đất và các thể khác của đất, chì ở dạng này có ảnh hưởng trực tiếp lên hệ sinh thái
đất Nồng độ chì trung bình trong dung dịch đất không bị ô nhiễm khoảng 10-9 đến 10-7
M Hàm lượng chì trong dung dịch chỉ vào khoảng 0,005% chì tổng số trong đất (Kabata - Pendias) Davies (1995) cũng chỉ ra rằng, hàm lượng chì trong đất không ô nhiễm khoảng 40 àg/g và trong dung dịch là 0,2x10-6 M Tuy nhiên, trong đất ô nhiễm, nồng độ chì trong dung dịch đất cao hơn nhiều và tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm Kết quả nghiên cứu của Gregson và Alloway (1994) ở bảng 7 cho thấy, khi hàm lượng chì trong đất cao hơn khoảng 100-1000 lần hàm lượng bình thường (40 àg/g) thì nồng độ chì trong dung dịch đất (khoảng 10-6 đến 10-4 M) cao hơn khoảng 1000 đến 100000 nồng độ trong đất bình thường
Bảng 7 Hàm lượng chì trong đất và trong dung dịch đất
Tổng lượng chì (àg/g đất) Chì trong dung dịch đất
(àmol/l dung dịch đất)
(Nguồn: Environmental Ecology, 1994 - Gregson và Alloway)
Trang 30Nghiên cứu của Zimdahl và Skogerboe (1996) về sự cố định chì thêm vào đất cho thấy, cần khoảng thời gian từ 24 - 48 giờ để ion chì có thể xâm nhập vào các phần đất và trong khoảng 20 - 400C thì nhiệt độ không ảnh hưởng đến các cân bằng xảy ra Nghiên cứu bằng phương pháp thống kê cho thấy, hai đặc tính của đất là pH và CEC có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình cố định chì trong đất Những đặc điểm hấp thụ được mô tả khá chính xác bằng đường đẳng nhiệt Langmuir Theo Harter (1995) thì sự thay đổi pH của đất
là sự điều khiển quan trọng đối với sự cố định chì trong đất và các số liệu thực nghiệm của
ông rất phù hợp với đường đẳng nhiệt Langmuir Cơ chế cố định chì trong đất mùn là sự liên kết của chì bằng cặp electron tự do với các axit mùn cao phân tử, được Hildebrand và Blum (1997) đưa ra Các dạng tồn tại chủ yếu của chì trong đất không vôi là Pb(OH)2,
Pb3(PO4)2, Pb5(PO4)3OH Trong đất đá vôi chì chủ yếu tồn tại ở dạng PbCO3, phức trung hoà và các dạng cation chì Trong đất axit, chì chủ yếu ở dạng phức hữu cơ Trong đất ô nhiễm nặng, phần lớn chì tồn tại phức chì hữu cơ cao phân tử và tỷ lệ này càng lớn trong
đất pH cao Các kết quả nghiên cứu của Lê Đức và ctv (2003) về khả năng hấp phụ và lan truyền Pb2+ trong đất phù sa sông Hồng, Thanh Trì, Hà Nội và đất phù sa ở Thái Bình và Hải Phòng cho thấy, khả năng giữ chì của đất phù sa sông Hồng là rất lớn Sau 2 ngày, 1kg
đất đã giữ được 377,20mg chì (chiếm khoảng 75,44% lượng chì đưa vào)
Bảng 8 Khả năng giữ chì của đất
Độ sâu (cm) Hàm lượng chì bị giữ bởi đất (mg/kg)
Vì vậy, khả năng lan truyền của chì trong đất phù sa sông Hồng rất chậm
Bảng 9 Hàm lượng Pb 2+ lan truyền trong các mẫu đất nghiên cứu (ppm)
22,8 (+1,14)
21,66 (0)
22,80 (+1,14)
22,23 (0,57) 21,66 A2 (- 1,14) 17,1 (-2,28) 15,96 (-2,28) 15,96 (-2,28) 15,96 18,24 (0) (+0,57) 18,81 18,24
(0)
15,96 (+1,14)
15,96 (+1,14)
14,82 (0)
15,96 (+1,14)
18,24 (+3,42) 14,82
(0)
23,94 (1,14)
23,94 (+1,14)
21,66 (-1,14)
25,08 (+2,28)
14,82 (-1,14)
15,96 (0)
14,82 (-1,14)
22,8 (-0,82)
26,22 (+2,54)
26,22 (+2,54)
22,80 (-0,88) 23,68 C2 (-1,14) 17,1 (-1,14) 17,1 (-3,42) 14,82 18,24 (0) 18,24 (0) (+1,14) 19,38 18,24
(-0,57)
15,96 (+0,58)
14,82 (-0,53)
15,96 (0,57)
15,96 (0)
17,1 (+1,71) 15,39
Ghi chú: A-Hướng thứ nhất 1- Độ sâu 0-20cm; B-Hướng thứ hai 2-Độ sâu 20-40cm; C-Hướng thứ ba 3-Độ sâu 40-60cm
Trang 31Khả năng giữ chì trong đất phù sa ở Thái Bình và Hải Phòng cũng rất lớn
(Cân 20g đất cho vào bình polyetylen, thêm vào đó 100ml dung dịch Pb 2+ có nồng độ 100mg/l Ngâm trong 3 khoảng thời gian 2 ngày, 3 ngày và 4 ngày Sau đó xác định lượng chì còn lại trong dung dịch bằng phương pháp AAS)
Hàm lượng Pb2+ còn lại trong dung dịch sau khi ngâm đất 2, 3, 4 ngày thu được ở bảng 10
Bảng 10 Hàm lượng chì còn lại trong dung dịch (mg/l)
1 Đất Nguyên Xá - Thái Bình (tầng 1) 0,34 0,29 0,29
2 Đất Nguyên Xá - Thái Bình (tầng 2) 0,44 0,33 0,27
3 Đất Nguyên Xá - Thái Bình (tầng 1) 0,29 0,26 0,27
Sau các khoảng thời gian 2, 3, 4 ngày lượng Pb2+ đã bị đất giữ lại như sau:
Bảng 11 Lượng Pb 2+ bị đất giữ lại trong các mẫu nghiên cứu, %
Trang 32vào tính chất của đất Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng chất hữu cơ lớn lượng ion kim loại bị đất giữ lại sau 2 ngày đạt 99,69% ở tầng 1 và 99,56% ở tầng 2 (đất Nguyên Xá), cao hơn so với khả năng giữ kim loại ở đất có thành phần cơ giới nhẹ hơn
và hàm lượng chất hữu cơ ít hơn (85,06% - đất Vũ Phúc)
Như vậy, khi sử dụng nguồn nước tưới có chứa kim loại nặng thì khả năng gây ô nhiễm cho đất chỉ mang tính cục bộ, khả năng lan truyền gây ô nhiễm cho các vùng khác bị hạn chế Tác động của nước thải chứa ion kim loại nặng đối với cây trồng phụ thuộc vào hàm lượng của chúng trong dung dịch đất, vì vậy tác động này phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng của các ion kim loại trong nước thải và tính chất của đất Tuy nhiên nếu sử dụng lâu dài nguồn nước thải có chứa các ion kim loại nặng làm nước tưới nông nghiệp sẽ gây nên việc tích tụ chúng trong đất, tạo nên nguy cơ gây ô nhiễm kim loại nặng tiềm ẩn của đất đối với cây trồng trên các vùng đất này
Trong môi trường nước, tính năng của hợp chất chì được xác dịnh thông qua độ tan của nó Độ tan của chì phụ thuộc vào pH, pH tăng thì độ tan giảm và phụ thuộc vào các yếu tố khác như độ muối (hàm lượng các ion khác) của nước, điều kiện ôxi hoá khử Dạng tồn tại của chì trong nước là dạng có hoá trị +2, với hàm lượng Pb2+ > 0,1mg/l chì kìm hãm quá trình ôxi hoá vi sinh các hợp chất hữu cơ và đầu độc các sinh vật bậc thấp trong nước, và nếu nồng độ đạt tới 0,5 mg/l kìm hãm quá trình ôxi hoá amôniac (NH3) thành nitrat (NO3-)
IV Các nguồn phát thải chì vào môi trường
Việc sử dụng rộng rãi chì trong cuộc sống đã nảy sinh một vấn đề lớn, đó là sự ô nhiễm độc chất chì trong môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường đất, nước Những hợp chất chì có khuynh hướng tích luỹ trong đất và trầm tích đáy, tồn tại ở dạng ion trong nước làm ô nhiễm chuỗi thức ăn và ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của con người lâu dài trong tương lai
Một số nguồn phát thải ô nhiễm chì vào môi trường đất và nước chính là từ khói thải của các phương tiện giao thông, từ công nghiệp khai mỏ và luyện kim quặng chì,
từ việc sử dụng lại bùn cống thải làm phân bón, các nhà máy nhiệt điện, do sự rửa trôi
từ các mỏ lộ thiên, do phân bón, từ các chất cải tạo đất, các chất độc hoá học và nước thải tưới tiêu Sự xâm nhập chì vào môi trường đất và nước do sự lắng động khô và ướt
từ khí quyển và do nước rửa từ các vùng lân cận, một phần từ khoáng chất của Trái
Đất Nhìn chung, hàm lượng chì trong đất canh tác thường thấp hơn trong đất thành phố và trong đất các khu dân cư
4.1 Nguồn gây ô nhiễm chì trong môi trường đất và nước
Chì phát thải vào môi trường đất, nước bằng nhiều con đường, mà chủ yếu là từ khí quyển Chì từ các nguồn phát thải như khói thải của các phương tiện giao thông, khói thải từ các nhà máy luyện kim, nhà máy lọc dầu hay từ các nhà máy sản xuất các hợp chất hay các hàng hoá có chứa chì Các nguồn ô nhiễm này phát thải các hạt bụi và khói có chứa chì, các hợp chất của chì vào không khí Thời gian tồn tại các hạt bụi chì trong không khí tuỳ thuộc vào kích thước hạt bụi, chế độ gió, chế độ mưa và độ cao
Trang 33của các nguồn ô nhiễm Sự lắng đọng ướt hoặc khô của các hạt bụi và khói này vào đất, nước gây nên sự ô nhiễm chì trong môi trường đất và nước Cơ chế này đã được chứng minh bởi các nghiên cứu của Elias và cs (1993), trong công viên quốc gia Yosemite, Califonia (Mỹ) ở độ cao 317 m Các tác giả đã xác định sự lắng đọng sol khí chì trên
đĩa teflon và trên bề mặt thực vật Hàm lượng chì lắng đọng trên đĩa khoảng 92-270 pg/cm2/ngày (trung bình 158 pg/cm2/ngày) nhưng hàm lượng này vẫn nhỏ hơn trên bề mặt lá vỏ cây tự nhiên Theo tính toán của Sposito và Page (1994), sự lắng đọng chì từ không khí vào đất ở một số vùng như sau: ở Nam Cực là 0,4g/ha/năm; tây bắc Canada
là 7,2g/ha/năm; ở miền bắc Michigan (Mỹ) là 6,3g/ha/năm ở các khu đô thị lớn và các khu công nghiệp Châu Âu, sự lắng đọng chì khoảng 87 - 536g/ha/năm (trung bình 189)
và ở Bắc Mỹ là khoảng 71 - 20498g/ha/năm (trung bình 4257)
Ngoài cơ chế ô nhiễm chì do lắng đọng từ không khí vào đất, nước, một cơ chế phát thải chì vào đất, nước khác được biết đến đó là: sự phát thải chì trực tiếp bằng cách thải chất rắn có chứa chì vào đất và nước, sự lắng đọng chì trong thuỷ quyển vào trầm tích, rồi vào đất; thực vật, động vật kể cả con người hấp thụ chì rồi sau đó phát thải vào đất, nước (phân người có chứa với hàm lượng khoảng 11 àg/g khối lượng khô)
4.2 Nguồn phát thải chì từ khói thải các phương tiện giao thông
Sự phát minh ra động cơ đốt trong và sự phát triển mạnh mẽ của nó từ những thập niên đầu của thế kỷ 20 tới nay đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ xăng dầu Sự nổ sớm trong xylanh đã được giải quyết từ khi tìm ra alkyl chì (tetramethyl và tetraethyl chì) Vào
đầu những năm 1920 và đến năm 1923 thì xăng pha chì đã trở thành phổ biến trong công nghệ xe, máy Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi xăng pha chì làm nảy sinh vấn đề lớn về môi trường Đó là bụi thải ra từ xe cộ sử dụng xăng pha chì gây nên sự ô nhiễm chì trong môi trường không khí, đất và nước Trong khói thải của chúng luôn có chì và hợp chất chì hữu cơ
Nghiên cứu của nhiều nhà Khoa học trên thế giới cho thấy đất và thực vật ở gần
đường giao thông thường có hàm lượng chì cao hơn Cannon và Bowles (1995) thấy rằng, lượng chì trong đất gần 12 dường cao tốc ở Minneapolis - St Paul nằm trong khoảng 128-700 àg/g Sự tính toán dựa trên hàm lượng chì trong xăng (0,45g/l xăng) cho thấy, trong khoảng 15 m ở hai bên một con đường hàm lượng chì vượt quá 1 àg/m3cho mỗi 1000 lượt xe/ngày Sự ô nhiễm môi trường bên đường do sử dụng xăng pha chì
đã được nhiều nhà Khoa học ở nhiều nước trên thế giới cảnh báo
Bằng phương pháp đồng vị phóng xạ, các nhà Khoa học đã chứng minh được rằng, khói thải xe cộ là nguồn phát thải chì chính vào đất Chow (1995) chọn mẫu đất và cỏ
ở gần hai con đường ở Maryland (Mỹ) và tính tỷ lệ 204Pb, 206Pb, 207Pb và 208Pb trong đất, trong cỏ, trong xăng pha chì và đã đưa ra được kết luận rằng, lượng chì tồn dư quan sát
được trong đất là do chì trong khói thải của các phương tiện giao thông gây nên
Khối lượng chì lắng đọng dọc đường phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vị trí, yếu tố lưu thông, hướng gió, loại đất, loại xe cộ, địa hình và thực vật bao phủ Theo kết quả
Trang 34nghiên cứu của Page ở nam California (Mỹ) thì hướng của loại gió chủ yếu ảnh hưởng lớn đến sự lắng đọng chì vào đất Hàm lượng chì bên đường cao tốc khuất gió cao hơn
ở bên có gió thổi Khi bụi và khói thải của xe phát thải vào không khí, những hạt lớn hơn sẽ lắng đọng trong vòng 5m bên đường và các hạt nhỏ lắng đọng trong vòng 100m Bảng 12 cho thấy, ô nhiễm chì không mở rộng ra ngoài bán kính 30m tính từ mép
đường Trong bán kính 10m, nồng độ chì giảm 4,6 lần, có trị số trung bình 42x10-3mg
Bảng 12 Sự phụ thuộc của chì ở lớp đất mặt vào khoảng cách đường giao thông chính
Tính toán từ dữ liệu của Smith
Khoảng cách từ đường Trị số trung bình (mg) 95% xuất hiện Số mẫu
(Nguồn: Smith accumulation of Pb in soil by the distance of the way, 1994)
Sự biến đổi hoá học xảy ra trong quá trình vận chuyển những hạt chứa chì phát thải
từ xe cơ giới vào đất hoặc bề mặt thực vật cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Trong khí thải xe hơi, những hạt bụi chứa chủ yếu PbBr2, Pb(OH)Br, PbBrCl, (PbO)2PbBr2 và (PbO)2PbBrCl Sau 18 giờ, khoảng 75% Br, 30 - 40% Cl bị phân huỷ; còn chì tồn tại dưới dạng cacbonat, oxycacbonat và dạng oxit Post và Buseck (1995) phân tích mẫu không khí được lọc ở Phoenix, Arizona (Mỹ) cho thấy, loại phong phú nhất (33%) là α-2PbBrCl-NH4Cl, những hợp chất khác là PbBrCl và (PbO)2PbBrCl Sau khi được phát thải vào đất hơn 75% chì liên kết với những hạt đất với mật độ >3,32mg/g Chì cũng liên kết với Fe-Mn oxit tồn tại trong pha hữu cơ, ở dạng PbSO4 và PbCO3 Garcia - Miagaya kết luận rằng, trong đất gần đường <0,7% chì ở dạng có thể trao đổi
4.3 Ô nhiễm chì từ khai mỏ và luyện quặng chì
Công nghiệp khai mỏ và luyện quặng chì phát thải một lượng lớn chì vào không khí
và môi trường đất, nước Alloway và Davies (1994), thực hiện một cuộc điều tra đất ô nhiễm chì ở xứ Uyên (Wales) và phát hiện rằng, đất phù sa ở sông Ystwyth chứa 90-
2900 àgPb/g (trung bình 1419 àgPb/g) so sánh với 24-26 àgPb/g đất ở thung lũng ở bên cạnh không bị ảnh hưởng bởi việc khai mỏ Colbourn và Thornton (1995) tìm thấy nồng độ chì cao trong đất nông nghiệp ở miền nam Peak Distric của Derbyshire nằm trong vòng 100m của một nhà máy luyện kim cũ Theo báo cáo của các tác giả thì hàm lượng chì trung bình trong đất là 30090 àgPb/g và trong vòng 100m một thềm đất rửa quặng cũ, hàm lượng chì trung bình là 19400 àgPb/g Cuộc khảo sát ở Madison County, Missouri (Mỹ), ở đó việc khai mỏ bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 và kéo dài hơn 150 năm Hàm lượng chì lớn nhất trong đất được tìm thấy là 2200 àgPb/g nhưng có khoảng 95% mẫu đất chứa <355 àgPb/g
Trong các cuộc khảo sát ở các nhà máy luyện kim, sự tích luỹ chì thường đạt đến nồng độ rất lớn Đường cong phân bố chì giảm dần theo khoảng cách (từ mỏ hoặc nhà máy luyện kim) và thường là giảm theo hàm mũ Theo nghiên cứu của Lagerwerff
Trang 35(1990) trên khu vực nhà máy luyện kim ở Galena, Kansas (Mỹ), bắt đầu sản xuất từ năm 1903, ở khoảng cách 130m về phía bắc của nhà máy trên chứa 1600àgPb/g so với hàm lượng 428 àgPb/g ở khoảng cách 670m ở Kellogg, Idaho (Mỹ), việc luyện kim bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, sự tích luỹ chì trong 2cm đất trên bề mặt do sự tích tụ bụi với những mức độ khác nhau theo hướng gió Trong vòng 3,2 km, tác giả thống kê được hàm lượng chì là 7600, 6700, 5300 và 1700 àgPb/g đất
Nhìn chung, sự phân loại mức độ ô nhiễm chì trong đất ở gần các nhà máy luyện kim là rất khó khăn Bằng phương pháp thống kê, có thể kết luận rằng trong khoảng 1 -
3 km của một nhà máy luyện kim ổn định, đất thường chứa lượng chì khoảng 1500 àgPb/g đất, một sự làm giàu chì gấp 15 lần so với mức độ trung bình
4.4 Ô nhiễm chì từ nguồn bùn thải
Một nguồn gây ô nhiễm chì trong môi trường đất được quan tâm nhiều trong những năm gần đây là từ bùn thải Cơ chế phát thải chì từ bùn thải vào đất khác với cơ chế ô nhiễm từ không khí Chì từ bùn cống hoặc từ trầm tích sông ngòi, ao hồ, kênh rạch có thể xâm nhập vào đất trực tiếp khi nạo vét Khi sử dụng bùn cống làm phân hữu cơ trong nông nghiệp sẽ đưa vào đất một lượng lớn chì gây ô nhiễm môi trường đất
Do nhu cầu về phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp, ở các nước không cho phép
sự thải loại trực tiếp nước cống vào hệ thống nước, các nhà Khoa học đã phát minh ra
hệ thống xử lý nước thải có thể giữ lại những thành phần hữu cơ trong nước Bùn hữu cơ được lên men để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh, sau đó loại bỏ nước trở thành phân hữu cơ cho nông nghiệp Theo Matthews (1991), khoảng 44% bùn cống sản xuất ở Anh được dùng cho nông nghiệp Theo đánh giá của ông thì bùn cống đóng góp cho nông nghiệp khoảng 1,1% Nitơ
Thế nhưng bùn cống chứa một hàm lượng KLN, trong đó có chì Các nguồn cung cấp chì cho bùn cống là từ chất thải sinh hoạt của con người, nước thải công nghiệp, sự rửa trôi bụi đường vào cống, ống dẫn nước bằng chì Chì thải vào cống tạo phức hữu cơ với các chất hữu cơ trong bùn cống và đó là nguyên nhân khiến chì bị giữ lại khi sử dụng bùn cống làm phân hữu cơ
Thống kê của các nhà nghiên cứu ô nhiễm chì từ bùn cống cho thấy, đất sử dụng phân hữu cơ bùn cống có hàm lượng chì cao do hàm lượng chì trong bùn cống cao Berrow và Webber (1993) phân tích 42 mẫu bùn từ các thành phố công nghiệp ở Anh
và Xứ Uyên cho thấy, hàm lượng chì trong bùn cống khoảng 120-3000 àgPb/g (trung bình 820àgPb/g) khối lượng khô Sommers (1990) cho biết, hàm lượng chì khoảng 547-7431 àgPb/g trong bùn cống ở Indiana (Mỹ) Hàm lượng chì trong bùn cống là một đại lượng biến thiên, trong bùn cống tiêu chuẩn hàm lượng chì phải nhỏ hơn 1000àg/g
Từ khi có những nghiên cứu Khoa học chứng minh được những triệu chứng nhiễm
độc thực vật từ kẽm khi sử dụng phân hữu cơ bùn cống, cùng với khả năng chì tích luỹ trong cây trồng ở mức nguy hiểm, một số quốc gia đã đưa ra hướng dẫn về sử dụng hợp
Trang 36lý bùn cống ở Anh, Bộ Môi trường khuyến cáo là tổng hàm lượng chì không được vượt quá 1000 kg/ha hay 400 àgPb/g tới độ sâu 20 cm sau chu kỳ 30 năm Bộ Nông nghiệp đưa ra giới hạn sự tích luỹ chì cao nhất trong đất là 550 àgPb/g ở Đức, bắt buộc hàm lượng chì trong bùn cống không được vượt quá 1200 mg/kg khối lượng khô
và nếu vượt quá 100 àgPb/g, bùn cống không được phép sử dụng
4.5 Một số nguồn gây ô nhiễm chì khác
Ngoài các nguồn phát thải chì chính nêu trên còn có một số nguồn gây ô nhiễm chì khác Công nghiệp sản xuất các sản phẩm chứa chì và sự thải loại và phân huỷ các sản phẩm này trong môi trường cũng đóng góp đáng kể vào sự ô nhiễm chì trong đất và nước Ví dụ, việc sản xuất và sử dụng ắc quy chì, sơn công nghiệp có chứa chì, men đồ gốm, ngay cả đồ chơi trẻ em cũng chứa chì Việc sử dụng thuốc trừ sâu vô cơ chứa chì asenat PbHAsO4 cho cây ăn quả cũng đã trực tiếp gây ra ô nhiễm chì trong đất nông nghiệp Một nguồn gây ô nhiễm chì khác đó là các đạn bắn chim chứa chì (do chim
ăn phải đạn chứa chì, do sử dụng đạn chì để săn bắn ), có khoảng 2-3% ở Bắc Mỹ vào mùa thu và mùa đông hay khoảng 2-3 triệu con chim chết hàng năm do độc chì (Bellrose, 1959; 1976)
V Tác động của chì đến môi trường, sinh vật và sức khoẻ con người
5.1 ảnh hưởng của chì đến môi trường đất, nước
Sự tích luỹ KLN trong đất sẽ làm giảm năng suất sinh học của đất canh tác và cùng một lúc ức chế hoạt tính ezym và vi sinh vật, do đó làm giảm sự tích luỹ mùn, giảm khả năng tạo phức hệ và tạo cấu trúc đất, giảm hoạt tính sinh học của dung dịch đất Sự
ô nhiễm KLN sẽ làm giảm khả năng chống lại của đất với quá trình làm chặt đất, quá trình glây hoá, do đó làm giảm tính bền vững của đất với sự ô nhiễm Sự tích luỹ KLN trong đất sẽ làm tăng tính di động của các kim loại này, nó xâm nhập sâu hơn vào các tầng của phẫu diện đất, gây ô nhiễm cho thảm thực vật, ức chế hệ sinh vật và làm tăng hàm lượng KLN trong nước ngầm Với mỗi loại đất khác nhau, có một cơ chế chuyển vận KLN và đặc tính đệm khác nhau
KLN trong đất có thể nằm ở thể rắn và lỏng, cũng như liên kết với thực vật, vi sinh vật, sâu bọ và các nhóm cơ thể sống khác Thể rắn của đất có thể hấp phụ KLN ở dạng ion, phức hệ và hợp chất theo dạng tạo kết tủa, tạo phức hệ và trao đổi ion; nhờ hấp phụ
lý học khi phân tử lượng của phức hệ tương đối cao và mật độ điện tích thấp
Sự ô nhiễm đất gây nên bởi KLN có hậu quả lâu hơn so với sự ô nhiễm không khí
và nước Bởi ở trong đất để phục hồi trạng thái cân bằng bị phá huỷ do ô nhiễm KLN
sẽ chậm hơn so với trong môi trường nước và khí; khi đất bị ô nhiễm (thoái hoá) theo nguyên tắc sẽ phá huỷ chức năng của đất và thông thường thì phá huỷ đồng thời một vài chứa năng Độc chất gây nên bởi sự ô nhiễm KLN càng ăn sâu vào lòng đất thì việc loại bỏ chúng ra từ đất càng khó Ví dụ, thời gian để loại bỏ 1/2 lượng KLN trong điều
Trang 37kiện thấm lọc đất dao động phụ thuộc vào bản chất của từng kim loại nhưng ít nhất: đối với kẽm là 70-510năm, cadimi: 13-1100năm, đồng: 310-1500, chì: 740-5900năm Một số KLN có thể có ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật trong đất và do đó làm giảm năng suất sinh học của đất Chì cũng được phát hiện là có ảnh hưởng kiềm chế sự khoáng hoá nitơ trong đất Tuy nhiên, theo Chang và Broadbent (1993) thì chì kiềm chế sự khoáng hoá nitơ và quá trình nitro hoá kém hơn một số kim loại khác theo thứ tự: Cr> Cd> Zn> Mn> Pb Cornfield (1992) nghiên cứu sự giảm khí áp của CO2giải phóng khi ủ đất cát axit có thêm vào KLN Sau quá trình ủ 2 tuần thì hiệu quả kiềm chế do chì ở hàm lượng 10 àg/g là bằng không, ở hàm lượng 100 àg/g là 14% Sau 8 tuần hiệu quả kiềm chế do hai mức chì trên lần lượt là 6% và 25% lượng CO2giải phóng So sánh với hiệu quả kiềm chế của bạc ở hàm lượng 100 àg/g là 72% và cũng với hàm lượng ấy của thuỷ ngân là 55% lượng CO2 giải phóng sau chu kỳ 8 tuần Nghiên cứu quá trình phân giải của xenlulozơ trong đất có ảnh hưởng của chì, người ta thấy rằng, bình thường tốc độ phân giải xenlulozơ là 43,6% sau 30 ngày Khi thêm chì (dạng Pb(PbCl2) - có trong khói thải xe cơ giới) vào theo các mức độ: 100; 500 và 1000 àg/g, tốc độ phân giải xenlulozơ còn là 40,0; 37,1 và 33,8% Như vậy, mặc dù chì có tác động lên vi sinh vật đất không mạnh bằng một số KLN khác nhưng nó cũng có ảnh hưởng đáng kể nguy hại tới vi sinh vật đất
Trong môi trường nước thì nồng độ, sự di chuyển, biến đổi và độc tính của KLN trước hết bị kiểm soát bởi: các đặc tính lý học, hoá học của hợp chất; các đặc tính lý, hoá, sinh học của hệ sinh thái dưới nước; nguồn và tỷ lệ của KLN trong môi trường Các đặc tính lý hoá học của hợp chất hoá học là rất quan trọng, bao gồm cấu trúc phân
tử, tính tan trong nước, áp suất bay hơi Tính ổn định của sự thuỷ phân, quang phân, phân huỷ sinh học, bốc hơi, hấp thụ, thông khí, sự tự làm sạch của các vi sinh vật và có
sự tham gia của các cặp môi trường (không khí - nước; trầm tích bùn - nước) Một số yếu tố của môi trường nước có thể ảnh hưởng đến tính độc của các KLN như thể tích nguồn nước và diện tích bề mặt, nhiệt độ, độ mặn, pH, dòng chảy, độ sâu, hàm lượng chất lơ lửng, kích cỡ hạt trầm tích và hàm lượng cacbon trong trầm tích bùn
Độc tính của các ion KLN trong nước rất cao Tác động của KLN tới môi trường nước có thể chia ra thành 4 nhóm:
+ Độc hại đối với cá và các loại thuỷ sinh vật khác
+ Tác động xấu đến hệ thống cống rãnh
+ ảnh hưởng xấu tới quá trình xử lý sinh học
+ Làm ô nhiễm nước mặt và nước ngầm
5.2 ảnh hưởng của chì tới sinh vật
Phần lớn các chức năng sinh học của KLN được xác định bởi cấu trúc vỏ electron của KLN (Mn - 3d54s2; Fe - 3d64s2; Ni - 3d84s2; Cd - 4d105s2; Pb - 4f145d106s26p2) (Pinski, 1997)
Trang 38Khi đánh giá các yếu tố điều tiết sự ảnh hưởng của các chất độc lên thực vật cần phải biết được đặc điểm sinh học của từng loài thực vật như các tính chất hấp thụ của
hệ rễ, các quá trình trao đổi chất, thời gian sống của thực vật, các giai đoạn phát triển của chúng và mức độ ảnh hưởng dưới tác động của các yếu tố khác Theo kết quả nghiên cứu của Morkovkin thì độc tính của các KLN sẽ khác nhau đối với từng cây trồng: với cây lúa mỳ cứng thì độc tính của các KLN sẽ giảm dần từ Pb> Cu> Ni> Cr> Cd; cây lúa mỳ dẻo - Ni> Cu> Co> Pb> Cd; cây kê làm thức ăn gia súc - Cu> Ni> Co> Pb> Cd; cây cải dầu - Ni> Cu> Cd> Co> Pb; cây linh lăng - Pb> Co> Ni> Cu> Cd; cây kiều mạch - Zn> Pb> Ni> Cu> Cd Mức độ chống chịu của thực vật đối với sự ô nhiễm KLN sẽ giảm dần từ yến mạch > cải dầu > linh lăng > lúa mỳ dẻo > lúa mỳ cứng Các nhóm thực vật khác nhau có tính mẫn cảm không giống nhau đối với nồng độ cao của từng KLN Theo các kết quả nghiên cứu của Zurin, thực vật tích luỹ thuỷ ngân
ở phần trên mặt đất từ 9 đến 150 àg/kg Nồng độ của một nguyên tố trong sinh khối sẽ phụ thuộc vào hàm lượng của nó trong đất và các đặc điểm sinh học của thực vật Sự tích luỹ thuỷ ngân cao nhất trong các lá và đầu nhọn lá của các cây thân gỗ (bạch dương, cây dương Châu âu, cây thông ), của các thực vật đầm lầy và thân thảo (cây cói, rêu, mộc tặc), thấp nhất - ở các thực vật thân thảo (cây poa, cây chua me đất), các cây ngũ cốc (đại mạch, yến mạch) Theo Mustapha thì rau xà lách chịu sự kìm hãm khi hàm lượng cadimi là 1mg/kg, còn cây ngô và lúa mỳ gieo mùa thu - khi hàm lượng 20 mg/kg Theo các kết quả nghiên cứu (Lê Huy Bá và cs., 2002) về ảnh hưởng của Pb2+
và Cd2+ trong dung dịch lên cây lúa non và cây rau muống cho thấy, với hai kim loại nặng Pb2+ và Cd2+ ở các nồng độ khác nhau đều có ảnh hưởng khác nhau Trước hết,
ảnh hưởng của nồng độ Pb2+ và Cd2+ biểu hiện qua sự thay đổi pH của dung dịch Nồng
độ Pb2+ và Cd2+ càng cao thì pH dung dịch càng cao Tác giả kết luận rằng, ảnh hưởng của Cd lên cây lúa mạnh hơn ảnh hưởng của chì khi so sánh cùng nồng độ Pb2+ = Cd2+
= 0,6ppm, tỷ lệ cây chết tăng khi tăng nồng độ KLN, các bộ phận khác nhau của cây lúa bị những ảnh hưởng khác nhau của độc chất KLN: trước hết là cành, thân, sau đó là lúa và cuối cùng là rễ lúa Ngưỡng chịu độc của cây lúa với: Pb2+ = 0,31 ppm và 0,44 ppm, lúa chết 50% và 100% tương ứng; Cd = 0,21 ppm và 0,32 ppm, lúa chết 50% và 100% tương ứng Trong khi đó, cây rau muống thích nghi cao với môi trường có ô nhiễm chì: ở nồng độ Pb = 5,0 ppm trong môi trường dung dịch làm cho rễ rau muống
có màu đen và thối, sau đó chết sau khi trồng được một tuần Qua tuần thứ 2, ở những cây không chết, trọng lượng của cây rau muống giảm khi tăng nồng độ chì thử nghiệm lên dần Với tỷ lệ sống sót của cây rau muống sau hai tuần nuôi trồng có thể thấy ngưỡng gây độc của chì với cây rau muống trồng trong dung dịch là 5,0 ppm trở lên, còn Cd2+ gây chết cây rau muống từ nồng độ >2,5 ppm
Giới hạn nồng độ cho phép của các KLN cho các đối tượng sinh học còn phụ thuộc vào loài của đối tượng Theo Trernưr thì tính mẫn cảm của các loại men (ezym) đối với tác động liều lượng cao của kẽm, chì và cadimi theo sự tăng dần như sau: ureaza > invertaza > catalaza > photphataza trong các trường hợp chỉ có một nguyên tố, còn trong các trường hợp cả ba nguyên tố thì ureaza > catalaza > invertaza > photphataza Các KLN có sự ảnh hưởng khác nhau lên các nhóm vi sinh vật nhất định Theo Evdocimova trong các đất ô nhiễm hoá học do nguồn thải của nhà máy “Niken” thì các
Trang 39nhóm vi sinh vật hoại sinh sẽ phục hồi số lượng nhanh, còn vi khuẩn tự dưỡng - phục hồi chậm Tác động của KLN với nồng độ cao lên số lượng vi sinh vật thể hiện bằng cách kích thích sự phát triển của các bào tử nấm và ức chế sự phát triển của xạ khuẩn Nguyên tố chì rất độc trong môi trường đất Nếu hàm lượng của chì vượt ngưỡng cho phép trong đất sẽ cản trở rất mạnh đến hoạt động của quần thể sinh vật: Pb2+ có thể gây độc trực tiếp qua màng tế bào sinh vật Đối với hoạt động của vi sinh vật: chì gây rối loạn quá trình tuần hoàn Nitơ (giảm các quá trình nitrat hoá, phản nitrat hoá và khoáng hoá nitơ) Đối với thực vật trong trường hợp bị độc chì thì: giảm quá trình quang hợp, lá vàng xuất hiện cùng với nhiều chấm đen ở các lá nhỏ Thực vật có tính mẫn cảm khác nhau đối với chì, tốc độ sinh trưởng của các loại cây như đại mạch, cỏ
ba lá, lúa trên đất trồng không tưới, kiều mạch, đậu nành, Khoai tây sẽ chậm lại khi hàm lượng của chì trong đất khoảng 40-60 mg/kg Đối với các cây trồng nhạy cảm, ở nồng độ 50 mg/kg đất khô năng suất cây trồng giảm 11% so với đối chứng
Sự hấp thụ chì bởi thực vật phụ thuộc vào hàm lượng chì trong đất, loại cây, tình trạng phát triển của cây và một số yếu tố khác Charmberlain (1992) tính yếu tố nồng
độ (CF): tỷ số hàm lượng chì trong cây và trong đất:
CF trên ruộng Khoai tây và củ Cải đường trong thí nghiệm của Charmberlain cho kết quả khoảng 0,05 - 0,2 Chì là kim loại có tính tích luỹ cao Quan hệ giữa lượng chì tích luỹ trong cây và nồng độ chì cơ chất là một đường cong: hấp thụ tăng chậm khi nồng độ tăng theo phương trình:
Pb trong cây = 0,74[1-exp(-1,4s)] + 0,16s; trong đó s là nồng độ chì cơ chất
Một vài đặc tính của đất có ảnh hưởng đến sự hấp thụ chì bởi thực vật pH đất có
ảnh hưởng không lớn đến đặc tính hấp thụ của cây Lagerwerff (1989) trồng cỏ linh lăng và ngô trên đất được thêm chì ở dạng PbCl2 và vôi để tăng pH của đất từ 5,2 lên 7,2 và hiệu quả là hàm lượng chì giảm 9% tới 21% Sự hấp thụ chì bởi thực vật phụ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây Trong điều kiện cây phát triển mạnh, sự hấp thụ chì cũng tăng lên Koeppe (1993) nhận thấy, trong điều kiện cây sinh trưởng mạnh thì chì được hấp thụ mạnh và một phần được lắng đọng trên thành tế bào rễ ở dạng không tan, không kết tinh, ví dụ ở cây ngô giống là dạng phôtphat chi Ngoài ra, còn còn có sự vận chuyển lên chồi cây, mặc dù lượng này khá nhỏ, chỉ khoảng 3,5 đến 22,7% lượng chì hấp thụ sau 7 ngày Sự hấp thụ chì bởi rễ cây và sự di chuyển của nó tới chồi khác nhau theo mùa Mitchell và Reith (1993) là những người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này và họ cho rằng, hàm lượng chì trong chồi cỏ tăng trong mùa thu và mùa đông Trong suốt vụ mùa, hàm lượng chì trong cỏ là 0,3 - 1,5 àg/g sinh khối khô;
ở cuối thu hàm lượng chì tăng lên tới 10 àg/g, ở cuối mùa đông là 30-40 àg/g
ở động vật thì tác hại của chì chủ yếu xuất hiện ở các loài nhai lại, vì chì lưu lại trong thực quản rất lâu Bò con hấp thu 7,7 mg Pb/kg/ngày giảm trọng lượng 13% Hàm lượng chì tích luỹ trong các mô động vật, đặc biệt ở gan và thận - chủ yếu đưa vào do thức ăn Nếu cỏ khô cho động vật ăn chứa hàm lượng Pb >30 ppm chất khô thì
Trang 40hàm lượng chì trong gan và thận của động vật >1ppm và không thể dùng thịt của những
động vật này làm thức ăn cho con người được Hàm lượng KLN tích luỹ trong động vật phụ thuộc vào các loài động vật khác nhau và nguồn ô nhiễm Ví dụ, theo nghiên cứu của Huter et al, 1987, 1989, tại khu vực lò tinh luyện đồng gần Liverpool (Anh Quốc), hàm lượng KLN trong cơ thể hệ động vật chân đốt gần lò tinh luyện cao hơn; thường
nó cao hơn cả trong cây và nhỏ hơn trong đất Thường các loài sống trong hang có hàm lượng thực tế lớn hơn những loài ăn cỏ và ăn thịt (nói riêng những dữ liệu trên có thể bị
ảnh hưởng do sự hiện diện của đất bị ô nhiễm trong ruột của chúng) Những động vật
có vú ăn thịt và ăn cỏ nhỏ có hàm lượng KLN ít hơn nhiều so với loài chân đốt Chỉ có
Cd là hiện diện với hàm lượng lớn trong các động vật có vú nhỏ tại những nơi ô nhiễm, nhất là gần lò tinh luyện đồng Theo Lê Huy Bá (2002), có sự tích luỹ KLN trong cơ thể giun đất và tăng cao khi ô nhiễm môi trường đất tăng Như vậy, giun đất có thể sử dụng như công cụ đánh giá ô nhiễm KLN
Cũng như phần lớn các KLN, chì được tích tụ lại trong cơ thể thực vật, động vật sống trong nước Với các loại thực vật bậc cao, hệ số làm giàu có thể lên đến 100 lần
và ở loại bèo có thể đạt tới trên 46 ngàn lần Các vi sinh vật bậc thấp bị ảnh hưởng xấu ngay cả ở nồng độ 1 - 3 àg/l Liều gây chết 50% (LC50) cá thí nghiệm nuôi 96 giờ của chì là 1 - 27 ppm (Lương Đức Phẩm, 2002) Độc tính của KLN đối với thuỷ sinh vật là
nó gây ra tác động trong một dải rộng, từ giảm nhẹ tốc độ sinh trưởng đến tử vong
5.3 ảnh hưởng của chì đến sức khoẻ con người
Chì được hấp thụ bởi thực vật và từ đó làm ô nhiễm chuỗi thức ăn Khả năng methyl hoá sinh học của các hợp chất chì vô cơ thành chì methyl Pb(CH3)4 làm tăng khả năng lan truyền ô nhiễm chì qua dây chuyền thực phẩm Thêm vào đó, chì là kim loại có khả năng tích luỹ cao Do đó, khi những sinh vật sản xuất hấp thụ chì, dù ở một lượng nhỏ, qua chuỗi thức ăn, nó tích luỹ dần dần và đến một lúc nào đó sẽ trở thành chất độc không những đối với sinh vật tiêu thụ, mà ngay cả sinh vật sản xuất
Con người hấp thụ chì một cách gián tiếp thông qua chuỗi thức ăn hoặc trực tiếp bằng nhiều con đường: qua đường hô hấp, qua da, hoặc trực tiếp hấp thụ bằng đường tiêu hoá Chì tồn tại và tích luỹ trong cơ thể con người đến một lượng nhất định nó sẽ trở thành chất độc gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người Một số dạng nhiễm độc chì được biết đến là: nhiễm độc mãn tính và nhiễm độc cấp tính
Chì có độc tính cao đối với sức khoẻ con người và động vật Rủi ro ngộ độc chì thay đổi lớn phụ thuộc vào nơi sinh trú và làm việc Ví dụ, ở các thành phố như Băng Cốc, Mexico và Jakarta phạm vi tiếp xúc chì rất lớn do việc gia tăng sử dụng xe động cơ, còn ở các thành phố như Chicago và Washington tiếp xúc với chì phần lớn do hàm lượng chì thoát ra từ sơn trong nội thất Nói chung, con người tiếp xúc và ngộ độc chì
từ các nguồn: dùng xăng pha chì, sơn có chì, ống chì trong hệ thống cấp nước, các quá trình khai mỏ, luyện chì và chất đốt có chì Các nguồn khác phát thải chì bao gồm các
đường hàn trong các bình đựng thức ăn, men sứ gốm, ắc quy, pin và đồ mỹ phẩm Chì
ở dạng hữu cơ như TEL (Tetra Ethyl Lead) hoặc TML (Tetra Metyl Lead) độc hơn chì