1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới cơ chế kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam

147 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới cơ chế kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả Hoàng Ngọc Khánh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên để nhanh chóng triển khai áp dụng hoạt động kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật kiểm toán nhà nước tác giả chọn đề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 2

Hà Nội, 2008

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5

1.1 KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5 1.1.2 Quan niệm về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với DNNN 13

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 14

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 16 1.2.1 Nội dung của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 16

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối doanh nghiệp nhà nước 28

1.2.3 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 301.3 KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG, ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 33

1.3.1 Kinh nghiệm kiểm toán nhà nước Trung Quốc 34

Trang 4

1.3.2 Kinh nghiệm kiểm toán nhà nước Thụy Điển 38

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho kiểm toán nhà nước Việt

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

2.2.1 Hệ thống pháp lý về hoạt động của kiểm toán nhà nước 46

2.2.2 Tổ chức thực hiện kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước 50

2.2.3 Kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán 69

2.3 NHỮNG NHẬN XÉT RÚT RA KHI NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG

CƠ CHẾ KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 72

2.3.1 Những thành tựu đã đạt được: 72

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của cơ chế kiểm toán

đối với doanh nghiệp nhà nước 80

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ

CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ

NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 87

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 87

3.1.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng đổi mới cơ chế kiểm toán

nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 87

Trang 5

3.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KIỆN TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 93 3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯÒNG Ở VIỆT NAM 97 3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý và các qui định về hoạt động kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 98

3.3.2 Đổi mới và áp dụng các loại kiểm toán mới đối với doanh

nghiệp Nhà nước 103

3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán doanh nghiệp nhà nước 108

3.3.4 Tăng cường cơ sở vật chất cho kiểm toán nhà nước 113

3.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 113

3.3.6 Đào tạo lực lượng kiểm toán viên chuyên nghiệp thực hiện kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước 115

KẾT LUẬN 117 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CH Ữ VIẾT TẮT

ASOSA Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á NTOSA Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao

GTGT Giá trị gia tăng

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

FAC Liên đoàn kế toán Quốc tế

WTO Tổ chức thương mại Quốc Tế

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài nghiên cứu

Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước ngày càng mạnh mẽ, yêu cầu về đổi mới đặt ra cho các cơ quan nhà nước phải có những thay đổi nhằm thích ứng được nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể Kiểm toán nhà nước cũng không ngoại lệ trong quy luật đổi mới tất yếu này Vì vậy, ngày 20 tháng 04 năm

2005, Luật kiểm toán nhà nước được thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá

IX (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý và định hướng phát triển, thúc đẩy hoạt động kiểm toán Nhà nước từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế

Để tạo điều kiện cho kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng là cơ quan chuyên môn của Quốc hội, với chức năng kiểm tra tài chính công của quốc gia Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay rất cần thiết Hiện nay nhu cầu sử dụng thông tin nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với DNNN; phục vụ quản lý điều hành nội bộ các đơn vị, thông tin cung cấp cho thị trường vốn, thông tin làm cơ sở giao dịch kinh tế giữa các đối tác không đơn thuần chỉ sử dụng những số liệu trung thực trên báo cáo tài chính mà cần sử dụng thông tin kinh tế đa chiều bao gồm cả thực trạng, kết quả và những nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng, kết quả đó để giúp những nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời về lĩnh vực hoạt động của mình Để đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới cơ chế kiểm toán là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để thích ứng với vai trò, vị trí pháp lý và yêu cầu quản lý mới Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhằm phù hợp với thông lệ và xu hướng phát triển của kiểm toán nhà nước các nước trên thế giới, thuận lợi cho quá trình hợp tác, hội nhập của kiểm toán nhà nước Việt nam với bè bạn quốc tế

Trang 9

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên để nhanh chóng triển khai áp dụng hoạt động kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật kiểm toán nhà nước tác giả chọn đề tài: “ Đổi mới cơ chế kiểm toán đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Là một ngành được tổ chức và hoạt động còn rất trẻ với kể so với các

cơ quan ban ngành khác Nhưng kiểm toán nhà nước đã không ngừng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tế kiểm toán ở nước ta Nhiều công trình nghiên cứu về kiểm toán nhà nước đã góp phần trưởng thành về tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ cuả kiểm toán nhà nước Trong đó có một số đề tài và chuyên đề có liên quan như: Mô hình tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước; Qui chế hoạt động của Đoàn kiểm toán; Qui trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước Các đề tài đã nghiên cứu chủ yếu mới chỉ tập trung vào những hoạt động chung của kiểm toán nhà nước, hoặc các qui trình, chuẩn mực để tổ chức thực hiện trong quá trình hoạt động kiểm toán Đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

- Những vấn đề tác giả tập trung nghiên cứu: Đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề cơ bản về cơ chế Kiểm toán Nhà nước nói chung để đưa ra các phương hướng và giải pháp đổi mới cụ thể về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng đề tài nghiên cứu là: Đổi cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Do có nhiều các tổ chức kiểm toán khác nhau, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi kiểm toán nhà nước và cơ chế KTNN đối với DNNN Thời gian nghiên cứu từ khi thành lập cơ quan kiểm toán nhà nước theo Nghị định 70CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 cho đến nay, phương hướng và giải pháp

về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Sử dụng phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học, sử dụng phuơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp thống

kê, phân tích so sánh, logic và lịch sử, chuyên gia và tổng kết thực tế để nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra

6 Những đóng góp của luận văn

- Làm rõ thêm những vấn đề cần đổi mới cơ chế của kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam

- Phân tích thực trạng của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước

- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ chế kiểm toán nhà

nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh

nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục đổi cơ chế kiểm toán nhà

nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI

CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ

NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.1 Quan niệm về kiểm toán nhà nước và vai trò, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của kiểm toán nhà nước

1.1.1.1 Quan niệm về kiểm toán nhà nước

- Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực tài chính nhà nước do quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

- Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước

- Theo thông lệ quốc tế, ở hầu hết các nước trên thế giới, công cụ kiểm tra tài chính cao nhất của Nhà nước là cơ quan KTNN hay còn gọi là cơ quan kiểm toán tối cao

1.1.1.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán nhà nước

- Vai trò của kiểm toán nhà nước:

Một là: góp phần nâng cao tính kinh tế, tính hiệu quả của việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước

Hai là: góp phần nâng cao việc chấp hành và hoàn thiện pháp luật về quản

lý kinh tế, tài chính của Nhà nước

Ba là: góp phần làm minh bạch các quan hệ kinh tế-tài chính

Bốn là: góp phần nâng cao hiệu lực trong quản lý và sử dụng tài chính nhà nước

Chức năng của kiểm toán nhà nước

Chức năng kiểm tra và xác nhận; Chức năng tư vấn; Chức năng công khai các số liệu và tình hình quản lý

Nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước

Thứ nhất: kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm của các cơ quan nhà nước, Chính phủ và các tổ chức kinh tế nhà nước

Thứ hai: kiểm toán toàn bộ hoạt động kinh tế của Nhà nước

Trang 12

Quyền hạn của kiểm toán nhà nước

Quyền được xây dựng chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán ; Quyền điều tra ; Quyền thực thi

1.1.2 Quan niệm về cơ chế của kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

-

Cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước là tổng thể các phương thức, quy trình và những quy định về hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước ban hành nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong quá trình thực hiện kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật trong từng thời kỳ nhất định

1.1.3 Doanh nghiệp nhà nước và đặc trưng cơ bản của kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

- Tuỳ theo mục tiêu hoạt động của từng DNNN mà mục tiêu, nội dung, phương pháp để áp dụng cụ thể của từng cuộc kiểm toán cũng khác nhau

- Xem xét và giải quyết các môi quan hệ về tài chính của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động

- Thông qua kiểm toán nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất, tổ chức sản xuấ, tổ chức quản lý

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.2.1 Nội dung của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

1.2.1.1 Xây dựng Luật và các qui định về kiểm toán nhà nước

-Về tổng thể, kể cả các quy định trong Hiến pháp hay trong luật về cơ quan

KTNN thường quy định về cơ quan KTNN với các nội dung chính như: Nhiệm

vụ của cơ quan KTNN; Tính độc lập của cơ quan KTNN; Quy định về vị trí pháp

lý của KTNN trong bộ máy nhà nước; Quyền xây dựng và ban hành các quy trình, chuẩn mực kiểm toán; Các lĩnh vực và phạm vi kiểm toán; Công tác báo cáo

- Để bộ máy tổ chức cơ quan KTNN hoạt động theo mục tiêu và nhiệm vụ

mà Hiến pháp và luật về cơ quan KTNN đã quy định, bản thân cơ quan KTNN phải ban hành rất nhiều các quy định liên quan đến các hoạt động cụ thể của

Trang 13

KTNN, cự thể như: Các quy định liên quan đến tổ chức quản lý hoạt động kiểm toán; Các quy định liên quan đến tổ chức thực hiện kiểm toán

1.2.1.2 Xây dựng quy trình kiểm toán nhà nước doanh nghiệp nhà nước

Hoạt động kiểm toán cũng giống như các hoạt động kinh tế - xã hội khác,

để hoạt động có hiệu quả, kinh tế và tiết kiệm, cần có quy trình, quy phạm nhất định, Hoạt động kiểm toán một mặt chịu trách nhiệm trước pháp luật về xác nhận số liệu và ý kiến nhận xét đánh giá của mình, mặt khác cũng phải tuân theo nguyên tắc chung, là phải hoạt động có hiệu quả với chi phí hợp lý Cho nên phải có một quy trình phù hợp với tính chất, đặc điểm của hoạt động KTNN đối với DNNN là tất yếu khách quan

12.1.3 Kiểm tra, giám sát, soát xét chất lượng kiểm toán

Kiểm tra, giám sát, soát xét chất lượng kiểm toán là tạo ra kết quả kiểm toán đạt tiêu chuẩn chất lượng cao; cung cấp thông tin để hỗ trợ cho các bộ phân chức năng của KTNN tổ chức và điều hành hoạt động kiểm toán; đánh gía trình độ năng lực kiểm toán viên và cung cấp các chỉ tiêu làm cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phân công nhiệm vụ phù hợp, bảo đảm chất lượng; giúp KTNN xem xét lại tính đầy đủ và hiệu lực của hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán để kịp thời điều chỉnh sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết trong các qui định về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn hoạt động kiểm toán, làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng kiểm toán

1.2.1.4 Mối quan hệ giữa các bộ phận và sự biểu hiện của hoạt động của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước

Trong cơ chế KTNN đối với DNNN các quy định trong hệ thống pháp lý của KTNN là sự tạo ra các phương thức hoạt động để biến các mục tiêu đề ra trong hoạt động của KTNN thành hiện thực Hệ thống pháp lý của KTNN mang lại hiệu quả cao khi nó phù hợp với thực tế của đất nước và thông lệ quốc tế để phát huy tốt hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động kiểm toán, hạn chế được các tác động phản kháng, ngược chiều

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối doanh nghiệp nhà nước

- Môi trường kiểm toán trong đó có kiểm toán nhà nước

Trang 14

- Sự phát triển của kinh tế thị trường và Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

và các quy định của các tổ chức kiểm toán quốc tế có liên quan đến kiểm toán nhà nước đối với DNNN

- Cơ cấu bộ máy tổ chức, năng lực cán bộ kiểm toán đối với DNNN

- Cơ sở vật chất để thực hiện kiểm kiểm toán

1.2.3 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, góp phần minh bạch môi trường tài chính doanh nghiệp, phát triển bền

vững tạo điều kiện thu hút vốn trong và ngoài nước, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, kịp thời phát hiện và các hành vi sai phạm, lãng phí của công và

phòng ngừa các hành vi tham nhũng làm thất thoát tài sản nhà nước

Thứ ba, để phù hợp với quá trình chuyển đổi mới tại các DNNN

Thứ tư, để khắc phục hạn chế về các qui định thực hiện trong công tác kiểm

toán và phù hợp với thông lệ kiểm toán quốc tế

1.3 KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG, ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

Phần này luận văn nghiên cứu kinh nghiệm cơ chế KTNN Trung Quốc và Thụy Điển đối với lĩnh vực DNNN, trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm đối với KTNN Việt Nam như: Áp dụng loại hình kiểm toán mới; Chuyển giao một phần hoặc toàn bộ hoạt động kiểm toán tài chính đối với các loại hình doanh nghiệp cho các công ty kiểm toán độc lập đảm nhận; Áp dụng việc bắt buộc các DNNN phải gửi báo cáo tài chính về KTNN để làm tài liệu tham khảo để có thông tin trong việc lập

kế hoạch kiểm toán hàng năm; Quy định các DNNN phải thiết lập thống kiểm toán nội bộ và phù hợp với các quy định của nhà nước và chiu sự kiểm tra giám sát của KTNN; Tăng cường công khai kết quả kiểm toán trên thông tin đại chúng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Trang 15

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Phần này luận văn khái quát về qua trình hình thành và phát triển của KTNN gồm; sự ra đời, địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức qua các giai đoạn của KTNN

2.2 HIỆN TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.2.1 Hệ thống pháp lý về hoạt động của kiểm toán nhà nước

- Luật KTNN được Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng

6 năm 2005 và chính thức có hiệu lực thi hành kể ngày 01 tháng 01 năm 2006 Đây là bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý và cơ sở pháp lý cho hoạt động của KTNN Luật KTNN gồm tám chương, 76 điều quy định về tổ chức và hoạt động KTNN Luật kiểm toán đã có những thay đổi đáng kể

- Cùng với việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, KTNN cũng rất chú trọng đến việc xây dựng các văn bản nội bộ làm cơ sở cho việc quản lý điều hành hoạt động kiểm toán KTNN đã ban hành văn bản quy phạm có tính chất nội bộ ngành: Hệ thống chuẩn mực KTNN,, Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn KTNN, đến nay, ngoài các văn bản nêu trên, KTNN đã nghiên cứu và ban hành hệ thống hồ sơ, mẫu biểu kiểm toán áp dụng cho từng lĩnh vực kiểm toán cụ thể làm cơ sở cho việc quản lý và soát xét chất lượng kiểm toán

2.2.2 Tổ chức thực hiện kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước

Để thực hiện kiểm toán đối với lĩnh vực DNNN được thực hiện theo 4 giai

đoạn theo quy trình kiểm toán DNNN như sau: chuẩn bị kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Lập báo cáo kiểm toán; Kiểm tra việc thực hiện kết luận; kiến nghị của đoàn kiểm toán

2.2.3 Kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán

Một là, thẩm định kế hoạch tổng quát

Hai là, thực hiện kiểm tra hoạt động của đoàn kiểm toán kiểm toán DNNN

Trang 16

Ba là, thẩm định báo cáo kiểm toán

Bốn là thẩm định hồ sơ kiểm toán

2.3 NHỮNG NHẬN XÉT RÚT RA KHI NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

2.3.1 Những thành tựu đã đạt được

2.3.1.1 Về xây dựng Luật và các qui định về hoạt động kiểm toán nhà nước

- Luật KTNN ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của KTNN nói chung và lĩnh vực kiểm toán DNNN nói riêng, được xây dựng trên cơ sở tổng kết 14 năm hoạt động, luật KTNN được ban hành là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế, tài chính, khẳng định về mặt pháp lý, KTNN là công cụ để tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần làm minh bạch nền tài chính quốc gia

2.3.1.2 Về tổ chức thực hiện kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước

Sự trưởng thành trong tổ chức thực hiện kiểm toán các DNNN đã thể hiện

rõ nét về nội dung, phạm vi, phương pháp kiểm toán; từ chỗ tương đối đơn giản trong thời gian đầu, đến nay đã tiến hành nhiều cuộc kiểm toán có tính chất phức tạp, phạm vi rộng, qui mô lớn…trong nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội, hoạt động kiểm toán DNNN đã được thực hiện theo trình tự thống nhất, chất lượng kiểm toán ngày càng được nâng cao

- Kết quả kiểm toán của cơ quan KTNN đã cung cấp cho cơ quan cấp trên của doanh nghiệp, các cơ quan chức năng quản lý của Nhà nước những thông tin chính xác về thực trạng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và những khiếm khuyết, bất hợp lý của chế độ tài chính - kế toán hiện hành để có biện pháp sắp xếp, chấn chỉnh hệ thống các DNNN; bổ sung, hoàn thiện chế độ tài chính-kế toán

và chính sách pháp luật của Nhà nước

2.3.1.3 Về kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán

Những năm qua, Vụ giám sát và kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán đã

Trang 17

thực hiện toàn diện các nhiệm vụ được giao, gồm công tác thẩm định kế hoạch kiểm toán, báo cáo kiểm toán kiểm tra hồ sơ kiểm toán và hoạt động của các đoàn kiểm toán Bước đầu đã giúp cho lãnh đạo KTNN thực hiện được chức năng kiểm tra, giám sát về việc tổ chức hoạt động của đoàn kiểm toán

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước

2.3.2.1 Những hạn chế

Thứ nhất, về xây dựng Luật và các qui định về hoạt động kiểm toán nhà nước

- Do luật KTNN là cơ quan mới được ban hành đã được ban hành và có hiệu lực pháp luật, song do luật không thể quy định một cách chi tiết tất cả các quy định

- Việc xây dựng và ban hành quy chế hoạt động của đoàn kiểm toán còn nhiều bất cập, chưa hoàn chỉnh

- Chưa xây dựng và ban hành quy trình về xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm

- Chưa xây dựng quy định kiểm soát chất lượng kiểm toán

Thứ hai; Về tổ chức thực hiện kiểm toán đối với DNNN

- Quy trình kiểm toán DNNN hiện nay chưa phù hợp với tình hình thực tế

- Về khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán tổng quát hiện nay thời gian dành cho khảo sát còn ít, dẫn tới nội dung, mục tiêu kế hoạch kiểm toán còn chung chung

- Trình độ trình độ kiểm toán viên không đồng đều dẫn đến việc triển khai vận dụng loại hình kiểm toán hoạt động còn gặp nhiều khó khăn

- Việc kiểm tra thực hiện kiến nghị của KTNN đối với các DNNN được

kiểm toán thực hiện chưa thường xuyên

Thứ ba, về kiểm tra soát xét chất lượng kiểm toán

- Về cơ cấu tổ chức bộ máy giám định và kiểm tra soát xét chất lượng kiểm toán, đang trong quá trình hoàn thiện

- Công tác kiểm tra soát xét chưa được chú trọng

2.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế

- Hệ thống văn bản pháp quy có liên quan đến KTNN chưa được xây dựng

Trang 18

đầy đủ, đồng bộ

- Môi trường pháp lý cho hoạt động quản lý thiếu tính ổn định; chính sách,

chế độ luôn thay đổi, nhất là những quy định không rõ ràng, là kẽ hở trong quản

lý mà KTNN rất khó phát hiện để xử lý

- Quy trình kiểm toán DNNN không phù hợp với các loại hình kiểm toán mới

- Kiểm toán hoạt động là một loại hình kiểm toán mới đối với Kiểm toán

Nhà nước Việt Nam Bên cạnh đó, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn; trình độ kiểm toán viên không đồng đều

- Đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên còn thiếu về số lượng và chất lượng chưa

đáp ứng yêu cầu đòi hỏi lâu dài

- Chưa có quy định về thẩm định kế hoạch tổng quát

Trang 19

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI

CƠ CHẾ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

3.1.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

- Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước

- Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế

- Xu hướng vận động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

3.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KIỆN TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Một là, đổi mới cơ chế kiểm toán với các doanh nghiệp nhà nước phải phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường Hai là, đổi mới cơ chế kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao được chất lượng hoạt động của kiểm toán nhà nước để làm minh bạch tài chính của doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, đổi mới cơ chế kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo thực hiện được đường lối của Đảng và Nhà nước để phát triển và hoàn thiện các doanh nghiệp nhà nước

3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯƠNG Ở VIỆT NAM

3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý và các qui định về hoạt động kiểm toán nhà nước

Trang 20

Thứ nhất, trước mắt, cần cụ thể hoá các vấn đề mang tính nguyên tắc của

Luật KTNN để triển khai áp dụng, theo đó cần phải ban hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện để đưa luật KTNN vào cuộc sống

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống quy trình kiểm toán báo cáo tài chính, xây

dựng và ban hành chuẩn mực, quy trình kiểm toán hoạt động, quy trình kiểm toán tuân thủ đối với DNNN

Thứ ba, để chuẩn bị cho việc thực hiện kiểm toán của đối với các DNNN của

năm sau, KTNN cần ban hành quy trình xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm

Thứ tư, Xây dựng và ban hành chế tài đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân

trong việc không thực hiện nghiêm túc các kiến nghị kiểm toán

Thứ năm, Xây dựng quy trình công khai kết quả kiểm toán hàng năm Kết

quả kiểm toán hàng năm phải được công khai theo quy định của Luật KTNN

3.3.2 Đổi mới và áp dụng các loại kiểm toán mới đối với doanh nghiệp nhà nước

- Thứ nhất, kiểm toán hoạt động đối với các doanh nghiệp nhà nước

- Thứ hai, kiểm toán trách nhiệm kinh tế trong nhiệm kỳ đối với cán bộ lãnh đạo trong doanh nghiệp nhà nước

3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán doanh nghiệp nhà nước

Một là, xây dựng mục tiêu, nội dung phương thức thẩm định kế hoạch kiểm

toán tổng quát

Hai là, xây dựng mục tiêu, nội dung, phương thức kiểm tra hồ sơ kiểm toán

và hoạt động của đoàn kiểm toán

Ba là, kiểm tra hoạt động kiểm toán để đánh giá việc tuân thủ quy trình, quy

chế tổ chức và hoạt động của đoàn kiểm toán và các quy định nghiệp vụ khác về kiểm toán

Bốn là, xác định mục tiêu, nội dung và phương thức soát xét trình độ năng

lực và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên để kiểm soát việc tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán

Trang 21

Năm là, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán để đánh

giá chất lượng cuộc kiểm toán về mức độ tuân thủ quy trình, chuẩn mực kiểm toán và các quy chế, quy định về nghiệp vụ kiểm toán

Sáu là, xây dựng các tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ kiểm soát

của các cấp kiểm soát

Bảy là, Kiểm toán Nhà nước cần tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ về kiểm soát

chất lượng kiểm toán cho các cấp kiểm soát và coi chứng chỉ kiểm soát chất lượng kiểm toán như là điều kiện quan trọng để đảm đương trách nhiệm về kiểm soát

3.3.4 Tăng cường cơ sở vật chất cho kiểm toán nhà nước

Đối với Kiểm toán nhà nước, việc phát triển cơ sở vật chất, đảm bảo nguồn lực cần thiết cho tổ chức và hoạt động của KTNN có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo thực hiện được đầy đủ nhất chức năng, nhiệm vụ của KTNN và giữ được tính độc lập trong hoạt động chuyên môn

3.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Ngày nay khoa học công nghệ có vai trò rất quan trọng tác động đến sự phát triển của hầu hết các các lĩnh vực trong đời sống kinh tế và xã hội Sự phát triển của Internet cả về chiều rộng và chiều sâu đem đến những lợi ích và hiệu quả to lớn cho bất

kỳ ai biết khai thác và sử dụng nó KTNN cần phải tận dụng được những lợi tích to lớn này nhằm đáp ứng tốt nhất những nhiệm vụ nặng nề hiện nay và trong tương lại

3.3.6 Đào tạo lực lượng kiểm toán viên chuyên nghiệp thực hiện kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước

Trong hoạt động của kiểm toán đối với DNNN vấn đề con nguời là nhân tố quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đề ra Các kiểm toán viên phải đáp ứng được yêu cầu của chuẩn mực về khả năng và trình độ chuyên môn Công việc kiểm toán đòi hỏi các kiểm toán viên phải có khả năng và trình

độ rất cao về từng lĩnh vực nhất định, đảm bảo rằng các kết luận và đánh giá là trung thực và hợp lý

KẾT LUẬN

Luận văn đã khái quát hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế kiểm toán DNNN, trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về KTNN, luận

Trang 22

văn đã đưa ra khái niệm và đi sâu nề nội dung của cơ chế kiểm toán dối với DNNN Bên cạnh đó, luận văn đã nghiên cứu kịnh nghiệm của một số nước thưch hiện cơ chế kiểm toán DNNN, từ đó rút ra bài học áp dụng cho Việt nam Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn như vậy, luận văn đánh giá những mặt được và chưa được đối với cơ chế kiểm toán DNNN trong thời gian qua, từ

đó đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm toán đối với DNNN nhằm mục tăng cường hơn nữa vai trò, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán, phục vụ đắc lực cho việc kiểm soát và điều hành vĩ mô của Nhà nước trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 24

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài nghiên cứu

Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước ngày càng mạnh mẽ, yêu cầu về đổi mới đặt ra cho các cơ quan nhà nước phải có những thay đổi nhằm thích ứng được nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể Kiểm toán nhà nước cũng không ngoại lệ trong quy luật đổi mới tất yếu này Vì vậy, ngày 20 tháng 04 năm

2005, Luật kiểm toán nhà nước được thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá

IX (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý và định hướng phát triển, thúc đẩy hoạt động kiểm toán Nhà nước từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế

Để tạo điều kiện cho kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng là cơ quan chuyên môn của Quốc hội, với chức năng kiểm tra tài chính công của quốc gia Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay rất cần thiết Hiện nay nhu cầu sử dụng thông tin nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với DNNN; phục vụ quản lý điều hành nội bộ các đơn vị, thông tin cung cấp cho thị trường vốn, thông tin làm cơ sở giao dịch kinh tế giữa các đối tác không đơn thuần chỉ sử dụng những số liệu trung thực trên báo cáo tài chính mà cần sử dụng thông tin kinh tế đa chiều bao gồm cả thực trạng, kết quả và những nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng, kết quả đó để giúp những nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời về lĩnh vực hoạt động của mình Để đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới cơ chế kiểm toán là một trong những nhiệm vụ

Trang 25

trọng tâm để thích ứng với vai trò, vị trí pháp lý và yêu cầu quản lý mới Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhằm phù hợp với thông lệ và xu hướng phát triển của kiểm toán nhà nước các nước trên thế giới, thuận lợi cho quá trình hợp tác, hội nhập của kiểm toán nhà nước Việt nam với bè bạn quốc tế

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên để nhanh chóng triển khai áp dụng hoạt động kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật kiểm toán nhà nước tác giả chọn đề tài: “ Đổi mới cơ chế kiểm toán đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Là một ngành được tổ chức và hoạt động còn rất trẻ với kể so với các

cơ quan ban ngành khác Nhưng kiểm toán nhà nước đã không ngừng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tế kiểm toán ở nước ta Nhiều công trình nghiên cứu về kiểm toán nhà nước đã góp phần trưởng thành về tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ cuả kiểm toán nhà nước Trong đó có một số đề tài và chuyên đề có liên quan như: Mô hình tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước; Qui chế hoạt động của Đoàn kiểm toán; Qui trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước Các đề tài đã nghiên cứu chủ yếu mới chỉ tập trung vào những hoạt động chung của kiểm toán nhà nước, hoặc các qui trình, chuẩn mực để tổ chức thực hiện trong quá trình hoạt động kiểm toán Đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Trang 26

- Những vấn đề tác giả tập trung nghiên cứu: Đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề cơ bản về cơ chế Kiểm toán Nhà nước nói chung để đưa ra các phương hướng và giải pháp đổi mới cụ thể về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng đề tài nghiên cứu là: Đổi cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Do có nhiều các tổ chức kiểm toán khác nhau, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi kiểm toán nhà nước và cơ chế KTNN đối với DNNN Thời gian nghiên cứu từ khi thành lập cơ quan kiểm toán nhà nước theo Nghị định 70CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 cho đến nay, phương hướng và giải pháp

về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học, sử dụng phuơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp thống

kê, phân tích so sánh, logic và lịch sử, chuyên gia và tổng kết thực tế để nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra

6 Những đóng góp của luận văn

- Làm rõ thêm những vấn đề cần đổi mới cơ chế của kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam

Trang 27

- Phân tích thực trạng của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước

- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ chế kiểm toán nhà

nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh

nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục đổi cơ chế kiểm toán nhà

nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trang 28

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI

CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ

NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.1 Quan niệm về kiểm toán nhà nước và vai trò, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của kiểm toán nhà nước

1.1.1.1 Quan niệm về kiểm toán nhà nước

Kiểm toán có nguồn gốc từ tiếng La tinh, theo nghĩa của từ “Audit” Kiểm toán ra đời từ thời La Mã, thế kỷ thứ III trước Công nguyên Tuy nhiên, hoạt động của kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ và mang tính phổ biến trong khoảng vài trăm năm trở lại đây

Kiểm toán hiện diện như một công cụ không thể thẩm định đối với bất kỳ một ngành kinh tế nào, một hình thái xã hội nào mà không hề bị chi phối bởi kiến trúc thượng tầng Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ thật sự có ý nghĩa quan trọng đối với các quá trình lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia kể từ sau các cuộc cách mạng

về kinh tế và hiện đại hoá vào những năm của đầu thế kỷ XX

Mặc dù khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu nhưng cho đến nay người

ta vẫn chưa hoàn toàn nhất trí với nhau về khái niệm này

Vương quốc Anh đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và

là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan Với khái niệm này, các nhà khoa học ở Anh

quan niệm kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính

Trang 29

của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định

Hoa Kỳ lại quan niệm: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn

đã được thiết lập"

Trong khi đó, Cộng hoà Pháp lại quan niệm rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận

và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định"

Do ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới nên ở Việt Nam, kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã phần nào kế thừa được sự phát triển của kiểm toán thế giới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kiểm toán ở Việt Nam vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kiểm toán

Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân quan

niệm: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên

cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực Khái niệm này đã cho rằng kiểm toán không chỉ là bảng khai tài chính mà là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động”; đồng thời cũng đề cập đến việc sử dụng phương pháp kiểm toán khi kiểm

toán viên thực thi nghiệp vụ kiểm toán

Học viện Tài chính và Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh có

cùng quan điểm: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông

Trang 30

tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức

độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng

Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ và chung nhất về kiểm toán như sau:

Kiểm toán là một quá trình trong đó một chủ thể độc lập, có năng lực chuyên môn cao (KTV, tổ chức kiểm toán) thực hiện việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng các nguồn lực kinh tế của thực thể kinh tế

KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước hoạt động độc lập theo luật định của Nhà nước Luật KTNN Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực tài chính nhà nước do quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật [59]

Với khái niệm đã nêu, KTNN được hiểu với nghĩa là một danh từ đó là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giám sát tài chính nhà nước (khác với cách

hiểu là một động từ - đó là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan KTNN) Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước[59] Qua các giai đoạn phát triển của

Nhà nước, kiểm tra tài chính nhà nước của Nhà nước được thực hiện dưới những hình thức khác nhau nhưng đều có mục đích là kiểm tra và xác định các khoản chi tiêu tài chính, công quỹ quốc gia được sử dụng đúng mục đích; phát hiện và ngăn chặn các hành vi tham nhũng lạm dụng quyền lực làm thất thoát công quỹ của Nhà nước Theo thông lệ quốc tế, ở hầu hết các nước trên thế giới, công cụ kiểm tra tài chính cao nhất của Nhà nước là cơ quan KTNN hay còn gọi là cơ

Trang 31

quan kiểm toán tối cao

1.1.1.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán nhà nước

- Vai trò của kiểm toán nhà nước:

Một là: góp phần nâng cao tính kinh tế, tính hiệu quả của việc quản lý và

sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước

Thông qua hoạt động kiểm toán, đánh giá và xác nhận tính trung thực, hợp pháp của các thông tin kinh tế, trước hết là thông tin trên các báo cáo tài chính của các cấp chính quyền, các cơ quan, các đơn vị và các bộ phận được kiểm toán Đồng thời góp phần giúp các thông tin về kinh tế- tài chính của Nhà nước, của các đơn vị kinh tế đáp ứng được yêu cầu trung thực, khách quan và công khai Kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả của việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính Thông qua đó các Chính phủ thấy được các thế mạnh, những việc làm tốt, những hoạt động cần phải chấn chỉnh; thúc đẩy Chính phủ và các tổ chức kinh tế có sử dụng ngân sách nhà nước nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách toàn diện cả về tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực

Trong kinh tế thị trường, Nhà nước đã và đang mở rộng hoạt động của mình sang các lĩnh vực kinh tế và xã hội nhằm thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế do đó càng cần thiết phải được kiểm tra và giám sát để đảm bảo các hoạt động đó phải tuân theo những quy định trong khuôn khổ tài chính nhất định Trong khi đó mục tiêu của kiểm toán chính là đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn công quỹ, tăng cường sự minh bạch và lành mạnh trong quản

lý tài chính, đưa ra các báo cáo đánh giá khách quan trước công chúng - những người nộp thuế cho Nhà nước

Hai là: góp phần nâng cao việc chấp hành và hoàn thiện pháp luật về quản

lý kinh tế, tài chính của Nhà nước

Thông qua kết quả kiểm toán là các báo cáo xác nhận, đánh giá và kết luận về

Trang 32

các thông tin tài chính, quá trình quản lý và sử dụng công quỹ đã góp phần duy trì hiệu lực của hệ thống pháp luật của Nhà nước Điều này được khẳng định trong mục tiêu và nội dung của hoạt động kiểm toán Trong mỗi hình thức kiểm toán: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán chuyên đề… đều đánh giá sự tuân thủ pháp luật và những quy định của các cấp có thẩm quyền (điều này được quy định trong tất cả các chuẩn mực kiểm toán) Thông qua hoạt động kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, cơ quan kiểm toán sẽ đánh giá và kiến nghị các đối tượng kiểm toán sửa chữa những sai phạm về quản lý kinh tế - tài chính Như vậy, kiểm toán góp phần tích cực vào duy trì sự tuân thủ pháp luật tại các cấp quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu lực quản lý bằng pháp luật của các cơ quan nhà nước

Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế- tài chính Đây là một trong những vai trò trực tiếp và quan trọng nhất của kiểm toán Nhà nước tiến hành quản lý kinh tế- tài chính thông qua hai phương thức chính: thông qua hoạch định chiến lược và các chính sách kinh tế- tài chính nhằm định hướng và điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế; đồng thời Nhà nước cũng là một nhà đầu tư lớn vào những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế

Ba là: góp phần làm minh bạch các quan hệ kinh tế-tài chính

Vai trò này của kiểm toán gắn liền với chức năng công khai các thông tin qua hoạt động kiểm toán mà chủ yếu là thông qua hình thức kiểm toán báo cáo tài chính Thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính trung thực, hợp pháp của các thông tin kinh tế, trước hết là thông tin trên các báo cáo tài chính của các cấp chính quyền, các cơ quan, các đơn vị kinh tế của Nhà nước đã được kiểm toán Kiểm toán góp phần xác nhận các thông tin về kinh tế- tài chính của Nhà nước, các đơn vị kinh tế đáp ứng được yêu cầu trung thực, khách quan

và công khai

Trang 33

Bốn là: góp phần nâng cao hiệu lực trong quản lý và sử dụng tài chính nhà nước

Thông qua các chức năng kiểm tra, đánh giá, tư vấn cho các cơ quan của Nhà nước và các tổ chức kinh tế của Nhà nước về quản lý kinh tế vĩ mô cũng như vi mô Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế- tài chính bằng hai vai trò chính như; vạch ra chiến lược và các chính sách kinh tế- tài chính nhằm định hướng và điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế; do Nhà nước cũng là một nhà đầu tư lớn vào những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế và là một khách hàng có nhu cầu mua sắm rất lớn có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường Do vậy, vai trò của Nhà nước trong kinh tế là hết sức quan trọng, đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng các công cụ, biện pháp để duy trì được hiệu lực quản lý đó

- Chức năng của kiểm toán nhà nước:

Chức năng chung của các cơ quan KTNN là kiểm tra tài chính nhà nước thể hiện trên các khía cạnh cụ thể sau:

Chức năng kiểm tra và xác nhận: nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan

KTNN là việc tiến hành kiểm tra công tác kế toán, các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách các cơ quan, các cấp ngân sách trong bộ máy của Nhà nước Thông qua đó xác nhận tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp các tài liệu, số liệu

kế toán, báo cáo quyết toán ngân sách; đưa ra các kết luận và đánh giá về hoạt động của đối tượng kiểm toán

Chức năng tư vấn: thông qua các quá trình kiểm toán, tư vấn cho đối tượng

kiểm toán về những thiếu sót cần khắc phục, các dự đoán trong tương lai để phòng tránh Bằng những những kinh nghiệm tích luỹ được thông qua nhiều cuộc kiểm toán và bằng trình độ, tầm nhìn rộng của các kiểm toán viên để tư vấn cho đối tượng có nhiều cách làm đúng, tránh sai sót cũng như các kinh nghiệm trong quá trình điều hành Đồng thời, thông qua quá trình kiểm toán tiến hành lập các báo cáo trình lên Quốc hội, tư vấn cho Quốc hội ban hành hoặc sửa đổi các Luật cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của nền kinh tế Tư vấn cho các cơ

Trang 34

quan thuộc Chính phủ ban hành hoặc sửa đổi các quy định phù hợp với Luật và thực tiễn hoạt động của các đối tượng kiểm toán

Chức năng công khai các số liệu và tình hình quản lý : sử dụng ngân sách

Nhà nước và các nguồn lực khác do Nhà nước nắm giữ Trong Nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động của Nhà nước phải được kiểm tra và giám sát chặt chẽ bởi cơ quan lập pháp - cơ quan do nhân dân bầu ra và là người đại diện cho quyền lợi của những người đóng thuế tạo nên ngân sách Nhà nước Nhu cầu được thông tin của dân chúng và các cơ quan có quyền giám sát đòi hỏi KTNN với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính tối cao phải công khai các số liệu và đánh giá về tình hình quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước một cách minh bạch trên các phương tiện truyền thông hay các diễn đàn của Quốc hội theo định kỳ hàng năm và được quy định bởi các điều luật

- Nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước:

Thứ nhất: kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm của các cơ quan nhà nước, Chính phủ và các tổ chức kinh tế nhà nước

Đây là nhiệm vụ cơ bản của cơ quan KTNN, một cơ quan đủ thẩm quyền

về mặt pháp lý cũng như đủ khả năng về chuyên môn và nhân lực tiến hành Đó

là kiểm tra việc hạch toán các khoản thu và chi của Nhà nước do Chính phủ đưa

ra để quyết toán ngân sách Nhiệm vụ ở đây là đưa ra các tiêu thức chọn mẫu phù hợp và trực tiếp tiến hành kiểm tra các mẫu đó theo các quy trình và chuẩn mực phù hợp để xem xét và đánh giá các giá trị trong các hoá đơn, chứng từ và bảng tổng quyết toán có theo đúng mẫu biểu đã quy định hay chưa

Thứ hai: kiểm toán toàn bộ hoạt động kinh tế của Nhà nước

Bên cạnh việc thu thuế theo luật định và chi cho bộ máy cũng như các

khoản chi khác theo dự toán đã lập, Nhà nước còn các hoạt động kinh doanh và góp vốn Nhà nước sở hữu nhiều tài sản và vốn, đồng thời thực hiện vai trò của Nhà nước là khắc phục các khuyết tật của thị trường và ổn định kinh tế vĩ mô, do

Trang 35

đó Nhà nước phải chi rất nhiều tiền cho công tác điều hành thị trường Cơ quan KTNN cần phải kiểm toán các doanh nghiệp này kể cả các doanh nghiệp mà Nhà nước góp vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp mà cổ phần Nhà nước chiếm đa số Các đánh giá cần đưa ra xem liệu thị trường đã được Nhà nước tác động một cách tích cực chưa, các biện pháp tài chính và điều tiết tiền tệ có đảm bảo cho số

việc làm tăng lên và giảm lạm phát chưa, có vì lợi ích của người dân hay không

- Quyền hạn của kiểm toán nhà nước:

Quyền được kiểm toán, KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước của

Nhà nước, do đó bất kỳ cơ quan, đơn vị, tổ chức có nhiệm vụ quản lý, thu - chi

và sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản nhà nước và các công quỹ quốc gia khác đều là đối tượng phải tiến hành kiểm toán KTNN được quyền áp dụng các hình thức kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động phụ thuộc vào mục đích và yêu cầu của từng cuộc kiểm toán

Quyền được xây dựng chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán,

KTNN được độc lập xây dựng và thực hiện kiểm toán theo một chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán nghiệp vụ phù hợp Do đó Nhà nước trao quyền cho KTNN xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn mực kiểm toán, qui trình kiểm toán và các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ áp dụng trong hoạt động KTNN Lĩnh vực kiểm toán là lĩnh vực riêng đòi hỏi nghiệp vụ và chuyên môn rất cao, đồng thời để đảm bảo thực hiện được chức năng xác nhận và tư vấn được hiệu quả yêu cầu các công việc kiểm toán phải dựa trên những chuẩn mực

và quy trình cụ thể cho từng lĩnh vực

Quyền điều tra, quyền điều tra là một biện pháp nghiệp vụ không thể thiếu được

trong công việc kiểm toán, nhất là các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật Đa số luật kiểm toán của các nước đều nhấn mạnh ý nghĩa các quyền điều tra, thông qua việc này để ngăn chặn hành động cản trở kiểm toán viên thực hiện các quyền hạn theo luật

Trang 36

định Điều khoản này nhằm tăng cường vị trí của KTNN với các đơn vị bị kiểm toán

và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của kiểm toán viên

Quyền thực thi, đa số luật kiểm toán của các nước qui định việc thực thi kết

luận kiểm toán, tuỳ thuộc vào mức độ sai sót đã được kết luận, để KTNN đưa ra kiến nghị xử lý, đồng thời KTNN có quyền kiến nghị các biện pháp khắc phục các sái sót đã được kết luận Các đơn vị bị kiểm toán phải trình bày những biện pháp khắc phục và thời hạn để khắc phục các sai sót đó Nếu đơn vị bị kiểm toán không thực hiện, KTNN có quyền thông báo cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của đơn vị đó hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo qui định của pháp luật

1.1.2 Quan niệm về cơ chế kiểm toán nhà nước đối với DNNN

Từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ mécanisme của phuơng Tây Từ điển Le Petit Lause (1999) giảng nghĩa “mécanime” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa từ cơ chế “cách thức theo theo đó một quá trình thực hiện”

Như vậy có thể hiểu cơ chế như sau: Cơ chế là tổng thể các yếu tố có quan

hệ hữu cơ, tác động vào sự vận hành của một hệ thống nhất định theo những mực tiêu nhất định Về cơ bản, cơ chế bao gồm những yếu tố thể hiện những tác động điều khiển của chủ thể quản lý đối với hệ thống như: hình thức, phương pháp, công cụ và những yếu tố tự tác động theo quy luật vận hành khách quan của hệ thống

Cơ chế kiểm toán là tổng thể các phương thức hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong quá trình thực hiện trong từng thời kỳ nhất định

Kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính của Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, xác minh đánh giá về các thông tin tài chính và tư vấn cho đơn

vị được kiểm toán, các cơ quan chức năng và các cơ quan nhà nước trong việc tăng cường pháp chế, hoàn thiện cơ chế chính sách do vậy có thể hiểu cơ chế của

Trang 37

KTNN như sau:

Cơ chế của KTNN được hiểu là tổng hợp hình thức và phương pháp để thực thi chức năng - nhiệm vụ, là hệ thống các quy tắc mang tính pháp lý ràng buộc với các cơ quan, đơn vị bên ngoài và trong nội bộ cơ quan KTNN

Từ quan niệm về cơ chế và cơ chế KTNN như trên có thể đưa ra quan niệm

về cơ chế KTNN đối với DNNN như sau:

Cơ chế kiểm toán nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước là tổng thể các phương thức, quy trình và những quy định về hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước ban hành nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong quá trình thực hiện kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật trong từng thời kỳ nhất định

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,

nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

Những đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước:

- Về sở hữu: DNNN thuộc sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất Cũng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, DNNN hoạt động theo Luật doanh nghiệp và độc lập tự chủ trong sản xuất và kinh doanh

- Về phân phối thu nhập: Trong các DNNN phân phối thu nhập theo nguyên tắc phân phối theo lao động Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của từng người đã đống góp cho xã hội không phân biệt màu da, tôn giáo, đảng phái

- Mục tiêu hoạt động của các DNNN: Các DNNN hoạt động đa ngành đan xen nhau hoặc chuyên môn hóa cao và có phạm vi hoạt động rộng lớn thể hiện ở các ngành kinh tế kỹ thuật từ sản xuất, lưu thông phân phối đến tiêu dùng ở trong từng lĩnh vực, từng lãnh thổ hoặc thống nhất trong toàn quốc Hoạt động của các

Trang 38

DNNN bao gồm nhiều mục tiêu khác nhau bao gồm:

+ DNNN nhà nước hoạt động kinh doanh: hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận, trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn

+ DNNN hoạt động công ích: hoạt động không đặt mục tiêu lợi nhuận, nhiệm vụ chính là hoạt động công ích như cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà nước, hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai

+ DNNN hoạt động vừa nhằm mục tiêu kinh doanh vừa thực hiện nhiệm

vụ công ích: vừa phải đảm bảo mục tiêu kinh doanh, vừa thực hiện nhiệm vụ công ích Tuy nhiên khi hoạt động phải tổ chức hạch toán riêng giữa hoạt động kinh doanh và công ích và thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật

Những đặc trưng của KTNN đối với DNNN:

Do đặc điểm của DNNN nên KTNN đối với các DNNN cũng có những đặc thù riêng Bởi vì mỗi lĩnh vực kiểm toán đều những đặc trưng riêng do đối tượng kiểm toán quy định Chính vì vậy, khi kiểm toán đến đối tượng nào thì sẽ có những đặc trưng của đối tượng kiểm toán đó Đối với KTNN Việt Nam, đối tượng kiểm toán là các hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền tài sản nhà nước Vì vậy, khi kiểm toán mà đối tượng là DNNN sẽ có những đặc trưng cơ bản sau :

- Tùy theo mục tiêu hoạt động của từng DNNN mà mục tiêu, nội dung, phuơng pháp để áp dụng cụ thể của từng cuộc kiểm toán cũng khác nhau Tuy nhiên khi kiểm toán vai trò của đại diện chủ sở hữu Nhà nước hoàn toàn được xem xét, đảm bảo cho DNNN đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hóa đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Kiểm toán DNNN là kiểm toán việc quản lý, sử dụng vốn, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh, nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước và thực hiện các chính sách, chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính kế toán doanh

Trang 39

nghiệp Trong đó xem xét việc giải quyết các mối quan hệ tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ yếu là xem xét các mối quan hệ :

+ Các mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước và DNNN

+ Quan hệ tài chính giữa DNNN với tập thể người lao động trong quan hệ thanh toán nội bộ doanh nghiệp

+ Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với con nợ, chủ nợ, với khách hàng

- Kiểm toán DNNN là nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất, hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, tổ chức và vận hành tài chính doanh nghiệp đó vào kỷ cương, nề nếp, tức là làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả góp phần nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp và toàn xã hội

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.2.1 Nội dung của cơ chế kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

1.2.1.1 Xây dựng Luật và các qui định về kiểm toán nhà nước

Một là, Luật kiểm toán nhà nước:

Trong Tuyên bố Lima về định hướng chủ đạo của công tác kiểm tra tài chính đã được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của INTOSAI tháng 10 năm

1977, đã đưa ra các định hướng chủ đạo, đồng thời lựa chọn và hệ thống hoá những nguyên tắc cơ bản đã được nhiều nước thành viên công nhận đối với một loại hình kiểm tra từ bên ngoài vào nền tài chính nhà nước Chính văn kiện này làm cơ sở cho các hệ thống kiểm tra tài chính mà nhiều nước đã lựa chọn để sắp đặt hệ thống kiểm tra tài chính với các vị trí khác nhau trong hệ thống các chức năng và quyền lực nhà nước Do vậy nó là cơ sở thích hợp để nhiều nước ban hành các quy định trong Hiến pháp và trong các Luật về KTNN có các điều khoản liên quan đến tổ chức và hoạt động của KTNN

Trang 40

Tuỳ thuộc vào từng nước, KTNN ra đời trước hay sau, mức độ dân chủ hoá

và việc phân quyền cho các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các thiết chế quyền lực khác Các quy định về KTNN được ghi trong Hiến pháp và luật

có mức độ và phạm vi điều chỉnh khác nhau Có nước quy định về KTNN trong Hiến pháp nhiều điều khoản về tính độc lập, về địa vị pháp lý, về cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan KTNN, các quy định cụ thể hơn được ban hành thành luật KTNN để thực hiện Nhưng nhìn chung ở nhiều nước chỉ quy định những điều quan trọng nhất về cơ quan KTNN trong Hiến pháp mà đặc biệt là tính độc lập chỉ tuân theo pháp luật và địa vị pháp lý của KTNN trong

hệ thống các cơ quan nhà nước Các điều khoản quy định còn lại được ban hành dưới dạng luật về cơ quan KTNN một cách chi tiết hơn để dễ triển khai áp dụng

Về tổng thể, kể cả các quy định trong Hiến pháp hay trong luật về cơ quan KTNN thường quy định về cơ quan KTNN với các nội dung chính yếu sau:

+ Nhiệm vụ của cơ quan kiểm toán: nhiệm vụ hàng đầu của cơ quan KTNN

là đảm bảo tính tuân thủ hợp lý trong sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên việc quy định về nhiệm vụ kiểm toán hay mục tiêu của nó về tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu quả được trình bày rất khác nhau trong luật kiểm toán của các quốc gia Trong luật kiểm toán còn đưa ra các phương thức kiểm toán được áp dụng đối với

cơ quan KTNN đó là hoạt động tiền kiểm (kiểm tra trước) rất được coi trọng tuy nhiên không được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà nhiệm vụ hàng đầu vẫn là hậu kiểm (kiểm tra sau) Mặt khác các quy định còn ưu tiên cho loại hình ngoại kiểm (kiểm tra từ bên ngoài) đối với các hoạt động quản lý và điều hành ngân sách của Chính phủ

- Tính độc lập của cơ quan KTNN: Các quy định về tính độc lập của KTNN thường được nhiều nước đề cập đến trong Hiến pháp, điều đó cho thấy ưu tiên hàng đầu để KTNN có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình chính là tính độc lập của

nó Tính độc lập thường được đề cập đến thông qua các mặt sau:

Ngày đăng: 06/04/2023, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w