Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nghiệp ngoài Nhà nước tại chi cục Thuế quận Đống Đa - Thực trạng kiểm tra hồ sơ đăng ký kê khai thuế: Thứ nhất, thực trạng xây dựng kế hoạ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan luận văn “Hoàn thiện kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực, không vi phạm quy định về bảo mật.”
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Phạm Thế Vĩnh
Trang 2MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC 5
1.1 Một số vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của kiểm tra thuế 5
1.1.2 Nguyên tắc và mục đích kiểm tra thuế, các hình thức kiểm tra thuế 8
1.1.3 Vai trò của kiểm tra thuế 11
1.2 Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước 12
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp ngoài nhà nước 12
1.2.2 Quan niệm về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước 16
1.2.3 Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước 16
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước 25
1.3 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp Ngoài nhà nước và bài học cho Chi cục Thuế quận Đống Đa 30
1.3.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế tại một số địa phương trong nước 30
1.3.2 Bài học rút ra đối với Chi cục Thuế quận Đống Đa 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA 36
2.1 Tổng quan về Chi cục Thuế quận Đống Đa và tình hình các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại quận Đống Đa 36
Trang 32.1.1 Khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa 36 2.1.2 Tình hình các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại quận Đống Đa 38
2.2 Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 38
2.2.1 Thực trạng kiểm tra hồ sơ đăng ký kê khai thuế 38 2.2.2 Thực trạng kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ 48 2.2.3 Thực trạng kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ
khai thuế 51
2.3 Đánh giá thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 60
2.3.1 Những kết quả đạt được 60 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 62
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA 68 3.1 Căn cứ đề xuất và phương hướng hoàn thiện kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 68
3.1.1 Bối cảnh trong nước và hội nhập quốc tế có ảnh hưởng đến chính
sách thuế 68 3.1.2 Chương trình cải cách thuế và cải cách hành chính thuế 72 3.1.3 Phương hướng hoàn thiện kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 73
3.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 75
3.2.1 Hoàn thiện kiểm tra hồ sơ khai thuế 75 3.2.2 Hoàn thiện việc kiểm tra chứng từ, hóa đơn thuế 773.2.3 Hoàn thiện kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế 78 3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ nhằm nâng cao trình độ và ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của Doanh nghiệp 80
Trang 43.2.5 Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ làm
công tác kiểm tra thuế 82
3.3 Một số kiến nghị 83
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và Bộ Tài chính 83
3.32 Kiến nghị với Tổng cục thuế và Cục thuế thành phố Hà Nội 84
3.3.3 Kiến nghị với các cơ quan, ban ngành liên quan 86
KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
8 DNNNN Doanh nghiệp ngoài nhà nước
Trang 6DANH MỤC BẢNG“ Bảng 2.1 Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế Chi cục Thuế quận Đống Đa
năm 2014-2016 42 Bảng 2.2 Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế năm 2014-2016 Chi cục Thuế quận Đống Đa 50 Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng chi cục thuế quận Đống
Đa 2014-2016 55 Bảng 2.4 Kết quả kiểm tra Doanh thu tại một số DN năm 2016 57
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1 Tình tình hồ sơ khai thuế giai đoạn 2014-2016 43
Sơ đồ 1.1 Nội dung kiểm tra chứng từ kế toán 20
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vào tích lũy ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế Với tầm quan trọng như vậy, Chính phủ đã thông qua đề án Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 - 2020: Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.”
Thực tế trong những năm gần đây hoạt động kiểm tra thuế đối với các DN ngoài nhà nước của Chi cục thuế quận Đống Đa có nhiều kết quả tốt góp phần đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp và giảm thất thu cho NSNN Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt dược công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước vẫn còn một số hạn chế Với tính chất đa dạng của khu vực doanh nghiệp này, hoạt động kiểm tra thuế cần phải được khắc phục những tồn tại, nhằm xử lý nghiêm minh những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật thuế tạo môi trường lành mạnh, công bằng, góp phần ổn định hơn cả về số thu cho NSNN Mặt khác, phải đổi mới nội dung và phương thức kiểm tra để vừa đảm bảo tăng cường hoạt động kiểm tra của CQT, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của DN Xuất phát từ thực tiễn
đó học viên đã chọn đề tài: “Hoàn thiện kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại chi cục Thuế quận Đống Đa” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ.”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu,
đồ thị, kết cấu của Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp ngoài Nhà nước
Chương 2: Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
tại chi cục thuế quận Đống Đa
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp ngoài Nhà nước tại Chi cục thuế quận Đống Đa.:”
Trang 8NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp ngoài Nhà nước
“Chương 1 đề cập đến các vấn đề về: Một số vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế
Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước Kinh
nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước và bài học cho chi cục
Thuế quận Đống Đa
Qua đó đã trình bày khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về Kiểm tra thuế, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, mục đích,
Chương 1 cũng đã đề cập đến những vấn đề về nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài Nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước và kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước và bài học cho chi cục Thuế quận Đống Đa
Chương 2: Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
tại chi cục thuế quận Đống Đa 2.1 Tổng quan về chi cục Thuế Quận Đống Đa và tình hình các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại quận Đống Đa
Chi cục thuế Quận Đống Đa, Mã số thuế: 0100786940-001, quyết định thành lập số 315TC / QĐ/ TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ tài chính, Trụ sở :185 Đặng Tiến Đông, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Theo Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế; Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuộc Chi cục Thuế, thì cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục thuế quận Đống Đa gồm các Đội sau: Đội tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế và
ấn chỉ; Đội Nghiệp vụ dự toán; Đội kê khai kế toán thuế và tin học; Đội kiểm tra thuế (gồm 3 đội); Đội kiểm tra nội bộ; Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Đội
Trang 9Hành chính- nhân sự- tài vụ; Đội Lệ phí trước bạ và thu khác; Đội thuế liên phường (gồm 07 Đội)
- Tình hình các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại quận Đống Đa: Luận
văn khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tại quận Đống Đa Chỉ ra những đóng góp của các doanh nghiệp này đối với sự phát triển kinh tế xã hội và xu hướng phát triển các doanh nghiệp này
2.2 Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nghiệp ngoài Nhà nước tại chi cục Thuế quận Đống Đa
- Thực trạng kiểm tra hồ sơ đăng ký kê khai thuế:
Thứ nhất, thực trạng xây dựng kế hoạch kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở
cơ quan thuế:
+ Lựa chọn các cơ sở kinh doanh có rủi ro về thuế
+ Lựa chọn cơ sở kinh doanh có doanh thu năm trước hoặc số thuế phải nộp lớn, nhiều năm chưa được kiểm tra
+ Lựa chọn một số cơ sở kinh doanh theo chỉ đạo của Cục thuế
+ Những doanh nghiệp có đơn thư khiếu nại về hành vi vi phạm thuế
Thứ hai, Thực trạng kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế:
Căn cứ vào số lượng DN phải kiểm tra hồ sơ khai thuế, Đội trưởng đội kiểm tra giao hồ sơ cho từng cán bộ kiểm tra Cán bộ thuế kiểm tra các căn cứ tính thuế
để xác định số thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn… theo phương pháp đối chiếu, so sánh Việc kiểm tra thuế được xem xét đánh giá
Năm 2014 đến năm 2016, công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa đã thu được những kết quả nhất định Số lượng hồ sơ kiểm tra có sự gia tăng nhanh Qua công tác kiểm tra thuế đã cho thấy số thuế đã phát hiện qua công tác kiểm tra khá lớn và có xu hướng tăng lên qua các năm
Thứ ba, thực trạng kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở doanh nghiệp
Thực hiện theo quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20/4/2015 của TCT
B1: Cuối năm trước, lập kế hoạch kiểm tra trình lãnh đạo Chi Cục duyệt B2: Ban hành quyết định kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp
B3: Thực hiện kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp
Trang 10B4: Lập biên bản kiểm tra đối với doanh nghiệp
B5: Báo cáo lãnh đạo Chi cục, xin ý kiến xử lý trong những trường hợp có vướng mắc
B6: Ban hành Quyết định truy thu và phạt đối với doanh nghiệp, trường hợp không có số thuế truy thu thì ban hành Kết luận kiểm tra
B7: Theo dõi đôn đốc DN nộp tiền thuế truy thu và phạt vào NSNN
- Thực trạng kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ:
Để ngăn chặn các hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn, Chi cục thuế quận Đống Đa đã kết hợp giữa kiểm tra hồ sơ thuế với kiểm tra việc chấp hành chế
độ hóa đơn, chứng từ để ngăn chặn các hành vi vi phạm
Trong 3 năm 2014- 2016, đội kiểm tra thuế của Chi cục Thuế quận Đống Đa đã
kiểm tra 2.291 cuộc, với số thuế truy thu và phạt bình quân 166 triệu/ cuộc kiểm tra
Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp bao gồm: kiểm tra về hóa đơn, chứng từ, sổ sách, hạch toán kế toán, quy trình sử dụng hóa đơn, số thuế nợ đọng, kiểm tra việc chấp hành kê khai các loại thuế mà doanh nghiêp phát sinh: môn bài, giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, thuế nhà thầu, các khoản thu liên quan đến đất
Công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế được chi cục thuế thực hiện ngày càng hiệu quả và có sự sai lệch nhất định về số thuế phải nộp mà đơn vị tự kê khai so với việc kiểm tra trực tiếp từ đối tượng người nộp thuế tại trụ
sở người nộp thuế
- Thực trạng kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế:
Thứ nhất, kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp về thuế giá trị gia tăng
Theo Báo cáo công tác kiểm tra thuế từ năm 2014 đến năm 2016 Chi cục Thuế đã kiểm tra 264 hồ sơ đề nghị hoàn thuế, trong đó hồ sơ kiểm tra trước hoàn thuế là 120 hồ sơ Qua kiểm tra, tổng số thuế không được hoàn là 2.077 triệu đồng Việc phân loại hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng được thực hiện đúng theo quy định
Trang 11tại luật quản lý thuế và Luật thuế giá trị gia tăng Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm trước hoàn thuế sau thực theo khoản 2 Điều 58 TT156/2013 TT - BTC Thời gian giải quyết đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau chậm nhất là 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn trước kiểm sau thì thời gian giải quyết trong 6 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
Cuộc kiểm tra nào cũng phát hiện được sai phạm của DN cho thấy mức độ chấp hành pháp luật thuế của DN còn kém Do vậy, cần phải tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra thuế tại trụ sở DN
Thứ hai, Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp về thuế thu nhập doanh nghiệp
Tình trạng DN khai doanh thu chưa chính xác, vẫn tồn tại với số doanh thu khai thiếu không nhỏ Tình trạng che dấu doanh thu này làm giảm đáng kể số thuế phải nộp của các DN, ảnh hưởng đến số doanh thu NSNN
Các sai phạm chủ yếu liên quan đến doanh thu tính thuế TNDN
Các doanh nghiệp có thể che dấu doanh thu bằng rất nhiều cách khác nhau, nhưng phổ biến là các cách sau:
Một là, tình trạng DN bỏ sót những khoản đã đủ điều kiện ghi nhận doanh thu
Hai là, các doanh nghiệp bán hàng, cung cấp dịch vụ không xuất hóa đơn
hoặc xuất hóa đơn không đúng với giá thực tế bán
Ba là, các trường hợp doanh thu tăng do đơn vị quyết toán thấp hơn dữ liệu
thực tế kê khai với cơ quan thuế, các trường hợp doanh nghiệp đã xoá bỏ hóa đơn nhưng không hợp lệ…
2.3 Đánh giá thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa
- Kết quả đạt được:
Thứ nhất, kết quả trong công tác kiểm tra hồ sơ:
+ Góp phần phát hiện được các hành vi vi phạm có tính hệ thống và đang có dấu hiệu ngày càng gia tăng và khó kiểm soát
+ Từng bước nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch trong kiểm tra người nộp thuế
Trang 12+ Góp phần phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nâng cao kỹ năng chuyên môn
+ Công tác kiểm tra được thực hiện thống nhất theo quy trình, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc kiểm tra
Thứ hai, kết quả trong công tác kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, chứng từ, hóa đơn:
+ Phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế, gian lận về thuế, làm cho việc thực thi luật và chính sách thuế đạt kết quả tốt hơn
+ Vận hành tốt ứng dụng tin học của ngành thuế trong công tác kiểm tra thuế
Thứ ba, kết quả của kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế: Kiểm tra thuế góp phần tích cực chống thất thu ngân sách nhà nước và
nâng cao tuân thủ pháp luật thuế
- “Những hạn chế:
Thứ nhất, về kiểm tra hồ sơ khai thuế:
+ Chất lượng công tác kiểm tra thuế chưa cao.Nội dung kiểm tra đôi khi còn
sơ sài, mang tính hình thức
+ Số lượng cán bộ kiểm tra còn thấp so với số lượng đơn vị kinh doanh trên địa bàn, làm cho công tác kiểm tra chưa thực sự sâu, rộng và hiệu quả
+ Khả năng phối kết hợp với các đơn vị trong nội bộ và cơ quan ban ngành
có liên quan chưa cao
Thứ hai, về kiểm tra chấp hành chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ: Kiến thức
và kỹ năng về chế độ kế toán, chính sách tài chính, chính sách thuế, nghiệp vụ kiểm tra của một bộ phận công chức làm công tác kiểm tra còn hạn chế
Thứ ba, về kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế:
Thông tin về người nộp thuế tại cơ quan thuế chưa đầy đủ thông tin cần thiết…
- Nguyên nhân của hạn chế:
- Nguyên nhân cơ bản
+ Cách thức xây dựng kế hoạch kiểm tra chưa thực sự đảm bảo tính khoa học + Hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhiều khi còn trùng lắp, thiếu tính đồng bộ
Trang 13+ Cơ quan thuế chưa được giao chức năng khởi tố điều tra các vụ án vi phạm pháp luật về thuế mà đều phải chuyển qua cơ quan công an
+ Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp, chưa đồng bộ, thiếu tính
+ Cập nhật thông tin kiểm tra chưa sâu, còn sơ sài…
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp ngoài Nhà nước tại Chi cục thuế quận Đống Đa 3.1 “ Căn cứ đề xuất và phương hướng hoàn thiện kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa
Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay sẽ hỗ trợ tích cực cho tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam, từ đó thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam là phải đẩy mạnh cải cách, trong đó cải cách chính sách thuế là yêu cầu bắt buộc đầu tiên để phù hợp với các cam kết hội nhập mà Việt Nam
đã ký kết
Phương hướng hoàn thiện kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa:
Một là, Kiểm tra thuế phải được tiến hành thường xuyên
Hai là, Kiểm tra phải được tiến hành đơn giản, công khai về thủ tục hành chính, không gây phiền hà cho doanh nghiệp
Ba là, Nâng cao năng lực hoạt động kiểm tra, giám sát thuân thủ pháp luật của người nộp thuế Nghiên cứu bổ sung nhiệm vụ điều tra về thuế cho cơ quan thuế
Trang 14Bốn là, Xây dựng, ban hành chế độ quy định về quản lý kiểm tra thuế đối với người nộp thuế trên cơ sở quản lý rủi ro; xây dựng cơ sở dữ liệu người nộp thuế, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá rủi ro, phân loại người nộp thuế tại tất cả các khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật thuế
3.2 “ Giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa
Thứ nhất, Hoàn thiện kiểm tra hồ sơ khai thuế: Tăng cường công tác quản lý doanh nghiệp nhằm mục đích nắm bắt đầy đủ và kịp thời thông tin về doanh nghiệp Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra thuế theo hướng bám sát với thực tế hoạt động của các doanh nghiệp
Thứ hai, Hoàn thiện việc kiểm tra chứng từ, hóa đơn thuế: Tăng cường công tác kiểm tra, đặc biệt là chế độ quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ của doanh nghiệp Nhanh chóng phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh những trường hợp
DN cố tình vi phạm các quy định về thuế như hạch toán sai kỳ kế toán, sai chế độ
kế toán, che dấu doanh thu, để trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế
Thứ ba, Hoàn thiện kiểm tra căn cứ tính thuế, số thuế phải nộp trong hồ sơ khai thuế: Xử lý nghiêm khắc, kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế sau kiểm tra thuế Tăng cường kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế đối với căn cứ tính thuế
Thứ tư, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ nhằm nâng cao trình độ và ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của Doanh nghiệp: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ thuế, kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng tiếp nhận thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa Hệ thống hóa và truyền tải những nội dung chính sách thuế mới thông qua nhiều hình thức Tiếp tục duy trì và triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền chính sách thuế, công tác thuế trên hệ thống loa truyền thanh, trên bảng chạy điện tử Xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ…
“Thứ năm, Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán
bộ làm công tác kiểm tra thuế: Chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực, tập trung bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu Có chính sách khen,
Trang 15thưởng, có nhuận bút để khuyến khích các cán bộ thuế và những người dân viết bài tuyên truyền về thuế Triển khai áp dụng rộng rãi các ứng dụng tin học vào công tác kiểm tra thuế và quan tâm chỉ đạo sát sao nhập dữ liệu vào các ứng dụng tin học
3.3 “ Một số kiến nghị
Kiến nghị với Chính phủ và Bộ Tài chính
- Bổ sung quyền cho CQT
- Đổi mới cơ chế phân phối tiền lương và thu nhập đối với cán bộ kiểm tra thuế
- Đề xuất cải cách tiền lương chung theo hướng qui định
- Đề xuất cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế trích để lại đối với khoản tiền thuế truy thu, xử phạt
- Kịp thời khen thưởng đối với cán bộ làm công tác kiểm tra có thành tích đóng góp cho công tác kiểm tra thuế
Kiến nghị với Tổng cục thuế và Cục thuế thành phố Hà Nội
- Hoàn thiện bổ sung các văn bản pháp luật điều chỉnh công tác kiểm tra thuế…
- Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận quản lý thuế cho phù hợp với tình hình thực tế…
- Cần phân định lại chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận chức năng trong CQT
- Tích cực tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT
- Hoàn thiện và nâng cao công tác truyên tuyền và hỗ trợ NNT
- Cải cách thủ tục hành chính
Kiến nghị với các cơ quan, ban ngành liên quan
- Các cơ quan, ban ngành khác không nên coi các vấn đề liên quan đến công tác thuế là nhiệm vụ riêng của ngành Thuế
- Các cơ quan công an, thanh tra nhà nước cần phối hợp với cơ quan thuế
- Tăng cường phối hợp và sử dụng chung các kết quả của các cơ quan Thanh tra nhà nước, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan thuế thuế
- Phối hợp với các cơ quan như Tài chính, Bảo hiểm, Ngân hàng
Trang 16MỞ ĐẦU
1 “ Tính cấp thiết của đề tài
“Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vào tích lũy ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế Với tầm quan trọng như vậy, Chính phủ đã thông qua đề án Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 - 2020: Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.”
Trước sự phát triển của các tổ chức kinh tế với số lượng ngày càng lớn và hình thức hoạt động ngày càng đa dạng, nhất là các DN ngoài nhà nước, đây là một thành phần kinh tế hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta, hoạt động trên khắp các địa bàn trong từng địa phương trên cả nước, tiền thuế đóng góp của các doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu NSNN Nhằm phát triển ý tưởng
cơ quan thuế và NNT là bạn đồng hành trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với NSNN, cơ chế tự khai tự nộp thuế đã được thực thi trên quy mô cả nước Cơ chế này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân có nghĩa vụ thuế thực hiện một cách nhanh chóng, thuận lợi nhất Tuy nhiên bên cạn những mặt tích cực thì cơ chế này cũng có những hạn chế nhất định, do trình độ và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp, cá nhân NNT chưa cao, pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng còn chưa hoàn thiện, vẫn còn những kẽ hở để NNT lợi dụng tránh thuế và trốn thuế Trong bối cảnh đó, kiểm tra thuế càng có vai trò quan trọng, vì qua công tác kiểm tra thuế sẽ cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận về thuế Hơn nữa, thông qua kiểm tra thuế giúp cơ quan Thuế phát hiện những bất hợp lý trong chính sách pháp luật thuế để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi kịp thời, nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.”””
Trang 17Có thể khẳng định, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế và góp phần cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện Công tác kiểm tra thuế không những là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình quản lý thu thuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức cá nhân trong xã hội.”
“Trong những năm gần đây hoạt động kiểm tra thuế đối với các DN ngoài nhà nước của Chi cục Thuế quận Đống Đa có nhiều hiệu quả, tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số hạn chế Với tính chất đa dạng của khu vực doanh nghiệp này, hoạt động kiểm tra thuế cần phải được khắc phục những tồn tại, nhằm xử lý nghiêm minh những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật thuế tạo môi trường lành mạnh, công bằng, góp phần ổn định hơn cả về số thu cho NSNN Mặt khác, phải đổi mới nội dung và phương thức kiểm tra để vừa đảm bảo tăng cường hoạt động kiểm tra của CQT, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của DN
Xuất phát từ thực tiễn đó học viên đã chọn đề tài: “Hoàn thiện kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa” làm đề tài
Luận văn Thạc sỹ ”
2 “ Tổng quan nghiên cứu
“Cho đến nay theo như tác giả được biết đã có nhiều công trình khoa học, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp như
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế trên có sở áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro tại Chi cục Thuế Cầu Giấy”
(2010) của Nguyễn Thu Thủy Đề tài này hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về rủi ro và sự cần thiết áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong kiểm tra thuế, trên cơ
sở tham khảo kinh nghiệm của các nước áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong kiểm tra để rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế trên cơ sở áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro ở Việt Nam và Chi cục thuế Cầu Giấy.”
Trang 18“Đề tài này chỉ đơn thuần đề cập đến việc áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong kiểm tra thuế chứ chưa nghiên cứu tổng thể về công tác kiểm tra
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh nhất định của kiểm tra thuế như:
- “Hiện đại hóa công tác thanh tra thuế - Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam” (2005) của Nguyễn Đẩu;
- “Giải pháp khắc phục những bất cập của thuế GTGT” (2011) của ThS
Nguyễn Thanh Hưng
- “Những kiến thức, kỹ năng cần thiết của công chức làm công tác kiểm tra thuế” (2013) của Lê Minh Nhựt Cổng thông tin điện tử Cục Thuế Kon Tum Bài
viết này, tác giả đánh giá tổng quát về nội dung kiểm tra thuế (kiểm tra tại trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở NNT), qua đó đã đề cập đến nhiệm vụ của công chức làm công tác kiểm tra thuế là rất nặng nề, phức tạp, nhiều cám dỗ; hiệu quả công tác kiểm tra thuế phụ thuộc nhiều vào ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn của công chức Cuối cùng tác giả đã đưa ra 05 nhóm kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công chức làm công tác kiểm tra thuế.”
“Qua nội dung tóm tắt các đề tài, bài viết đã nghiên cứu, vấn đề này cho thấy, các vấn đề lý luận về kiểm tra thuế đã được nghiên cứu khá nhiều và đã được phát triển một cách có hệ thống Tuy vậy chưa có công trình nào nghiên cứu về Hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa.”
4 “ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kiểm tra thuế đối với các DN ngoài nhà nước
Phạm vi nghiên cứu: Quận Đống Đa giai đoạn 2014-2016
Trang 195.“Phương pháp nghiên cứu
“Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp chung như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chứng để phân tích về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những kiến thức đã tích lũy được
về thuế và kiểm tra thuế, kết hợp với việc tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước về lĩnh vực này Tác giả đã phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa thành những vấn đề lý luận chung về kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp và đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
- Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu: Luận văn phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu thống kê về tình hình thực trạng kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa.”
6 “ Những đóng góp mới của luận văn
- “Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm
tra thuế và kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước Phân tích làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác kiểm
tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa, luận văn đánh giá và làm rõ những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Từ đó đề xuất 05 giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa.”
7 “ Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu và kết luận luận văn được kết cấu thành 3 chương
“Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp ngoài nhà nước
Chương 2: Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
tại Chi cục Thuế quận Đống Đa
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa.”
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC 1.1 “ Một số vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của kiểm tra thuế
1.1.1.1 Khái niệm thuế và kiểm tra thuế
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934) trong cuốn Finances Publiques đã đưa ra khái niệm về thuế, đây được xem khái niệm cổ điển nhất, nổi tiếng nhất
“Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm
bù đắp các khoản chi tiêu của Nhà nước” Theo thời gian, khái niệm này đã được
bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế của Nhà nước”
Theo các nhà kinh điển: “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không
bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước, người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại
Trên góc độ kinh tế học, thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước”
Trang 21Trong hoạt động quản lý, kiểm tra là một chức năng không thể thiếu và có thể được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất Kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát, nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra.”
“ Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình
thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng kiểm tra
Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung và đảm bảo tính tuân thủ của người nộp thuế nói riêng Thông qua phân tích, đánh giá tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, hoạt động kiểm tra thuế giúp phát hiện, ngăn chặn, xử lý những vi phạm về pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Từ đó, công tác quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.”
Cần phân biệt kiểm tra thuế với thanh tra thuế: Thanh tra thuế là hoạt động
của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ thuế phải nộp với ngân sách Nhà nước
Kiểm tra thuế và thanh tra thuế có điểm giống nhau: Đều là những nội dung quan trọng của quản lý thuế; đều có mục đích là nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mong muốn; đều có nội dung là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế đối với đối tượng nộp thuế Về phương pháp kiểm tra cũng có những điểm giống nhau, khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ, đó thực chất là kiểm tra Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra
Trang 22Tuy nhiên, kiểm tra thuế và thanh tra thuế có những điểm khác nhau cơ bản Một là, Mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái pháp luật Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai phạm của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai phạm đó ( sai phạm có thể vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu…)
Hai là về phương pháp tiến hành: Thanh tra thuế áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, … Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý Tiến hành thanh tra nhất thiết phải thành lập đoàn thanh tra trong khi kiểm tra có thể hoặc không phải thành lập đoàn kiểm tra
Ba là, phạm vi kiểm tra thuế rộng hơn, xảy ra ở tất cả các hoạt động kinh tế
xã hội và được thực hiện thường xuyên liên tục Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là hoạt động kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế xã hội đã phát sinh
Bốn là, tính chất của thanh tra là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý Nhà nước, có thể là hoạt động quản lý thông thường »
“Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan thuế và có những đặc điểm sau
Thứ nhất, phạm vi của hoạt động kiểm tra thuế tương đối rộng bởi đối tượng
kiểm tra thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế; bao gồm các tổ chức, cá nhân trong xã hội có hoạt động sản xuất kinh doanh, có các khoản thu nhập, tài sản hay có hành vi tiêu dùng thuộc diện chịu thuế theo quy định của các sắc lệnh về thuế
Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng tới lợi
ích kinh tế của các đối tượng kiểm tra Người nộp thuế thường xuyên tìm mọi biện
Trang 23pháp nhằm tránh thuế, lách thuế và trốn thuế (kê khai thuế thấp hơn thực tế) gây khó khăn cho công tác kiểm tra thuế
Thứ ba, công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm
chất đạo đức của người làm việc trong ngành thuế Phạm vi điều chỉnh của kiểm tra thuế khá rộng, đối tượng kiểm tra thuế rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của nền kinh
tế Do đó đòi hỏi công chức kiểm tra thuế phải vững về chuyên môn nghiệp vụ thuế
và nắm vững được bản chất các hoạt động kinh tế khác Đồng thời do đặc thù kiểm tra thuế tác động đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế và có không ít những tác động đến đến lợi ích của công chức thuế nên đòi hỏi phẩm chất đạo đức bản lĩnh của công chức kiểm tra thuế phải vững vàng.””
1.1.2 Nguyên tắc và mục đích kiểm tra thuế, các hình thức kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là việc vô cùng quan trọng, nên cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất đó là
trong quá trình kiểm tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải có chứng lý rõ ràng, không suy diễn chủ quan Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật.”
Thứ hai, trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo chính xác, khách quan
trong công tác kiểm tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn hay qui chụp một cách tùy tiện chủ quan Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.”
Trang 24“ Thứ ba, công khai, dân chủ, kịp thời Công khai trong hoạt động kiểm tra
tức là phải được dân biết, dân bàn, dần làm, dân kiểm tra để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người khác Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong kiểm tra nhằm nhanh chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước Để đảm bảo tính kịp thời trong kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ việc kiểm tra, tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số lượng và chất lượng của đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra.”
“ Thứ tư, bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế vì
trong quá trình kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của Doanh nghiệp và bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và các Doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ cần báo cáo cho những người
có thẩm quyền được biết Những vấn đề bí mật thì cần được bí mật
Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải
đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm của người nộp thuế Phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế, tránh thất thoát tiền thuế của nhà nước Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó.”
Kiểm tra thuế nhằm giúp người nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành thuế Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của người nộp thuế nhằm phát huy nhân
tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ
Trang 25thể để thực hiện, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hiệu quả, hợp lý hơn Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ người nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế.””
Theo thời gian; kiểm tra thuế được chia thành kiểm tra theo kế hoạch và
kiểm tra đột xuất Kiểm tra theo kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan,
tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
Theo phạm vi, kiểm tra thuế được chia thành kiểm tra toàn diện và kiểm tra
từng phần Kiểm tra toàn diện: là loại hình kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Với chức năng này, kiểm tra toàn diện tức là
cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra trên diện rộng, toàn bộ sắc thuế: Thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN… Bên cạnh việc kiểm tra thuế toàn diện, còn có hình thức kiểm tra hạn chế, đó chính là hình thức kiểm tra trong phạm vi hẹp gồm: (1) Kiểm tra một sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế; (2) Kiểm tra một hoặc một
số bộ hồ sơ hoàn thuế; (3) Kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số kỳ tính thuế: kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, tài sản…”
Theo địa điểm kiểm tra; gồm kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm
tra thuế tại trụ sở của Doanh nghiệp
- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế: Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế
được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm xác minh tính đầy đủ, tính chính xác của các thông tin trong hồ sơ thuế và sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Công chức tại các đội kiểm tra ở chi cục thuế phân tích biến động về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nộp thuế qua so sánh thông tin của doanh nghiệp qua các thời kỳ và biến động của ngành để xác định mức ổn định và tuân thủ của doanh nghiệp nộp thuế nhằm phát hiện những biến động bất thường và qua đó có thế kiểm tra ngay tại trụ sở cơ quan thuế hoặc bổ sung vào danh sách bị kiểm tra
Trang 26thuế nhằm hạn chế các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế Nội dung của kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế gồm kiểm tra đăng ký thuế, kiểm tra căn cứ tính thuế để xác định chỉ tiêu trong hồ sơ khai thuế và kiểm tra căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp, số thuế được miễn, số thuế được giảm, số tiền hoàn thuế…
- Kiểm tra thuế tại trụ sở Doanh nghiệp: Việc kiểm tra thuế tại trụ sở Doanh
nghiệp chỉ được thực hiện khi có quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở, Doanh nghiệp
có quyền từ chối việc kiểm tra khi không có quyết định kiểm tra thuế Quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở Doanh nghiệp do thủ trưởng cơ quan thuế ban hành”
“Kiểm tra thuế tại trụ sở Doanh nghiệp bao gồm các trường hợp sau:
- Doanh nghiệp không giải trình, bổ sung thông tin và tài liệu, không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình khai bổ sung thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã kê khai, hoặc cơ quan thuế không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp, kiểm tra trước và sau khi hoàn thuế, những đối tượng cần kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cơ quan
- Kiểm tra trước khi hoàn thuế theo quy định của điều ước quốc tế; doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế lần đầu; doanh nghiệp có hành vi trốn thuế; doanh nghiệp không thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng theo quy định, doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản chuyển đổi thành hình thức sở hữu, chấm dứt hoạt động giao bán, khoán, cho thuế Doanh nghiệp Nhà nước
Thông qua công tác kiểm tra thuế tại trụ sở của doanh nghiệp thì số tiền truy thu thuế, tiền phạt, xử lý thu vào NSNN
Trong một cuộc kiểm tra thuế tại trụ sở Doanh nghiệp, công chức thuế có thể
sử dụng một hoặc một số phương pháp nhằm thu thập các bằng chứng để đảm bảo rằng nghĩa vụ thuế phải nộp từ phía doanh nghiệp được ghi nhận đầy đủ Phương pháp được sử dụng để kiểm tra chứng từ kế toán thường là phương pháp đối chiếu,
so sánh và phương pháp phân tích, đánh giá.””
1.1.3 Vai trò của kiểm tra thuế
Quản lý thuế bao gồm các quy định về cách thức NNT, cơ quan thuế thực hiện các thủ tục hành chính để thực hiện việc thu nộp thuế vào NSNN; chế tài xử lý
Trang 27khi có vi phạm; trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân có liên quan Công tác kiểm tra thuế có vai trò rất quan trọng trong quản lý thuế Cụ thể:
Thứ nhất, kiểm tra NNT góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về
thuế Hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có phương pháp quản lý thu thuế khác nhau
Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ lưỡng tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập Vì vậy, kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế đểphục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách có liên quan đến thuế cho phù hợp.”
“ Thứ hai, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi
phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong thực hiện pháp luật thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số thuế theo quy định pháp luật vào NSNN, góp phần tăng thu cho NSNN Hoạt động kiểm tra thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo đó vừa phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật thuế; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc quyết định hành chính
xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật từ phía NNT
Thứ ba, thông qua kiểm tra thuế phát hiện những nhầm lẫn, sai sót của NNT
và của công chức thuế để nhắc nhở, chấn chỉnh, đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế.”
Thứ tư, qua kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả công tác hạch toán kế
toán của Doanh nghiệp, góp phần đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng.”
1.2 “ Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp ngoài nhà nước
Doanh nghiệp ngoài nhà nước là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp, luật Hợp tác xã mà không có vốn của Nhà nước và không
có vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp này hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật Việt Nam
Trang 28Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Thứ nhất, Các doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ động hơn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và dễ thích ứng
Ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước người quản lý thường là chủ sở hữu hoặc là người có vốn lớn nhất nên họ được quyền đưa ra các quyết định Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do hành động, họ có khả năng tự quyết, nên
họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài nhà nước có sự thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường Việc thâm nhập vào thị trường hàng hoá trong giai đoạn này, sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành công và khi sản phẩm bị thị trường từ chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn mặt hàng kinh doanh khác trong phạm vi được phép sao cho có lợi nhất phù hợp với khả năng của mình Vì vậy đây là một thế mạnh để doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thị trường với các doanh nghiệp Nhà nước
Thứ hai, cơ cấu quản lý linh hoạt
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước thường thích hợp với những cơ cấu tổ chức đơn giản Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm nhận công việc theo kiểu đa năng Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhận vai trò quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên) vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư) Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế này là
do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng góp, do các cổ đông đóng góp hay
do liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài sản Vì thế họ có toàn quyền quyết định ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ nhu cầu của thị trường đối với loại hàng hoá mà họ sẽ kinh doanh Mặc dù quy mô hoạt động khá bé nhỏ, song
đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.”
“ Thứ ba, Chi phí gián tiếp thấp
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài nhà nước là một người chủ và số nhân viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp Chi phí gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng Chủ doanh nghiệp có tinh
Trang 29thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp Cũng chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước Do vậy khối luợng vốn để hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không lớn, hiệu quả và sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh
Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng có những hạn chế của nó,
đó là
Khả năng tài chính còn nhỏ bé: Trong giai đoạn đầu, phần lớn các doanh
nghiệp ngoài nhà nước đều gặp phải vấn đề thiếu vốn Các tổ chức tài chính thường
e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp này vì họ chưa có quá trình kinh doanh, chưa có uy tín và chưa thể tạo lập được khả năng trả nợ Do vậy, các doanh nghiệp ngoài nhà nước phần lớn dựa vào nguồn vốn chính từ bạn bè, thu hút vốn qua hình thưc mua bán chịu…Việc mở rộng doanh nghiệp luôn bị hạn hẹp về nguồn vốn
Trình độ công nghệ sản xuất còn ở mức thấp: Trình độ công nghệ là yếu tố
quyết định đến năng suất, chất lưọng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Hiện tại các doanh nghiệp ngoài ngoài nhà nước có công nghệ hiện đại không nhiều sử dụng các công cụ thủ công, thiếu đồng bộ
Vai trò của các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Thứ nhất, Các doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển tạo điều kiện thu hút lao
động, tạo thêm nhiều công ăn việc làm góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội
Như chúng ta đã biết, khu vực kinh tế ngoài nhà nước với quy mô vốn đầu tư không nhiều có thể dễ dàng thành lập bởi một số cá nhân, gia đình hay một số tổ chức, cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương ứng nhiều lao động vì đây
là nơi cung cấp việc nhanh nhất, giúp tạo việc làm với số vốn thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp có quy mô lớn.”
“Trong những năm gần đây, cùng với số lao động được giải quyết việc làm bằng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, đã có khá nhiều lao động có thêm việc làm do các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào kinh doanh Hàng năm có khoảng một triệu lao động có việc làm được tạo ra chủ yếu nhờ khu vực kinh tế này
Trang 30Thứ hai, Các doanh nghiệp ngoài nhà nước tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh,
là động lực phát triển của nền kinh tế
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều do khu vực kinh tế Nhà nước đảm nhận Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp này phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị trí của chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ ba, các doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển góp phần tăng thu ngân
sách Nhà nước
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu ngân sách Nhà nước Do vậy, để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất là không ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội Kh vực kinh tế ngoài nhà nước tồn tại
và phát triển là phần đóng góp to lớn cho ngân sách Nhà nước (khoảng 30%) thông qua thuế và các khoản khác Khu vực kinh tế ngoài nhà nước còn có vai trò điều hoà thu nhập cũng như đóng góp vào ngân sách Nhà nước
Thứ tư, đóng góp cho nền kinh tế một khối lượng hàng hoá lớn, dịch vụ phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.”
“Bằng việc sản xuất hàng hoá, các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã góp phần to lớn vào việc tạo ra sự phong phú về chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước cải thiện nâng cao đời sống nhân dân Do đó, cơ hội lựa chọn hàng hoá và dịch vụ của người dân tăng lên và các doanh nghiệp phải ra sức cạnh tranh để có thể tiêu thụ sản phẩm của mình nhanh nhất Để thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để từ đó giảm giá thành
Thứ năm, các doanh nghiệp ngoài nhà nước là thị trường để ngân hàng huy
động vốn, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ
Trang 311.2.2 “ Quan niệm về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước
Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp là việc cơ quan thuế phân tích thông tin
dữ liệu, xác minh, thu thập chứng cứ để thực hiện giám sát, đánh giá việc chấp hành chính sách pháp luật thuế của DN nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh
Có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh khác nhau như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài v v thuộc mọi thành phần kinh tế Trong phạm vi nghiên cứu luận văn giới hạn nghiên cứu kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Như vậy, có thể hiểu khái quát kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp Ngoài nhà nước là việc cơ quan thuế phân tích thông tin dữ liệu, xác minh, thu thập chứng cứ
để thực hiện giám sát, đánh giá việc chấp hành chính sách pháp luật thuế của DN nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh.”
1.2.3.1 Kiểm tra hồ sơ đăng ký kê khai thuế
Nội dung kiểm tra là xem xét trên từng địa bàn, trong từng loại ngành nghề
có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, số lượng những đơn vị
đã đăng ký thuế và chưa đăng ký thuế
Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinh doanh Thông qua việc đăng ký, Nhà nước quản lý được mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuế ngay từ khi bắt đầu hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá nguồn thu ngân sách.”
”Đối với mỗi cơ sở kinh doanh, khi kiểm tra, cần đi sâu xem xét tính pháp lý của hồ sơ đăng ký thuế, kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, dữ liệu kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn và địa điểm, ngành nghề kinh doanh, thời gian thực tế kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tài khoản giao dịch nhằm phát hiện và xử lý những gian lận trong việc kê khai đăng ký thuế
Trang 32Kiểm tra hồ sơ khai thuế được tiến hành tại trụ sở của cơ quan thuế Bộ phận kiểm tra và bộ phận có liên quan cập nhật kịp thời, đầy đủ thông tin dữ liệu của doanh nghiêp vào ứng dụng hỗ trợ kiểm tra, hệ thống dữ liệu của ngành Bộ phận kiểm tra thuế sử dụng dữ liệu kê khai thuế của doanh nghiệp và những dữ liệu thông tin của doanh nghiệp đã được cập nhật vào hệ thống dữ liệu của ngành để phục vụ công tác kiểm tra các hồ sơ khai thuế mà doanh nghiệp gửi đến cơ quan thuế Trưởng cơ quan thuế có trách nhiệm thường xuyên nắm bắt và đôn đốc bộ phận kiểm tra thực hiện nghiêm túc công việc kiểm tra
Kiểm tra hồ sơ khai thuế có thế thực hiện bằng phương pháp thủ công hoặc phần mềm ứng dụng
Các bước kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế bao gồm”
- “ Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế Cán bộ đội kiểm
tra thuế sử dụng dữ liệu kê khai thuế của DN trong hệ thống cơ sở dữ liệu của CQT, những dữ liệu thông tin của DN và thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của DN từ các nguồn thông tin của các cơ quan khác như Ngân hàng, Kiểm toán, kế hoạch và đầu tư, công an để kiểm tra tất cả các hồ sơ khai thuế; phân tích, đánh giá lựa chọn các cơ sở kinh doanh có rủi ro về việc kê khai thuế
- Lựa chọn DN để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế Hàng năm đội
kiểm tra thuế phải kiểm tra sơ bộ tất cả các loại hồ sơ khai thuế Phân tích, đánh giá,
lựa chọn các DN có rủi ro về thuế để lập danh sách phải kiểm tra
- Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế, Hàng năm đội kiểm tra
thuế phải trình Lãnh đạo Chi Cục Thuế danh sách DN phải kiểm tra hồ sơ khai thuế Lãnh đạo Chi Cục Thuế phải duyệt xong danh sách DN phải kiểm tra Căn cứ vào danh sách số lượng đơn vị phải kiểm tra hồ sơ khai thuế đã được Lãnh đạo duyệt, Đội trưởng kiểm tra thuế giao cụ thể số lượng đơn vị phải kiểm tra hồ sơ thuế cho từng cán bộ kiểm tra thuế Cán bộ kiểm tra thuế có trách nhiệm kiểm tra tất cả các loại hồ sơ khai thuế bao gồm: Hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh; các loại hồ
sơ khai thuế theo tháng; các loại hồ sơ khai thuế theo quý; các loại hồ sơ khai thuế theo năm của DN được giao.”
Trang 33- “ Xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan Thuế Kết thúc
kiểm tra mỗi hồ sơ khai thuế, cán bộ kiểm tra thuế phải nhận xét hồ sơ khai thuế
theo mẫu quy định
Đối với các hồ sơ khai thuế khai đầy đủ chỉ tiêu; đảm bảo tính hợp lý, chính xác của các thông tin, tài liệu; không có dấu hiệu vi phạm thì bản nhận xét hồ sơ khai thuế được lưu lại cùng với hồ sơ khai thuế
Đối với các hồ sơ khai thuế phát hiện thấy căn cứ để xác định số thuế khai là
có nghi vấn thì cán bộ kiểm tra thuế phải báo cáo Lãnh đạo Chi cục ra thông báo yêu cầu DN hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định
Đối với hồ sơ khai thuế, dữ liệu khai thuế nếu phát hiện thấy chưa chính xác hoặc
có những chỉ tiêu cần làm rõ liên quan đến số thuế phải nộp; số tiền thuế được miễn, giảm; số thuế được hoàn Cán bộ kiểm tra thuế phải báo cáo Lãnh đạo ra thông báo bằng văn bản đề nghị DN giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu theo mẫu quy định
Thời hạn DN phải giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu được ghi trong thông báo không quá số ngày ngày làm việc theo quy định kể từ ngày ký thông báo.”
“ Xử lý sau khi DN đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu
Trường hợp DN đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu chứng minh được số thuế khai là đúng thì Bản giải trình, tài liệu bổ sung hoặc Biên bản làm việc (nếu làm việc trực tiếp) được chấp nhận và lưu lại cùng với hồ sơ khai thuế
Trường hợp DN đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu nhưng không chứng minh số thuế khai là đúng thì cán bộ kiểm tra thuế báo cáo Lãnh đạo Chi cục ra thông báo lần 2 yêu cầu DN tiếp tục giải trình hoặc bổ sung thêm thông tin tài liệu Thời hạn yêu cầu DN tiếp tục giải trình hoặc bổ sung thêm thông tin tài liệu được ghi trong thông báo không quá số ngày ngày làm việc theo quy định kể từ ngày ký.”
“Hết thời hạn theo thông báo lần 2 của cơ quan Thuế mà DN không giải trình, bổ sung thêm thông tin tài liệu hoặc trong thời hạn theo thông báo của cơ quan Thuế, DN giải trình, bổ sung thêm thông tin tài liệu nhưng không chứng minh được số thuế khai là đúng thì cán bộ kiểm tra thuế báo cáo Lãnh đạo Chi Cục thuế
để ban hành; Quyết định ấn định số thuế phải nộp, hoặc Quyết định kiểm tra tại trụ
sở của DN trong trường hợp không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp “
Trang 34Đối với kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng phương pháp đối chiếu số liệu giữa hồ sơ khai thuế với sổ sách kế toán, cán bộ thuế
áp dụng một số phương pháp sau để phát hiện gian lận thuế đó là:
“ Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
Phương pháp này yêu cầu trước hết, kiểm tra số liệu tổng hợp sau đó mới kiểm tra số chi tiết Việc kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tổng hợp như: bảng tổng kết tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh… Từ việc phân tích đối chiếu trên tài liệu tổng hợp rút ra nhận xét tổng quát và những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu
Kiểm tra số liệu chi tiết của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thể hiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết
Ý nghĩa của phương pháp này là giúp cho cán bộ kiểm tra nắm được những vấn đề chính, những bất thường Từ đó, đi vào kiểm tra những vấn đề trọng tâm, mấu chốt; tránh sa vào những việc vụn vặt, không tìm được hướng đi rõ rệt.”
“ Phương pháp sử dụng để kiểm tra chứng từ gốc
+ Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian Đây là phương pháp mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng
+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ: phương pháp này áp dụng khi cần kiểm tra
để rút ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ nào đó theo yêu cầu kiểm tra Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong kiểm tra thuế, tiết kiệm được thời gian, hiệu quả công tác cao
+ Kiểm tra điển hình Trong phương pháp này ta tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ nào đó để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm được thời gian nhưng cho kết quả có độ chính xác không cao.”
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ
Ngoài những phương pháp nghiệp vụ như trên CQT còn áp dụng một số phương pháp khác khi tiến hành công tác kiểm tra về thuế
Trang 35Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần: nhằm đảm bảo kết luận kiểm
tra về từng nội dung được chuẩn xác, trung thực, khách quan Khi kiểm tra phải đối chiếu với nhiều nguồn số liệu, nhiều nguồn thông tin để đảm bảo tính khớp đúng của sự việc Trong quá trình kiểm tra phải có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xác nhận toàn bộ
Các phương pháp toán học: là các phương pháp số học, toán kinh tế, … giúp
cho việc tính toán, đối chiếu và tổng hợp số liệu.”
1.2.3.2 Kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, thực hiện chế độ in, phát hành, sử dụng hóa đơn
Thực hiện chế độ kế toán, sổ sách kế toán, chứng từ kế toán, hóa đơn, báo cáo kế toán có liên quan mật thiết đếnviệc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý Nhà nước Nội dung kiểm tra thuế trong lĩnh vực này gồm tổ chức thực hiện Luật
kế toán và các văn bản pháp lý có liên quan đến kế toán của các cơ sở kinh doanh
+ Kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật kế toán của các cơ sở kinh doanh.” +”Kiểm tra việc lập và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn có liên quan đến việc tính thuế
Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, số sách kế toán, chứng từ kế toán, hóa đơn, báo cáo kế toán đảm bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậu thuế Do vậy nội dung kiểm tra này cần được tiến hành thường xuyên lien tục và rất cần thiết.”
“Nội dung kiểm tra kế toán bao gồm; Kiểm tra chứng từ kế toán, kiểm tra sổ sách kế toán, kiểm tra báo cáo tài chính Chi tiết về kiểm tra được phân tích sau đây:
Một là, Kiểm tra chứng từ kế toán
Sơ đồ 1.1 Nội dung kiểm tra chứng từ kế toán
Hiểu biết quy
định nội bộ và hệ
thống chứng từ
Các loại hồ sơ, chứng từ nào?
Kiểm tra hình thức bên ngoài
Kiểm tra nội dung chứng từ
Xác định dấu hiệu Xác minh các
dấu hiệu
Trang 36Trước tiên, công chức thuế phải có hiểu biết về quy định nội bộ, hệ thống chứng từ kế toán của doanh nghiệp Hệ thống chứng từ kế toán trong doanh nghiệp thông thường gồm chứng từ kế toán thống nhất và chứng từ kế toán hướng dẫn Công chức thuế cần có cái nhìn tổng quát để nắm bắt các loại chứng từ kế toán, tiến hành kiểm tra hình thức bên ngoài và nội dung bên trong của chứng từ kế toán để xác định độ tin cậy của chúng, công chức thuế cần kiểm tra các yếu tố cơ bản của chứng từ và việc ghi chép trên chứng từ có đúng nguyên tắc hay không Các yếu tố
cơ bản của chứng từ kế toán như tên gọi chứng từ, ngày, tháng, năm lập chứng từ,
số liệu chứng từ, tên gọi, địa chỉ đơn vị, cá nhân nhận chứng từ, nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các chỉ tiêu về số lượng, đơn giá, chữ ký của người lập, người chịu trách nhiệm về phê chuẩn chứng từ, tính chính xác của chứng từ kế toán.”
“Nguyên tắc ghi chép trên chứng từ kế toán: Lập đúng và đủ số liên quy định, ghi chép chứng từ phải khách quan, rõ rang, trung thực, đầy đủ các yếu tố, gạch các phần còn trồng, không tẩy xóa chữa trên chứng từ, trường hợp viết sai cần hủy bỏ không xé rời khỏi quyển, không ký khống chứng từ Khi kiểm tra cán bộ công chức thuế cần chú ý một số điểm để qua đó có thể xác định được dấu hiệu sai pham như;
Trật tự lưu trữ của chứng từ kế toán phải được đánh số liên tiếp và sắp xếp theo thứ tự ngày tháng
Cần chú ý kiểm tra chứng từ hướng dẫn vì chứng từ này doanh nghiệp dễ giả mạo Chú ý người lập chứng từ, chứng từ kế toán do cá nhân, tổ chức bên ngoài lập sẽ có độ tin cậy cao hơn chứng từ trong nội bộ doanh nghiệp
Cần kiểm tra kỹ lưỡng chứng từ gốc, đối chiếu giữa chứng từ gốc và bản sao
vì bản sao có nhiều khả năng rủi ro cao
Phải kiểm tra xem chứng từ có có phản ánh trung thực, khách quan nghiệp
vụ kinh tế không, để kiểm tra nôi dung này cần đối chiếu với các chứng từ liên quan như chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm, chứng từ thuế…
Hai là, kiểm tra sổ sách kế toán
Kiểm tra số sách kế toán bao gồm kiểm tra hình thức sổ sách kế toán và nội dung ghi chép trong số sách kế toán
Trang 37Có nhiều hình thức sổ sách kế toán khác nhau như Chứng từ ghi sổ, Nhật ký chung, Nhật ký sổ cái, Nhật ký chứng từ, hình thức sổ theo chương trình máy tính hoặc hình thức số nào đó được chấp nhận Tương ứng với mỗi hình thức kế toán thì
có một hệ thống số kế toán cụ thể với trình tự ghi số nhất định Doanh nghiệp phải
mở đầy đủ các sổ kế toán theo đúng hình thức số kế toán đã chọn.”
“Ngoài việc có đầy đủ sổ kế toán thích hợp thì các nội dung ghi trong sổ kế toán phải trung thực, hợp lý và có đầy đủ chứng từ hợp lý, hợp lệ minh chứng Công chức thuế cần thực hiện những thủ tục kiểm tra thích hợp để loại trừ khả năng ghi
số các nghiệp vụ kinh tế thực tế không phát sinh, hoặc quy mô nghiệp vụ phản ánh không đúng với thực tế xảy ra
Ba là, kiểm tra báo cáo tài chính
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, sau quá trình ghi chép, đo lường thì cuối cùng phải được tổng hợp theo các chỉ tiêu tài chính và được trình bày trên báo cáo tài chính theo những phương pháp và nguyên tắc nhất định Báo cáo tài chính được hiểu là hệ thống báo cáo được lập theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tổng hợp của đơn vị Do vậy, báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để người sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích, đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị Công chức thuế cần thực hiện các thủ tục kiểm tra để đánh giá tính trung thực và hợp lý của các khoản mục, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Cụ thể, công chức thuế cần kiểm tra sự hiện hữu của tài sản và nguồn vốn được phản ánh trên bảng cân đối kế toán (hay báo cáo
về tình hình tài chính); kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế, các khoản doanh thu và chi phí được kế toán ghi chép và phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (quốc tế gọi là báo cáo thu nhập toàn diện); luồng lưu chuyển tiền tệ Các nghiệp
vụ, chi tiêu, khoản mục này cần thỏa mãn hoặc một hoặc hơn một mục tiêu về tính đầy đủ, tính hiện có, tính thực tế xảy ra, tính đúng kỳ, tính kịp thời, tính giá; phân loại và trình bày; phê chuẩn; chính xác số học…”
“Trong cuộc kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp, công chức thuế có thể sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp phân tích đánh giá để kiểm
Trang 38tra chứng từ So sánh, đối chiếu giữa chứng từ kế toán, chứng từ thương mại, các chứng từ khác liên quan với các nội dung ghi trên sổ kế toán; đối chiếu số dư trên sổ
kế toán chi tiết với số liệu trên sổ kế toán tổng hợp, với số liệu trên bảng cân đối số phát sinh, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dữ liệu thuyết minh trên báo cáo tài chính So sánh số liệu trên các báo cáo tài chính với nhau, giữa báo cáo tài chính với sổ sách kế toán, chngs từ kế toán So sánh số liệu thực tế kỳ này so vói kỳ trước, so sánh giữa số liệu thực tế với kế hoạch, định mức,
dự toán… Ngoài các phương pháp trên công chức thuế có thế sử dụng các phương pháp kiểm tra khác như phương pháp quan sát, phỏng vấn, thẩm tra và xác nhận từng phần… để kiểm tra việc chấp hành kế toán, sổ sách, chứng từ ““
doanh nghiệp phát sinh
Việc kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân kinh doanh đối với nhà nước Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai, tính thuế, nộp thuế bao gồm:
Kiểm tra căn cứ tính thuế nhằm xác định đúng số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của chu ký kinh doanh Việc kiểm tra căn cứ tính thuế được thực hiện trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và các tài liệu có liên quan Thông qua việc kiểm tra, đối chiếu dữ liệu trên các tờ khai, bản kê, quyết toán thuế cơ sở kinh doanh đã kê khai với dữ liệu kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của cơ sở kinh doanh để phát hiện
số thuế đơn vị kê khai thuế thiếu, số thuế ẩn lậu ”
“ Thứ nhất, kiểm tra xác định số thuế phải nộp
Kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh Kiểm tra kê khai tính thuế, số thuế phải nộp, xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế là yêu cầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp Trong thực tế, nhiều hoạt động kinh doanh phức tạp phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế đúng với quy định của từng sắc thuế nhằm tránh bỏ sót nguồn thu Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra
Trang 39sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định đúng
số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàn trong
kỳ của đơn vị Đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế đơn vị đã
kê khai với số liệu thanh tra, kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của đơn vị để phát hiện số thuế đơn vị kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu Đây là khâu quan trọng trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung của các luật thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện và đặc biệt phải thông thạo nghiệp vụ kế toán.”
“Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của đơn vị để xác định cơ sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp thuế của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng ngân sách nhà nước không, có
nợ đọng thuế không Đặc biệt chú trọng đến những cơ sở có biểu hiện vi phạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu khả năng thất thoát tiền thuế của nhà nước Để đạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời hạn nộp thuế theo quy định của luật thuế với thời gian nộp thuế của cơ sở kinh doanh qua các chứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào kho bạc, biên lai thuế Như vậy, kiểm tra thuế là công việc mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải nắm vững các văn bản pháp luật thuế, thông thạo nghiệp vụ kế toán, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác.”
“ Thứ hai, kiểm tra xác định số thuế được miễn, giảm
Việc kiểm tra xác định số thuế được miễn, giảm của DN được tập trung chính vào kiểm tra ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) Cơ quan thuế thực hiện miễn giảm thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế theo quy định của các văn bản pháp luật Những nội dung cần kiểm tra gồm:
- Kiểm tra điều kiện ưu đãi thuế TNDN; công chức thuế phải kiểm tra xem lĩnh vực ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp thực hiện có nằm trong nhóm những ngành nghề được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hay không
- Kiểm tra mức thuế suất được ưu đãi và thời gian áp dụng thuế ưu đãi
- Kiểm tra thời gian doanh nghiệp được miễn, giảm thuế
- Kiểm tra các khoản thu nhập được ưu đãi miễn, giảm thuế
Trang 40Thứ hai, kiểm tra căn cứ hoàn thuế
Hoàn thuế GTGT là việc Nhà nước trả lại số thuế GTGT mà doanh nghiệp
đã nộp cho NSNN trong một số trường hợp nhất định Cụ thể hơn là việc NSNN trả lại cho doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp còn chưa khấu trừ trong kỳ tính thuế Bản chất của thuế GTGT là chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Vì vậy mà
số thuế đầu vào sẽ được khấu trừ Tuy nhiên, không phải lúc nào số thuế đầu ra cũng đủ để khấu trừ ví dụ trường hợp hàng hóa chịu thuế suất đầu ra bằng 0% Cho nên để giúp người nộp thuế nhanh chóng nhận lại được phần thuế đầu vào mà họ đã nộp, nhà nước thực hiện hoàn thuế GTGT đầu vào đối với một số trường hợp mà thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra Ngoài ra nhà nước cũng hoàn thuế đối với các trường hợp người nộp thuế đã thực hiện nộp thuế lớn hơn số học phải nộp hoặc đã nộp thừa Kiểm tra hoàn thuế GTGT đối với doanh nghiệp gồm các bước:””
“Một là, kiểm tra về điều kiện, thủ tục hoàn thuế: Cơ sở pháp lý của hồ sơ đề nghị hoàn thuế (đối tượng, trường hợp hoàn thuế) Việc kiểm tra dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn, chỉ đạo công tác hoàn thuế của cơ quan thuế cấp trên; Dữ liệu kê khai thuế GTGT: tờ khai thuế, doanh thu và thuế suất thuế GTGT hàng hóa dịch vụ bán ra, giá tính thuế và thuế GTGT của hàng hóa dịch
vụ mua vào
Hai là, kiểm tra chuyên sâu: Căn cứ đặc điểm tình hình SXKD của DN, ngành nghề kinh doanh chính của DN; tình trạng hoạt động SXKD hiện tại của DN, các tài liệu sổ kế toán, BCTC, chứng từ hóa đơn và các tài liệu liên quan.”
ngoài nhà nước
1.2.4.1 Mô hình và cơ chế quản lý thuế
Thứ nhất, mô hình quản lý thuế Hiện nay có 3 mô hình quản lý thuế cơ bản;
mô hình quản lý theo sắc thuế, mô hình quản lý thu theo chức năng và mô hình quản lý thu theo ĐTNT Mỗi mô hình có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả
công tác kiểm tra thuế