Đầu tư xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đó là một trong những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội hòa nhập vào quá trình phát triển kinh tế xã hội.. Hòa ch
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4 1.1 Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo
Nghiên cứu về đầu tƣ xóa đói giảm nghèo
-Luận văn thạc sỹ “Đầu tư xóa đói giảm nghèo tại huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2006 - 2015”, tác giả Lê Huy Vinh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
(2011) Luận văn đã phân tích sự tác động của hoạt động đầu tư tác động đến công cuộc XĐGN tại huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ An và những giải pháp để giảm nghèo Đồng thời, chỉ ra những kết quả đạt được trong từng bước thực hiện các chính sách giảm nghèo, từ đó xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện các bước trong quy trình thực hiện chính sách XĐGN tại huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ An
- Luận văn thạc sỹ “Tác động của các chính sách tín dụng cho người nghèo đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Đại từ tỉnh Thái Nguyên”, tác giả Trương Thanh Hải, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2017) Đã phân tích về hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Đại từ tỉnh Thái Nguyên, với vốn cho vay được lặp lại nhiều lần, mức vay tăng dần từ nhỏ đến lớn, lãi suất cho vay ngang bằng với lãi suất thị trường, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm ban đầu về tín dụng cho người nghèo
- Nguyễn Đăng Bình, 2012 Đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh gắn với giảm nghèo tại Việt Nam trong thời kỳ đến năm 2020 Luận án tiến sĩ Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởng gắn với giảm nghèo bền vững Những mặt được và hạn chế theo hướng tăng trưởng nhanh và đầu tư theo hướng giảm nghèo, chỉ ra các mối quan hệ giữa đầu tư phát triển, tăng trưởng nhanh và giảm nghèo bền vững cần chú trọng xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ mang tính cơ cấu và bổ sung các cơ chế, chính sách hỗ trợ khác của Nhà nước Đề xuất khung lý thuyết, bao gồm những chỉ tiêu, phương pháp cần được sử dụng để phân tích, đánh giá các mối quan hệ giữa đầu tư phát triển, tăng trưởng nhanh và giảm nghèo Rút ra bài học từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững để liên hệ vận dụng tại Việt Nam.
Những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ việc khái quát các công trình nghiên cứu đã công bố trên cho thấy các chuyên đề về XĐGN, những tác động của XĐGN đến phát triển kinh tế, đến xã hội và các chuyên đề về XĐGN đã được nêu phần trên, có thể tổng hợp thành những nội dung chủ yếu mà các tác giả đã hướng vào sau đây:
Thứ nhất, xác định được những vấn đề cơ bản về XĐGN như: khái niệm, đặc điểm, vai trò XĐGN
Thứ hai, khái quát tình hình đầu tư XĐGN, những kinh nghiệm XĐGN của các nước trong khu vực, các nước trên thế giới
Thứ ba, phân tích, đánh giá khái niệm về XĐGN, thước đo đói nghèo, những nhân tố tác động đến XĐGN như chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm, các chính sách XĐGN của nhà nước
Thứ tư, phân tích, làm rõ thực trạng tác động của các chính sách đặc thù đến phát triển kinh tế xã hội
Thứ năm, một số giải pháp được đưa ra nhằm đẩy mạnh phát triển đất nước, hoàn thiện các chính sách liên quan đến XĐGN Đồng thời có đề tài đã đưa ra các giải pháp XĐGN trong đó tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp…
Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn đạt được nêu trên, đến nay vẫn còn nhiều khoảng trống liên quan đến đề tài luận văn chưa được nghiêncứu một cách thấu đáo, sáng tỏ Có thể chỉ ra một số khoảng trống đó như sau:
- Về mặt lý luận: Đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về lý luận và thực tiễn đầu tư trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo tại nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư với XĐGN
- Về mặt thực tiễn: Có thể thấy hầu hết các công trình mà nghiên cứu sinh đã trình bày ở trên, chưa có công trình nghiên cứu và phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư trong lĩnh vực XĐGN, các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trong lĩnh vực XĐGN Riêng tại nước CHDCND Lào, cho đến nay chưa có công trình khoa học nghiên cứu đánh giá thực trạng đầu tư trong lĩnh vực XĐGN và đề xuất định hướng cũng như các giải pháp thực hiện Chính vì vậy, tác giả luận án lựa chọn đề tài này để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ kinh tế.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Khái niệm chung
Trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu thế kỷ XX khái niệm “đầu tư” trở nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước, đòi hỏi một sự đổi mới mạnh mẽ ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư Vậy đầu tư là gì?, chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư
Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm về tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…của người dân) Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Như vậy, nếu xem xét trên góc độ đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại đầu tư khác nhau
Về cơ bản chúng ta có thể phân loại đầu tư theo nguồn vốn như sau:
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội
- Đầu tư từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt… nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
• Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)
• Tập quán tiêu dùng của dân cư
• Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
• Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - official development finance) Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -offical development assistance) và các hình thức viện trợ khác Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF
• Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài
• Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
• Nguồn vốn ODA Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc
Trong bài luận văn này, tác giả nghiên cứu về đầu tư công trong công tác xóa đói giảm nghèo tại nước CHDCND Lào
2.1.2 Đầu tư xóa đói giảm nghèo
2.1.2.1.Khái niệm và đặc điểm đầu tư xóa đói giảm nghèo
Là các hoạt động đầu tư trong đó bỏ tiền ra đề tiến hành cách hoạt động nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp Đầu tư cho xóa đói giảm nghèo được quan tâm ngay từ khi xây dựng chủ trương chính sách, kế hoạch phát triển kinh tếxã hội dài hạn, ngắn hạn, hàng năm Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nhà nước chủ động điều tiết hợp lý các nguồn lực của toàn xã hội vào mục tiêu và hoạt động tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo quốc gia Nhà nước đầu tư trực tiếp cho các dự án như: Đầu tư hỗ trợ sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư về giáo dục, y tế…giúp đỡ và bảo vệ người nghèo, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho người nghèo, giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó họ cũng cần phải có ý thức cần phải thoát nghèo cùng với sự giúp đỡ của chính phủ, người nghèo tự trau dồi kiến thức, phát huy lợi thế của mình, vươn lên thoát nghèo Trách nhiệm của chính phủ là giúp đỡ người nghèo gỡ bỏ rào cản ngăn cách xã hội và kinh tế, tạo điều kiện mục tiêu quốc gia để xóa đói giảm nghèo, nhưng hiệu quả giảm nghèo sẽ không cao hơn thậm chí sẽ không có nếu bản thân người nghèo không tích cực phấn đấu và vươn lên với mức sống cao hơn Đặc điểm của đầu tư xóa đói giảm nghèo:
- Đầu tư XĐGN là khoản chi tích lũy
- Quy mô và cơ cấu chi XĐGN không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
- Chi đầu tư XĐGN phải gắn chặt chi thường xuyên
- Đầu tư XĐGN đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư
- Hoạt động đầu tư XĐGN mang tính chất lâu dài
- Quá trình đầu tư, cũng như kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định theo thời gian và không gian tự nhiên, kinh tế, xã hội
Nội dung đầu tƣ xóa đói giảm nghèo
Để thực hiện đầu tư xóa đói giảm nghèo nhằm cải thiện cuộc sống và giúp cho người nghèo có thể vươn lên thoát nghèo thì chính phủ và các cấp ngành phải thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực sau
2.2.1.Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển của một quốc gia trong đó có CHDCND Lào, nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Theo quan điểm triết học thì cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hộ Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa ba yếu tố là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự tham gia của cơ sở hạ tầng thì mới tạo ra được sự phát triển tối ưu nhất bởi lẽ cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định đến kiến trúc thượng tầng hay tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế Cơ sở hạ tầng chỉ thực sự phát triển sau cuộc các mạng khoa học công nghệ vào thế kỉ thứ 19 Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là đầu tư có tác động kép, nó không chỉ là động lực để chuyển dịch cơ cấu mà còn kéo theo sự thu hút đầu tư vào khu vực này Cơ sở hạ tầng càng hoàn thiện thì quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp càng có điệu kiện mở rộng và nâng cao hiệu quả bởi vì cơ sở hạ tầng tốt không chỉ đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, giảm giá thành sản xuất mà còn hạn chế các rủi ro trong đầu tư Thực tế cho thấy, những địa phương nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém thì khó thu hút các nhà đầu tư, và khi đó khả năng cải tạo lại cơ sở hạ tầng càng hạn chế tạo nên một vòng luẩn quẩn là vùng nào càng nghèo thì cơ sở hạ tầng càng yếu kém và tụt hậu, tạo nên sự phát triển không đồng đều giữa các vùng
Căn cứ vào chức năng và tính chất thì các công trình cơ sở hạ tầng được chia làm 3 loại:
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống như các con đường, hệ thống điệnm mạng lưới thông tin liên lạc
- Cơ sở hạ tầng xã hội: Là các công trình gắn với các địa điểm dân cư như trường học, bệnh viện, công viên…các công trình này có vai trò như nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định xã hội
- Cơ sở hạ tầng môi trường: Là các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước cũng như môi trường sống của con người như các công trình xử lý rác thải, nước thải… Đầu tư cơ sở hạ tầng là các kết quả đầu tư của các dự án đầu tư phát triển nên sẽ mang những đặc điểm sau:
-Vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn
-Thời kì đầu tư kéo dài Thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm
-Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được xây dựng nên Ví dụ là việc xây dựng các con đường hay hệ thống các cảng biển…
-Vì cơ sở hạ tầng là các công trình cần vốn đầu tư lớn hơn nữa thời kì đầu tư kéo dài nên nó thường có độ rủi ro cao trong đó có các nguyên nhân chủ quan là do công tác quy hoạch ở nước ta còn hạn chế vì nhiều công trình xây dựng không phát huy được hiệu quả cần thiết
-Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động không ngừng, những nơi có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh sẽ được các nhà đầu tư ưu tiên đầu tư vào và ngược lại Vì thế lĩnh vực đầu tư vào cơ sở hạ tầng không thu hút được nhiều vốn tư nhân mà chủ yếu là từ nguồn vốn nhà nước
-Các công trình cở sở hạ tầng mang tính xã hội hóa cao có nhiều đặc điểm giống hàng hóa công cộng Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng nên phục vụ cả chức năng sản xuất lẫn đời sống
-Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính đồng bộ, có quy mô lớn và thường áp dụng các công nghệ hiện đại do có công tác lập quy hoạch rất là quan trọng nếu không sẽ phải trả giá rất đắt
-Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính định hướng, nó là kết quả của công tác quy hoạch cả một vùng rộng lớn cho đến những khu vực có diện tích nhỏ Các công trình cơ sở hạ tầng dựa trên quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội cả nước là bước cụ thể hóa của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia theo các đặc điểm và điều kiện của từng vùng lãnh thổ
-Ngoài ra nó còn mang tính địa phương và vùng sâu sắc, mỗi lãnh thổ quốc gia có tài nguyên, thiên nhiên khác nhau và có thế mạnh khác nhau nên việc đầu tư cơ sở hạ tầng là để phát triển những thế mạnh đó
2.2.2.Đầu tư phát triển các dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp bao gồm hai bộ phận chính là trồng trọt và chăn nuôi
Phương thức thực hiện đầu tư
Đầu tư được thực hiện theo các chương trình, dự án Tất cả các chương trình đều hướng tới tuyên truyền, vận động thực hiện giảm nghèo, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, thúc đẩy, khuyến khích ý chí quyết tâm vượt nghèo của mọi người dân; tiếp tục nghiên cứu tạo thêm các chính sách khuyến khích các hộ đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu, nhất là ở các xã nghèo, vùng nghèo và từng hộ nghèo, người nghèo Tăng cường và nâng cao nâng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp xã, huyện, đặc biệt là các xã nghèo, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Gắn kết thực hiện Chương trình giảm nghèo với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường phân cấp cho cơ sở, tạo cho cơ sở chủ động trong quá trình lập kế hoạch, điều hành quản lý các hoạt động của các chương trình giảm nghèo; không lấy lý do năng lực cán bộ xã yếu để trì hoãn việc phân cấp Đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển nguồn nhân lực và mạng lưới tổ chức trợ giúp pháp lý tại cơ sở, đặc biệt là tại các xã vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn, bảo đảm người nghèo khi có nhu cầu đều được trợ giúp pháp lý miễn phí, giúp nâng cao nhận thức pháp luật, tích cực tham gia vào công tác giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Xoá đói giảm nghèo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, đây là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách đồng thời là việc làm thường xuyên liên tục của các cấp, các ngành
Chương trình xoá đói giảm nghèo mang tính liên ngành, được thực hiện lồng ghép với các chương trình kinh tế xã hội khác Song, sự lồng ghép đó chưa đáp ứng và không thể thay thế, giải quyết hết các mục tiêu của xoá đói giảm nghèo Do đó, xoá đói giảm nghèo là một chương trình độc lập có mục tiêu đối tượng riêng Mọi giải pháp, hoạt động kể cả các nguồn lực cho chương trình phải cụ thể, phù hợp với mục tiêu đã đề ra
Chương trình xoá đói giảm nghèo được thực hiện theo phương châm xã hội hoá cao Phát huy tính tự chủ, tự vươn lên và tính sáng tạo của địa phương, của chính hộ nghèo và người nghèo Xã (phường) là các đơn vị cơ bản để xác định đối tượng, mục tiêu của chương trình và là địa bàn thực hiện các đề án và lồng ghép các chương trình khác với xoá đói giảm nghèo Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đề ra các nhiệm vụ, mục tiêu, cơ chế chính sách nhằm phát huy khả năng và trách nhiệm của mọi cấp, ngành và toàn xã hội tham gia xoá đói giảm nghèo, tạo nguồn lực để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Chương trình xoá đói giảm nghèo cần tiến hành đồng bộ các chính sách và giải pháp theo phương châm cuốn chiếu, ưu tiên đầu tư vào các vùng trọng điểm: vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, nơi có tỷ lệ đói nghèo cao.
Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tƣ xóa đói giảm nghèo
2.4.1.Chỉ tiêu đánh giá kết quả xóa đói giảm nghèo
Vốn đầu tư thực hiện cho xóa đói giảm nghèo
Vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư xóa đói giảm nghèo đã hoàn thành bao gồm các khoản chi phí:
- Cho công tác xây dựng
- Cho công tác mua sắm và lắp đặt thiết bị
- Cho công tác quản lý chương trình, dự án
- Cho tư vấn đầu tư xây dựng và chi khác
Theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư XĐGN được duyệt Đối với đầu tư XĐGN có quy mô lớn, thời gian dài Vốn đầu tư thực hiện là số vốn đã chi cho từng hoạt động hoặc từng giai đoạn của mỗi công cuộc đầu tư đã hoàn thành Đối với đầu tư XĐGN có quy mô nhỏ, thời gian ngắn Vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ các công việc của quá trình thực hiện đầu tư đã kết thúc
Vậy vốn đầu tư XĐGN có nguồn gốc như sau: Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác đưa vào các chương trình đầu tư XĐGN Hay có thể nói vốn đầu tư XĐGN nói chung là tổng tiền bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư XĐGN trong một khoảng thời gian nhất định
Tài sản cố định huy động
Tài sản cố định huy động là hạng mục đầu tư XĐGN là đối tượng có khả năng phát huy tác dụng độc lập, đã kết thúc quá trình đầu tư và có thể đưa vào hoạt động được ngay TSCĐ được huy động, chỉ tiêu biểu hiện bằng các giái trị tài sản cố định được huy động, chúng được tính theo giá trị dự toán hoặc giá trị thực tế Giá trị dự toán được sử dụng là cơ sở để tính toán giá trị thực tế của TSCĐ, để lập kế hoạch về vốn đầu tư và tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Như vậy, đây là một chỉ tiêu cho biết với một đồng vốn đầu tư bỏ rả sẽ tạo ra thêm bao nhiêu giá trị TSCĐ Hệ số TSCĐ huy động trên vốn đầu tư phản ánh việc đồng vốn đầu tư có đem lại hiệu quả hay không chứ không thể hiện khả năng sinh lời của đồng vốn đó
Huy động bộ phận: Là huy động từng đối tượng, từng hạng mục xây dựng của công trình vào hoạt động ở những thời điểm khác nhau do chương trình, dự án quy định
Huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng hạng mục Là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng, hạng mục không có khả năng phát huy tác dụng độc lập, đã kết thúc hạng mục đầu tư và có thể sử dụng được ngay
Giảm số hộ nghèo theo chuẩn
Tỷ lệ nghèo là số phần trăm về số người hoặc số hộ có mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu
Số người (hoặc hộ) được nghiên cứu có thu nhập (chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo × 100 Tổng số người (hoặc hộ) được nghiên cứu
Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người được dùng để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo Những người hoặc hộ có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo
Chuẩn nghèo bằng chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm cộng với một mức chi tối thiểu cho các mặt hàng phi lương thực - thực phẩm, gồm: nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập văn hoá, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc…Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm là trị giá của một rổ hàng hoá lương thực, thực phẩm thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là
Chi phí đầu tư để giảm 1 hộ nghèo
Mức đầu tư để giảm 1 hộ nghèo thì tổng kinh phí là bao nhiêu, để biết rằng mức đầu tư là lớn hay nhỏ để có thể đưa ra những chính sách hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp để tiến đến việc xóa đói giảm nghèo bền vững
2.4.2.Hiệu quả đầu tư xóa đói giảm nghèo
Hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội thể hiện và cụ thể hóa các mục tiêu XĐGN hoặc định hướng phát triển nên kinh tế của đất nước Về cơ bản, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội phải đảm bảo rằng khi một công cuộc đầu tư chứng minh được rằng sẽ đem lại cho xã hội một lợi ích lớn hơn cái giá mà xã hội phải trả khi đáp ứng mục tiêu cơ bản trong giai đoạn phát triển nhất định thì dự án mới xứng đáng được hưỡng những ưu đãi mà nền kinh tế dành cho nó Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tăng trưởng kinh tế và tối đa hóa phúc lợi Vì vậy, một trong các tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội thường được xác định thông qua việc đánh giá khả năng và mức độ đáp ứng các mục tiêu trong việc đầu tư XĐGN Đánh giá hiệu quả kinh tế dự án tức là đánh giá đóng góp của dự án vào sự gia tăng thu nhập quốc dân hay sự tăng trưởng kinh tế Việc đánh giá này về cơ bản cũng dựa vào những phương pháp như giá trị hiện tại thuần, tỉ suất hoàn vốn nội bộ, tỉ lệ lợi ích/ chi phí…Dưới dạng tổng quát nhất, giá trị gia tăng là mức độ giảm đói nghèo/ 1 đơn vị vốn đầu tư
Mục tiêu của hiệu quả kinh tế - xã hội là đạt lợi ích cho nền kinh tế quốc dân, lấy mục tiêu của nền kinh tế làm cơ sở xác định, những gì có lợi ích cho XĐGN là lợi ích, ngược lại là chi phí, tiêu chuẩn đánh giá về lợi ích kinh tế xã hội của việc đầu tư được thế hiện qua:
- Mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích lũy vốn, tốc độ phát triển
- Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư
Quản lý đầu tƣ xóa đói giảm nghèo
2.5.1 Nội dung quản lý đầu tư xóa đói giảm nghèo của nhà nước
2.5.1.1.Nội dung quản lý đầu tư xóa đói giảm nghèo của nhà nước
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình, trong đó có quản lý hoạt động đầu tư xóa đói giảm nghèo Nhà nước thống nhất quản lý đầu tư XĐGN với nội dung sau đây:
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư XĐGN trên cơ sở chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành và của địa phương và lãnh thổ, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư XĐGN trong đó quan trọng nhất là việc xác định mục tiêu và phương pháp cụ thể từ đó xác định các danh mục dự án ưu tiên
- Nhà nước xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động đầu tư XĐGN Nhà nước ban hành, sửa đổi bổ sung Luật và các văn bản quy phạm pháp luật nhằm một mặt khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho đầu tư hoạt động đúng luật và đạt hiệu quả cao
- Ban hành kịp thời các chính sách, chủ trương đầu tư Nhà nước ban hành các chính sách, chủ trương quan trọng như chính sách tiền tệ, tín sụng linh hoạt,…nhằm cải thiện môi trường và thủ tục đầu tư cho XĐGN Nhà nước đề ra các giải pháp nhằm huy động tối đa nguồn ngân sách và phát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn nước ngoài Trên cơ sở đó, phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư XĐGN, kịp thời điều chỉnh bổ sung những điều chưa hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính sách
- Ban hành các biện pháp – kỹ thuật, các chuẩn mực khi đầu tư Nhà nước là đại diện thống nhất quản lý liên quan đến các ban, ngành như các yêu cầu về dự án, mục tiêu, chỉ tiêu và tiến hành và các ban ngành thực hiện áp dụng cụ thể tại từng địa phương
- Đề ra chủ chương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài để chuẩn bị các nguồn lực về tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao
- Thực hiện chức năng kiểm tra giám sát Các cơ quản quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý việc tuân thủ pháp luật của các chủ đầu tư, xử lý những vi phạm pháp luật, quy định của nhà nước
- Quản lý trực tiếp ngồn vốn đầu tư XĐGN Nhà nước đề ra các giải pháp để quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước từ khâu xác định chủ trương đầu tư, phân phối đến các cấp và tiến hành kế hoạch, chương trình, dự án XĐGN Cần cân đối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo; ưu tiên vốn đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, huyện nghèo, địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao; bố trí hợp lý giữ vốn đầu tư xây dựng hạ tầng và vốn để hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho hộ nghèo thoát nghèo
2.5.1.2.Nội dung quản lý đầu tư xóa đói giảm nghèo các bộ, ngành và địa phương
- Các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư XĐGN cho Bộ, Ngành và địa phương của mình Để xóa đói, giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới, cấp ủy, chính quyền các cấp phải quán triệt đầy đủ trách nhiệm và vai trò lãnh đạo của mình; phải huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội mới có thể thành công Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các chính sách giảm nghèo hướng tới thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hỗ trợ để người dân tự thoát nghèo; kiên trì để thực hiện mục tiêu đề ra trong cả hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, không được chủ quan nóng vội, chạy theo thành tích; khơi dậy ý chí tự vươn lên của chính bản thân người nghèo Huy động tối đa nguồn lực Nhà nước, nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và chính bản thân hộ nghèo, tập trung ưu tiên và bố trí kịp thời để thực hiện các chính sách và chương trình giảm nghèo, ưu tiên cho các địa bàn nghèo
- Trên cơ sở các chính sách và Chương trình giảm nghèo bền vững, các địa phương cần xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể trên địa bàn để tổ chức thực hiện; phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp, các ngành, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo Thực tế cho thấy nơi nào, địa phương nào, cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo, có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trân Tổ quốc các cấp và các tổ chức đoàn thể chính trị ở địa phương, thực hiện phân cấp, mở rộng sự tham gia của người dân thì nơi đó, giảm nghèo đạt kết quả cao và ngược lại Ban hành những văn bản quản lý thuộc ngành mình và địa phương mình liên quan đến hoạt động đầu tư XĐGN
- Xây dựng các kế hoạch sử dụng vốn, kế hoạch tổ chức thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo, xác định danh mực các dự án đầu tư XĐGN của ngành dịa phương, trong đó đề ra các mục tiêu chi tiết đến từng thôn, bản, xã và đề ra các giải pháp hoàn thành mục tiêu đó theo các giai đoạn một cách chi tiết
- Hướng dẫn thực hiện các nghị quyết, nghị định Ban hành các cơ chế chính sách và văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện
- Trực tiếp kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động của các hoạt động đầu tư XĐGN thuộc ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được phân cấp quản lý.Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nắm tình hình thực hiện ở các địa phương quản lý, phát hiện bất cập, hạn chế trong tổ chức thực hiện của địa phương để có giải pháp chỉ đạo kịp thời Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chính sách và chương trình giảm nghèo cần được tổ chức thường xuyên ở các cấp, các ngành, nhất là cơ sở, từ việc xác định đối tượng thụ hưởng đến việc tổ chức thực thi chính sách; thông qua đó để hạn chế các tiêu cực, lợi dụng chính sách, đồng thời phát hiện những hạn chế, bất hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời
- Hỗ trợ trực tiếp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư XĐGN như cấp đất, giải phóng mặt bằng, thuê và tuyển dụng lao động, xây dựng công trình Công việc này mang tính chất phức tạp, tốn kém nhiều thời gian, công sức và tiền của Ngày nay, công việc này ngày càng trở nên khó khăn hơn do đất đai ngày càng có giá trị và khan hiếm Bên cạnh đó công tác giải phóng mặt bằng liên quan đến lợi ích của nhiều cá nhân, tập thể và của toàn xã hội.Ở các địa phương khác nhau thì nhu cầu giải phóng mặt bằng, đặc điểm của khu vực cần giải phóng mặt bằng và đối tượng chịu ảnh hưởng của việc giải phóng mặt bằngcó đặc điểm khác nhau.Vì vậy cần phải có những phương pháp phù hợp để thực hiện công tác này Nhìn chung, công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng mang tính đa dạng và phức tạp cần được nhà nước hỗ trợ sử lý
- Kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những bất hợp lý trong cơ chế chính sách, luật… nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội trong hoạt động đầu tư XĐGN Chúng ta cần một hành lang pháp lý để đảm bảo các công tác XĐGN được thực hiện một cách có hiệu quả, dử dụng nguồn vốn đầu tư đúng và đủ, tránh lãng phí gây thất thoát ngân sách nhà nước
2.5.2 Nội dung quản lý đầu tư xóa đói giảm nghèo của tổ chức phi lợi nhuận
Tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức bất vụ lợi (tiếng Anh: Nonprofit organization – viết tắt: NPO) là tổ chức không phân phối các quỹ thặng dư của nó cho các cá thể hay cổ đông mà sử dụng các quỹ này để tài trợ cho các mục tiêu hướng tới của tổ chức nhằm mục đích hướng tới cho toàn xã hội
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách đầu tư công
Xây dựng, quản lý các chương trình đầu tư do mình quản lý, các công trình có liên quan đến hoạt động đầu tư công
Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống đánh giá hiện hoạt động đầu tư, dự báo diễn biến về kế hoạch, chương trình, dự án