Công tác tổ chức nhân sự thực hiện phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo Hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319 .... Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “
Trang 1Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 33
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 54
TÓM TẮT LUẬN VĂN………i-ix CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 65
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 65
1.2 Tình hình nghiên cứu 76
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 87
1.3.1 Mục tiêu tổng quát: 87
1.3.2 Mục tiêu cụ thể: 98
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 98
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 98
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 98
1.5 Phương pháp nghiên cứu 109
1.6 Đóng góp của đề tài 1110
1.7 Kết cấu của luận văn 1110
CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BOT 1211
2.1 Tổng quan về dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT 1211
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT 1211
2.1.2 Đặc điểm của hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT 1413
2.1.3 Vai trò của hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT 1615
2.1.4 Quy trình đầu tư dự án theo hình thức Hợp đồng BOT 1716
2.2 Phân tích tài chính dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT 1817
2.2.1 Khái niệm, mục đích và yêu cầu của phân tích tài chính dự án BOT 1817
2.2.2 Quy trình, phương pháp phân tích tài chính dự án BOT 2019
2.2.3 Nội dung cơ bản của phân tích tài chính dự án BOT 242324
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính dự án BOT 3433
2.2.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác phân tích tài chính dự án BOT 3534
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BOT TẠI TỔNG CÔNG TY 319 3736
3.1 Tổng quan về Tổng công ty 319 3736
3.1.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty 319 3736
3.1.2 Một số dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT do Tổng công ty 319 là Nhà đầu tư dự án 414041
Trang 23.2 Thực trạng công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
theo hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319 4645
3.2.1 Công tác tổ chức nhân sự thực hiện phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo Hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319 4746
3.2.2 Nội dung phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319 4948
3.2.3 Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319 656464
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BOT 727171
4.1 Định hướng, chiến lược phát triển các dự án giao thông đến năm 2020 727171
4.2 Định hướng phát triển của Tổng công ty 319 giai đoạn 2015-2020 757474
4.3 Định hướng, mục tiêu hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án của Tổng công ty 319 777676
4.4 Một số giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT 787777
4.4.1 Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 787777
4.4.2 Nâng cao chất lượng công tác thu thập và xử lý thông tin 797878
4.4.3 Nâng cao chất lượng công tác dự báo lưu lượng giao thông 807979
4.4.4 Hoàn thiện quy trình, phương pháp phân tích tài chính dự án BOT 828181
4.5 Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về cơ chế quản lý tài chính đối với các dự án theo hình thức Hợp đồng BOT 868585
KẾT LUẬN 888787
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 898888
PHỤ LỤC: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CẢI TẠO NỀN, MẶT ĐƯỜNG QL1A ĐOẠN PHAN THIẾT - ĐỒNG NAI THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BOT 908989
Formatted: Font color: Auto
Trang 3Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Formatted: Underline
Trang 4Formatted: Font color: Auto
Trang 5Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 5
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
3 Sơ đồ 3: Quy trình phân tích tài chính dự án BOT 83
5 Bảng 5: Nhu cầu vốn đầu tư theo phương án cao 72
6 Bảng 6: Nhu cầu vốn đầu tư theo phương án trung bình 73
7 Bảng 7: Nhu cầu vốn đầu tư theo phương án thấp 74
8 Phụ lục: Dự án cải tạo nền, mặt đường QL1 đoạn Phan
Thiết - Đồng Nai theo hình thức Hợp đồng BOT
89-113
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở hạ tầng đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giúp nâng cao mức sống của xã hội thông qua việc mang lại những sản phẩm, dịch vụ công cộng tốt hơn Đồng thời, cơ sở hạ tầng cũng
hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế và củng cố vị trí cạnh tranh của các nước trên thị trường quốc tế Vì vậy, tất cả các nước đều có nhu cầu đầu tư để phát triển và nâng cấp
hệ thống cơ sở hạ tầng của nước mình
Tuy nhiên, đầu tư vào cơ sở hạ tầng rất khó khăn do đặc điểm của lĩnh vực đầu
tư này là yêu cầu nguồn vốn lớn nhưng thu hồi vốn chậm Chính vì thế mà ở rất nhiều nước phải đối mặt với nhiều thử thách khi đầu tư vào lĩnh vực này cho dù có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao Ra đời với mục tiêu là giải quyết những thử thách này, phương thức BOT đã nhanh chóng được chấp nhận và áp dụng rộng rãi và được biết đến như một phương thức đầu tư hiệu quả nhất trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Phương thức BOT giải quyết được hầu hết các vướng mắc trên, nguồn vốn tài trợ cho các dự án BOT rất phong phú nên có thể giải quyết khúc mắc về vốn, các nhà đầu tư được trực tiếp vận hành dự án nên mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên một thử thách lớn của các dự án dạng này là độ rủi ro cao do tính phức tạp của dự án, nhiều bên tham gia và thời gian thực hiện kéo dài Chính thử thách này dẫn đến một yêu cầu cấp bách trong các dự án BOT là các rủi ro cần phải được phân bổ và quản lý một cách hợp lý
Mục tiêu đưa nước ta thành một nước Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đến năm 2020 là một nhiệm vụ không dễ dàng, nhất là khi hệ thống cơ sở hạ tầng của nước
ta còn yếu kém và lạc hậu Cơ sở hạ tầng là xương sống của nền kinh tế quốc gia, để
có một nền kinh tế phát triển thì chúng ta cũng cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng tương xứng để có thể hỗ trợ cho sự phát triển đó Để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào cơ sở
hạ tầng trong công cuộc đổi mới, Chính phủ và Nhà nước cũng đã quyết định sử dụng phương thức đầu tư BOT để phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng nước nhà
Kể từ khi khái niệm BOT được chính thức công nhận ở Việt Nam, phương thức BOT vẫn chưa thực sự phát triển Có rất ít dự án được cấp giấy phép và cũng quá
Trang 7Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 7
ít dự án đã thành công Kết quả này do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân chủ yếu là
hiệu quả đầu tư thấp, thời gian đầu tư kéo dài Các dự án khi triển khai gặp rất nhiều
rủi ro không những làm giảm lợi nhuận của các Nhà đầu tư mà còn khiến nhiều dự án
đi đến thất bại sau một thời gian triển khai Vì vậy, việc phân tích tài chính dự án đầu
tư là cơ sở quan trọng để Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trước
khi ra quyết định đầu tư
Tổng công ty 319 là Doanh nghiệp kinh tế - Quốc phòng hạng I với hoạt động
kinh doanh truyền thống là hoạt động xây lắp, hoạt động dò tìm, xử lý bom mìn và vật
nổ với 33 năm kinh nghiệm Năm 2012, Tổng công ty 319 mở rộng lĩnh vực hoạt động
sang đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT với vai trò
là Nhà đầu tư các dự án BOT Đây là lĩnh vực mới nên yêu cầu đặt ra là cần bổ sung
nguồn nhân lực có kinh nghiệm về phân tích tài chính dự án, xây dựng quy trình và
phương pháp phân tích tài chính dự án khoa học nhằm tham mưu cho Ban lãnh đạo
Tổng công ty có đủ cơ sở lựa chọn những dự án đạt hiệu quả cao để đầu tư Vì vậy, tác
giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây
dựng công trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công ty 319 - Bộ Quốc
phòng” để nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng phân
tích hiệu quả tài chính của dự án, hạn chế những rủi ro tiềm ẩn khi tham gia đầu tư vào
lĩnh vực giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT
1.2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án cũng được các tổ chức,
doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu dưới các góc độ Một số
công trình nghiên cứu và nội dung phân tích hiệu quả tài chính như:
- Lê Hồng Sâm (2008), Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính và kinh tế xã
hội các dự án đầu tư cấp thoát nước tại Công ty nước và Môi trường, Luận văn Thạc
sỹ
- Tiến sỹ Vũ Kim Yến (2000), Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
quản lý dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng “Xây dựng - kinh doanh - Chuyển giao”
(BOT), Đề tài nghiên cứu cấp Bộ
Formatted: Font color: Auto
Trang 8- Vũ Kim Yến, Nghiên cứu nâng cao cơ sở khoa học của một số phương pháp
phân tích và đánh giá dự án đầu tư trong trường hợp chung và theo hình thức BOT,
Luận án tiến sỹ
- Vũ Kim Yến (1999), Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân tích dự
án đầu tư, Đề tài nghiên cứu cấp trường
- Hoàng Thị Ngọc Lan (2012), Quy định về Hợp đồng BOT, BTO, BT theo
pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài, Luận văn thạc sỹ
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu về khía cạnh
pháp lý, phương pháp phân tích và hoạt động quản lý các dự án BOT hay phân tích tài
chính của dự án thuộc chuyên ngành khác Tác giả thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu
về phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp
đồng BOT tại Tổng công ty 319 Vì vậy, Đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài
chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công
ty 319 - Bộ Quốc phòng” đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó về khía cạnh
pháp lý, đặc điểm, vai trò của hình thức BOT và nội dung phân tích tài chính dự án
đầu tư nói chung, từ đó ứng dụng vào phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công
trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT Qua đề tài này tác giả muốn nghiên
cứu sâu hơn về khía cạnh tài chính của dự án BOT, những điểm còn hạn chế trong quá
trình phân tích tài chính dự án BOT của Tổng công ty 319, từ đó đề xuất các giải pháp
khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công tác phân tích, lựa chọn đầu tư các dự án
BOT có hiệu quả cao, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của Tổng
công ty 319 trong thời gian tới
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Mục tiêu tổng quát:
Thông qua việc nghiên cứu công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng
công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT tại Tổng công ty 319, tìm hiểu
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và tính chính xác trong phân tích tài chính dự án,
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phân tích tài chính dự án,
tham mưu cho Ban lãnh đạo Tổng công ty 319 có cơ sở lựa chọn đầu tư vào những dự
án BOT đạt hiệu quả cao
Formatted: Font color: Auto
Trang 9Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 9
1.3.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đề tài làm rõ những lý luận về phân tích tài chính dự án đầu tư nói chung và
những điểm riêng biệt trong phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao
thông theo hình thức Hợp đồng BOT
- Nghiên cứu các vấn đề, nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, tính chính xác
trong phân tích tài chính dự án BOT Phát hiện những điểm hạn chế trong quá trình
phân tích tài chính dự án BOT tại Tổng công ty 319
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án đầu
tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công ty 319
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính dự án đầu tư
xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công ty 319
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo quy định tại Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính
phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, BTO, BT thì việc lập, công bố danh mục
dự án, tổ chức lựa chọn Nhà đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
được bố trí từ ngân sách nhà nước Nhà đầu tư sau khi được lựa chọn theo hình thức
đấu thầu hoặc chỉ định thầu sẽ thực hiện dự án từ giai đoạn thi công xây dựng công
trình, vận hành thu phí hoàn vốn và chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà
nước Trường hợp Nhà đầu tư đề xuất dự án ngoài danh mục dự án đã công bố thì việc
lập dự án đầu tư thuộc trách nhiệm của Nhà đầu tư
Tổng công ty 319 tham gia đầu tư dự án xây dựng công trình giao thông theo
hình thức Hợp đồng BOT đã công bố tại danh mục dự án, trên cơ sở dự án đã được
duyệt đơn vị sẽ lập Hồ sơ đề xuất trong đó có phương án tài chính của dự án để được
chỉ định là Nhà đầu tư Do vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác phân tích
tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT
đã có quyết định công bố danh mục dự án và Tổng công ty 319 - Bộ Quốc phòng là
Nhà đầu tư dự án
Formatted: Font color: Auto
Trang 101.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn là phương pháp phân tích định tính,
phân tích định lượng, xử lý số liệu thống kê Trong quá trình nghiên cứu còn tiến hành
tham vấn ý kiến của các chủ doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách, các chuyên
gia nghiên cứu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thông tin:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông quan các văn bản quy phạm pháp luật, Nghị
định của Chính phủ, Thông tư, văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan đến
lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT như:
+ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
+ Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư
theo hình thức Hợp đồng xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng xây dựng -
Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao
+ Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT ngày 27/01/2011 của Bộ KH&ĐT hướng
dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình
thức Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO và Hợp đồng BT
+ Thông tư số 166/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính quy định
về quản lý, sử dụng chi phí chuẩn bị dự án và kinh phí hoạt động của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong quá trình quản lý các dự án; một số chỉ tiêu tài chính của
hợp đồng dự án; điều kiện và phương thức thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án
theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao; quyết toán giá trị công trình dự án
thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
+ Các cuốn sách, giáo trình, tài liệu viết về lập dự án, phân tích hiệu quả tài
chính dự án đầu tư
+ Các bộ dữ liệu sẵn có của doanh nghiệp như: Hồ sơ dự án, các quyết định
phê duyệt dự án của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hồ sơ thẩm tra dự án của đơn vị
tư vấn
- Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua phỏng vấn trực tiếp
Formatted: Font color: Auto
Trang 11Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 11
Phương pháp xử lý số liệu, thông tin: Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập xử lý và phân tích con
số của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng
trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả
những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các
cách thức khác nhau
Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về
mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của
mọi phân tích định lượng về số liệu Để có thể hiểu được các hiện tượng và ra quyết
định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu, thông qua
việc biểu diễn dữ liệu bằng đồ thị, các đồ thị mô tả dữ liệu giúp so sánh dữ liệu và biểu
diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu
1.6 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá lý luận về hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT, nội dung phân
tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT
- Phân tích, đánh giá và chỉ ra những hạn chế trong công tác phân tích tài
chính dự án BOT tại Tổng công ty 319
- Trên cơ sở phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích hiệu
quả tài chính của dự án đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng công
tác phân tích, lựa chọn dự án đạt hiệu quả nhằm làm giảm rủi ro trong quá trình đầu tư
của Tổng công ty 319
1.7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Lý luận chung về công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây
dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT
Chương 3 Thực trạng công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công
trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công ty 319
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây
dựng công trình giao thông theo hình thức BOT tại Tổng công ty 319
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 12CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BOT
2.1 Tổng quan về dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT
Theo Điều 3, Luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung
và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời
gian xác định
Theo điều 2 của Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ
về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng
Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao, quy định:
“Hợp đồng Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao” (gọi tắt là Hợp đồng
BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư để xây dựng,
kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà
đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam
“Dự án” là dự án thực hiện theo hình thức Hợp đồng BOT, gồm dự án quan
trọng quốc gia và các dự án còn lại được phân thành các nhóm A, B và C theo quy
định của pháp luật về xây dựng
“Doanh nghiệp dự án” là doanh nghiệp do Nhà đầu tư thành lập để thiết kế,
xây dựng, vận hành, quản lý công trình dự án
“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền” ký kết và thực hiện hợp đồng dự án là
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương
“Nhà đầu tư” là tổ chức, cá nhân theo quy định tại điều 3, Luật Đầu tư
Chính phủ khuyến khích thực hiện các dự án xây dựng và vận hành, quản lý
công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc dự án cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá và vận hành,
quản lý các công trình hiện có theo hình thức BOT trong các lĩnh vực sau:
- Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ;
Formatted: Font color: Auto
Trang 13Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 13
- Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt;
- Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông;
- Hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom; xử lý nước thải; chất thải;
- Nhà máy điện, đường dây tải điện;
- Các công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hoá, thể thao và trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
- Các công trình kết cấu hạ tầng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Như vậy dự án đầu tư, hay dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Dự án có thể là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai; hay một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh
tế - xã hội trong một thời gian dài hoặc là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
Dù đứng trên góc độ nào thì dự án phải trả lời được các câu hỏi sau:
Mục tiêu của dự án là gì
Thời gian thực hiện bao lâu, địa điểm nào
Nguồn lực cần thiết (lao động, vốn…) là bao nhiêu
Hoạt động của dự án được thực hiện như thế nào
Sản phẩm, dịch vụ hay giá trị đầu ra được tạo ra từ dự án là gì
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học và hệ thống: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có
một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
Trang 14- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác định
trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp
với chính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương,
chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các
cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Với các
dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế
2.1.2 Đặc điểm của hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT
Về cơ sở pháp lý thực hiện hợp đồng
Hoạt động đầu tư được tiến hành trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền với nhà đầu tư Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động đầu tư
kinh doanh với tư cách pháp lý của mình phù hợp với nội dung thoả thuận trong hợp
đồng Khi đó, nhà đầu tư ngoài việc phải tuân thủ Luật Đầu tư thì việc giao kết thực
hiện hợp đồng còn phải phù hợp với các quy định về hợp đồng trong kinh doanh
thương mại quy định tại Bộ Luật dân sự và Luật Thương mại 2005
Về chủ thể ký kết hợp đồng BOT
Chủ thể tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng dự án bao gồm một bên là cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và một bên là Nhà đầu tư
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng dự án là các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND), thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) hoặc cơ quan trực
thuộc của các cơ quan này được uỷ quyền ký kết hợp đồng dự án Đối với các dự án
giao thông thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ Giao thông vận tải Đây là nét
đặc thù của các hợp đồng dự án so với các hợp đồng khác trong quan hệ thương mại và
đầu tư, bởi trong các quan hệ đó thì tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư thường giữ vai trò
là chủ thể của hợp đồng
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 15Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 15
Nhà đầu tư là chủ thể của hợp đồng dự án, bao gồm các tổ chức, cá nhân đầu
tư vốn thực hiện dự án Pháp luật hiện hành không phân biệt nhà đầu tư là tổ chức hay
cá nhân, là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài như trong các văn bản
pháp luật trước đây Những đối tượng này đều có thể tham gia đấu thầu dự án và nếu
trúng thầu sẽ trở thành một bên chủ thể của hợp đồng, sẽ tham gia đàm phán, ký kết
hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thêm vào đó, nhà đầu tư khi thực hiện
dự án BOT đầu phải tính đến yếu tố lợi nhuận, nên ngay khi tham gia đấu thầu dự án
họ đã phải phân tích hiệu quả của hoạt động đầu tư kinh doanh thông qua các yếu tố về
vốn đầu tư, nhu cầu thị trường, thời hạn thu hồi vốn, các ưu đãi và các hỗ trợ đầu tư
Thuận lợi về những yếu tố này cùng với những chính sách đảm bảo, các cam kết đầu
tư từ nước sở tại sẽ tạo nên tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư từ đó tạo ra hiệu quả đầu tư
- lợi ích kinh tế cho nhà nước
Về đối tượng, nội dung của hợp đồng BOT
Theo Điều 4, Nghị định 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ
quy định lĩnh vực đầu tư Chính phủ khuyến khích thực hiện theo hình thức Hợp đồng
BOT là các dự án xây dựng và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc
dự án cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá và vận hành, quản lý các công trình hiện có trong
các lĩnh vực: đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ; đường sắt,
cầu đường sắt, hầm đường sắt; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; hệ thống cung
cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà
máy điện, đường dây tải điện; các công trình kết cấu hạ tầng khác theo quy định của
Chính phủ
Trong hợp đồng BOT bao gồm sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của Nhà
đầu tư và Nhà nước liên quan đến việc xây dựng, kinh doanh và chuyển giao công
trình cho Nhà nước Việt Nam Nhà đầu tư sẽ bỏ vốn để xây dựng, kinh doanh công
trình dự án trong một thời hạn cụ thể đã thoả thuận trong hợp đồng dự án Khi hết thời
hạn, công trình này được chuyển giao không bồi hoàn cho Chính phủ Việt Nam Về
phía nhà đầu tư, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và ký kết hợp đồng dự án
thì có các quyền và nghĩa vụ cơ bản như quyền thực hiện dự án theo hợp đồng, quyền
quản lý kinh doanh công trình, quyền được hưởng các ưu đãi, đảm bảo đầu tư song
Formatted: Font color: Auto
Trang 16song với các nghĩa vụ vận hành công trình, cung ứng sản phẩm dịch vụ và chuyển giao
cho nhà nước Theo đó, Nhà nước - với tư cách là một bên chủ thể của hợp đồng dự án
cũng phải thực hiện cam kết với nhà đầu tư và tôn trọng lợi ích của họ
Về phương thức thực hiện dự án theo hợp đồng BOT
Sau khi ký kết hợp đồng, nhà đầu tư bỏ vốn để xây dựng công trình dự án
Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư này, nhà đầu tư phải thành lập Doanh nghiệp
dự án theo quy định của pháp luật để tổ chức quản lý, kinh doanh dự án Doanh nghiệp
dự án có thể trực tiếp quản lý, kinh doanh công trình dự án hoặc thuê tổ chức quản lý
theo quy định của pháp luật Việc thành lập Doanh nghiệp dự án giúp nâng cao trách
nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, đảm bảo cho dự án đầu tư sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội nhất định
2.1.3 Vai trò của hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT
- Khai thác được các nguồn vốn khác trong nền kinh tế tham gia vào đầu tư cơ
sở hạ tầng, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước; nhà nước vẫn có quyền kiểm soát
tiến trình hoạt động của dự án
- Có khả năng tăng tốc độ phát triển các dự án mà nếu không sẽ phải chờ đợi
và cạnh tranh để có các nguồn lực hiếm của Nhà nước
- Sử dụng vốn, sáng kiến và bí quyết công nghệ của các nhà đầu tư tư nhân để
làm giảm chi phí xây dựng dự án, rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Phân bổ rủi ro của dự án và các gánh nặng mà nếu không sẽ phải do khu vực
Nhà nước gánh chịu Nhà đầu tư sẽ chịu trách nhiệm vận hành, bảo dưỡng và đầu ra
của dự án trong một giai đoạn nhất định
- Sự tham gia của các nhà đầu tư và các bên cho vay thương mại có kinh
nghiệm để đảm bảo có được sự đánh giá sâu sắc và là một dấu hiệu đối với tính khả thi
của dự án
- Chuyển giao công nghệ, đào tào nguồn lao động địa phương
- Trái với việc tư nhân hoá hoàn toàn, Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát có tính
chiến lược đối với dự án mà sẽ được chuyển giao cho Nhà nước sau khi hết thời hạn dự án
Formatted: Font color: Auto
Trang 17Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 17
- Có cơ hội để tạo ra được một phương pháp chuẩn của các nhà đầu tư để qua phương pháp chuẩn này, có thể tính toán được hiệu quả của các dự án tương tự của các nhà đầu tư và các cơ hội tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các công trình
cơ sở hạ tầng
2.1.4 Quy trình đầu tư dự án theo hình thức Hợp đồng BOT
Chu trình dự án là các thời kỳ, các giai đoạn mà một dự án cần trải qua, bắt đầu từ khi có ý định đầu tư cho đến khi kết thúc dự án và được chia thành 3 giai đoạn thực hiện gồm: Chuẩn bị đầu tư, Thực hiện dự án, Kết thúc dự án Đối với Dự án BOT, các bước cụ thể trong từng giai đoạn quy định như sau:
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng huy động vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư
Công bố danh mục dự án đầu tư theo hình thức BOT
Xúc tiến kêu gọi đầu tư BOT
Lập, thông qua Đề xuất Dự án (báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi)
Lập thẩm định, phê duyệt Dự án đầu tư (báo cáo Nghiên cứu khả thi)
Lựa chọn Nhà đầu tư (đấu thầu hoặc chỉ định thầu)
Đàm phán thương thảo, ký kết hợp đồng Dự án (Hợp đồng BOT)
Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Xin giao đất theo quy định của Nhà nước
Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị mặt bằng xây dựng
Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, giám sát kỹ thuật
Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình
Tổ chức lựa chọn nhà thầu cung ứng thiết bị, thi công
Xin giấy phép xây dựng
Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án
Thi công xây lắp công trình
Trang 18 Kết thúc xây dựng
Nghiệm thu đưa dự án vào khai thác sử dụng
Thời kỳ kết thúc dự án gồm các giai đoạn:
Bảo hành công trình
Vận hành, quản lý khai thác dự án
Kết thúc dự án, bàn giao không hoàn lại cho Nhà nước
Trong quy trình đầu tư trên, công tác lập dự án BOT trong giai đoạn chuẩn bị
đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê đơn vị tư vấn lập Nhà đầu tư sẽ thực
hiện các công việc từ việc lập Hồ sơ đề xuất, thực hiện đầu tư dự án đến khi kết thúc
vận hành, bàn giao công trình không hoàn lại cho Nhà nước theo thời gian đã thoả
thuận trong Hợp đồng BOT.
2.2 Phân tích tài chính dự án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT
2.2.1 Khái niệm, mục đích và yêu cầu của phân tích tài chính dự án BOT
Trong điều kiện kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước, bất kỳ một
hoạt động đầu tư nào cũng luôn phải được xem xét từ hai góc độ: Nhà đầu tư và nền
kinh tế Ở phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xem xét việc phân tích tài
chính dự án BOT trên góc độ của Nhà đầu tư
Về phía nhà đầu tư, mục đích cụ thể có nhiều nhưng quy tụ lại là yếu tố lợi
nhuận Khả năng sinh lời của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một
việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lợi càng cao càng hấp dẫn các nhà
đầu tư Do đó, nhà đầu tư quan tâm chủ yếu đến hiệu quả tài chính của dự án
Phân tích tài chính một dự án đầu tư nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về
mặt tài chính thông qua việc xem xét nhu cầu và đảm bảo các nguồn lực tài chính cho
việc thực hiện có hiệu quả dự án đầu tư; xem xét tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn,
các khoản chi phí và lợi ích của dự án để từ đó xác định được các chỉ tiêu hiệu quả tài
chính của dự án và đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án
Theo quan điểm chủ đầu tư, còn gọi là quan điểm chủ sở hữu, mục đích phân
tích tài chính dự án nhằm xem xét giá trị thu nhập ròng còn lại của dự án so với những
gì họ có được trong trường hợp không thực hiện dự án Khác với quan điểm nhà cho
Formatted: Font color: Auto
Trang 19Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 19
vay, chủ sở hữu khi tính toán dòng ngân lưu phải cộng vốn vay ngân hàng vào dòng
ngân lưu vào và trừ khoản trả lãi vay và nợ gốc ở dòng ngân lưu ra Nói cách khác, chủ
đầu tư (chủ sở hữu) quan tâm đến dòng ngân lưu ròng còn lại cho mình sau khi đã
thanh toán nợ vay
Mục đích của việc phân tích tài chính dự án BOT
Các nhà đầu tư luôn mong muốn dự án thành công, phân tích tài chính sẽ giúp
họ nhìn thấy những bước tiến triển của dự án để họ đưa ra các biện pháp thích hợp
bằng cách dự tính trước các phương án khác nhau và lựa chọn được phương án cụ thể
cho dự án của mình
Phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư thấy được hiệu quả của dự án thông
qua việc so sánh giữa mọi nguồn thu của dự án với tổng chi phí hợp lý của dự án Phân
tích tài chính luôn diễn ra từ bước lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cho đến khi
đưa công trình vào vận hành, nên phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư dự tính
được cho tương lai khi có sự thay đổi về thu nhập và chi phí để kịp thời điều chỉnh và
rút kinh nghiệm
Phân tích tài chính là kế hoạch để trả nợ, bởi nó đưa ra các tiêu chuẩn về hoạt
động và những cam kết về những hoạt động của mình Người tài trợ căn cứ vào kết
quả phân tích tài chính để đưa ra các quyết định tài trợ tiền (đầu tư vốn) tiếp nữa hay
không Nếu vay và trả nợ đúng cam kết thì lần sau vay sẽ dễ dàng hơn và chứng tỏ sự
thành công của dự án
Như vậy mục đích của việc phân tích tài chính dự án là nhằm khẳng định tiềm
lực tài chính cho việc thực hiện dự án; Phân tích những kết quả hạch toán kinh tế của
dự án Để đạt được mục đích trên, trong quá trình phân tích tài chính cần áp
dụng những phương pháp phân tích phù hợp và sử dụng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế
tài chính cần thiết
Thông qua việc phân tích tài chính dự án để: Xác định được quy mô đầu tư, cơ
cấu các loại vốn, nguồn tài trợ cho dự án, tính toán thu chi lỗ lãi, những lợi ích thiết
thực mang lại cho nhà đầu tư và cho cả cộng đồng Đánh giá được hiệu quả về mặt tài
chính của việc đầu tư nhằm quyết định có nên đầu tư hay không?
Formatted: Font color: Auto
Trang 20 Yêu cầu của công tác phân tích tài chính dự án BOT
Để thực hiện được mục đích và phát huy được vai trò của phân tích tài chính,
yêu cầu đặt ra trong phân tích tài chính là:
- Nguồn số liệu sử dụng phân tích tài chính phải đầy đủ và đảm bảo độ tin cậy
cao đáp ứng mục tiêu phân tích;
- Phải sử dụng phương pháp phân tích phù hợp và hệ thống các chỉ tiêu để phản
ánh đầy đủ các khía cạnh tài chính của dự án;
- Phải đưa ra được nhiều phương án để từ đó lựa chọn phương án tối ưu
Phân tích tài chính dự án đầu tư là căn cứ để Nhà đầu tư quyết định có nên đầu
tư hay không, do đó các số liệu về tình hình tài chính của dự án phải đảm bảo đầy đủ,
chính xác, có độ tin cậy cao đáp ứng mục tiêu phân tích Điều đó đòi hỏi trong quá
trình thu nhập thông tin, tài liệu về thị trường, hoạt động phân tích tài chính cần khoa
học, chính xác Cơ sở của việc thu thập thông tin phụ thuộc chủ yếu vào yêu cầu cụ thể
của mỗi dự án bao gồm các yếu tố như: lĩnh vực đầu tư, quy mô dự án, mức độ cạnh
tranh, nhu cầu thị trường để từ đó xác định phương pháp thu mẫu thông tin cho thích
hợp Trong hoạt động phân tích tài chính có thể sử dụng các nguồn như: niên giám
thống kê hàng năm, tài liệu tổng hợp từ các cơ quan quản lý ngành, cơ quan thẩm định
nhà nước Đồng thời, khi phân tích tài chính dự án phải sử dụng phương pháp phân
tích phù hợp và hệ thống các chỉ tiêu để phản ánh đầy đủ các khía cạnh tài chính của
dự án, đưa ra được nhiều phương án để từ đó lựa chọn phương án tối ưu
2.2.2 Quy trình, phương pháp phân tích tài chính dự án BOT
Do ảnh hưởng của các nhân tố như yếu tố lạm phát, các yếu tố ngẫu nhiên và
tiền vốn có thuộc tính vận động và sinh lời nên tiền có giá trị về mặt thời gian Do tiền
có giá trị về mặt thời gian nên khi so sánh, tổng hợp hoặc tính các chỉ tiêu bình quân
của các khoản tiền phát sinh trong những khoảng thời gian khác nhau cần phải tính
chuyển chúng về cùng một mặt bằng thời gian, mặt bằng này có thể đầu thời kỳ phân
tích, cuối thời kỳ phân tích hay một thời điểm nào đó trong thời kỳ phân tích Mặt
khác, quá trình thực hiện một dự án đầu tư thường kéo dài nên những khoản thu và chi
của dự án xuất hiện ở những thời đoạn khác nhau tạo thành dòng tiền của dự án và
Formatted: Font color: Auto Comment [TDB1]: HƠI SƠ SÀI
Trang 21Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 21
được biểu diễn bằng biểu đồ dòng tiền Vì vậy, trước khi phân tích tài chính dự án cần
phải xác định được tỷ suất chiết khấu và thời điểm tính toán hiệu quả của dự án;
Xác định tỷ suất chiết khấu của dự án
Tỷ suất chiết khấu “r” được sử dụng trong việc tính chuyển các khoản tiền phát
sinh trong thời kỳ phân tích về cùng một mặt bằng thời gian hiện tại hoặc tương lai
Để xác định tỷ suất “r” phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng dự án, được
xác định dựa vào chi phí sử dụng vốn, cụ thể như sau:
- Trường hợp vay vốn để đầu tư thì tỷ suất chiết khấu được tính theo công thức:
r = r vay (1-T)
Trong đó: rvay là lãi suất vay, T là thuế suất thu nhập
- Nếu huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau với lãi suất khác nhau thì r là lãi
suất bình quân (theo phương pháp bình quân gia quyền)
- Trường hợp góp cổ phần để đầu tư thì r là lợi tức cổ phần
- Trường hợp góp vốn liên doanh thì r là tỷ lệ lãi suất do các bên liên doanh
thoả thuận
- Nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư thì r bao hàm cả tỷ lệ lạm phát và mức chi
phí cơ hội: r = (1+f) (1+r cơ hội ) - 1
Trong đó: f là tỷ lệ lạm phát, rcơ hội là mức chi phí cơ hội
Lựa chọn thời điểm tính toán để phân tích tài chính dự án BOT
Do tiền có giá trị về mặt thời gian, việc chọn thời điểm tính toán (mặt bằng) để
đánh giá mặt tài chính của dự án cũng là vấn đề cần được xem xét trong phân tích tài
chính Đối với các dự án có quy mô không lớn, thời gian thực hiện đầu tư không dài
thì thời điểm được chọn để phân tích là thời điểm bắt đầu thực hiện đầu tư (thời điểm
hiện tại) Đối với các dự án có quy mô lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài thì thời điểm
được chọn để phân tích là thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động (tức là thời điểm
kết thúc quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình) Trong trường hợp này, các
khoản chi phí thực hiện đầu tư được chuyển về thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt
động (sản xuất - kinh doanh - dịch vụ) thông qua việc tính giá trị tương lai Các khoản
Comment [TDB2]: HƠI SƠ SÀI Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 22thu và chi trong giai đoạn hoạt động (vận hành) của dự án được tính chuyển về thời
điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động thông qua việc tính giá trị hiện tại
Phương pháp phân tích tài chính dự án BOT
Các phương pháp sử dụng trong quá trình phân tích tài chính dự án BOT bao
gồm: Phương pháp khảo sát điều tra, phương pháp dự báo, phương pháp phân tích
đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia
Phương pháp khảo sát và điều tra
Để phân tích tài chính dự án BOT, trước hết phải khảo sát điều tra thị trường
về giá cả vật liệu xây dựng, giá cả nguyên nhiên liệu xăng dầu…tại thời điểm trước và
trong quá trình phân tích tài chính làm cơ sở cho việc lập đơn giá xây dựng công trình,
dự tính tổng mức đầu tư của dự án Khảo sát, điều tra lưu lượng xe giao thông trên địa
bàn tuyến đi qua làm cơ sở xác định doanh thu của dự án
Phương pháp dự báo
Các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thường được thực hiện trong
thời gian tương đối dài (thông thường, chu kỳ dự án lớn hơn một năm) Vì vậy, trên cơ
sở khảo sát điều tra các nguồn lực đầu vào cũng như các dự án tương tự trên cùng địa
bàn, người thực hiện đánh giá thường sử dụng phương pháp dự báo nhằm dự báo hệ số
tăng trưởng lưu lượng xe, dữ liệu đầu vào và đầu ra của dự án trong các năm triển khai
thực hiện dự án; Dự báo doanh thu và chi phí trong suốt quá trình thực hiện và vận
hành dự án sau này Qua đó, xác định nguồn vốn và tổng mức đầu tư mà dự án cần có
để có thể thực hiện
Phương pháp dự báo có thể được áp dụng trong nhiều khâu, nhiều nội dung
của quá trình phân tích tài chính Nhưng quan trọng nhất là dự báo trong khâu phân
tích thị trường (dự báo lưu lượng xe và hệ số tăng trưởng lưu lượng) Đây là yếu tố
quyết định tới lựa chọn mục tiêu và quy mô tối ưu của dự án Phụ thuộc vào khối
lượng thông tin thu thập được mà ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dự báo khác
nhau như: Phương pháp dự báo định tính và phương pháp dự báo định lượng
Phương pháp phân tích, đánh giá rủi ro dự án
- Phương pháp phân tích độ nhạy của dự án:
Formatted: Font color: Auto
Trang 23Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 23
Bản chất của phân tích độ nhạy là xác định các mối quan hệ động giữa các nhân tố tham gia trong công tác đầu tư Từ đó xác định nhân tố nào tác động nhiều nhất tới kết quả và hiệu quả của dự án, để có thể đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp
+ Bước 1: Xác định các biến số chủ yếu: Sự biến động của dữ liệu đầu vào và đầu ra; sự chậm trễ trong quá trình thực hiện dự án; chi phí vượt quá định mức
+ Bước 2: Cho những biến số này tăng hoặc giảm từ 0% tới 10%
+ Bước 3: Đánh giá lại các yếu tố chi phí, lợi ích và hiệu quả của dự án Từ đó lựa chọn có nên thực hiện dự án hay không
- Phân tích tình huống: Do nhược điểm của phân tích độ nhạy là chỉ cho một yếu tố thay đổi trong khi giữ nguyên các yếu tố khác, điều này là phi thực tế Vì vậy đôi khi phương pháp này được sử dụng như một biện pháp khắc phục cho phân tích độ nhạy
+ Bước 1: Xây dựng mô hình bài toán tổng quát Xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới kết quả và hiệu quả dự án
+ Bước 2: Phân tích độ nhạy tìm ra những nhân tố tác động mạnh nhất
+ Bước 3: Xác định các tình huống có thể xảy ra nhiều nhất với dự án và phân tích các tình huống đó Kết quả của phân tích kịch bản là một số bức tranh về tình hình đầu tư trong tương lai Nó sẽ là cơ sở giúp cho nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư và các biện pháp quản lý trong tương lai
- Phương pháp phân tích mô phỏng: Phương pháp này cần tiến hành như sau: + Bước 1: Lập Hàm tính toán hiệu quả tài chính của dự án theo các biến số đầu vào như: Chi phí đầu tư, mức giá thu phí, lưu lượng xe, chi phí tổ chức thu phí, chi phí bảo trì công trình
+ Bước 2: Chọn những biến số đầu vào không an toàn để xây dựng biểu đồ phân bố xác suất các giá trị của nó (thông qua thống kê và dự báo) Bước này sử dụng
lý thuyết toán xác suất, thống kê
+ Bước 3: Căn cứ vào Hàm mục tiêu và các biến số đầu vào đã có, xác định kết quả của hàm bằng phương pháp tổ hợp và phân tích mô phỏng có sự hỗ trợ của các chương trình phần mềm
Trang 24+ Bước 4: Phân tích và đánh giá kết quả (xác định các giá trị cần thiết và xác
suất từ biểu đồ phân bố giá trị kết quả) gồm những giá trị: Max, min, trung bình kỳ
vọng, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số phân tán
Đây là một phương pháp sử dụng mô hình hiện đại, đòi hỏi phải có phần mềm
chuyên dụng và phải có đội ngũ chuyên gia có năng lực
Phương pháp so sánh
Sau khi phân tích các chỉ tiêu kinh tế - tài chính và phân tích rủi ro của dự án,
cán bộ đánh giá so sánh, đánh giá các phương án theo các chỉ tiêu tài chính đã được
tính toán, đo lường để lựa chọn phương án tối ưu nhất Trong đánh giá hiệu quả dự án
đầu tư, cán bộ đánh giá cũng có thể so sánh các biện pháp kỹ thuật, giải pháp công
nghệ của dự án bằng việc xem xét các chỉ tiêu tài chính của dự án
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia có thể được sử dụng phối hợp cùng các phương pháp
khác như phương pháp dự báo định tính, phương pháp so sánh Cụ thể như việc sử
dụng ý kiến chuyên gia để dự báo một số vấn đề khác song song với các chỉ tiêu tài
chính bằng kinh nghiệm của các chuyên gia Hoặc việc sử dụng ý kiến của các chuyên
gia để so sánh, đánh giá và lựa phương án tối ưu
Quy trình phân tích tài chính dự án BOT
- Xác định các tham số: Tổng mức đầu tư, lập kế hoạch đầu tư, lập kế hoạch
công tác, kế hoạch khấu hao và xử lý các khoản thu hồi, vốn lưu động, kế hoạch trả nợ
- Lập báo cáo tài chính trong phân tích đánh giá hiệu quả dự án: Tính toán các
khoản thu, chi, lợi nhuận
- Xác định các chỉ tiêu tài chính: NPV, IRR, B/C, Thv, Hệ số trả nợ K
- Phân tích rủi ro của dự án
- So sánh các kết quả và lựa chọn phương án tối ưu
2.2.3 Nội dung cơ bản của phân tích tài chính dự án BOT
Trong việc phân tích tài chính dự án BOT cần xác định rõ các vấn đề sau:
- Xác định tổng vốn đầu tư, cơ cấu các nguồn vốn và loại vốn của dự án
Formatted: Font color: Auto
Trang 25Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 25
- Xác định các dòng thu - chi của dự án
- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và lựa chọn phương án
- Phân tích độ an toàn về mặt tài chính
Phân tích tài chính là một nội dung kinh tế quan trọng của dự án Nó cho biết
quy mô đầu tư, hiệu quả đầu tư và an toàn về đầu tư, giúp cho nhà đầu tư quyết định
có nên đầu tư hay không, hiệu quả đến đâu, đồng thời cũng giúp các cơ quan thẩm
định biết được tính thực thi của dự án về phương diện tài chính
Dự tính Tổng mức đầu tư của dự án
Theo Điều 4, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ
về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Điều 4, Thông tư số 04/2010/TT-BXD
ngày 26/5/2010 của Bộ Xây dựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
công trình, quy định:
Tổng mức đầu tư xây dựng công trình (gọi tắt là tổng mức đầu tư) là chi phí
dự tính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, được tính toán và xác định
trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung dự án và
thiết kế cơ sở, bao gồm: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác và
chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình được tính như sau:
V= G xd +G tb +G gpmb +G qlda +G tv +G k +G dp Trong đó: V: Tổng mức đầu tư dự án
G xd : Chi phí xây dựng của dự án
G tb : Chi phí thiết bị của dự án
G gpmb : Chi phí bồi thường GPMB, tái định cư
G qlda : Chi phí quản lý dự án
G tv : Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
G k : Chi phí khác của dự án
Formatted: Font color: Auto
Trang 26G dp : Chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư là một trong những cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế và lựa chọn phương án đầu tư; là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Đây là nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án Tính toán chính xác tổng mức đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định tính khả thi của dự án, nếu vốn đầu tư dự tính quá thấp dự án không thực hiện được, ngược lại dự tính quá cao không phản ánh chính xác được hiệu quả tài chính của dự án
Nội dung tổng mức đầu tư bao gồm các khoản chi phí, cụ thể như sau:
- Chi phí xây dựng bao gồm: chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình; chi phí phá dỡ các công trình xây dựng; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công; nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công;
- Chi phí thiết bị bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ; chi phí đào tạo
và chuyển giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh; chi phí vận chuyển, bảo hiểm; thuế và các loại phí liên quan khác;
- Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: chi phí bồi thường nhà, công trình trên đất, các tài sản gắn liền với đất theo quy định được bồi thường và chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; chi phí tái định cư; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng (nếu có); chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật (nếu có);
- Chi phí quản lý dự án bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện quản lý dự
án từ khi lập dự án đến khi hoàn thành, nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng và chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm: chi phí tư vấn khảo sát, lập dự án, thiết kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan;
- Chi phí khác bao gồm: vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử đối với các
dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh; lãi vay trong thời gian xây dựng và các chi phí cần thiết khác;
Trang 27Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 27
- Chi phí dự phòng bao gồm: chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian thực hiện dự án Chi phí
dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng các chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác Chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá được tính trên cơ sở độ dài thời gian xây dựng công trình và chỉ số giá xây dựng hàng năm phù hợp với loại công trình xây dựng có tính đến các khả năng biến động giá trong nước và quốc tế
Theo Điều 5, Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ
về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, Tổng mức đầu tư được xác định theo một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp 1: Tính theo thiết kế cơ sở của dự án, trong đó chi phí xây
dựng được tính theo khối lượng chủ yếu từ thiết kế cơ sở, các khối lượng khác dự tính
và giá xây dựng phù hợp với thị trường; chi phí thiết bị được tính theo số lượng, chủng loại thiết bị phù hợp với thiết kế công nghệ, giá thiết bị trên thị trường và các yếu tố khác (nếu có); chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được tính theo khối lượng phải bồi thường hỗ trợ, tái định cư của dự án và các chế độ của nhà nước có liên quan; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác được xác định bằng cách lập dự toán hoặc tạm tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí xây dựng và chi phí thiết bị; chi phí dự phòng được xác định theo quy định;
- Phương pháp 2: Tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng của công trình
và giá xây dựng tổng hợp, suất vốn đầu tư xây dựng công trình, xác định tổng mức đầu
tư theo bộ phận kết cấu, theo diện tích, công năng sử dụng (sau đây gọi là giá xây dựng tổng hợp), suất vốn đầu tư xây dựng công trình tương ứng tại thời điểm lập dự án
có điều chỉnh, bổ sung những chi phí chưa tính trong giá xây dựng tổng hợp và suất vốn đầu tư để xác định tổng mức đầu tư;
- Phương pháp 3: Tính trên cơ sở số liệu của các dự án có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã thực hiện Trường hợp áp dụng phương pháp này phải tính quy đổi
các số liệu của dự án tương tự về thời điểm lập dự án và điều chỉnh các khoản mục chi phí chưa xác định trong tổng mức đầu tư;
Trang 28- Phương pháp 4: Kết hợp các phương pháp trên để xác định tổng mức đầu tư
của dự án Đối với các dự án có nhiều công trình, tuỳ theo điều kiện, yêu cầu cụ thể
của dự án và nguồn số liệu có được có thể vận dụng kết hợp các phương pháp nêu trên
để xác định tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình
Sơ đồ 1: Cơ cấu Tổng mức đầu tư dự án
Xác định cơ cấu nguồn vốn đầu tư của dự án
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn nên
các nguồn tài trợ cần được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà về cả thời điểm
Lãi vay trong thời gian thi công
Chi phí tư vấn giám sát
Chi phí tư vấn khác…
Chi phí bảo hiểm công trình
Chi phí rà phá bom mìn
Chi phí kiểm toán
Chi phí thẩm tra phê duyệt quyết toán VĐT
Dự phòng khối lượng
Dự phòng trượt giá
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 29Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 29
nhận được tài trợ Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn Sự đảm bảo
này thể hiện ở tính pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn huy động
Sau khi xác định được các nguồn tài trợ của dự án cần xác định cơ cấu nguồn
vốn của dự án Có nghĩa là tính toán tỷ trọng vốn của từng nguồn huy động chiếm
trong tổng mức đầu tư Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện các công việc đầu tư
và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn cụ thể
Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiền thực cần huy động hàng năm trong
trường hợp có biến động giá cả hoặc lạm phát
Đối với dự án BOT, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu theo quy định của Chính phủ,
Nhà đầu tư, Doanh nghiệp dự án được huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để thực
hiện hợp đồng Đây là các nguồn vốn huy động của Nhà đầu tư để thực hiện dự án tính
đến thời điểm đàm phán hợp đồng đã được Nhà đầu tư và các nhà cung cấp vốn cam
kết hoặc thoả thuận bằng văn bản
- Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dự án là vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư
cam kết góp vốn theo điều lệ của Doanh nghiệp dự án Vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư
được xác định trên cơ sở báo cáo tài chính năm gần nhất của Nhà đầu tư đã được kiểm
toán độc lập kiểm toán Trường hợp tại cùng một thời điểm mà Nhà đầu tư đồng thời
thực hiện nhiều Dự án khác nhau thì phải đảm bảo tổng vốn chủ sở hữu phải đáp ứng
đủ cho tất cả các dự án theo tỷ lệ quy định Nhà đầu tư phải cam kết và tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của các số liệu, tài liệu liên quan
đến vốn chủ sở hữu, danh mục các dự án đang thực hiện, phân bổ vốn chủ sở hữu cho
các dự án đang thực hiện đến thời điểm đàm phán Hợp đồng dự án
- Các nguồn vốn huy động khác như: vốn tín dụng thông thường, vốn tín dụng
ưu đãi, vốn vay nước ngoài, các nguồn vốn huy động khác
Xác định dòng thu - dòng chi của dự án
Doanh thu từ hoạt động của dự án bao gồm doanh thu do bán sản phẩm chính,
sản phẩm phụ, phế liệu, phế phẩm và từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài Doanh thu
của dự án dự tính cho từng năm hoạt động trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh
hàng năm của dự án để xác định Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
theo hình thức Hợp đồng BOT thì doanh thu chủ yếu của dự án là doanh thu thu phí
Formatted: Font color: Auto
Trang 30các phương tiện giao thông lưu thông trên tuyến; ngoài ra còn một số các khoản thu
khác như kinh doanh dịch vụ hai bên tuyến đường, kinh doanh cây xăng, nhà hàng và
quảng cáo
Chi phí sản xuất (dịch vụ) cũng được tính cho từng năm trong suốt cả đời dự
án Việc dự tính chi phí sản xuất (dịch vụ) dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế
hoạch khấu hao và kế hoạch trả nợ của dự án Chi phí của dự án đầu tư công trình
giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT là chi phí vận hành thu phí, chi phí duy tu
bảo dưỡng tuyến đường và chi phí lãi vay
Quá trình thực hiện một dự án đầu tư thường kéo dài trong nhiều năm, trong
các năm đó thường phát sinh các khoản thu và chi Những khoản thu và chi trong từng
năm của dự án đã tạo thành dòng tiền thu và chi của dự án Dòng tiền ròng của dự án
là dòng của mức chênh lệch giữa các khoản thu chi trong từng năm hoạt động của dự
án Dòng tiền được sử dụng để tính các chỉ tiêu hiệu quả là dòng tiền sau thuế
Xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Các chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
- Hệ số vốn tự có so với vốn đi vay: Hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng 1 Đối
với dự án có triển vọng, hiệu quả thu được là rõ ràng thì hệ số này có thể nhỏ hơn 1,
vào khoảng 2/3 thì dự án thuận lợi
- Tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng 50% Đối
với các dự án có triển vọng, hiệu quả rõ ràng thì tỷ trọng này có thể là 40%, thì dự án
thuận lợi
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
- Chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án (NPV) là chênh lệch giữa tổng các khoản
thu chi của dự án được tính quy về cùng một thời điểm theo tỷ lệ chiết khấu bằng lãi
suất tối thiểu chấp nhận được, ký hiệu là NPV hoặc NPW, được xác định theo công
thức sau:
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 31Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 31
Trong đó:
n - Tuổi thọ của dự án
Bi - Thu nhập của dự án ở năm i (dòng tiền vào) gồm các loại như doanh thu
bán hàng, giá trị thu hồi khi đào thải tài sản của dự án, thu hồi vốn lưu động ở cuối đời
dự án
Ci - Khoản chi ra của dự án ở năm i như chi phí đầu tư, chi phí vận hành
không khấu hao
r - Lãi suất tối thiểu chấp nhận được, đóng vai trò là ngưỡng hiệu quả
Chỉ tiêu NPV được dùng để đánh giá 1 dự án đầu tư độc lập, Dự án được coi
là đáng giá khi có NPV>=0 Trường hợp dùng để so sánh lựa chọn phương án đầu tư
thì phương án được chọn phải thỏa mãn 2 điều kiện NPV (chọn) >=0 và NPV (chọn) =
max
Khi tính toán chỉ tiêu NPV cần chú ý một số điểm sau:
+Nếu khi lập dự án doanh nghiệp chưa được thành lập thì thuế GTGT (VAT)
thuộc giai đoạn xây dựng công trình được thu về thông qua chỉ tiêu Bi bằng cách:
Hoàn thuế VAT ở một số năm đầu vận hành dự án hay khấu trừ vào thuế VAT đầu ra
khi bán sản phẩm của dự án Tiền thuế VAT trong thời gian xây dựng không được tính
vào giá trị tài sản cố định để tính khấu hao
+Hiệu số thu chi (Bi - Ci) khi Bi là doanh thu thực chất chỉ bao gồm có khấu
hao và lợi nhuận (chưa trừ tiền trả lãi vay vốn nhưng đã trừ các loại thuế)
+Chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối, nó không chỉ rõ suất
lợi nhuận tính cho 1 đồng vốn đầu tư cụ thể là bao nhiêu, nhưng đã khẳng định được là
dự án đã đảm bảo mức lãi suất tối thiểu khi chỉ tiêu NPV>=0
- Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại (IRR): Suất thu lợi nội tại là lãi suất tính cho 1
đơn vị thời gian (thường là năm) tính trung bình cho cả vòng đời dự án theo kiểu lãi
ghép của các kết số đầu tư ở các thời điểm của dòng tiền của dự án, do nội tại của
phương án mà suy ra, và dựa trên giả định là các kết số đầu tư ở các thời điểm được tái
đầu tư ngay vào nội bộ dự án với 1 lãi suất bằng chính suất thu lợi nội tại IRR đang
cần tìm
Formatted: Font color: Auto
Trang 32Suất thu lợi nội tại có đặc điểm là khi dùng nó làm suất chiết tính để tính NPV của dự án thì NPV = 0
Chỉ tiêu IRR là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính dự án theo phương pháp chiết khấu Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được, bởi vậy chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá dự án Dự án được chấp nhận khi IRR ≥ r giới hạn Dự án không được chấp nhận khi IRR < r giới hạn R giới hạn có thể là lãi suất đi vay nếu dự án vay vốn để đầu tư, có thể là tỷ suất lợi nhuận định mức do nhà nước quy định nếu dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước cấp, có thể là chi phí cơ hội nếu dự án
- Tỷ số lợi ích - chi phí (B/C): Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí được xác định
bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra
Chỉ tiêu B/C được sử dụng để đánh giá dự án đầu tư Dự án được chấp nhận khi B/C >1 Khi đó, tổng các khoản lợi ích của dự án đủ để bù đắp chi phí phải bỏ ra của dự án và dự án có khả năng sinh lời Ngược lại, nếu B/C <1 dự án bị bác bỏ
- Thời gian thu hồi vốn đầu tư (T) là số thời gian cần thiết mà dự án cần hoạt
động để thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu Nó chính là khoảng thời gian để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm
Thời gian thu hồi vốn đầu tư có thể được xác định khi chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền gọi là thời gian thu hồi vốn đầu tư giản đơn và thời gian thu hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền
Vì tiền có giá trị về mặt thời gian, các khoản thu hồi của dự án (lợi nhuận thuần và khấu hao) lại xuất hiện ở những năm khác nhau nên thời gian thu hồi vốn đầu
Trang 33Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 33
tư giản đơn chưa phản ánh chính xác hiệu quả đầu tư của dự án Để khắc phục hạn chế này ta xác định chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn có tính đến yếu tố thời gian của tiền
Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn (T) được sử dụng trong việc ra quyết định đầu tư
Dự án được chấp nhận khi thời gian thu hồi vốn của nó ≤ T định mức T định mức được lấy theo từng ngành Trong trường hợp chưa có thì có thể căn cứ vào các dự án tương tự để xác định hoặc căn cứ vào thời gian hoạt động của dự án (đời của dự án)
Thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào nguồn thu và nguồn chi của dự án Đối với các dự
án đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, dự án đạt hiệu quả tài chính thường có thời gian định mức hoàn vốn nhỏ hơn 25 năm
Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư
Độ an toàn về mặt tài chính của dự án là một nội dung cần xem xét trong quá trình phân tích và thẩm định tài chính dự án đầu tư Nó là một căn cứ quan trọng để đánh giá tính khả thi về tài chính của dự án Độ an toàn về mặt tài chính của dự án được thể hiện trên các mặt sau:
- An toàn về nguồn vốn
- An toàn về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, khả năng trả nợ
- An toàn cao cho các chỉ tiêu hiệu quả tính toán (tính chắc chắn của các chỉ tiêu hiệu quả dự kiến của dự án) thông qua phân tích độ nhạy của dự án Phân tích độ nhạy của dự án là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (lợi nhuận, thu nhập thuần, hệ số hoàn vốn nội bộ ) khi các yếu tố có liên quan chỉ tiêu đó thay đổi Phân tích độ nhạy nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án đối với sự biến động của các yếu tố có liên quan Hay nói cách khác, phân tích độ nhạy nhằm xác định hiệu quả của dự án trong điều kiện biến động của yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính đó
Phân tích độ nhạy của dự án giúp cho chủ đầu tư biết được dự án nhạy cảm với các yếu tố nào hay nói cách khác, yếu tố nào gây nên sự thay đổi nhiều nhất của chỉ tiêu hiệu quả xem xét để từ đó có biện pháp quản lý chúng trong quá trình thực hiện dự án Mặt khác phân tích độ nhạy của dự án còn cho phép lựa chọn được những
dự án có độ an toàn hơn cho những kết quả dự tính
Trang 34Phân tích độ nhạy được thực hiện theo các phương pháp sau:
- Phương pháp 1: Phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm tìm ra yếu tố gây sự nhạy cảm lớn nhất của chỉ tiêu hiệu quả xem xét
- Phương pháp 2: Phân tích ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố (trong các tình huống xấu tốt khác nhau) đến chỉ tiêu tài chính xem xét để đánh giá độ an toàn của dự án
- Phương pháp 3: Cho các yếu tố liên quan đến hiệu quả tài chính thay đổi trong giới hạn của thị trường mà người đầu tư chấp nhận được Mỗi sự thay đổi là một phương án Khi lần lượt cho các yếu tố thay đổi ta có hàng loạt phương án Căn cứ vào điều kiện cụ thể của thị trường Nhà đầu tư lựa chọn phương án tốt nhất
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính dự án BOT
Qua việc phân tích, đánh giá công tác phân tích tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức Hợp đồng BOT của Tổng công ty, tác giả nhận thấy ngoài yếu tố nhân lực thực hiện công tác phân tích tài chính dự án còn rất nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính của dự án, có những yếu tố chủ quan, yếu tố khách quan nhưng tựu chung được chia thành 3 nhóm chính sau đây:
- Nhóm các yếu tố bất định gồm chi phí xây dựng, chi phí tổ chức thu và chi phí bảo trì công trình; các chi phí này không thể xác định chính xác;
- Nhóm các yếu tố chính sách bao gồm: thời gian thi công, thời gian hoàn vốn
dự án đầu tư và giá thu phí Đây là các biến số quyết định ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn và đàm phán hợp đồng Nhà nước có thể kiểm soát được các biến số này ở một chừng mực nhất định, các biến số này còn được gọi là biến nội sinh Giá thu phí trong phân tích thường là giá năm đầu tiên khi dự án vận hành khai thác Thường thì dự án BOT thực hiện trong một giai đoạn khá dài do đó phải xem xét lại các khoản thu phí
để bù đắp một phần cho trượt giá
- Nhóm các chỉ số kinh tế vĩ mô bao gồm lãi suất, lạm phát, trượt giá và tốc độ tăng trưởng giao thông là các yếu tố đầu vào của dự án Trừ tốc độ tăng trưởng giao
Trang 35Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 35
thông là yếu tố mang tính địa phương còn các yếu tố còn lại phụ thuộc vào nền kinh tế
quốc gia Các biến này gọi là biến ngoại sinh
Các yếu tố này tác động như thế nào và có vai trò ra sao đối với hiệu quả tài
chính của dự án lại phải nhờ vào sự phân tích, tính toán của con người Mỗi yếu tố
khác nhau sẽ có sự tác động, ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả của việc phân tích tài
chính dự án
2.2.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác phân tích tài chính dự án
BOT
Trên thực tế để đánh giá chất lượng công tác phân tích tài chính dự án BOT có
đạt chất lượng hay không là tương đối phức tạp, do kết quả và hiệu quả tài chính của
dự án không chỉ phụ thuộc vào công tác phân tích tài chính mà cả công tác quản lý vận
hành khai thác và sự tác động của cơ chế chính sách nhà nước đối với dự án Ngoài ra,
thời gian hoạt động của dự án BOT tương đối dài (trên 20 năm) nên không thể lược
hóa được ngay khi kết thúc quá trình phân tích tài chính dự án BOT Tuy nhiên, có thể
đánh giá chất lượng công tác phân tích tài chính dự án BOT thông qua một số tiêu chí
đánh giá công tác phân tích tài chính đã được thực hiện tốt hay chưa để từ đó có các
giải pháp khắc phục
2.2.5.1 Mức độ đầy đủ, toàn diện và chính xác của các nội dung phân tích
trong quá trình phân tích tài chính dự án BOT
Việc phân tích tài chính dự án BOT bắt đầu từ việc phân tích các thông số tài
chính cơ bản làm cơ sở cho việc phân tích, điều tra và thu thập thông tin cần thiết phục
vụ cho việc đánh giá hiệu quả dự án - phân tích tài chính tổng quát Để tiến hành phân
tích tài chính dự án cần phải tổng hợp các biến số tài chính cần thiết, do vậy nội dung
phân tích tài chính dự án BOT phải đảm bảo các nội dung dự tính tổng mức đầu tư,
nguồn vốn và điều kiện huy động vốn; xác định các khoản thu, chi của dự án; tính toán
một số chỉ tiêu phản ánh khía cạnh tài chính của dự án như lợi nhuận thuần, thời gian
hoàn vốn, tỷ suất lợi nhuận từ đó mới có cơ sở khẳng định dự án có khả năng thực
hiện được về mặt tài chính và đem lại hiệu quả tài chính chắc chắn
2.2.5.2 Mức độ chính xác của các kết luận rút ra từ quá trình phân tích tài
chính dự án BOT
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 36Các kết luận rút ra từ quá trình phân tích tài chính dự án là cơ sở để Nhà đầu
tư ra quyết định đầu tư, thực hiện dự án Do vậy, các kết luận này càng đúng đắn,
chính xác thì quyết định đầu tư sẽ mang lại hiệu quả cao Tiêu chí này yêu cầu chất
lượng nguồn thông tin phải đảm bảo đầy đủ, chính xác Các phương pháp xử lý cần
phù hợp với yêu cầu đánh giá thực trạng và dự báo tương lai Các kết luận đưa ra xác
đáng đủ sức thuyết phục và làm căn cứ cho quyết định đầu tư
2.2.5.3 Số lượng dự án được chấp thuận là Nhà đầu tư trên tổng số các dự án
đầu tư tham gia đề xuất
2.2.5.4 Một số tiêu chí khác: Thời gian phân tích tài chính dự án BOT, chi phí
cho công tác phân tích tài chính dự án Đây là các chỉ tiêu gián tiếp tác động đến chất
lượng công tác phân tích tài chính dự án BOT
Formatted: Font color: Auto
Trang 37Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 37
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH
THỨC HỢP ĐỒNG BOT TẠI TỔNG CÔNG TY 319
3.1 Tổng quan về Tổng công ty 319
3.1.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty 319
Tổng công ty 319 tiền thân là Sư đoàn 319 - Quân khu 3, được thành lập ngày
07/3/1979 theo Quyết định 231/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhiệm vụ
được giao khi mới thành lập là lực lượng cơ động, huấn luyện quân dự nhiệm và chiến
sỹ mới bổ sung cho các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc và
tăng cường cho các đơn vụ trên địa bàn Quân khu 3
Thực hiện Nghị quyết số 27, ngày 26/06/1980 của Bộ Chính trị về Quân đội
thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế, ngày 27/09/1980, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra
Quyết định số 579/QĐ-QP chuyển nhiệm vụ của Sư đoàn 319 từ lực lượng cơ động
huấn luyện quân sự sang nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đổi tên thành Công ty Xây dựng
319 với các chức năng thi công xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, sản xuất
và cung cấp sản phẩm công nghiệp phục vụ Quốc phòng và dân dụng Công trình đầu
tiên đơn vị đảm nhiệm là tham gia xây dựng các hạng mục của Nhà máy nhiệt điện
Phả Lại - Công trình trọng điểm số 1 của Nhà nước ta lúc bấy giờ
Sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên công trường Phả Lại, theo điều
động của cấp trên Công ty chuyển về thị trấn Gia Lâm- Hà Nội
Trải qua 33 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các
cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng và của Đảng, chính quyền, nhân dân các địa
phương, các doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội Cùng sự đoàn kết, phấn đấu khắc
phục khó khăn của cán bộ, đảng viên, công nhân viên và người lao động trong toàn
đơn vị nên Tổng công ty 319 luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đơn vị
phát triển mạnh, phát triển vững chắc, kinh doanh có hiệu quả cao, xây dựng đơn vị
vững mạnh toàn diện Đảng uỷ - Ban Tổng Giám đốc Tổng Công ty luôn quan tâm,
chú trọng kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động tiên
tiến, ứng dụng công nghệ hiện đại, thường xuyên đổi mới trang thiết bị, máy móc,
Comment [TDB3]: CHƯƠNG NÀY CHỊ CHƯA
CÓ PHẦN DÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH TUU VA HẠN CHẾ TROG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH, E ĐỌC PHÂN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CHỊ VẪN HƠI ÍT VIẾT THÊM ĐI CHỊ
Formatted: Font color: Auto
Trang 38nâng cao năng lực quản lý - điều hành, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Năm 2010, thực hiện Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 31/03/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng giai đoạn 2008 - 2010 và Quyết định số 606/QĐ-BQP ngày 04/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Công ty xây dựng 319 chuyển thành Công ty TNHH MTV319, hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con; với 25 ngành nghề sản xuất, kinh doanh, quy mô hoạt động trên toàn quốc và mở rộng địa bàn sang các nước khu vực Đông Nam Á, Công ty TNHH MTV 319 ngày càng khẳng định được uy tín, vị thế và thương hiệu của mình
Thực hiện công văn số 1455/TTg-ĐMDN, ngày 19/08/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập các Tổng công ty hoạt động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con trên cơ sở tổ chức lại các Công ty TNHH một thành viên thuộc Bộ Quốc Phòng Ngày 23/8/2011, Bộ Quốc Phòng có quyết định 3037/QĐ-BQP thành lập Tổng công ty 319 trực thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH một thành viên 319 Hiện tại Tổng công ty 319 có Trụ sở tại số 63 Lê Văn Lương, phường Trung Hòa - Quận Cầu Giấy - TP Hà Nội
Cơ cấu tổ chức Tổng công ty gồm:
- Hội đồng thành viên
- Ban Tổng Giám đốc
- Tổng công ty có 11 phòng, ban cơ quan, 13 công ty con, 03 công ty liên kết,
10 đơn vị trực thuộc, 07 ban quản lý dự án và 01 phòng thí nghiệm chuyên ngành hợp chuẩn;
Đội ngũ cán bộ, nhân lực
- Tổng quân số: 6.396 người, trong đó:
*Sỹ quan: 202 người; Quân nhân chuyên nghiệp: 282 người; Công nhân viên Quốc phòng: 121 người; Hợp đồng dài hạn: 1.401 người; Hợp đồng ngắn hạn: 4.390 người
Trang 39Học viên: Từ Thị Loan – CH20K Page 39
* Trình độ: Đại học và trên đại học: 869 người; Cao đẳng: 124 người; Trung
cấp: 316 người; Còn lại là Lái xe, lái máy và thợ các loại
- Tổ chức Đảng: 01 Đảng bộ cấp trên cơ sở; 08 Đảng bộ cơ sở; 16 Chi bộ cơ
sở; 63 Chi bộ trực thuộc các Đảng bộ Tổng số đảng viên: 716 đảng viên
Lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty 319
Tổng công ty 319 là doanh nghiệp Kinh tế - Quốc phòng hạng I có đại diện
chủ sở hữu là Bộ Quốc phòng Tổng công ty hoạt động trên 6 nhóm ngành nghề kinh
doanh chủ yếu sau:
- Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thủy lợi, thủy
điện, đường dây, trạm điện, các công trình ngầm;
- Khảo sát, dò tìm và xử lý bom, mìn - vật nổ, khắc phục hậu quả sau chiến
tranh;
- Đầu tư, kinh doanh bất động sản;
- Thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản;
- Sản xuất vật liệu xây dựng;
- Kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị
Kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động xây lắp
Hoạt động thi công xây lắp là lĩnh vực truyền thống của Tổng công ty 319 (33
năm kinh nghiệm), Tổng công ty luôn chú trọng việc nghiên cứu và ứng dụng khoa
học - công nghệ vào quản lý và tổ chức thi công Với đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy có bề
dày kinh nghiệm và hàng ngàn kỹ sư, thợ tay nghề bậc cao cùng hệ thống máy móc,
thiết bị hiện đại và tiềm lực tài chính vững chắc, Tổng công ty đã tổ chức thi công và
đưa vào sử dụng 4.352 công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi… trên
mọi miền đất nước, các công trình do Tổng công ty 319 thi công luôn được đánh giá
cao về tiến độ, chất lượng, kỹ mỹ thuật
Hoạt động dò tìm, xử lý bom, mìn và vật nổ
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font color: Auto
Trang 40Thực hiện nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao về dò tìm, xử lý bom, mìn - vật nổ
khắc phục hậu quả sau chiến tranh, cùng với sự tín nhiệm của các Chủ đầu tư, Công ty
319/BQP đã trực tiếp thi công 1.850 công trình dò tìm, xử lý bom, mìn - vật nổ khắc
phục hậu quả sau chiến tranh cả trên cạn và dưới nước đảm bảo an toàn tuyệt đối, cho
đến nay đã bàn giao 37.000 ha đất sạch cho các địa phương và các Chủ đầu tư để xây
dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh
Hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng
Sản xuất vật liệu xây dựng là một trong 06 lĩnh vực hoạt động chính của Tổng
công ty 319, góp phần tạo nguồn vật liệu cung cấp trên thị trường và phục vụ các công
trình do Tổng công ty 319 thi công Các sản phẩm được sản xuất trên dây truyền công
nghệ hiện đại có chất lượng cao như gạch xây dựng, gạch blốc, đá ốp lát, xi măng, bê
tông thương phẩm, bê tông đúc sẵn, các sản phẩm chế biến từ gỗ…
Các thành tích đã đạt được
Trong những năm qua, Tổng công ty 319 luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được
Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu 3 giao Với những
đóng góp và thành tích đã đạt được, Tổng công ty đã được Đảng, Nhà nước, các Bộ,
Ngành và địa phương khen ngợi và tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Danh hiệu
đơn vị “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”; 01 Huân chương quân công hạng ba; 15
Huân chương chiến công hạng nhất, nhì, ba; 12 Huân chương lao động hạng nhất, nhì,
ba; 03 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 09 Cờ thưởng thi đua của Bộ Quốc
phòng; 15 Cờ thưởng của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; 05 Cờ
thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; 04 Cờ thưởng của Tổng cục Chính trị
QĐNDVN; 05 Bằng khen của Bộ Xây dựng; 04 Cờ thưởng của Bộ Xây dựng tặng đơn
vị chất lượng cao; 22 Cờ thưởng của Bộ Tư lệnh Quân khu 3; 25 Bằng khen của
UBND các tỉnh, thành phố; Cúp và Bằng khen Top 20 “Doanh nghiệp hội nhập và
phát triển lần III”; Danh hiệu: “Thương hiệu nổi tiếng quốc gia năm 2010”; Danh hiệu:
“Nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2010”; Đồng chí Chủ tịch Hội đồng thành viên
Tổng công ty được trao tặng danh hiệu: “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh
Gióng 2010”; “Doanh nhân Quân đội tiêu biểu 2010” và Giải thưởng Sao đỏ 2011
Formatted: Font color: Auto