Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi Việt 2 Tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường tại các địa điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi: Một số gi
Trang 1ỦY BAN DÂN TỘC
***
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÁC CHUYÊN ĐỀ
DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TẠI MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH
VÙNG DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
***
Cơ quan chủ quản: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện: Viện Dân tộc Chủ nhiệm dự án: Ths Phan Hồng Minh
6960-1
28/8/2008
Hà Nội, tháng 3 năm 2008
Trang 2Tiềm năng và định hướng phát triển
du lịch vùng dân tộc miền núi Việt
2 Tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường tại các địa điểm
du lịch vùng dân tộc và miền núi:
Một số giải pháp nâng cao nhận
thức cho các tổ chức, cá nhân tham
gia hoạt động du lịch về bảo vệ môi
trường tại các điểm du lịch vùng
dân tộc và miền núi
Phạm Hồng Long
Khoa Du lịch học Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
của nhà nước về phát triển du lịch
gắn với bảo vệ môi trường, du lịch
bền vững
Nguyễn Thị Nhiên Lương Thị Thanh Tâm
Viện Dân tộc
70
6 Đánh giá tổng quan hoạt động bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch
vùng dân tộc và miền núi: thực
Một số kinh nghiệm về phát triển du
lịch gắn với bảo vệ môi trường của
một số quốc gia trong khu vực châu
Á
Nguyễn Thị Kim Oanh
Vụ Kế hoạch- Tài chính UBDT 102
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Xã
9
Môi trường tại các điểm du lịch
vùng dân tộc và miền núi: hiện
trạng và giải pháp
Hoàng Hoa Quân
Viện nghiên cứu và phát triển du
10 Phát triển du lịch bền vững ở vùng dân tộc và miền núi: thực trạng và
giải pháp
Đinh Thị Hòa Nguyễn Thị Xuân Năm
Viện Dân tộc
175
Trang 311
Vấn đề thể chế hóa luật bảo vệ môi
trường và các quy định bảo vệ môi
trường trong hoạt động du lịch ở
vùng dân tộc và miền núi
Ths Hoàng Thị Lâm
Viện Dân tộc
185
12
Vấn đề kiểm tra, xử phạt quy định
bảo vệ môi trường tại các điểm du
lịch vùng dân tộc và miển núi-
thực trạng và giải pháp
PGS,TS Lê Ngọc Thắng Th.s Phan Hồng Minh
Viện Dân tộc
196
13
Một số giải pháp bảo vệ môi
trường tại các điểm du lịch vùng
dân tộc miền núi
Trần Văn Đoài Nguyễn Thị Lan
Viện Dân tộc
207
Trang 4TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DÂN
TỘC MIỀN NÚI VIỆT NAM
Người thực hiện: Hà Quế Lâm 1
Lời dẫn:
Cuộc sống của nhân dân các dân tộc Việt Nam, sống trong hoà bình trên con đường tiến lên CNH, HĐH đất nước, đang hoà nhập với cộng đồng quốc tế (nước ta ra nhập WTO năm 2006) Nhu cầu về tìm hiểu các nền văn hoá vật thể
và phi vật thể của cộng đồng các dân tộc nước ta ngày càng nâng cao Truyền thống đoàn kết dân tộc trong lịch sử cũng như trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và chế độ thuộc địa Pháp
ở Đông Dương ở thế kỷ thứ XX là một bản anh hùng ca bất hủ Tinh thần đoàn kết đó ngày càng được củng cố và phát triển, do đó nhu cầu du lịch, tham quan các vùng dân tộc để hiểu biết về văn hoá các dân tộc là lẽ tự nhiên, là một nhu cầu thiết thực Phương thức tham quan du lịch là phương thức tốt nhất để các dân tộc hiểu biết nhau hơn Mỗi dân tộc được hình thành và phát triển đều có một phong cách văn hoá riêng, tập quán văn hoá đó chính là bản sắc văn hoá các dân tộc ở nước ta, mà cộng đồng quốc tế cũng muốn tìm hiểu về đất nước và con người Việt Nam
Du lịch văn hoá dân tộc bao gồm cả tập quán cuộc sống, phương thức sản xuất, văn hoá ứng xử, đời sống tâm linh đó là tôn giáo các dân tộc thờ tự, coi đó
là niềm tin, lẽ sống trên các vùng phong cảnh tươi đẹp của các vùng tổ quốc ta Mỗi dân tộc có tiếng nói, phong tục tập quán riêng, một số dân tộc có chữ viết riêng như người Thái, người Dao, người Khmer, người Chăm.v v Đó là một kho tàng văn hoá dân gian phong phú cần được quảng bá trong nước và quốc tế trong tương lai
1 Nguyên vụ trưởng Vụ CSDT - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu DTTS &MN (RECEM)
Trang 5Việt Nam là quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc cùng sinh sống từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống xen kẽ với người Kinh đa số từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau Tuy nhiên, có một số vùng trên đất nước chỉ có một hoặc một số dân tộc sống tập trung như các huyện có người Mông ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái; các tỉnh có nhiều người Thái sinh sống như Sơn La, Điện Biên, Nghệ An Người Tày Nùng ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và một số huyện Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái Người Mường ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ Các dân tộc thiểu số ở miền Trung, Tây Nguyên, tập trung ở một số tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Lâm Đồng và một số huyện miền núi ở các tỉnh ven biển miền Trung như dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận; dân tộc Khmer tập trung tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh và một số huyện các tỉnh Tây Nam Bộ
Về cơ cấu dân cư sau năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, việc tổ chức sản xuất cơ cấu lại dân cư làm cho tỷ lệ thành phần dân tộc ở địa phương có thay đổi , nếu kể đến việc di cư tự
do giữa các vùng thì cơ cấu dân cư và thành phần dân tộc giữa các vùng cũng có nhiều thay đổi Tóm lại tình hình dân tộc thiểu số ở nước ta sống xen kẽ là chủ yếu, song vẫn có một số vùng tập trung một số dân tộc đặc trưng có thể tổ chức
du lịch văn hoá dân tộc giữa các vùng trong cả nước
I Đặc điểm kinh tế, xã hội, tự nhiên các vùng dân tộc và miền núi Việt Nam
Đất nước Việt Nam hình chữ S từ Bắc vào Nam , hai đầu Bắc Nam là hai vựa lúa trù phú làm cho Việt Nam nổi tiếng về xuất khẩu gạo thuộc hàng nhất nhì thế giới Cùng với lúa gạo còn có các khoáng sản như mỏ than, mỏ đá, mỏ đồng, chì, kẽm, thiếc, mỏ Apatit, vàng, bạc, đá quý, nhiều thác cao có nguồn thuỷ điện dồi dào, nhiều núi non sông suối tạo thành một đất nước hùng vĩ, có hơn 2.300
km bờ biển là nguồn tài nguyên biển phong phú, có khu mỏ dầu lửa thềm lục địa đang được mở mang phát triển làm giàu cho đất nước
Con người Việt Nam giàu tình cảm, có truyền thống thương yêu đoàn kết trong lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước, nhất là thế
kỷ thứ XX cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp, chống Mỹ lật đổ chế độ phong kiến đã làm cho nước Việt Nam nổi tiếng, cả thế giới quan tâm và biết đến, đã ra nhập cộng đồng quốc tế WTO năm 2006 và trở thành uỷ viên không thường trực Liên Hiệp Quốc 2007 là tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh chúng ta
1 Đặc điểm kinh tế tự nhiên
Nước Việt Nam có diện tích 331.689 km2 đứng ở hàng 65 trên thế giới, dân số ước lượng giữa năm 2007 là 87.375.000 (điều tra năm 1999 là 76.323.173 người), mật độ dân số 253 người/km2 Đặc điểm địa lý tự nhiên là miền Bắc nhiều núi đá cao thấp dần xuống đồng bằng Bắc Bộ Miền Trung có dãy Trường Sơn thấp dần ra biển, có cao nguyên đất đỏ bazan phù hợp với phát triển cây công nghiệp như cao su, cà phê, tiêu, điều, trồng bông và các cây công nghiệp khác Khí hậu gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Có 2 con sông lớn: sông Hồng chảy qua đồng bằng Bắc bộ, sông Mêkông (Cửu Long) chảy qua đồng bằng
Trang 6sông Cửu Long (6 tỉnh Tây Nam Bộ) Ngoài ra hệ thống sông ngòi chằng chịt chảy ra biển Đông, cả nước là rừng nhiệt đới xanh bát ngát quanh năm Dân ca có câu “Tiền rừng, biển bạc” nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ngàn đời để lại cho thế hệ ngày nay, tiềm năng về đất rừng, khoáng sản, nguồn dược liệu quý hiếm với tinh thần cần cù lao động của con người Việt Nam có mối quan hệ thân thiện với các nước láng giềng, nhất định nước ta sẽ xây dựng thành công nước Việt Nam CNH, HĐH trong đầu thế kỷ XXI
2 Đặc điểm về xã hội- dân tộc-tôn giáo
Nước ta trải qua nhiều chế độ xã hội trong lịch sử 4000 năm phát triển Từ sau Công nguyên đến nay nước ta chuyển từ chế độ thuộc địa phong kiến sang chế độ tư bản Pháp cai trị hơn 80 năm từ giữa thế kỷ thứ XIX đến giữa thế kỷ thứ
XX Cách mạng Tháng 8-1945 do Đảng cộng sản và Bác Hồ lãnh đạo đã đưa đất nước ta phát triển từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Bước vào thời kỳ đổi mới xây dựng nước ta phát triển theo con đường XHCN tiến lên thành nước CNH, HĐH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Vấn đề dân tộc và tôn giáo là những vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, giải quyết tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo sẽ tạo động lực phát triển xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giữ vững độc lập nước nhà Các vấn đề dân tộc và tôn giáo có tính đặc thù quan trọng Nước ta có 54 dân tộc anh em, 53 dân tộc là dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước Các dân tộc thiểu số sống xen kẽ nhau và sống xen
kẽ với dân tộc đa số trên nhiều vùng rộng lớn ở địa bàn quan trọng Nước ta có nhiều tôn giáo lớn với khoảng 1/4 dân số theo đạo Giải quyết tốt và có chính sách đúng đắn vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo sẽ là một đóng góp to lớn về mở rộng và tăng cường chính sách đại đoàn kết giữa các dân tộc tôn giáo trong nước
và quốc tế
Việc nghiên cứu phát triển du lịch các vùng dân tộc miền núi gắn liền với việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo ở các vùng dân tộc và miền núi Từ định hướng đến các dự án phát triển du lịch các vùng dân tộc và miền núi phải tôn trọng quyền bình đẳng các dân tộc và tôn giáo góp phần hiểu biết lẫn nhau, tăng thêm niềm tin và sức mạnh đoàn kết dân tộc, kể cả tiếp nhận các đoàn du lịch quốc tế đến vùng dân tộc và miền núi Đặc biệt phải quan tâm đến lĩnh vực an ninh chính trị và trật tự xã hội ở các vùng du lịch dân tộc miền núi Chống mọi luận điệu xuyên tạc về chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta ngay từ khi thiết kế các dự án du lịch vùng dân tộc miền núi xuyên Việt và du lịch các vùng Chiến lược phát triển du lịch vùng dân tộc và miền núi được đặt ra cho hiện tại và tương lai là một tiềm năng lớn để thu hút lực lượng lao động làm dịch vụ, tăng thêm nguồn thu nhập cho vùng dân tộc và miền núi, giao lưu giữa các miền văn hoá càng tăng thêm nét đậm đà bản sắc văn hoá các dân tộc
a) Đặc điểm dân tộc và các vùng dân tộc
Dân tộc là một trong những hình thái cộng đồng người, được hình thành trong lịch sử quá trình phát triển loài người Dân tộc để chỉ một cộng đồng người
Trang 7(Ethnic) thường gọi là Ethnic minority có chung một tiếng nói, một nguồn gốc lịch sử, một đời sống văn hoá, có ý thức tự giác dân tộc Thường gọi là dân tộc Kinh (đa số), dân tộc Tày, dân tộc Mường, dân tộc H’Mông, dân tộc Dao, dân tộc Gia Rai, dân tộc Êđê, dân tộc Chăm, dân tộc Khmer.v.vv Trong một dân tộc có chung tiếng nói và văn hoá lại có nhóm bản sắc riêng về văn hoá phi vật thể và văn hoá vật thể như: dân tộc Thái có Thái trắng, Thái đen; dân tộc H’Mông có Mông hoa, Mông đen, Mông trắng; dân tộc Dao có 9 ngành Dao có Dao đỏ, Dao tiền, Dao đại bản, Dao tiểu bản, Dao quần chẹt, Dao cokmum.v.vv Mỗi dân tộc sống trên một vùng lãnh thổ nhất định ở một địa phương xác định
Nhưng dân tộc còn có nghĩa rộng hơn là dân tộc một quốc gia Lênin (V.I Lênin) đã dùng thuật ngữ quốc gia dân tộc (Nation) để chỉ cộng đồng cư dân của một quốc gia nhất định như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức, dân tộc Nga.v.vv
Thực tế trên thế giới đại đa số quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống, rất ít quốc gia có một dân tộc sinh sống Toàn bộ các dân tộc (tộc người) sống trong một quốc gia được gọi chung là một dân tộc, đồng nghĩa với dân tộc quốc gia Bác hồ đã dùng từ nhân dân, đồng bào Quan niệm về khái niệm dân tộc ở trên thế giới chưa thống nhất, ở phương Tây nhấn mạnh dân tộc gắn với lãnh thổ và kinh tế, ở phương Đông nhấn mạnh về văn hoá, tôn giáo, lịch sử và ý thức dân tộc Trong hội nhập quốc tế hiện nay công tác du lịch vùng dân tộc miền núi nước
ta cần nghiên cứu tìm hiểu với khái niệm dân tộc trong các dự án phát triển du lịch các vùng dân tộc và miền núi xuyên Việt hoặc du lịch cho từng vùng dân tộc
và miền núi
b) Đặc điểm tôn giáo ở nước ta
Ở Việt Nam chính sách dân tộc gắn liền với chính sách tôn giáo Mỗi dân tộc (tộc người) đều gắn liền với một tôn giáo nhất định Về mặt tổ chức bộ máy nhà nước ở các địa phương có tồn tại 3 loại hình tổ chức Ban dân tộc tỉnh, Ban tôn giáo tỉnh, Ban dân tộc-tôn giáo tỉnh hoặc Ban tôn giáo dân tộc căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương để thiết kế các dự án phát triển du lịch ở các vùng dân tộc miền núi cho phù hợp với tình hình địa phương
Hiện nay (2007) Ban tôn giáo Chính phủ sát nhập vào Bộ Nội vụ song hoạt động vẫn mang tính độc lập chưa gắn với công tác dân tộc, chưa đúng với quy luật tự nhiên, một dân tộc có thể theo nhiều tôn giáo và ngược lại, một tôn giáo cũng có nhiều dân tộc cùng tôn thờ như Đạo phật, Đạo giáo
Bản chất của tôn giáo: Ta có thể khái quát như sau: - Tôn giáo là hệ thống những quan niệm về tín ngưỡng, sùng bái một hay nhiều vị thần linh nào đó và những nghi lễ thể hiện sự sùng bái ấy Có nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng bản chất tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội F.Ănghen đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu con người, của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó có những thế lực trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” Như vậy, bản chất tôn giáo chỉ là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo một thực tại xã hội
Trang 8bằng những lực lượng siêu nhân nào đó Về mặt biểu hiện, một tôn giáo bao gồm:
hệ thống quan niệm tín ngưỡng (giáo lý), các quy định về hình thức nghi lễ (giáo luật) và những cơ sở vật chất thờ phụng để thực hiện các nghi lễ tôn giáo như: đền, chùa, nhà thờ, thánh đường.v.vv
Trong xã hội nguyên thuỷ, trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn Vì vậy họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh quyền lực to lớn, thần thánh hoá sức mạnh đó (ông Trời quyết định tất cả, đức chúa Trời, thần Mặt trời.v vv ) Khi xã hội xuất hiện giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước những sức mạnh tự phát của xã hội không giải thích được sự phân hoá xã hội, những yếu tố ngẫu nhiên và may rủi con người ảo tưởng về thế giới “bên kia” tái sinh, tái thế,.v.vv
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thức của con người, một số nhận thức sai lệch đã bị tuyệt đối hoá mất cơ sở khoa học và hiện thực trở thành siêu nhiên, thần thánh, một số hình thức tôn giáo phổ biến như: Tô tem giáo, Ma thuật giáo, Bái phật giáo, Vật linh giáo.v.vv
Vấn đề tôn giáo trong du lịch chúng ta nên hiểu rằng lịch sử đã để lại di sản văn hoá tôn giáo cùng với trời đất hình thành loài người theo quan niệm duy vật tin vào khoa học chứng minh lịch sử, không nên nhấn mạnh vào thần linh thánh thiện xa rời thực tế, như cầu mong ước được hoặc giới thiệu với các đoàn
du lịch các đền, chùa quá linh nghiệm, trái với thực tế sẽ gây ấn tượng không hay
Vấn đề dân tộc và tôn giáo khi nghiên cứu lập các dự án tour du lịch không thể tách rời, trong du lịch vùng dân tộc miền núi có các công trình kiến trúc văn hoá, lịch sử, tôn giáo (đền, chùa, nhà thờ) cần giới thiệu với khách du lịch cần nắm vững các lịch sử vùng , sự hình thành các công trình kiến trúc tôn giáo gắn liền với lịch sử địa phương tránh giới thiệu tràn lan Xin nêu một ví dụ về du lịch vùng dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và các vùng khác có dân tộc Chăm ta phải hiểu biết đúng lịch sử hình thành dân tộc Chăm, tôn giáo Chăm, văn hoá Chăm
*Dân tộc Chăm: ở Việt Nam Dân tộc Chăm thường được gọi là người Chăm còn gọi là người Chàm là cư dân của nước chiêm thành xưa ( nước Chiêm thành còn có tên gọi là nước Chăm Pa) Nhà nước Chăm Pa được thành lập từ năm 192 sau Công nguyên tồn tại đến năm 1470 Lãnh thổ Chiêm thành qua các thời kỳ mở rộng và thu hẹp, phân cắt hay thống nhất, nói chung là vùng ven biển
từ vĩ tuyến 8 đến 20 Về mặt nhân chủng học (dân tộc học) Dân tộc Chăm thuộc gốc Ma-lay-ô-Anh-đô-nê-giêng ngữ hệ Nam Á Về văn hoá, người Chiêm thành chịu ảnh hưởng đậm nét văn hoá Ấn Độ và theo tôn giáo B-la-môn (có thủ đô cũ
là thánh địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam là di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận), dân tộc Chăm còn theo đạo hồi Islam, đạo Bani (bản địa) Như vậy, chỉ một dân tộc Chăm theo 3 tôn giáo, các cư dân theo các giáo phái khác nhau, mỗi giáo phái lại có giáo lý, giáo luật và nơi thờ tự để hành đạo riêng
Trang 9Việt Nam có 6 tôn giáo lớn là: Đạo phật, Đạo thiên chúa, Đạo tin lành, Đạo
hồi Islam, Đạo Cao đài, Đại hoà hảo và một số thờ tự tin ngưỡng riêng các địa phương
II Tiềm năng phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi Việt Nam
1 Tiềm năng về môi trường tự nhiên, danh lam thắng cảnh
Đất nước Việt Nam uốn lượn theo bờ biển Đông có hình dáng chữ S, cảnh tượng thiên nhiên, núi non, sông suối, đồng bằng phì nhiêu, bờ biển sóng vỗ rì rào, trời xanh mây trắng, gió thổi lành lạnh.v.vv như một bức tranh thơ mộng trước cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ Bờ biển phía Đông dài 2360 km; biên giới đất liền dài 4510 km ; từ Bắc đến Nam theo đường thẳng 1650 km, bề rộng từ
400 đến 600 km, nơi hẹp nhất là Quảng Bình 50 km từ kinh tuyến 1020 08’ đến
1090 28’, vĩ tuyến 80 02’ đến 23023’ Bắc bán cầu
Vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích cả nước, dân số khoảng 20 triệu người đủ thành phần 54 dân tộc sống xen kẽ nhau nhưng cũng có vùng tập trung một số dân tộc hoặc một dân tộc sống gắn liền với phong cảnh thiên nhiên ở trên
Nếu nói đến phong cảnh tự nhiên, danh lam thắng cảnh không có con người đó là bức tranh tĩnh vật vô tri vô giác Nếu phong cảnh tự nhiên, danh lam thắng cảnh có con người của các dân tộc sinh sống ở đó thì nơi ấy mới thật là bức tranh sống động tình người mà khách du lịch tìm đến để biết, để khám phá ra sự tuyệt tác của tự nhiên Bởi vì con người, chính con người đã làm nên lịch sử và nét đẹp văn hoá trong cuộc sống con người
Nói đến môi trường thiên nhiên hùng vĩ của nước ta có thể nói danh lam thắng cảnh là rất nhiều ở các vùng và các địa phương, trong chuyên đề này chỉ sơ lược điểm qua những danh thắng tầm quốc tế và quốc gia để nói lên khả năng tiềm ẩn của du lịch vùng dân tộc và miền núi
Miền Bắc có Vịnh Hạ Long- một kỳ quan thế giới được UNESCO công nhận; có động Tam Thanh, núi Vọng Phu ở Lạng Sơn; có thác Bản Dốc, hang Pác Pó ở Cao Bằng; có hồ Ba Bể ở độ cao 146m so với mặt biển, diện tích 500ha, núi Phiabioóc, vườn quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên có 417 loài thực vật,
229 loài động vật có xương ở Bắc Kạn; hồ Núi Cốc ở Thái Nguyên; có hồ Thác
Bà ở Yên Bái; dãy Phan xi păng cao 3.400m; có vùng Sa Pa Lào Cai nơi du lịch nổi tiếng ở độ cao mây mù tuyết phủ; có nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, có động
cô tiên Sơn La; có mùa xoè hoa, uống rượu cần có cọc mốc biên giới Mường Tè Lai Châu giáp 3 quốc gia Việt Nam, Trung Hoa và Lào.v vv
Đi vào Miền Trung, Tây Nguyên có dãy Trường Sơn hùng vĩ, có con đường Hồ Chí Minh thênh thang mới có sau 30 năm chiến tranh ghi dấu ấn lịch
sử dân tộc Việt Nam anh hùng chống Mỹ Ở Quảng Nam có khu tháp cổ Mỹ Sơn; động Phong Nha Quảng Bình là di sản văn hoá thế giới; ngược lên Tây Nguyên
ta có Biển Hồ Gia Lai; ngã ba Đông Dương, cửa khẩu B' y Kon Tum; 3 nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia có hồ Lắc, Đắc Lắk; thành phố cao nguyên Đà Lạt với núi Liang Biang nổi tiếng cao 2300m so với mặt biển; có khu tháp Chàm cổ kính của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.v.vv
Trang 10Đến vùng dân tộc Khmer Nam Bộ với hệ thống kênh rạch như mạng nhện, ở Kiên Giang có núi Đá dựng, có nhiều hang động lung linh, màu sắc, có xứ thơ Hà Tiên cao 100m giữa cánh đồng (ở xã Mỹ Đức) có núi Bà Đen Tây Ninh, có vùng núi giữa đồng bằng như vùng Tri tôn Bảy núi, có 450 chùa Khmer cổ kính, đó là những điểm đến của khách du lịch danh thắng các vùng dân tộc Việt Nam
2 Tiềm năng về văn hoá, lịch sử, con người cho phát triển du lịch
Nói đến tiềm năng về văn hoá, lịch sử, con người các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước mở mang bờ cõi qua các thời kỳ là một pho sử 4000 năm cùng nhân loại trên trái đất,
là một bài ca bất diệt ngày càng vươn tới đỉnh cao của văn minh nhân loại trên hành tinh của chúng ta Lược qua một vài nét tô đẹp cho các tour du lịch văn hóa lịch sử ở vùng dân tộc miền núi như sau: ở thời tiền sử không có sử sách ghi chép, chỉ được biết qua khảo cổ nói về các nền văn minh lúa nước ở một số vùng nước ta như vùng Hoà Bình, Võ Nhai Thái Nguyên, Đông Sơn Thanh Hoá, cho đến thời kỳ nhà nước Văn Lang và một số sử sách nói đến từ mốc thời gian trước
và sau Công nguyên cách đây 2000 năm
Có thể nói qua về lịch sử địa chất của vùng đất này cách đây hàng mấy chục vạn năm khi đó bờ biển còn ở tận Lao Cai (sự hình thành mỏ Apatit), ở Thái Nguyên là cửa sông Hồng (sự hình thành mỏ sắt Thái Nguyên), sự hình thành vùng mỏ than Quảng Ninh và vùng mỏ than nâu dưới đáy đồng bằng Bắc Bộ, cho
ta thấy lịch sử vùng đất này đã tồn tại cách đây mấy chục vạn năm, có thời kỳ đã
là miền địa tào núi lửa đã đẩy miền Trung, Tây Nguyên cao lên đầy đất bazan màu mỡ, theo thuyết sự chuyển dịch vỏ quả đất đã tách Inđônêxia và Malaysia ra khỏi lục địa Châu Á vì vậy các dân tộc Tây Nguyên với một số dân tộc ở Inđônêxia cùng chung lịch sử và ngôn ngữ (đoàn nghiên cứu văn hoá Việt Nam tại Inđônêxia) Một số dân tộc ở Malaysia như Ogranatsly họ vẫn tự nhận nguồn gốc của họ ở Đông Dương (trong lịch sử không có di cư) (Đoàn nghiên cứu UBDT năm 1994).v.vv
Trở lại với văn hoá, lịch sử, con người các dân tộc có thể nêu gọn lại một số
sự kiện văn hoá lịch sử con người như sau:
Về dã sử, ta có thể giới thiệu một số di tích từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến thời Lý, Trần, Lê.v.vv mà có di tích trên vùng dân tộc như Chùa Đồng Yên
Tử, đền Cửa Ông, hang Hạ Long Quảng Ninh, đền Trần Hưng Đạo Hải Dương, chùa Tam Thanh Lạng Sơn, hang Pác Pó Cao Bằng, Điện Biên Phủ Tây Bắc.v vv Đi liền với các di tích lịch sử văn hóa dân tộc ta giới thiệu bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số các vùng miền từ Bắc vào Nam như vùng Đông Bắc văn hóa đặc trưng là văn hoá Tày Nùng; vùng Tây Bắc văn hoá Mông, Dao, Thái; mùa xoè cả làng, uống rượu cần, văn hoá Pa cô, Vân Kiều ở Bình Trị Thiên, văn hoá Tây Nguyên và các huyện miền núi của các tỉnh Trung Bộ kết hợp văn hoá vùng ven biển Vào Nam Bộ có văn hoá các dân tộc thiểu số Đông Nam Bộ, K’Ho, Giẻ Chiêng, Mơ Nông; Tây Nam Bộ có văn hoá dân tộc Khmer, có đàn
Trang 11ngũ âm ở các chùa Khmer và các lễ hội dân tộc như Oc đom bóc, Cho nam thô may.v.vv
Một nội dung nữa các vùng miền ở trên gắn liền với các chiến công của dân và quân tư cách mạng tháng 8-1945 đến nay sẽ là một nội dung đồ sộ để tuyên truyền cho các tour du lịch, để đáp ứng trí tò mò, tìm hiểu, khám phá của
du khách
Tóm lại, về tiềm năng văn hoá, lịch sử, con người ở các vùng dân tộc miền núi có thể khai thác dễ dàng Song điều cần nói là công tác tuyên truyền phải đúng cảnh thật, nếu không đúng cảnh thật sẽ phản tác dụng, chỉ một người đến nói xấu thì 9 người khác sẽ không đi vào vùng đó nữa Vì vậy, kết hợp lịch sử, văn hoá, con người là yếu tố quan trọng để xác định điểm đến của du lịch vùng dân tộc miền núi
Ví dụ: Bản Lác, Bản Pom Coóng ở Mai Châu Hoà Bình đã có 25 ngôi nhà sàn chuyên phục vụ khách du lịch năm 2006 Hai bản này từ năm 1993 đến nay
đã đón 13.000 lượt khách du lịch trong đó có khách quốc tế chiếm 60%, đã có doanh thu khoảng 8 tỷ đồng là một con số đáng khích lệ cho du lịch vùng dân tộc miền núi
3 Đặc trưng du lịch dân tộc và miền núi và các loại hình du lịch khả thi:
- Điểm đến của các tour du lịch tuỳ theo đối tượng yêu cầu có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời gian chuyến đi, tuỳ theo mục đích của chuyến đi để du ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên từ các danh lam thắng cảnh nổi tiếng quốc tế và trong nước hoặc nghiên cứu chuyên đề về lịch sử, văn hoá hoặc cuộc sống thực con người các dân tộc thiểu số ở miền núi để lập chương trình hợp lý
- Tuỳ theo chuyến đi từ các đô thị xa dần là cảnh đẹp tự nhiên của thiên nhiên ban tặng cho du khách, trên đường đi có nhiều trạm dừng chân gắn với văn hoá bản địa, lịch sử địa phương và cuộc sống thực của người dân nơi đây Ví dụ như người Mông cày bằng bò kéo trên núi có nhiều đá lớn nhỏ, hay guồng nước
cổ xưa.v.vv các điểm dừng chân cần có các dịch vụ phục vụ khách tận tình, nhiều hàng lưu niệm.v vv
- Điểm đến các vùng dân tộc miền núi đa dạng, phong phú có thể đáp ứng nhu cầu các loại đoàn du lịch, các tour du lịch lữ hành bằng nhiều phương tiện, ví
dụ như: máy bay đi Điện Biên, ô tô đi Cao Bằng, đi ngựa đến hồ Ba Bể, đi xe ngựa ở Đà Lạt, đi thuyền, tàu thuỷ ở Ba Bể hay Hồ Lắc Tây Nguyên, hồ Tuyền Lâm ở Lâm Đồng có thể du lịch ngược dòng sông Hồng, sông Cửu Long có thể
du lịch tiếp nối sang Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Singapo, Malaysia với các cung đoạn ngắn
- Các loại du lịch khả thi có thể nêu ra đây một số loại phổ biến hiện nay: + Du lịch theo vùng về bản sắc văn hóa dân tộc theo tour ngắn 3 ngày, 1 tuần
+ Du lịch về lịch sử và cuộc sống con người có thể 2 tuần có ngày và đêm sống với dân
Trang 12- Du lịch theo mùa tránh những mùa mưa, gió rét, khí hậu khắc nghiệt, bão lụt sẽ không thể thực hiện được chương trình du lịch như mong muốn của khách
du lịch Việc lập chương trình, thiết kế tour phải lưu ý đặc trưng này nước ta là nước nhiệt đới gió mùa, muốn khai thác du lịch tốt phải tính toán hợp lý
- Dù loại hình nào, điều quan trọng hiện nay là cơ sở vật chất cho du lịch chưa có; một là ý tưởng, sự bắt đầu nếu không chuẩn bị tốt sẽ là thất bại mất khách, không thể phát triển du lịch bền vững Ví dụ: du lịch chùa Hương- Hà Tây tuy không phải vùng dân tộc chỉ là du lịch tôn giáo và danh thắng cảnh nhưng vệ sinh nơi du lịch quá ư tồi tàn, bẩn thỉu trong những ngày mưa gió, khách ta đi lễ chùa nhiều còn khách tây thì sợ đi lần 2 Một mô hình tốt hơn 10 năm nay đó là
du lịch văn hóa ở Bản Lác- Mai Châu Hoà Bình
- Có thể thiết kế các loại hình: du lịch theo mùa, du lịch miền Bắc vòng theo các tỉnh biên giới, du lịch dọc miền Trung, du lịch Tây Nguyên Du lịch Đông Nam Bộ, du lịch Tây Nam Bộ đều là vùng dân tộc và miền núi Có thể thiết
kế tour du lịch vùng dân tộc miền núi xuyên Việt theo đường Hồ Chí Minh, các điểm dừng là văn hoá dân tộc và danh thắng ở địa phương Song phải cho chuẩn
bị cơ sở vật chất, ngủ nghỉ, vệ sinh ăn uống an toàn đạt tiêu chuẩn quốc tế, chống sốt rét cho khách phải diệt trừ muỗi
Ví dụ: vùng Đauyn Australia nhiệt độ như ở Việt Nam, giáp với Inđônêxia, khách du lịch đọc sách bên bờ ao không có muỗi- đó mới là du lịch lý tưởng, nước qua máy lọc.v.v
4 Tình hình phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi Việt Nam và tác động du lịch để phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo
a) Tình hình phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi Việt Nam
Tình hình phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi Việt Nam hiện nay chỉ là tự phát theo vùng và địa phương theo nhịp điệu của Tổng cục du lịch Việt Nam có nhu cầu, chưa có quy hoạch, chương trình cho loại hình du lịch này Một số vùng dân tộc miền núi đã có kinh nghiệm và có vốn đầu tư của các công ty du lịch trong nước và quốc tế còn rất hạn chế có thể đếm được bằng bàn tay, điều đó nói lên tiềm năng du lịch vùng dân tộc miền núi chưa có kế hoạch khai thác
Có thể kể ra đây hai điển hình là miền Bắc có Sa Pa Lao Cai điểm đến của nhiều du khách trong nước và quốc tế, cơ sở vật chất cho du lịch ở đây được xây dựng từ nhiều nguồn vốn khác nhau kể cả quốc tế như Pháp cũng đầu tư vào nơi đây, cơ sở vật chất du lịch đang phát triển có khách sạn Victoria có thể mở các hội thảo trong và ngoài nước kết hợp du lịch, nhưng số ngày du lịch tại Sa Pa không nhiều nếu không có các tour ngắn nối tiếp như đi Bắc Hà, Mường Khương, Hồ Thác Bà.v.vv Ngoài ra, có các tour du lịch ngắn như thuỷ điện Hoà Bình, Bản Lác Mai Châu, hoặc du lịch về cội nguồn của thanh niên về Pác Pó, thác Bản Dốc Cao Bằng Còn Quảng Ninh du lịch kỳ quan thế giới muốn gọi là
du lịch vùng dân tộc cần nối thêm các tour ngắn Ba Trẽ, Đầm Hà, ra đảo.v.vv
Trang 13Ở miền Nam đặc trưng là thành phố cao nguyên Đà Lạt có núi Liang Biang ở vùng dân tộc Lách, Chin (nhánh của dân tộc K’Ho), hồ Lắc Đắc Lăk để khám phá văn hóa dân tộc Êđê, Gia lai, Ba na, Mnông bằng các lễ hội kồng chiêng, vùng Khmer khám phá 450 chùa Khmer như ao Bà Om, chùa Dơi Sóc Trăng.v vv các tour du lịch này chủ yếu là do các công ty du lịch hiện có ở trong nước thiết kế và mời khách quốc tế kết hợp du lịch bờ biển với các tour ngắn lên các vùng dân tộc miền núi
Năm 1994, công ty du lịch Vũng Tàu có đặt vấn đề với Vụ Chính sách dân tộc xây dựng tuyến du lịch vùng dân tộc xuyên Việt Sau khi khảo sát một số làng dân tộc đặc trưng như Thái, Mường, Tày, Nùng, Dao, H’Mông cho thấy việc đầu
tư cơ sở vật chất cho du lịch không khả thi vì thiếu vốn đầu tư, chưa xây dựng được các làng dân tộc có văn hoá, hợp vệ sinh cho khách quốc tế do đó không lập
dự án được Nếu chỉ dựa vào các điểm tuyến du lịch bờ biển kết hợp các tuor ngắn lên vùng dân tộc vẫn có nhưng chỉ là tự phát
b) Tác động của du lịch đến xoá đói giảm nghèo
Có thể nói tác động của du lịch đến xoá đói giảm nghèo dễ nhận thấy nhất
đó là tạo ra việc làm có thu nhập cho các hộ nghèo để tham gia vào dịch vụ sản xuất hàng lưu niệm như mây tre đan, dệt thổ cẩm các sản phẩm dệt tay của các dân tộc thiểu số như Mai Châu Hoà Bình, Hoà An Cao Bằng mặt chăn thổ cẩm, mặt chăn thái Sơn La, các loại nhạc cụ cầm tay.v vv mặt khác mở ra các dịch
vụ cho nhà nghỉ, ăn uống, giải trí cũng thu hút một số lao động có việc làm tăng thu nhập có cuộc sống ổn định, một khám phá khác từ các khách du lịch có thể tìm ra các nhà đầu tư, phát triển sản xuất hàng hoá vùng đói nghèo như Tây Nguyên sau các tour du lịch đã có nhà đầu tư xin đất mở trang trại chăn nuôi, trang trại trồng cây ăn trái, trồng điều, cà phê, tiêu.v vv nhờ đó các hộ nghèo có việc làm có điều kiện vay vốn từ chủ trang trại để phát triển sản xuất như huyện
Cờ rông nô (Krongnô) ở xã Đắc Rồ, Năm Nung ở tỉnh Đắc Nông hoặc huyện Di Linh, Lâm Hà, Lạc Dương Lâm Đồng, như ở huyện Trà Cú, duyên hải tỉnh Trà Vinh, huyện Vĩnh Châu Sóc Trăng đều có các mô hình thông qua du lịch đầu tư vốn phát triển sản xuất cho người nghèo làm cho đời sống người nghèo có cuộc sống thoát nghèo ổn định hơn
III Định hướng về phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi bền vững
1 Quy hoạch và định hướng phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi (2008-2020)
a Chiến lược phát triển du lịch của Nhà nước
Như chúng ta đã biết từ chương trình phát triển du lịch quốc tế mở ra (Vitfa
1995 tại Giảng Võ) Vụ Chính sách dân tộc là cố vấn về du lịch dân tộc, Bộ Văn hoá là cố vấn về du lịch văn hoá (Ông Hà Quế Lâm và ông Nguyễn Trung Kiên- Thứ trưởng Bộ Văn hoá), đến nay khách du lịch hàng năm đã tăng lên đến 2 triệu người Song về phần văn hoá du lịch phát triển được còn du lịch về vùng dân tộc
và miền núi chưa phát triển được, do nhận thức của các nhà quản lý chưa thấy được du lịch là một ngành công nghiệp nặng (do lợi nhuận mang lại, ở Malaysia năm 2007 thu hút 20 triệu khách du lịch, Thái Lan tuy có đảo chính và nổi loạn, 3
Trang 14tỉnh phía Nam doanh thu du lịch 2007 là 1,5 tỷ đôla) Một phần không có vốn xây các cơ sở vật chất khu nghỉ, bên Tổng cụ du lịch có quan tâm vấn đề này nhưng chỉ chọn một số điểm để làm ví dụ như hồ Ba Bể Bắc Kạn đã xây dựng làng du lịch ở Bản Vài, ở Tây Bắc xây làng du lịch ở hồ Pác Khoang, Tây nguyên xây làng ở hồ Lắc, Lâm Đồng ở hồ Tuyền Lâm.v vv Trên thực tế chưa có chiến lược về phát triển mạnh du lịch dân tộc miền núi Nếu ta có một chiến lược để phát triển du lịch vùng dân tộc và miền núi chắc chắn sẽ thành công và mang lại hiệu quả cho người dân ở các xứ sở, vùng sâu vùng xa như phân tích ở trên
Một số vấn đề đặt ra là chiến lược này nêu ra để tổ chức nào thực hiện? Tổng cục du lịch hay UBDT và các tỉnh thực hiện Hiện nay Bộ Văn hoá thể thao
du lịch và các tỉnh thực hiện Hiện nay, Bộ Văn hoá thể thao và du lịch đang quản
lý vấn đề này Bởi vì chiến lược vạch ra phải có chủ thể thực hiện thì chiến lược
đó mới được triển khai Trong phạm vi của Dự án “Điều tra đánh giá hoạt động bảo vệ môi trường tại một số điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi” có thể nêu khái quát một vài nét về chiến lược phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi như sau:
- Trước hết: cần tăng cường tuyên truyền phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi là để nâng cao dân trí, mở mang cơ sở hạ tầng du lịch làm cho môi trường sống của nhân dân các dân tộc tươi đẹp hơn, nâng cao nhận thức cho cán
bộ địa phương và nhân dân về ý thức bảo vệ môi trường sống;
- Hai là: xác định du lịch là khai thác tiềm năng về danh lam thắng cảnh địa phương, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc một cách thiết thực, giới thiệu với khách du lịch về đất nước, con người, lịch sử hào hùng của địa phương, đưa dân địa phương tham gia vào các tour du lịch để mở mang tầm nhìn
về kiến thức du lịch và cuộc sống
- Ba là: du lịch là nguồn lợi về kinh tế thiết thực để xoá đói giảm nghèo Cụ thể là cung cấp lao động (được đào tạo), nguồn nhân lực phục vụ cho các dịch vụ phục vụ khách du lịch như: xây dựng nhà nghỉ (kể cả nhà dân được khách nghỉ lại họ sẽ trả tiền như bản Pác Ngòi xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, Bắc Kạn), ý thức trách nhiệm phục vụ khách, các công trình văn hoá giải trí tại các điểm khách đến du lịch Một lực lượng lao động khác có việc làm sẽ sản xuất các mặt hàng khách du lịch mua làm lưu niệm từ mây tre đan, đồ gỗ, đá, đất nung.v.vv phục vụ cho khách hàng du lịch, đi liền đó là sản xuất rau xanh, hoa quả phục vụ cho khách ngày càng phát triển, nhờ đó đời sống người nghèo được cải thiện
b Về quy hoạch phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi
b1- UBDT phối hợp với Bộ Văn hoá, thể thao du lịch lập quy hoạch tổng thể toàn quốc có phân công trách nhiệm cụ thể như: Tổng cục du lịch xây dựng các chương trình đào tạo nhân viên phục vụ cho du lịch dân tộc miền núi; đảm nhận thiết kế các tuyến, các đoàn, các tour du lịch lên vùng dân tộc UBDT chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở vạt chất các điểm đến của du lịch, xây dựng các làng văn hoá dân tộc để khách đến nghỉ tại nhà dân ở các vùng miền khác nhau, có đầu tư vốn ban đầu của Nhà nước hoặc vay ngân hàng để làm Thiết kế các tuyến
Trang 15đi du lịch từng vùng, từng địa phương, thiết kế du lịch xuyên Việt theo đường Hồ Chí Minh 3 tuần tạo ra sự khám phá mới cho du khách
- Xây dựng quy hoạch theo vùng dân tộc và miền núi từ Nam ra Bắc
b2- Vùng Đông Bắc: Hà Nội- hồ Núi Cốc Thái Nguyên (hồ núi đất nhân tạo); Bắc Kạn- hồ Ba Bể (hồ núi đá lớn nhất Việt Nam); Cao Bằng- Pác Pó núi Bản Dốc; Lạng Sơn- chùa Tam Thanh, chợ Kỳ Lừa, cửa khẩu Đồng Đăng- Tân Thanh; Quảng Ninh- Móng Cái (chợ Đường Biên), vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long - Hà Nội
b3) Vùng Tây Bắc: Hà Nội- Hoà Bình: thuỷ điện, bản Lác Mai Sơn; Sơn La bản Mòng, suối nước nóng (Bó năm ún) có 106 hộ dân tộc Thái có nghề dệt thổ cẩm Điện Biên có di tích Mường Thanh Điện Biên Phủ, hồ Pác Khoang; Lai Châu có Mường Tè 3 nước cùng chung cột mốc (Việt Nam, Trung Quốc, Lào); qua đèo Sa Pa đến Sa Pa điểm dừng phong cảnh thành phố trong mây có Chợ tình, cá hồi nước ngọt, vườn thuốc nam; Yên Bái có hồ Thác Bà, thuỷ điện Thác
Bà, xem lễ hội văn hoá dân tộc; Tuyên Quang có Tân Trào lịch sử; Phú Thọ có đền Hùng – Hà Nội
b4) Du lịch Bắc miền Trung: Thanh Hoá- sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước, đền
Lê Lợi, suối Cá thần, hồ Bến En và Sầm Sơn Nghệ An về phía Tây 300km qua 7 huyện chọn Mường Lông cửa khẩu Năm Kắn, thăm làng người Mông, làng Sen quê Bác Hồ; Quảng Bình- động Phong Nha; Huế, Quảng Nam- ngũ Hành Sơn,
Bà Nà, khu chùa cổ Chăm Mỹ Sơn
b5) Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Gia Lai Đắc Lắk- Lâm Đồng Đà Lạt, vùng Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận dự lễ hội Katê
b6) Vùng dân tộc Đông Nam Bộ có vườn quốc gia Cát Tiên Lâm Đồng và Tây Nam Bộ: vùng dân tộc Mạ, Stiêng, Mnông; Tây Nam Bộ có dân tộc Khmer tập trung ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Giang kết hợp du lịch dân tộc với du lịch ven biển, du lịch sinh thái bảo vệ môi trường Khi thiết kế tour
sẽ cụ thể hơn các điểm đến của du lịch cần khám phá
2 Những vấn đề cần quan tâm phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi a) Các chương trình hành động của ngành du lịch, UBND và các địa phương
- Điều quan trọng là UBDT và ngành du lịch cần đưa ra được chương trình mục tiêu phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi: phân công, phân cấp trách nhiệm như ở phần trên dã nêu: ai làm việc gì, thời gian hoàn thành, khánh thành các tuyến, các tour du lịch trong nớưc và quốc tế
- Kinh phí Chính phủ đầu tư, vay ngân hàng, kêu gọi tài trợ từ khâu thiết kế
dự án, thực hiện dự án, lập các Ban quản trị dự án các công ty khai thác du lịch được đào tạo nghiệp vụ du lịch và nắm vững tập quán văn hoá du lịch
- Các địa phương vùng dân tộc nâng cao nhận thức trách nhiệm về công tác du lịch, giao cho Sở văn hoá- thể thao, du lịch phối hợp với Ban dân tộc tỉnh thiết kế các tuyến, tour du lịch tại địa phương mình tìm các nguồn vốn để thực hiện,
Trang 16khuyến khích nhân dân tham gia đầu tư xây dựng các điểm du lịch ở địa phương như góp cổ phần, góp đất, tổ chức lễ hội.v.vv
b) Một số kiến nghị trong công tác quy hoạch phát triển du lịch vùng dân tộc miền núi bền vững
- Về chiến lược đề nghị UBDT và Bộ Văn hoá trình Thủ tướng Chính phủ cho chủ trương lập dự án du lịch vùng dân tộc miền núi tổng thể dài hạn coi đây là đầu tư phát triển vùng dân tộc miền núi
- Về chương trình du lịch quốc gia coi đây là ngành công nghiệp nặng thứ 2 gồm 2 chương trình lớn là du lịch chung do Bộ Văn hoá (Tổng cục du lịch) đảm nhận Còn mảng du lịch vùng dân tộc miền núi do UBDT đảm nhận phần xây dựng cơ sở vật chất cho các điểm xây dựng làng, bản, buôn, sóc đặc trưng dân tộc phục vụ du lịch, khai thác tiềm năng các tuyến, tour du lịch vùng dân tộc miền núi Riêng công tác đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên du lịch do Bộ Văn hoá đảm nhận có trường đào tạo, tập huấn ngắn hạn, dài hạn, đào tạo ở nước ngoài
- Về tài chính: nguồn vốn lập dự án tổng thể có khảo sát điều tra do Chính phủ cấp Tài chính triển khai thực hiện dự án Chính phủ cấp hỗ trợ 3 điểm chính ở 3 miền (Bắc- Sa Pa, Trung- Buôn Đôn, Nam- Ao Bà om Trà Vinh), còn các điểm khác lập dự án vay vốn ngân hàng và kêu gọi tài trợ Riêng UBDT thành lập Cục
du lịch vùng dân tộc miền núi mà mở đầu là lập Ban quản lý dự án (thuê chuyên gia thiết kế dự án từ nhỏ đến lớn có bài bản phát triển bền vững)
- Trong phạm vi dự án cần đánh giá được môi trường sinh thái an toàn vệ sinh tại các điểm du lịch hiện có đã thực hiện có hiệu quả như Bản Đôn, Bản Lác Mai Châu, Bản Vài, Bản Pác Ngòi hồ Ba Bể để kiểm định suất đầu tư cho một điểm
du lịch Tôi hy vọng Dự án này sớm đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc
và miền núi, cả nước tràn đầy khách du lịch thập phương như Malaysia, Thái Lan./
Trang 17TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH VÙNG DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Người thực hiện: PGS.TS Phạm Trung Lương 2
1 Môi trường và môi trường du lịch
1.1 Môi trường
1.1.1 Khái niệm
Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đấy và cũng chịu tác động ngược lại của vật thể đó Môi trường chung bao gồm môi trường tự nhiên, dù bị con người tác động ở các mức độ khác nhau nhưng vẫn phát triển theo các quy luật đặc thù riêng, và môi trường nhân tạo được tạo bởi lao động và ý thức của con người từ nguồn vật liệu tự nhiên nhưng khác nhiều hoặc khác hẳn các vật thể tương tự trong thiên nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hoá học, sinh
học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối của con người Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ trong xã hội thông qua các hình thái tổ chức, các thể chế kinh tế - xã hội Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người Ba loại môi trường này cùng tồn tại đan xen và có mối quan hệ tương tác chặt chẽ trong quá trình phát triển của xã hội loài người
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học,
sinh học và xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của từng cá thể và của cộng đồng Tuỳ theo mục đích và nội dung nghiên cứu, môi trường sống của con người còn được phân thành môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo
Như vậy môi trường sống của con người có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và các nhân tố về chất lượng của môi trường Trường hợp hiểu theo nghĩa hẹp thì môi trường (không kể đến tài nguyên) chỉ bao gồm các nhân tố về chất lượng môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người như không khí, nước, âm thanh, ánh sáng, cảnh quan, thẩm mỹ, quan
hệ chính trị - xã hội…
Đối với một vật thể, một sự kiện, một hoạt động phát triển thì khái niệm môi trường cần được hiểu bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển vật thể, sự kiện hoặc hoạt động đó
2 Viện nghiên cứu và phát triển du lịch
Trang 18Xã hội loài người bằng hoạt động sản xuất đã và đang làm thay đổi môi trường xung quanh, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên tất cả các thành tố môi trường Các tác động này vào thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật đã gia tăng mạnh mẽ, và kết quả của nó có thể đạt đến tầm cỡ qui mô như các quá trình tự nhiên của hành tinh
Trong Luật BVMT (2005), được thông Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp
thứ 8, đã đưa ra khái niệm về môi trường, theo đó: "Môi trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên" (Điều 1)
Phạm vi của môi trường có thể lớn, nhỏ khác nhau tùy thuộc vào qui mô và vấn đề đề cập Có những vấn đề môi trường toàn cầu như vấn đề lỗ thủng tầng ôzôn mà nguyên nhân là các chất khí thải công nghiệp và sinh hoạt do con người tạo ra, và hậu quả là làm ảnh hưởng đến hoạt động sống trên hành tinh; hoặc hiện tượng El Ninô là hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu Có những vấn đề môi trường trong phạm vi của nhiều nước như vấn đề chất lượng nước và sử dụng nguồn nước sông Mêkông liên quan đến 6 nước: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Mianma, Trung Quốc… hay nhỏ hơn là vấn đề môi trường trong một nước hoặc một khu vực như môi trường khu du lịch Hạ Long - Cát Bà, môi trường khu mỏ Vàng Danh… là những vấn đề môi trường hạn chế về phạm vi và nguyên nhân tác động
1.1.2 Bảo vệ môi trường (BVMT)
BVMT là những hoạt động góp phần giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện sự xuống cấp của môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chăn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Những nội dung cơ bản về BVMT ở Việt Nam đã được quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường - một trong những luật cơ bản sớm được xây dựng và ban hành ở Việt Nam - bao gồm :
- Phòng chống ô nhiễm môi trường : Đây là một trong những nội dung
quan trọng cơ bản của công tác BVMT ở Việt nam Những hoạt động chính của nội dung BVMT này bao gồm :
Thu gom và xử lý chất thải (rác thải, nước thải)
Xử lý chất thải công nghiệp
Trang 19- Phòng chống, hạn chế tác động sự cố môi trường :
Bảo vệ các công trình phòng chống sự cố môi trường; không sản xuất, vận chuyển, buôn bán sử dụng, cất giữ các chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ có khả năng gây sự cố môi trường
Thu gom, xử lý các chất độc hại đến môi trường do hậu quả của các sự cố như tràn dầu, rò rỉ hoá chất, phóng xạ, v.v
- Phòng chống, hạn chế tai biến môi trường :
Bảo vệ các công trình BVMT, công trình có liên quan đến BVMT
Hạn chế, phòng chống xói mòn, sụt lở, trượt đất, phèn hoá, mặn hoá, ngọt hoá, đá ong hoá, sình lầy hoá, sa mạc hoá
- Hạn chế sự suy thoái và bảo vệ phát triển các hệ sinh thái, đặc biệt là
hệ sinh thái rừng, biển :
Không đốt phá rừng, khai thác bừa bãi các nguồn nước, khoáng sản
Trồng cây xanh
Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu tự nhiên trong sinh hoạt đời sống, sản xuất
- Bảo vệ đa dạng sinh học :
Bảo vệ các giống, loài thực vật, động vật hoang dã
Không khai thác, kinh doanh các loài thực vật, động vật quý hiếm trong
danh mục quy định của Chính phủ (Nghị định số 48/2002/NĐ - CP ngày 22/4/2002)
Khai thác các nguồn lợi sinh vật đúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và bằng công cụ, phương tiện đã được quy định
Không sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt trong khai thác đánh bắt các nguồn động, thực vật
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường :
Tham gia các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường trong xã hội
Đóng góp cho những nỗ lực giáo dục, tuyên truyền về môi trường
- Thực hiện những cam kết quốc tế về BVMT mà Việt Nam tham gia như
Công ước về giảm khí thải vào bầu khí quyển, Công ước về bảo vệ các loài chim
di cư (RAMSA), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã
có nguy cơ tuyệt chủng (CITES), v.v
1.2 Môi trường du lịch
1.2.1 Khái niệm
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Luật Du lịch, 2005)
Trang 20Các hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn)
Khái niệm môi trường du lịch theo nghĩa rộng là “các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển” Khái niệm này đã được “luật hoá”, theo đó “Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch” (Khoản
21, Điều 4, Luật Du lịch, 6/2005) Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường
Hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên cũng như các đặc điểm giá trị văn hóa, nhân văn Trong nhiều trường hợp hoạt động du lịch tạo nên những môi trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hóa phát triển trên cơ sở của một hoặc tập hợp các đặc tính của môi trường tự nhiên như một hang động của vùng núi đá vôi, một quả đồi với một khúc sông, một khu rừng hay một quần thể di tích đền thờ, miếu mạo Trong các hoạt động của ngành du lịch còn tồn tại những mối liên quan phi vật chất với các tập quán dân tộc, truyền thống văn hoá, những đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng Bởi vậy, khi đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch, khái niệm môi trường cần được mở rộng để có thể bao quát được đầy đủ các mối quan hệ: "Môi trường bao gồm các thành phần vật
lý, sinh học, xã hội, văn hoá và tinh thần; chúng có mối quan hệ qua lại với nhau,
tác động lên sự sinh trưởng và phát triển của các cơ thể sống" (M.Husain Sadar, EIA,1996)
Hoạt động phát triển du lịch có những ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi trường khu vực như hình thành các đặc tính nhân tạo hoặc nhân tác của môi trường, làm biến đổi đặc điểm tự nhiên, dẫn đến việc tổ chức lại sản xuất, tổ chức lại kinh tế - xã hội khu vực, tạo công ăn, việc làm, hoặc tác động đến chất lượng sống dân cư, cũng như tạo nên khả năng giao lưu văn hóa và góp phần nâng cao dân trí, văn minh xã hội, hoà nhập cộng đồng
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi trường, nên môi trường du lịch có tác động qua lại với tất cả các yếu tố của môi trường chung Sự suy giảm của môi trường nói chung ở một khu vực đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó Trong môi trường chung, hoạt động sống, sản xuất và phát triển xã hội là đối tượng để phục vụ thì trong môi trường du lịch, ngành kinh tế du lịch (để phục vụ con người) là đối tượng để phục vụ và ngược lại hoạt động du lịch lại là động lực để làm biến cải các đặc tính của môi trường bao quanh
Hoạt động du lịch thu hút du khách, tạo nên công ăn việc làm cho người dân, kích thích sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống, cải thiện đời sống cộng đồng nhân dân địa phương Đó là là hệ quả tác động kinh tế - xã hội tích cực của du lịch đến môi trường Trong quá trình phát triển, mối quan hệ nhân quả giữa môi trường và hoạt động du lịch rất chặt chẽ, vì vậy sự suy giảm
Trang 21chất lượng của môi trường sẽ dẫn đến sự giảm sút của sức hút, của hoạt động du lịch
Môi trường du lịch theo khái niệm trên có liên quan mật thiết đến tài nguyên du lịch Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo các tài nguyên
du lịch sẽ làm tốt lên chất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn du lịch tại các điểm du lịch, khu du lịch Ngược lại, việc khai thác không đồng bộ, không
có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái của khu vực, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường dẫn đến
1.2.2 Nội dung các thành phần môi trường du lịch
Các môi trường thành phần thường được xem xét trong cấu trúc của môi trường du lịch tự nhiên gồm : môi trường địa chất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường sinh thái, sự cố môi trường có tác động trực tiếp đến hoạt động du lịch
- Môi trường địa chất: Môi trường địa chất được hiểu là một tập hợp các
thành tố địa chất của môi trường tự nhiên, bao gồm các yếu tố như cấu trúc địa chất, các hoạt động kiến tạo, tân kiến tạo, địa động lực hiện tại, hoạt động động đất, quá trình thành tạo khe nứt hiện đại, các quá trình karst hóa, quá trình phong hóa, các tai biến địa chất ảnh hưởng đến môi trường hoặc chi phối môi trường Môi trường địa chất được xem là phần cơ sở nền rắn của môi trường chung, trong đó bao gồm các đặc tính về đá (độ cứng, độ phong hóa, độ phóng
xạ, độ bền vững…); các đặc tính về địa chấn (động đất, núi lửa, nứt đất…); các đặc tính về hoạt động ngoại sinh (trượt lở, lũ đá, xâm thực, rửa trôi, chảy trượt…)
và các đặc điểm khác của môi trường địa chất trên khía cạnh xã hội
Các hoạt động kinh tế và đời sống đã đưa đến những biến động của môi trường địa chất, ví dụ như việc xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình với hồ chứa 9,5 tỷ m3 nước và hàng ngàn tấn đất đá, sắt thép của công trình tạo nên sức nén ép gây ra động đất kích thích sau những năm tích nước từ 1989 - 1991 Những hoạt động chặt phá rừng, mở mang diện tích canh tác đã dẫn đến sự gia tăng của các quá trình ngoại sinh: lũ quét, lũ ống ở Sơn La, Lai Châu, v.v.; lũ bùn
đá trên các sườn núi Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn v.v.; trượt lở, nứt đất… ở miền Trung,v.v.…
Trang 22Trong thành phần cấu trúc của môi trường du lịch tự nhiên, môi trường địa chất được biểu thị qua các chỉ số cụ thể như các chỉ số về độ bền vững của đất đá, các chỉ số địa chất công trình cho việc xây dựng các quần thể du lịch, mức độ, khả năng xảy ra các chấn động địa chất, hiện tượng trượt lở ở những khu vực có các hoạt động du lịch; độ phóng xạ và khả năng khai thác lãnh thổ cho mục đích
du lịch; các chỉ số về đặc điểm địa hình…
- Môi trường nước: là bộ phận cấu thành quan trọng của môi trường tự
nhiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của sự sống, và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên trái đất Những biến động của môi trường nước thường dẫn đến những biến động về chất lượng sống toàn cầu hoặc từng khu vực cụ thể Các yếu tố của môi trường nước phân bố khá rộng, từ nước lục địa trong
đó có nước mặt (ao, hồ, sông suối), nước dưới đất (tầng nông và tầng sâu), đến nước đại dương, nước biển Các yếu tố này tồn tại chủ yếu trong thể lỏng, một phần nằm trong các thể hơi, thể rắn và một phần nhỏ ở dạng liên kết ion Trong nghiên cứu môi trường du lịch, môi trường nước được đánh giá nhiều ở góc độ liên quan đến khả năng cấp và chất lượng nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi giải trí và tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh của du khách
- Môi trường không khí: Môi trường không khí là bộ phận của môi trường
tự nhiên tồn tại dưới dạng thể khí Trong môi trường du lịch, môi trường không khí có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch… Các yếu tố của môi trường không khí có vai trò khá lớn trong việc xem xét quyết định hướng quy hoạch khu du lịch, bố trí không gian và phác đồ kiến trúc quần thể du lịch Đánh giá chất lượng môi trường cho hoạt động du lịch qua nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí, mức độ thuận lợi và thích hợp của thời tiết và khí hậu đối với việc tổ chức hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ của du khách
- Môi trường sinh học: được xem là bộ phận sống (hữu cơ) của môi trường
tự nhiên Môi trường sinh học là cơ sở duy trì và phát triển cuộc sống trên hành tinh, điều hòa cán cân nước, làm sạch bầu khí quyển, cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội do đó môi trường sinh học có vai trò rất to lớn trong việc thiết lập và bảo vệ cân bằng sinh thái của tự nhiên Những biến đổi của môi trường sinh học cả về lượng và chất có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch trên hành tinh
Một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sinh học là đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là một đặc tính quan trọng của môi trường sinh học,
có ảnh hưởng lớn đến tổ chức các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động du lịch sinh thái, du lịch tham quan nghiên cứu Chính vì vậy không phải ngẫu nhiên nhiều điểm du lịch sinh thái, cảnh quan có ý nghĩa quốc gia và quốc tế ở Việt Nam gắn liến với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng văn hoá cảnh quan môi trường
- Các tai biến, sự cố môi trường:
Trang 23Tai biến môi trường là những biến đổi bất thường của thiên nhiên được
xem là kết quả của quá trình của hoạt động tự nhiên hoặc hậu quả gián tiếp tác động của con người lên tự nhiên như là dông, bão, lũ quét, nước dâng do bão và gió mùa, trượt đá, lở đất, núi lửa phun, mưa axít, xói lở bờ biển…
Sự cố môi trường là những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
người, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng như cháy rừng, rò rỉ hoá chất, tràn dầu trên sông hay biển, nhiễm độc môi sinh do sự cố cơ sở sản xuất hoá chất, sự
- Môi trường kinh tế - xã hội : các nhân tố chủ yếu cần được xem xét là hệ
thống các thể chế chính sách có liên quan đến phát triển du lịch; tình trạng chiến tranh, khủng bố có nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn tính mạng của du khách; trình độ phát triển khoa học công nghệ được sử dụng trong hoạt động du lịch; mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện nước, hệ thống bưu chính viễn thông và hệ thống xử lý môi trường; môi trường đô thị và công nghiệp, trong đó chú trọng đến tình trạng/mức độ ô nhiễm môi trường tự nhiên, mức độ an toàn giao thông, an toàn xã hội ở các đô thị; mức sống của người dân - là yếu tố quan trọng quyết định mức độ "cầu" để phát triển
du lịch; hệ thống quản lý nhà nước về môi trường - yếu tố quan trọng đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động BVMT nói chung và bảo vệ môi trường du lịch nói riêng
- Môi trường nhân văn : các nhân tố chủ yếu cần được xem xét bao gồm :
tình trạng/mức độ phát triển các tệ nạn xã hội ở các địa điểm diễn ra hoạt động du lịch; mức độ bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống - yếu tố được xem là quan trọng để thu hút khách du lịch; mức độ thân thiện của cộng đồng đối với sự hiện diện của khách du lịch; trình độ văn minh và dân trí ở các địa điểm tham quan du lịch; chất lượng cuộc sống cộng đồng; tình trạng (số lượng và chất lượng) đội ngũ lao động du lịch
Như vậy có thể thấy môi trường du lịch là khái niệm tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố về tự nhiên và văn hoá - xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch Tuy nhiên trong thực tế khi phân tích/đánh giá hiện trạng môi trường du lịch, môi trường du lịch tự nhiên thường được quan tâm hơn bởi môi trường du lịch tự nhiên là một phần của môi trường chung hiện đang được xã hội quan tâm Nội dung của Luật Bảo vệ Môi trường ở Việt Nam hiện cũng mới chỉ
đề cập đến khía cạnh môi trường tự nhiên Những nội dung liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội, môi trường nhân văn thường là những vấn đề phức tạp và việc đánh giá hiện đang ở mức độ định tính
2 Các quy định về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi
Trang 24Các quy định về BVMT trong hoạt động du lịch nói chung, bao gồm cả hoạt động BVMT tại cá điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi, được thể hiện chủ yếu tại các văn bản pháp quy sau :
- Luật BVMT (2005) : được thông Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp
thứ 8, gồm XV Chương với 136 Điều quy định về bảo vệ môi trường ở Việt Nam mà các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động phát triển du lịch Đây được xem là văn bản pháp quy quan trọng nhất đối với hoạt động bảo vệ môi trường trong tất cả các lĩnhvực, bao gồm cả du lịch, tại bất cứ khu vực nào trên lãnh thổ Việt Nam Điều này có nghĩa là hoạt động BVMT tại các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi cũng phải tuân thủ
Trong nội dung của Luật Bảo vệ môi trường, Chương IV về “Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên” có nhiều nội dung về BVMT đáng lưu ý đối với lãnh thổ đặc thù như vùng miền núi nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống
- Luật Du lịch (2005) : được Quốc hội Khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 10,
gồm XI Chương với 88 Điều, trong đó liên quan đến BVMT được quy định cụ thể tại Điều 9 về “Bảo vệ môi trường du lịch” Nôi dung cụ thể của Điều 9 bao gồm 5 điểm :
i Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh
ii Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch
iii Uỷ ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương
iv Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình
v Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Chỉ thị số 07/2000/CT-TTg ngày 30/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các địa điểm thăm quan
du lịch Theo tinh thần của Chỉ thị này, chính quyền các địa phương, nơi có các địa điểm thăm quan du lịch có trách nhiệm đầu mối, phối hợp với các bộ ngành chức năng có liên quan, tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý nhằm đảm bảo môi trường (xã hội) và vệ sinh môi trường (tự nhiên) cho các hoạt động du lịch được diễn ra một cách thuận lợi
Trang 25- Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ban hành kèm Quyết định số 01/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đây được xem là quy chế về BVMT có tính chuyên ngành đầu tiên
có hiệu lực trên pham vi toàn quốc, trong đó có cả lãnh thổ “vùng dân tộc và miền núi”
Quy chế này gồm 6 Chương với 23 Điều, trong đó quy định chi tiết BVMT trong quá trình lập dự án, thiết kế, xây dựng; cải tạo, nâng cấp các khu, điểm du lịch và các công trình phục vụ du lịch (Chương 2; Điều 4 - Điều 6); xác định rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong việc BVMT du lịch trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch (Chương 3; Điều 7 – Điều 15); xác định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong BVMT du lịch (Chương 4; Điều Điều 16 – Điều 19)
Ngoài các Quy định có tính pháp lý trên, những nội dung liên quan đến
BVMT trong hoạt động du lịch cũng được đề cập đến trong Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
(Quyết định phê duyệt số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ) Trong nội dung của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, vấn đề BVMT nói chung, BVMT du lịch nói riêng đã được đề cập và thể hiện tương đối rõ ràng trong “Quan điểm phát triển”, theo đó “Phát triển du lịch nhanh
và bền vững…, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, BVMT tự nhiên và xã hội” được xem là quan điểm quan trong xuyên suốt
Quan điểm chiến lược trên của du lịch Việt Nam đã được cụ thể hoá bằng giải pháp “Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường tự nhiên, xã hội”, theo đó nội dung của giải pháp này tập trung vào :
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, môi trường du lịch;
Đánh giá toàn diện… môi trường du lịch, đặc biệt… ở các vùng sâu, vùng xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên, môi trường du lịch, thường xuyên theo dõi biến động để có những giải pháp kịp thời phối hợp cùng các ban, ngành và địa phương lien quan khắc phục sự cố, tình trạng xuống cấp về tài nguyên và môi trường du lịch;
Tăng cường công tác quản lý môi trường;chú trọng xử lý nước thải, chất thải ở các khách sạn, các điểm du lịch, khu du lịch; khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường; huy động sự tham gia và sự đóng góp của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, hiệp hội du lịch, khách du lịch, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc BVMT tự nhiên và xã hội;
Lồng ghép đào tạo và giáo dục về tài nguyên và môi trường du lịch trong chương trình giảng dạy của hệ thống đào tạo các cấp về du lịch, cũng như giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch cho khách du lịch, cộng đồng dân cư thong qua các phương tiện thong tin đại chúng
Trang 26Các nội dung Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, trong đó có nội dung
về BVMT đã được cụ thể hoá trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
307/QĐ-TTg ngày 24/5/1995
Vấn đề BVMT trong hoạt động phát triển du lịch trên phạm vi cả nước, bao gồm cả các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi được cụ thể hoá, gắn liền
với nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, theo đó những tác động chủ yếu
của du lịch đến môi trường đã được chỉ ra Đây là những căn cứ quan trọng để có được những giải pháp phù hợp nhằm hạn chế các tác động của hoạt động du lịch đến môi trường, góp phần tích cực vào việc thực hiện Luật BVMT và đảm bảo phát triển bền vững ở Việt Nam
3 Thực trạng tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi
3.1 Công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền, các cơ quan liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT du lịch
Thời gian qua, BVMT du lịch đã được Nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm quan tâm, chú trọng Chỉ thị số 07/2000/CT-TTg về tăng cường giữ gìn trật tự, trị an và vệ sinh môi trường tại các địa điểm thăm quan du lịch được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 2000 Bên cạnh đó, ngày 29/7/2003, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch theo Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT với những quy định rất cụ thể về trách nhiệm BVMT du lịch của từng chủ thể Năm
2005, Luật Du lịch và Luật Bảo vệ môi trường cùng được Quốc Hội ban hành, Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện công tác BVMT trong lĩnh vực du lịch
Trên cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật trên, do mỗi địa phương, mỗi vùng miền, bao gồm cả vùng dân tộc và miền núi có những đặc thù riêng xuất phát từ vị trí, điều kiện tự nhiên cũng như vai trò của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế của từng địa phương nên trong công tác tổ chức phối hợp thực hiện công tác BVMT trong lĩnh vực du lịch của từng địa phương khác nhau
Vì vậy, để có cái nhìn cụ thể về công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT du lịch ở những vùng dân tộc, miền núi, kết quả khảo sát cụ thể của Thanh tra Tổng cục Du lịch năm 2007 về công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền, các cơ quan liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT du lịch tại một số địa phương nơi có nhiều điểm du lịch vùng dân tộc đã được dẫn ra
Tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận là một tỉnh thuộc miền Duyên hải Nam Trung Bộ, nơi có cộng đồng dân tộc Chăm sinh sống Đây là địa phương có nhiều tiềm năng du lịch và trong những năm gần đây hoạt động du lịch khá sôi động Cùng với đó là nhiều vấn đề môi trường như ô nhiễm môi trường đất và nước do chất thải sinh hoạt; vấn đề ô nhiễm nước biển ven bờ, v.v
Trang 27Trước tình hình này, UBND Tỉnh, UBND thành phố Phan Thiết, Sở Du lịch đã
có những chỉ đạo chỉ đạo sát sao trong công tác BVMT, thể hiện cụ thể ở việc ban hành các văn bản :
- Văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Thuận
Công văn số 1951/UBBT-CN ngày 20/6/2003 của UBND tỉnh Bình Thuận
về việc bảo đảm vệ sinh, môi trường tuyến du lịch Phú Hải, Mũi Né, Đồi Dương gửi Sở Thương mại-Du lịch, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, UBND thành phố Phan Thiết;
Chỉ thị số 15/CT-CTUBBT ngày 04/7/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý vệ sinh, môi trường, giá cả tại các tuyến, khu du lịch trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 47/2006/QĐ-UBND ngày 13/6/2006 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc ban hành Chương trình hành động của UBND tỉnh Bình Thuận thực hiện Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Công văn số 3272/UBND-KT ngày 24/7/2007 của UBND tỉnh Bình Thuận
về việc tăng cường kiểm tra việc chấp hành các qui định pháp luật về tài nguyên nước và bảo vệ môi trường tại các khu du lịch gửi Sở Tài nguyên
và Môi trường, Sở Du lịch, UBND thành phố Phan Thiết;
Công văn số 3274/UBND-KT ngày 24/7/2007 của UBND tỉnh Bình Thuận
về việc tăng cường quản lý hoạt động của tàu thuyền tại các bãi biển du lịch gửi Sở Du lịch, Sở Thủy sản, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, UBND thành phố Phan Thiết, Hiệp hội Du lịch Bình Thuận
- Văn bản chỉ đạo của UBND thành phố Phan Thiết
Công văn số 1066/UBND-KT ngày 20/7/2007 của UBND thành phố Phan Thiết về việc thực hiện công tác bảo vệ vệ sinh môi trường ven biển, trên biển tại Bãi San, phường Mũi Né gửi Công ty Công trình đô thị, Ban Quản
lý Khu du lịch Hàm Tiến - Mũi Né, UBND phường Mũi Né;
Công văn số 1196/UBND-KT ngày 09/8/2007 của UBND thành phố Phan Thiết về việc thực hiện công tác đảm bảo vệ sinh môi trường ven biển, trên biển tại Khu du lịch Đồi Dương - Thường Chánh gửi Công ty Công trình
đô thị, Ban Quản lý Khu du lịch Đồi Dương - Thương Chánh, UBND các phường, xã có nghề cá;
Kế hoạch số 45/KH-UBND ngày 06/9/2007 của UBND thành phố Phan Thiết về việc triển khai các hoạt động hưởng ứng "Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007"
- Văn bản chỉ đạo của Sở Du lịch Bình Thuận
Công văn số 177/SDL-NV ngày 26/3/2006 của Sở Du lịch tỉnh Bình Thuận
về việc thực hiện phát động bảo vệ môi trường du lịch tại Phan Thiết - Mũi
Trang 28Né gửi Hiệp hội Du lịch tỉnh Bình Thuận, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch;
Công văn số 620/SDL-NV ngày 07/12/2006 của Sở Du lịch tỉnh Bình Thuận về việc báo cáo hiện trạng, BVMT du lịch năm 2006 gửi Phòng Công thương và Thương mại - Du lịch các huyện, thị xã, thành phố, Ban Quản lý các khu du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch;
Công văn số 214/SDL-NV ngày 13/4/2007 của Sở Du lịch tỉnh Bình Thuận
về việc tăng cường quản lý, phục vụ du khách dịp lễ 30/4 - 01/5/2007 gửi Phòng Công thương, Phòng Thương mại - Du lịch, Ban Quản lý các Khu
du lịch, Giám đốc các doanh nghiệp du lịch;
Công văn số 234/SDL-NV ngày 25/4/2007 của Sở Du lịch tỉnh Bình Thuận
về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng "Tuần lễ Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường" gửi Phòng Công thương và Thương mại - Du lịch các huyện, thị xã, thành phố, Ban Quản lý các khu du lịch, các doanh nghiệp du lịch;
Công văn số 279/SDL-NV ngày 28/5/2007 của Sở Du lịch tỉnh Bình Thuận
về việc hưởng ứng ngày Môi trường thế giới 05/6/2007 gửi Phòng Công thương, Phòng Thương mại - Du lịch các huyện, thị xã, thành phố, Ban Quản lý các Khu du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là một tỉnh biên giới sát Cam-Pu-Chia, nơi sinh sống của một số dân tộc Khmer, Hoa, Chăm, Đây là địa phương có hai cửa khẩu quốc tế lớn là Mộc Bài và Chàng Riệc, đây là trung tâm thương mại thu hút rất đông khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch
Tuy nhiên ở Tây Ninh, hoạt động kinh doanh du lịch vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tiềm năng và thế mạnh tự nhiên, nên công tác BVMT cũng chưa thực sự được chú trọng Để giữ vững được hệ sinh thái, bảo vệ được cảnh quan thiên nhiên và tạo được những chuyển biến tích cực về nhận thức của người dân trong công tác giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường là vấn đề đang được cơ quan quản lý du lịch ở địa phương hết sức quan tâm và cần có sự hỗ trợ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương
Trong mấy năm qua, công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch đã
có nhiều cố gắng Sở Thương mại - Du lịch đã thúc đẩy và chỉ đạo các doanh nghiệp tăng cường hơn nữa công tác giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch Trong năm 2007, Sở Thương mại - Du lịch chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện những quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tổng cục Du lịch về BVMT Cụ thể Sở Thương mại - Du lịch đã ban hành một số văn bản như:
Công văn số 22/TMDL- QLDL ngày 08/01/2007 của Sở Thương mại - Du lịch hướng dẫn các doanh nghiệp tiếp tục triển khai công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, nhằm góp phần nâng cao nhận thức của cộng động dân cư, khách du lịch và người lao động tại các khu, điểm du lịch trên
Trang 29địa bàn tỉnh, kèm theo đó là các tờ gấp với chủ đề "Hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn";
Công văn số 348/SL -TMDL ngày 07/5/2007 của Sở Thương mại - Du lịch
về việc không giết mổ động vật, gia súc, nhất là những động vật hoang dã gây ảnh hưởng tới môi trường sống tự nhiên và gây phản cảm đối với khách du lịch quốc tế;
Công văn số 802/STMDL- QLDL ngày 10/10/2007 của Sở Thương mại -
Du lịch về việc chấn chỉnh hoạt động kinh doanh du lịch đối với các đơn
vị, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Tróng đó yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết về bảo đảm chất lượng dịch vụ, vệ sinh, không để xảy ra tỉnh trạng chèo kéo, ăn xin tại các khu, điểm tham quan du lịch, đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch;
Công văn số 817/STMDL - QLDL ngày 12/10/2007 của Sở Thương mại -
Du lịch về tuyên truyền công tác BVMT du lịch cho các Sở, ban, ngành và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Yêu cầu các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thực hiện tốt công tác BVMT góp phần vào sự phát triển bền vững của du lịch Tây Ninh trong thời gian tới
Tỉnh An Giang
An Giang là một tỉnh miền Tây Nam bộ, là tỉnh thuọc Đồng bằng sông Cửu Long; dân số 2.170.100 người, 17 dân tộc, trong đó sau dân tộc Kinh là dân tộc Khmer, Chăm chiếm đa số
An Giang được nhiều du khách biết đến với các lễ hội độc đáo như lễ hội miếu Bà Chúa Xứ, Chôl Chnam Thmây, Dolta và hội đua bò , các danh lam thắng cảnh: núi Sam, miếu Bà Chúa Xứ, Núi Cấm và hệ thống hang động Thủy Đài Sơn, Anh Vũ Sơn, Sơn viên Cô Tô, đồi Tức Dụp- di tích lịch sử thời kỳ chống Mỹ và nhiều di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật khác Đặc biệt đến với An Giang, du khách còn được tham quan nghề dệt vải thủ công lâu đời của đồng bào Chăm, nghề nuôi cá bè đặc trưng của vùng sông nước
Trong những năm qua, công tác BVMT trong lĩnh vực du lịch được các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng của tỉnh An Giang rất coi trọng Nhiều văn bản đã được ban hành để triển khai, chỉ đạo việc BVMT du lịch cũng như để quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn, cụ thể:
Quyết định số 561/2003/QĐ.UB.TC ngày 22/4/2003 của UBND tỉnh An Giang về việc đổi tên Ban Quản lý Dự án đầu tư và xây dựng các Khu du lịch thành Ban Quản lý các Khu du lịch tỉnh An Giang, và ban hành kèm theo Quyết định "Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý các Khu
du lịch tỉnh An Giang";
Thông báo số 58/TB.UBND ngày 20/4/2006 của UBND tỉnh An Giang về việc treo cờ, nghỉ lễ và vệ sinh môi trường đón lễ 30/4 và 01/5;
Công văn số 4194/UBND-KT ngày 27/12/2006 của UBND tỉnh An Giang
về việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
Trang 30 Chỉ thị số 08/2007/CT-UBND ngày 19/4/2007 của UBND tỉnh An Giang
về việc tăng cường công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm;
Quyết định số 1419/QĐ-UBND ngày 29/5/2007 của UBND tỉnh An Giang
về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án di dời nhà trên sông, kênh, rạch đảm bảo vệ sinh môi trường tỉnh An Giang từ nay đến năm 2020;
Kế hoạch số 409/SDL-KH ngày 24/10/2007 của Sở Du lịch tỉnh An Giang
về việc thực hiện chương trình bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, trong đó quy định cụ thể các nội dung trong công tác BVMT du lịch tại các
cơ sở lưu trú du lịch, tại các khu, điểm du lịch cũng như quy định trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Du lịch tỉnh An Giang trong công tác BVMT du lịch
Qua khảo sát thực trạng tại một số địa phương ở những vùng địa lý khác nhau có thể thấy vấn đề BVMT du lịch đã được các cấp, các ngành quan tâm, chú trọng thực hiện Một số địa phương đã làm khá tốt công tác BVMT du lịch tại các điểm, khu du lịch UBND tỉnh, thành phố, thị xã có khu, điểm du lịch, đơn vị hoạt động du lịch đã ban hành các quy định cụ thể để quản lý hoạt động dịch vụ
du lịch trên địa bàn Cơ quan nhà nước về du lịch tại nhiều địa phương đã khá chủ động trong việc thực hiện chức năng tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản, các quy định về tăng cường giữ gìn trật tự, trị an và vệ sinh môi trường tại các địa điểm tham quan du lịch trên địa bàn Tuy nhiên, do nhiều tỉnh du lịch mới chỉ trong giai đoạn đầu của sự phát triển nên công tác đầu tư cho BVMT du lịch còn hạn chế, việc thực hiện của các đơn vị kinh doanh du lịch vẫn còn chưa đúng theo quy định của pháp luật
2 Công tác tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra việc thực hiện pháp luật
về BVMT du lịch
Kết quả kiểm tra của Thanh tra Tổng cục Du lịch ở các cơ quan QLNN về
du lịch tại một số địa phương vùng dân tộc và miền núi cho thấy đã có sự quan tâm đến hoạt động tuyên truyền về công tác bảo vệ môi trường du lịch Xác định hoạt động tuyên truyền là cơ sở để các văn bản, các quy định của Nhà nước đi vào thực tiễn, nên khi các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT du lịch được ban hành, các cơ quan nhà nước về du lịch tại các tỉnh đã chủ động gửi văn bản đến các tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn để tổ chức thực hiện
Một số cơ quan QLNN về du lịch tại những địa phương được khảo sát đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường phổ biến, hướng dẫn, cũng như kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT du lịch Như Sở Du lịch tỉnh An Giang đã ban hành Kế hoạch số 409/SDL-KH ngày 24/10/2007 về việc thực hiện chương trình BVMT trong lĩnh vực du lịch, trong đó quy định cụ thể các nội dung trong công tác BVMT du lịch tại các cơ sở lưu trú du lịch, tại các khu, điểm du lịch cũng như quy định trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Du lịch tỉnh An Giang trong công tác bảo vệ môi trường du lịch Tuy nhiên, hoạt động này chưa được các cơ quan QLNN về du lịch cũng như Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành chủ động, thường xuyên, mà chủ yếu được thực hiện vào một số ngày nhất định, dịp nhất định trong năm Đó là
Trang 31nguyên nhân dẫn đến tình trạng, đơn vị nhận được thì tự triển khai thực hiện, còn các đơn vị không nhận được văn bản quy phạm pháp luật thì coi như không biết
và việc BVMT tại các khu điểm du lịch là xuất phát từ yêu cầu thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp Tại một số tỉnh mà Thanh tra Tổng cục đã làm việc, chỉ khoảng 50% số Sở lập Báo cáo hiện trạng môi trường du lịch chung với Báo cáo tổng kết hàng năm gửi UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch, số còn lại chưa lập Báo cáo theo như quy định của Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT Bên cạnh
đó, trên thực tế các Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương chủ yếu thực hiện nhiệm vụ trong chức năng của mình nên công tác phối hợp thực hiện Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch cũng chưa thực sự được quan tâm
Tại nhiều địa phương được kiểm tra, cơ quan QLNN về du lịch còn lúng túng trong việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ BVMT tới các khu, điểm du lịch
và các cơ sở lưu trú du lịch Chỉ thị 07/2000/CT-TTg ngày 31/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giữ gìn trật tự, trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch và Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chế BVMT trong lĩnh vực du lịch hầu như chỉ được gửi đến phòng kinh tế huyện Nhiều đơn vị được khảo sát chưa biết tới Quy chế BVMT trong lĩnh vực du lịch nên các hoạt động BVMT du lịch chưa được tiến hành bài bản, mới chỉ xuất phát
từ nhu cầu của hoạt động kinh doanh và ý thức của người quản lý
Với chức năng là cơ quan tham mưu cho UBND các tỉnh trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, cơ quan QLNN về du lịch các địa phương đã ít nhiều chủ động trong việc tổ chức kiểm tra đối với các
tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại môi trường du lịch
Nhiều Sở chưa tiến hành kiểm tra một cách thường xuyên, từ đó dẫn đến tình trạng các đơn vị, tổ chức cá nhân hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn đều thực hiện công tác BVMT mang tính chất đối phó Đồng thời, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các văn bản, quy định của nhà nước về BVMT du lịch chưa được các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch quan tâm thực hiện, hoặc thực hiện nhưng mang tính hình thức Hàng năm, các cơ quan QLNN
về du lịch tại địa phương không đôn đốc các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn báo cáo về công tác BVMT du lịch của đơn vị nên cơ quan cũng không lập được Báo cáo hiện trạng môi trường du lịch của địa phương Như vậy, trên thực tế hiệu quả của việc ban hành và thực hiện Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT về BVMT trong lĩnh vực du lịch vẫn còn hạn chế
Nhìn chung, công tác phổ biến, tuyên truyền BVMT trong lĩnh vực du lịch
của các địa phương đã được thực hiện và bước đầu cũng đã tác động tích cực đến hoạt động BVMT tại các điểm du lịch Các văn bản, quy định của nhà nước đã được phổ biến bằng nhiều hình thức đến với các đối tượng thực hiện Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này chưa cao như đã nêu; các khâu của hoạt động quản lý nhà nước xâu chuỗi từ việc ban hành các quy định, văn bản, đến hoạt động tuyên truyền phổ biến, tổ chức thực hiện và cuối cùng là kiểm tra, tổng kết, đánh giá và rút ra những kinh nghiệm Trên thực tế, như trên đã nêu, nếu không có hoạt động
Trang 32kiểm tra, đánh giá đi cùng thì không thể đánh giá được hiệu quả của việc tuyên truyền phổ biến Như vậy, có thể thấy, tại các địa phương nói chung, vùng dân tộc, miền núi nói riêng, nếu kết hợp tốt giữa công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện với hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động BVMT thì sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực, thúc đẩy được hoạt động BVMT tại các điểm du lịch
3 Việc thực hiện pháp luật về BVMT du lịch của các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch
3.1 Về công tác xây dựng kế hoạch, xây dựng nội quy về BVMT du lịch, trật tự trị an và biện pháp thực hiện
Kết quả kiểm tra cho thấy còn nhiều khu, điểm du lịch chưa xây dựng nội quy, đặc biệt là nội quy riêng về BVMT du lịch để phổ biến cho cán bộ nhân viên trong đơn vị và khách du lịch
Do đặc thù riêng của từng khu, điểm du lịch, những nơi có nội quy BVMT đều thực hiện việc niêm yết ở những nơi dễ quan sát, thuận lợi cho khách du lịch thực hiện Tuy nhiên, tại một số khu, điểm du lịch, do các biển nội quy được xây dựng khá lâu, chữ viết bị mờ không rõ ràng, gây khó khăn cho việc thực hiện
Đa số các khu, điểm du lịch được kiểm tra chưa xây dựng kế hoạch BVMT
du lịch, an ninh trật tự hàng năm Chỉ có khoảng 7% khu, điểm du lịch xây dựng
kế hoạch BVMT cụ thể và khoảng 15% có kế hoạch BVMT du lịch là một phần trong kế hoạch hoạt động hàng năm của đơn vị
Mặc dù không xây dựng kế hoạch, chương trình hành động BVMT hàng năm nhưng hầu hết các khu, điểm du lịch đều thực hiện phổ biến cho cán bộ nhân viên trong đơn vị phương án, trách nhiệm trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường
du lịch theo yêu cầu kinh doanh của mình
Các cơ sở lưu trú du lịch đều đã tuyên truyền cho cán bộ, nhân viên về trách nhiệm và nhiệm vụ tăng cường giữ gìn vệ sinh môi trường, trật tự, trị an và
vệ sinh an toàn thực phẩm trong cơ sở của mình khi cung cấp cho khách lưu trú Tại các cơ sở được kiểm tra, chưa có đơn vị nào để xảy ra sự cố về môi trường hoặc vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của khách lưu trú
Tuy nhiên, không phải tất cả các đơn vị có hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch đều có Giấy chứng nhận đủ điều kiện Vệ sinh an toàn thực phẩm và An ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy của các cơ quan có thẩm quyền
3.2 Thực trạng tình hình thực hiện pháp luật về BVMT tại khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch
Kết quả kiểm tra cho thấy các khu, điểm du lịch đều đã quan tâm đến công tác BVMT du lịch Mặc dù chưa thực hiện đúng theo những quy định của pháp luật về BVMT du lịch, nhưng nhìn chung các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch đều có môi trường sạch sẽ, cảnh quan đẹp
Trang 33Về công tác thu gom, xử lý rác thải, nước thải: tại một số khu, điểm du lịch
không bố trí các thùng đựng rác dọc đường đi và tại các vị trí thuận tiện cho khách du lịch bỏ rác; khoảng 8% điểm du lịch có đặt các thùng đựng rác , tuy nhiên việc bố trí chưa hợp lý, số lượng chưa nhiều, khoảng cách giữa thùng quá
xa, thùng rác không có nắp đậy nên vẫn gây ô nhiễm môi trường, và mất cảnh quan khu, điểm du lịch Có khoảng 80% khu, điểm các thùng đựng rác được bố trí tại các vị trí thuận tiện, hợp lý và có nắp đậy đảm bảo vệ sinh Một số đơn vị
đã thiết kế các thùng đựng rác với nhiều kiểu dáng đa dạng, chất liệu phong phú phù hợp với cảnh quan thiên nhiên
Việc thu gom rác thải được hầu hết các khu, điểm du lịch thực hiện thường xuyên, không để xảy ra tình trạng tồn đọng lâu ngày Tuy nhiên, có một số đơn vị rác không được thu gom, vận chuyển hàng ngày mà với tần suất là 2 lần/tuần nên không đảm bảo vệ sinh (Khu du lịch White Sand Dốc Lết) Rác thải tại khoảng 25% số khu, điểm du lịch được thu gom và xử lý bằng phương pháp thủ công là đốt, chôn lấp, hoặc vứt xuống khe núi, không đảm bảo tính khoa học (khu du lịch núi Bà Đen, khu du lịch núi Cấm) Khu vực xử lý rác còn bố trí gần các điểm tham quan, du lịch, không có lò đốt chuyên dùng, ảnh hưởng tới môi trường và gây mất mỹ quan cho khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch
Việc xử lý nước thải cũng bước đầu được các khu, điểm du lịch và cơ sở lưu trú du lịch quan tâm Khoảng 70% các khu, điểm du lịch đã có hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên chỉ có khoảng 25% có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo đúng tiêu chuẩn quy định; khoảng 48% có hệ thống xử lý nước thải còn rất thô
sơ, nước thải được xử lý qua các bể lắng, lọc trước khi thải vào môi trường; số còn lại nước thải không qua hệ thống xử lý nào mà xả trực tiếp vào môi trường (Khu du lịch danh thắng núi Sam, Khu du lịch núi Cấm, Khu du lịch dã ngoại Hòn Rơm…)
Về việc bố trí cán bộ phụ trách công tác an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường du lịch: Nhìn chung, BQL các khu, điểm du lịch đều đã bố trí cán bộ kiêm
nhiệm theo dõi công tác bảo vệ môi trường, có các tổ vệ sinh môi trường thực hiện nhiệm vụ làm vệ sinh trong đơn vị Từ đó đã tạo ra sự chủ động trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhất là ở những khu vực nhạy cảm về môi trường như rừng, hồ, suối, bãi biển… để kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý khi xảy ra sự cố Trong tổng số 28 khu, điểm du lịch được Thanh tra của Tổng cục Du lịch kiểm tra, có 15% không có cán bộ phụ trách theo dõi công tác bảo vệ môi trường, 90% có cán bộ làm công tác vệ sinh môi trường, 30% trong số đó có
bố trí cán bộ chuyên trách, và 70% còn lại cán bộ môi trường là kiêm nhiệm, không thường xuyên, chỉ theo dõi vào những thời điểm đông khách du lịch tới tham quan
Việc bố trí các nhà vệ sinh công cộng: Có thể nói, BQL các khu, điểm du
lịch đều đã ý thức được tầm quan trọng của việc xây các nhà vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn Qua kiểm tra, 100% các khu, điểm du lịch có nhà vệ sinh công cộng cho khách du lịch Nhiều khu, điểm du lịch và cơ sở lưu trú du lịch đã bố trí nhiều nhà vệ sinh công cộng trong đơn vị của mình như Khu du lịch sinh thái White Sand Dốc Lết đã xây dựng 50 nhà vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn trong khuôn viên
Trang 3412 ha của mình Tuy nhiên, khoảng 15% các khu, điểm du lịch có xây dựng nhà
vệ sinh công cộng nhưng số lượng còn hạn chế (chỉ có từ 1-2 nhà), việc bố trí chưa hợp lý và các nhà vệ sinh còn rất bẩn, không có cửa, thiếu nước, không đảm bảo vệ sinh (Khu du lịch núi Bà Đen, Khu du lịch căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu du lịch danh thắng núi Sam)
Tóm lại, kết quả kiểm tra tại những địa phương có khu điểm du lịch ở các vùng dân tộc và miền núi trong tổng thể các địa phương, chưa thấy có địa phương nào xảy ra sự cố ô nhiễm, suy thoái môi trường và mất trật tự, trị an gây ảnh hưởng đến môi trường du lịch
3.3 Công tác tham gia vào phong trào giữ gìn vệ sinh môi trường của địa phương, của ngành du lịch phát động, việc tham gia khắc phục sự cố ô nhiễm, suy thoái môi trường tại địa phương và việc phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương trong việc giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường
Qua kiểm tra, tại khoảng 85% các khu, điểm du lịch hoạt động kinh doanh
du lịch đều đã có những hoạt động cụ thể tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường của địa phương như việc tham gia dọn vệ sinh trong ngày Môi trường thế giới, tham gia trồng cây xanh, trồng rừng Một số khu, điểm du lịch sinh thái có gắn với tài nguyên rừng, BQL các khu, điểm đã có phương án và phối hợp với chính quyền địa phương đặc biệt là lực lượng dân phòng thường xuyên diễn tập phòng chống cháy rừng (khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Mắt Xanh, khu du lịch danh thắng núi Sam) Chỉ có khoảng 15% khu, điểm du lịch chưa tham gia là do chính quyền địa phương và ngành du lịch chưa phát động phong trào bảo vệ môi trường du lịch tới đơn vị, hoặc do đơn vị chưa đi vào hoạt động (Khu nghỉ mát White Sand Dốc Lết, Khu du lịch Terracotta)
Khu du lịch Tức Dụp đã phối hợp với lực lượng Kiểm lâm địa phương trồng 40 cây xanh trên đồi; tự tổ chức trồng thêm 1700 cây xanh trong Khu du lịch Đã tham gia các phong trào giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường do địa phương phát động
Tại Khu du lịch căn cứ Trung ương Cục miền Nam, hàng năm, BQL phối hợp với chính quyền địa phương phát động phong trào trồng cây xanh để phục hồi cảnh quan cho rừng Đặt các biển cảnh báo phòng, chống cháy để bảo vệ rừng, yêu cầu du khách tuân thủ theo đúng quy định Hiện tại, Ban đã xây dựng được hai bể nước ngầm phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy
Khu du lịch núi Bà Đen, BQL phối hợp với chính quyền và các đoàn thể ở địa phương phát động phong trào trồng cây xanh, nhất là vào các dịp lễ hội đầu xuân, nhằm tạo môi trường xanh sạch Đối với các đoàn khách vào tham quan, BQL có trách nhiệm hướng dẫn cho khách những quy định và cam kết giữ gìn trật tự vệ sinh, bảo vệ cảnh quan môi trường Năm 2007, BQL đã tổ chức trồng mới được 250 cây xanh Khu du lịch tham gia tích cực các phong trào giữ gìn BVMT của ngành và địa phương phát động như: hưởng ứng ngày môi trường thế giới, tham gia phong trào trồng cây xanh, tổ chức cho cán bộ quét dọn vệ sinh công cộng
Trang 353.4 Công tác báo cáo về hoạt động BVMT cho cơ quan quản lý nhà nước
Kết quả kiểm tra về vấn đề này cho thấy có tới 93% khu, điểm du lịch không thực hiện quy định về lập báo cáo hiện trạng môi trường du lịch hàng năm gửi Cơ quan QLNN về du lịch của địa phương, chỉ có 7% các khu, điểm du lịch thực hiện báo cáo nhưng đều chỉ báo cáo với Sở Tài nguyên và Môi trường Nguyên nhân là do các đơn vị hầu như không tự giác thực hiện, trong khi đó, các
cơ quan quản lý không tiến hành hướng dẫn, kiểm tra nhắc nhở thường xuyên
Tóm lại, kết quả kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT du lịch tại
một số địa phương, trong đó có các khu, điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi, cho thấy, các khu, điểm du lịch đều đã có những biện pháp tích cực trong hoạt động BVMT du lịch Đây là đòi hỏi thiết yếu của hoạt động kinh doanh, xuất phát từ nhu cầu phải ngày càng tăng sức hấp dẫn và khả năng thu hút khách du lịch của các khu, điểm du lịch Tuy nhiên, việc thực hiện của nhiều BQL khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch là chủ động xuất phát từ yêu cầu thực tế kinh doanh chứ chưa được phổ biến, tuyên truyền, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về BVMT trong lĩnh vực du lịch của các cơ quan quan lý
Đánh giá chung
Hiệu quả đạt được
Về cơ bản, công tác BVMT du lịch và giữ gìn trật tự, trị an tại các khu, điểm du lịch đã đạt kết quả tích cực, trong đó vai trò quan trọng là nhận thức của các chủ thể quản lý trực tiếp quản lý các khu, điểm du lịch, của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch Đã có sự phối hợp giữa các khu, điểm du lịch với chính quyền và các cơ quan đoàn thể tại địa phương để đề
ra các biện pháp thiết thực góp phần bảo vệ có hiệu quả công tác BVMT như: tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, phát động phong trào trồng cây xanh, tham gia các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật về môi trường và tổ chức các chương trình văn hoá, văn nghệ chuyên đề về môi trường… Thực tế môi trường tại phần lớn các khu, điểm du lịch hiện nay là tương đối sạch sẽ, rác thải được thu gom hàng ngày, ý thức BVMT của cán bộ, công nhân viên cũng đã có chuyển biến tích cực
có những giải pháp mang tính tổng thể Đồng thời, giữa các khu, điểm du lịch chưa có sự phối kết hợp thường xuyên, trong khi môi trường là một không gian chung rộng lớn không thể chia cắt, khoanh vùng, và nhiệm vụ BVMT không phải của riêng một cá nhân, riêng một ngành hay một tổ chức nào, mà nó đòi hỏi phải
Trang 36có sự tham gia của cả cộng đồng Hơn thế nữa, công tác tuyên truyền, phổ biến
và thanh tra, kiểm tra về BVMT du lịch chưa được tiến hành thường xuyên, chỉ được chú trọng trong một số dịp nhất định nên hiệu quả đạt được chưa cao và không bền vững Như nhiều khu, điểm du lịch nằm xen kẽ với khu vực dân sinh nên việc chăn thả gia súc, việc trồng trọt ít nhiều cũng gây ảnh hưởng đến môi trường Mặc dù đa số người dân đã hiểu và có ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT nhưng cũng còn một số ít chưa có ý thức Những thành phần này chủ yếu là người dân tộc thiểu số, họ sống theo phong tục tập quán truyền thống lâu đời, để thay đổi nhận thức trong việc bảo vệ môi trường cần có một thời gian dài, do đó công tác tuyên truyền, phổ biến và thanh tra, kiểm tra cần phải được tiến hành thường xuyên
Đối với các cơ quan nhà nước về du lịch tại địa phương, với vai trò là cơ
quan QLNN về du lịch tại địa phương nhưng hoạt động của một số cơ quan đối với công tác BVMT du lịch trên địa bàn chưa thật sự phát huy hiệu quả, việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về BVMT, giữ gìn trật tự, trị
an trong lĩnh vực du lịch chưa được gắn kết với việc tổ chức thực hiện, chưa được thực hiện cùng với công tác kiểm tra, đánh giá Từ đó, một số đối tượng chịu sự điều chỉnh nhưng lại chưa biết và chưa thực hiện theo Một số địa phương chưa có sự phối kết hợp giữa cơ quan nhà nước về du lịch với các ngành, các cấp, với Sở Tài nguyên - Môi trường trong việc phổ biến và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Một số
Sở không ban hành văn bản chỉ đạo cụ thể, chi tiết các văn bản của Trung ương
và của UBND tỉnh về công tác giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường, cũng như hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện công tác BVMT tới các khu, điểm du lịch
và các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn
Đối với các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch, hiện trạng môi trường tại
các đơn vị cơ bản được đảm bảo, đã ban hành và niêm yết nội quy về BVMT du lịch và giữ gìn trật tự, trị an, đồng thời tuyên truyền, nhắc nhở du khách thực hiện các qui định nhưng tại một số khu, điểm du lịch còn hiện tượng vứt rác bừa bãi (xuống suối, hồ hoặc trên đường đi, hoặc xuống khe núi) Rác thải vẫn còn được thu gom và xử lý bằng phương pháp thủ công là đốt hoặc chôn lấp, nước thải hầu như không được các đơn vị xử lý theo quy trình khoa học mà chỉ qua các bể lắng lọc hoặc xả trực tiếp vào môi trường Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú du lịch nói riêng và môi trường sống của cộng đồng dân cư nói chung Tại nhiều khu, điểm du lịch do hoạt động sắp xếp, quy hoạch các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch không hợp lý dẫn đến việc bán hàng rong, chèo kéo, ép khách mua hàng đồng thời rác thải không được thu gom xử lý đúng tiêu chuẩn đã gây ảnh hưởng đến môi trường và trật tự chung
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong hoạt động BVMT du lịch tại các đơn vị nêu trên, trong đó các nguyên nhân chính là do:
Trang 37 Ý thức chủ quan của các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch chưa coi trọng công tác BVMT và giữ gìn trật tự, trị an;
Văn bản pháp luật về BVMT du lịch còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng đủ yêu cầu về BVMT du lịch trong tình hình mới Trên thực tế, mới chỉ có hai văn bản là Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT và Chỉ thị số 07/2000/CT-TTg quy định chuyên về BVMT du lịch, còn lại các văn bản khác chỉ dành một hoặc một số điều quy định về điều này;
Cơ quan QLNN về du lịch tại địa phương chưa quan tâm đầy đủ tới công tác BVMT trong lĩnh vực du lịch;
Chưa có một cơ chế cụ thể, phù hợp trong việc phối hợp thanh tra, kiểm tra
về công tác BVMT du lịch;
Công tác thanh tra, kiểm tra và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về BVMT trong lĩnh vực du lịch chưa được tiến hành thường xuyên;
Do sự hạn chế về nguồn nhân lực, kinh phí cũng như các phương tiện, điều kiện cần thiết trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị 07/2000/CT-TTg
Nhận thức của cộng đồng dân cư về đảm bảo an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường du lịch còn hạn chế Nguồn nhân lực du lịch hầu hết chưa qua đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ, phần lớn là người dân tự phát làm du lịch nên chưa làm hài lòng du khách về phong cách phục vụ cũng như chất lượng dịch
vụ
Có thể nói, những tác động của con người diễn ra trong hoạt động du lịch xâm hại đến môi trường du lịch, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay vẫn còn diễn ra Để giải quyết vấn đề này cần một giải pháp đồng bộ với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp Việc ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch kèm theo Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của
Bộ Tài nguyên - Môi trường đã tạo ra một hành lang pháp lý chung quan trọng đối với các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp, cá nhân Nhưng nhiệm vụ thiết yếu là việc tuyên truyền, hướng dẫn và công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước phải được tăng cường và tiến hành thường xuyên thì mới
hy vọng nâng cao được ý thức bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch và hạn chế được những vi phạm trong lĩnh vực này Tuy nhiên, Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT được xây dựng căn cứ vào Luật Môi trường năm 1993 và Pháp lệnh Du lịch năm 1999 nhưng đến nay Luật Môi trường và Luật Du lịch đã được Quốc hội thông qua năm 2005 nên có những quy định trong Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT không còn phù hợp
Trang 384 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả BVMT tại các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi
Với đặc thù là lãnh thổ nơi sinh sông của cộng đồng nhiều dân tộc với cuộc sống còn nhiều khó khăn; vùng miền núi nới các điều kiện về hạ tầng, đặc biệt là
hạ tầng về giao thông và hệ thống xử lý chất thải còn hạn chế, để nâng cao hiểu quả hoạt động BVMT tại các điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi cần thiết phải xem xét thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
4.1 Về kiện toàn tổ chức và cơ chế quản lý
- Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương vùng dân tộc và miền núi, trong đó có bộ phận chuyên trách về quản lý môi trường Gắn mô hình đổi mới tổ chức quản lý với BVMT
- Từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý tài nguyên môi trường du lịch ở trung ương và các địa phương trên cơ sở triển khai Luật bảo vệ môi trường và Pháp lệnh Du lịch
- Có chính sách ưu đãi trong việc huy động vốn đầu tư phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ và tôn tạo nâng cao chất lượng môi trường du lịch Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương có điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi;
- Cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, phân công, phân nhiệm giữa các
cơ quan QLNN về du lịch ở địa phương và các Sở Tài nguyên và Môi trường, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan thông tin, các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch để có những biện pháp cụ thể trong việc tổ chức thực hiện quy chế về BVMT trong lĩnh vực du lịch Theo đó Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trong việc đề ra những quy định cụ thể về các chỉ tiêu môi trường, cơ quan nhà nước về du lịch có trách nhiệm đánh giá môi trường trên phương diện phù hợp với ngành du lịch
4.2 Về bổ sung và hoàn thiện hành lang pháp lý và các cơ chế chính sách có liên quan đến BVMT du lịch
Cần nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý về BVMT trong lĩnh vực
du lịch để tạo sự thống nhất cho các chủ thể làm căn cứ thực hiện Cụ thể:
Trong thời gian tới, cần sớm thay thế Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ban hành theo Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phù hợp với Luật Môi trường và Luật Du lịch đã được Quốc hội thông qua năm 2005 Trong Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT, các quy định chủ yếu mang tính khẩu hiệu, khó áp dụng trong thực tiễn Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT và Chỉ thị số 07/2000/CT-TTg chỉ dừng lại ở quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước;
tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch; cơ sở lưu trú du lịch; doanh nghiệp kinh doanh lữ hành; tổ chức, cá nhân kinh doanh vận chuyển khách du lịch; khách du lịch và tổ chức, cá nhân trong khu, điểm du lịch Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT cũng mới chỉ đề cập tới môi trường tự nhiên, chưa có quy định cụ thể về môi trường xã hội nhân văn trong du lịch Vì vậy, khi bổ sung
Trang 39hoàn thiện Quy chế về BVMT du lịch phải bao gồm: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, nhân văn, môi trường vệ sinh an toàn thực phẩm Theo đó, tạo ra
sự chủ động cho Tổng cục Du lịch và các Cơ quan nhà nước về du lịch tại các địa phương trong việc thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch của các đơn vị kinh doanh, cá nhân tại các nơi tiến hành các hoạt động du lịch;
Các cơ chế chính sách cần ưu tiên bao gồm:
- Cơ chế chính sách về thuế: Ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong
thời gian nhất định với các hình thức đầu tư thuần tuý cho việc BVMT du lịch hoặc đầu tư trong các lĩnh vực khác của ngành với các công nghệ đồng bộ vềBVMT Chính sách này cần có những ưu tiên hơn đối với các địa phương có điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi, nơi còn nhiều khó khăn;
- Cơ chế và chính sách đầu tư: Ưu tiên các dự án đầu tư du lịch ở vùng
sâu, vùng xa, vùng dân tộc với các giải pháp cụ thể trong vấn đề giảm thiểu và giải quyết ô nhiễm để giữ môi trường trong sạch, mang lại các hiệu quả trực tiếp cho cộng đồng và lâu dài cho toàn xã hội;
- Chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch thân
thiện với môi trường, đặc biệt là du lịch sinh thái;
- Chính sách về khoa học kỹ thuật : Đảm bảo sự đầu tư thích đáng cho
công tác nghiên cứu khoa học công nghệ du lịch đạt hiệu quả và thu hút trí tuệ của các nhà khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực BVMT
4.3 Về lồng ghép nhiệm vụ BVMT vào các mục tiêu và hoạt động phát triển của ngành du lịch
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu về tài nguyên và môi trường du lịch, phát triển du lịch sinh thái làm căn cứ phát triển có hiệu quả loại hình du lịch được xem là công cụ có hiệu quả trong BVMT và đa dạng sinh học;
- Tiến hành quy hoạch môi trường du lịch trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên đối với các khu vực trọng điểm du lịch vùng dân tộc và miền núi đã được xác định theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam làm căn cứ cho phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với môi trường;
- Đưa nội dung đánh giá môi trường vào các dự án quy hoạch du lịch Thực hiện nghiêm túc ĐTM đối với các dự án phát triển du lịch, đặc biệt đối với những dự án phát triển ở những khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm
ở vùng dân tộc và miền núi
- Tạo điều kiện để các cán bộ quản lý du lịch, trong đó có các cán bộ chuyên trách về môi trường ở vùng dân tộc và miền núi được tham gia một cách tích cực các hội nghị, hội thảo, các dự án quốc gia và quốc tế về môi trường;
Trang 40- Tích cực soạn thảo các văn bản lên quan đến bảo vệ môi trường trình Thủ tướng Chính phủ ban hành (Chỉ thị 07/2000/CT-TTg ngày 30/3/2000 về tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các địa điểm tham quan du lịch)
4.4 Về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
Khuyến khích và ưu tiên hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới bảo vệ môi trường trong phát triển du lịch, đặc biệt ở các vùng lãnh thổ có đồng bào dân tộc sinh sống; vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi Phối hợp với các
cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu có liên quan tiến hành các nghiên cứu có tính hệ thống về tài nguyên và môi trường du lịch làm phục vụ công tác quản lý Kết quả của những nghiên cứu này đồng thời sẽ làm cơ sở để xây dựng các giải pháp đồng bộ trong chiến lược BVMT của cả nước nói cung, vùng dân tộc và miền núi nói riêng
Cần nghiên cứu, khuyến khích ứng dụng công nghệ tái sử dụng chất thải, các mô hình quản lý tiên tiến vào công tác BVMT du lịch: như xây dựng hệ thống xử lý rác thải, nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường, đưa vào sử dụng các thiết bị đảm bảo tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trong hoạt động kinh doanh (điện, nước…), thiết kế xây dựng hệ thống thùng rác, hệ thống nhà vệ sinh vừa đảm bảo tính năng sử dụng, vừa đảm bảo yếu tố thẩm mỹ cho khu du lịch;
4.5 Về đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến và quảng bá du lịch
Cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức BVMT du lịch cho du khách, các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch
và cộng đồng dân cư Việc lựa chọn phương pháp, phương tiện đối với mỗi đối tượng phải rất linh hoạt và đa dạng Đối với người dân địa phương phải lựa chọn các phương pháp giáo dục, truyền thông hướng tới cộng đồng, bao gồm: phương tiện thông tin đại chúng (đài phát thanh, báo tường, bảng tin nơi công cộng, thi viết, thơ… về một số vấn đề môi trường); thuyết trình có thiết bị nghe nhìn (đèn chiếu, phim, video); giao tiếp giữa mọi người, thảo luận xóm, phố, sinh hoạt câu lạc bộ; tổ chức tuyên truyền giáo dục môi trường nhân dịp các sự kiện đặc biệt như lễ hội, ngày môi trường thế giới và các phương tiện hướng tới cộng đồng khác như áp phích, dây đeo chìa khoá, lịch… Còn đối với khách du lịch phương pháp phổ biến hiện nay là diễn giải môi trường, đó là quá trình chuyển từ một ngôn ngữ chuyên ngành khoa học sang dạng ngôn ngữ và ý tưởng mà những người bình thường không làm công tác khoa học cũng có thể hiểu được Để hoạt động diễn giải đạt hiệu quả, cần phải xây dựng chương trình diễn giải môi trường, đào tạo cán bộ diễn giải môi trường, làm bảng chỉ dẫn trên các tuyến tham quan, tờ rơi, tập gấp và các sách hướng dẫn du lịch
Tăng cường tuyên truyền quảng cáo một cách "có trách nhiệm" trên các phương tiện khác nhau, với các loại hình khác nhau Tuy nhiên cách quảng cáo tốt nhất vẫn là tự bản thân người khách quảng cáo cho cơ sở du lịch, vì vậy chất lượng môi trường và tài nguyên là một trong những biện pháp quảng cáo xúc tiến
du lịch có hiệu quả nhất và bền vững nhất