Các nhân tố ảnh hưỏng đến việc huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm: Sức hấp dẫn, tính
Trang 1ũn •>v r ^ y s
w ^
Trang 3Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thế Phán.
Tôi xin bày tỏ lòng biết on sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thế Phán, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và Viện Đào tạo Sau đại học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2011
Tác gia
Đàm Thanh Tùng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, chưa từng được công bố ở bất cứ tài liệu nào khác.
Neu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2011
m r • 7
Tác giả
Đàm Thanh Tùng
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẺ
TÓM TÁT LUẬN VĂN
PHÀN MỞ ĐÀU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tà i 2
3 Đối tượng nghiên cím 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nội dung, kết cấu của luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 C ơ SỞ KHOA HỌC VÈ HUY ĐỘNG VÓN ĐẦU CHO CÁC Dự ÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở 5
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐ N 5
1.1.1 Khái niệm về vốn của doanh nghiệp 5
1.1.2 Vai trò của vốn 6
1.1.3 Phân loại vốn và các hình thức huy động vốn phổ biến của doanh nghiệp 8
1.1.4 Vốn đầu tư dự án xây dựng nhà ở 18
1.2 D ự ÁN ĐẦU TƯ XÂY DựNG NHÀ Ở 20
1.2.1 Khái niệm về nhà ở và dự án đầu tư xây dựng nhà ở 20
1.2.2 Đặc điểm của dự án nhà ở 23
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ Ở 25
1.3.1 Sức hấp dẫn, tính khả thi của Dự á n 25
1.3.2 Hệ thống pháp luật trong nước 26
1.3.3 Sự phát triển của thị trường tài chính 26
1.3.4 Uy tín, thương hiệu của Chủ đầu tư 27
1.3.5 Hệ thống chính sách huy động vốn của doanh nghiệp 28
1.3.6 Tình hình thị trường 29
Trang 61.4.1 Các quy định liên quan đến việc huy động vốn để đầu tư xây dựng nhà ở 30
1.4.2 Phân biệt giữa huy động vốn của chủ đầu tư cấp I và chủ đầu tư cấp II 31
1.4.3 Các nội dung quy định cụ thể về huy động vốn: 32
1.4.4 Ket quả đạt được và những tồn tại: 39
1.5 KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LÀM CHỦ ĐẦU TƯ CÁC D ự ÁN NHÀ Ở 41
1.5.1 Các doanh nghiệp trong nước 41
1.5.2 Các doanh nghiệp nước ngoài 47
CHƯƠNG 2 THựC TRẠNG HUY ĐỘNG VÓN CHO CÁC Dự ÁN ĐÀU TƯ XÂY d ụ n g n h à ở t ạ i T ố n g c ô n g t y đầ u t ư p h á t TRIẾN h ạ t ầ n g đ ô THỊ50 2.1 ĐẬC DIÊM, TÌNH HÌNH CỦA TỒNG CÔNG TY - UDIC CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HUY ĐỘNG VỐN 50
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 50
2.1.2 Các dự án Tổng công ty đã và đang đầu tư xây dựng 53
2.1.3 Năng lực tài chính 55
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 57
2.1.5 Uy tín, thương hiệu trên thị trường 57
2.1.6 Đánh giá chung về khả năng huy động vốn cho các dự án nhà ở của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô th ị 60
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CÁC D ự ÁN NHÀ Ở TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ THỜI GIAN VỪA QUA 61
2.2.1 Nhu cầu vốn trong các dự án nhà ở do Tổng công ty làm chủ đầu tư giai đoạn 2006-2010 7 „ r .61
2.2.2 Thực tế huy động vốn các dự án nhà ở từ năm 2006- 2010 66
2.2.3 Ket quả đạt được trong việc sử dụng vốn đầu tư các dự án nhà ở 67
2.3 MỘT SỐ TỒN TẠI VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC D ự ÁN NHÀ Ở TẠI TÔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 69
2.3.1 Thiếu đa dạng hóa trong lựa chọn nguồn huy động 70
2.3.2 Chi phí vốn cao 72
2.3.3 Cơ cấu vốn thiếu họp lý 72
2.3.4 Một số hạn chế khác 74
Trang 7THỊ - UDIC 75
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH DOANH THỜI GIAN TIẾP THEO 75
3.1.1 Nhu cầu vốn cho giai đoạn 2011-2015 75
3.1.2 Khả năng đáp ứng của vốn tự có 75
3.1.3 Vốn cần huy động cho các dự á n 76
3.2 QUAN DIÊM VỀ HUY ĐỘNG VỐ N 76
3.2.1 Ưu tiên sử dụng những nguồn vốn có chi phí thấp 76
3.2.2 Huy động, sử dụng vốn đúng mục đích, tuân thủ quy định pháp luật 77
3.2.3 Thực hiện đầu tư lâu dài, từng bước xây dựng uy tín, thương hiệu 77
3.3 GIẢI PHÁP TỔNG THÊ VÈ HUY ĐỘNG VỐN CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ XẢY DỰNG NHÀ Ở TẠI TỒNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỀN HẠ TÀNG ĐÔ THỊ 77
3.3.1 Đây mạnh công tác nhân sự 77
3.3.2 Hoàn thiện công tác thông tin thị trường bất động sản và các hoạt động Marketing dự á n 78
3.3.3 Xây dựng văn hoá kinh doanh và thương hiệu của doanh nghiệp 79
3.3.4 Phát huy điểm mạnh của doanh nghiệp 80
3.3.5 Tăng cường tài sản đảm b ảo 81
3.4 LựA CHỌN PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CÁC D ự ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ Ở TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 82
3.4.1 Đầu tư bằng vốn chủ sở hữ u 83
3.4.2 Huy động vốn từ khách hàng mua n h à 84
3.4.3 Huy động vốn theo phưcmg thức Hợp đồng góp vốn đầu t ư 86
3.4.4 Huy động vốn theo phương thức Họp đồng họp tác kinh doanh 88
3.4.5 Huy động tín dụng ngân hàng 91
3.4.6 Huy động tín dụng thương m ại 92
3.4.7 Huy động vốn theo phương thức Phát hành trái phiếu dự án 93
PHẦN KÉT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8TT BẢNG NỘI DƯNG TRANG
1 Bảng 1.1 Phân đoạn vốn đầu tư xây dựng dự án
5 Bảng 2.1. Một số các chỉ tiêu tài chính trong
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh
Bảng 2.3 Tổng hợp nhu cầu vốn cho các dự án
Bảng 2.4. Doanh thu bán nhà Chung cư cao tầng
Trang 9ĐÀM THANH TÙNG
GIẢI PH ÁP HUY ĐỘNG VỐN C Á C Dự ÁN ĐẦU Tư X Â Y
DỰNG NHÀ ở TẠI T ổ N G CÔ N G T Y ĐẦU Tư PHÁT TRIEN
HẠ TẦNG ĐỐ THỊ (UDIC)
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh bất động sản
T Ó M T Ắ T L U Ậ N V Ă N T H Ạ C S Ỹ
HÀ NỘI, 2011
Trang 10PHÀN MỞ ĐẦU Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hoá thì nhu cầu về nhà ở của người dân đô thị ngày càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi các nhà đầu tư phải đấy nhanh quá trình đầu tư xây dựng nhà ở và rút ngắn thời gian đầu tư xây dựng Một doanh nghiệp có cùng một lúc nhiều dự án đầu tư nhà ở trong khi nguồn vốn lại hạn chế sẽ đặt một bài toán khó về vốn đối với người chủ doanh nghiệp đó và không phải doanh nghiệp nào cũng giải được bài toán về vốn này.
Muốn thành công trong kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải dám đương đầu và vượt qua khó khăn về vốn Tạo vốn và quy vòng vốn luôn là những bài toán theo đuối suốt cuộc đời kinh doanh của doanh nghiệp và việc tìm ra lời giải cho bài toán đó sẽ tạo nên một bản sắc riêng, đồng thời khẳng định vị thế của doanh nghiệp đó trên thương trường.
Cũng như bất kỳ lĩnh vực nào, đối với lĩnh vực đầu tư bất động sản nói chung và nhà ở nói riêng, vấn đề vốn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong quá trình thực hiện các dự án.
Thứ nhất, với một dự án đầu tư xây dựng nhà ở bất kỳ nào cũng cần có
một khối lượng vốn rất lớn so với các lĩnh vực khác, có thể hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng Do đó, doanh nghiệp phải trường vốn mới có thể hoàn thiện được công tác giải phóng mặt bàng và đầu tư xây dựng hạ tầng dự án, còn đê hoàn thiện toàn bộ một dự án phải huy động vốn của toàn xã hội.
Thứ hai, với nguyên tắc thận trọng trong kinh doanh, không một doanh
nghiệp nào dám mạo hiểm bỏ hết cả vốn của mình để đầu tư vào một dự án xây dựng nhà ở Do đó, nhu cầu huy động vốn của các thành phần kinh tế khác nhau là hết sức cần thiết.
Thứ ba, hành lang pháp lý về huy động vốn cho các dự án đầu tư xây
dựng nhà ở quy định đối với chủ đầu tư ngày càng được hoàn thiện với một
hệ thống các văn bản pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và Bộ Xây dựng đưa
ra nhằm tạo cho các nhà đầu tư có các kênh huy động vốn hợp pháp để thực hiện Dự án.
Những năm trước đây, do quy mô đầu tư các dự án còn nhỏ với danh mục dự án đầu tư hạn chế nên phần lớn Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (ƯDIC) - doanh nghiệp nơi học viên đang công tác chủ yếu sử
Trang 11dụng nguồn vốn chủ sở hữu của mình để đầu tu các dự án xây dựng nhà ở, hoạt động huy động vốn từ khách hàng thông qua việc ký hợp đồng mua bán nhà ở chiếm một phần nhỏ và việc huy động vốn từ các ngân hàng còn rất ít
và hạn chế.
Tuy nhiên, những năm gần đây, với mục tiêu đua ngành nghề đầu tư kinh doanh bất động sản là ngành nghề số 1, định hướng chuyển từ làm thuê sang làm chủ nên Tổng công ty đã có chủ trương mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh về quy mô, phạm vi và lĩnh vực đầu tư Nhu cầu vốn cho các dự
án đầu tư xây dựng ngày càng nhiều trong khi vốn chủ sở hữu lại tăng chậm
đã dẫn tới việc lựa chọn các giải pháp huy động vốn từ các nguồn vốn khác vốn chủ sở hữu để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở được đặt ra hết sức cấp thiết.
Chính vì nhũng lý do nêu trên mà tôi chọn đề tài: "Giải pháp huy động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC)" nhằm tìm hiểu và khái quát lại thực trạng huy động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà ở hiện nay trên địa bàn Thành phố
Hà Nội Từ đó, đưa ra những giải pháp để công tác huy động vốn của doanh nghiệp mình đang công tác được đẩy mạnh và hiệu quả hơn.
Kết cấu của Luận văn gồm 3 chương chính:
• Chương 1: Cơ sở khoa học về huy động vốn đầu tư cho các dự án xây dựng nhà ở.
• Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (ƯDIC).
• Chương 3: Một số giải pháp huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC).
Trang 12CHƯƠNG 1 C ơ SỞ KHOA HỌC VẺ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU CHO
CÁC D ự ÁN X Â Y DƯNG NHÀ Ỏ Trong chương 1, học viên trình bày năm nội dung mang tính khoa học làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở các chương sau Thứ nhất, vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, các nguyên tắc khi tiến hành huy động vốn, các phương thức huy động vốn đang được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay Thứ hai, là một số nội dung liên quan tới dự án đầu tư xây dựng nhà ở như khái niệm về nhà ở,
dự án nhà ở và các đặc điếm của dự án nhà ở Thứ ba là các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở Thứ tư là các quy định của nhà nước về huy động vốn cho các dự án xây dựng nhà ở và cuối cùng là kinh nghiệm huy động vốn đầu tư xây dựng nhà ở trong và ngoài nước.
1.1 Những vấn đề chung về vốn
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực tài chính nhất định để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực tài chính được thê hiện và sử dụng dưới các dạng khác nhau nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai được coi là vốn của doanh nghiệp.
Vốn có thể có nhiều dạng khác nhau được phân nhóm thành hai loại: Vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền, v ố n bàng tiền được coi là nguồn tài chính của doanh nghiệp Nguồn tài chính này là cơ sở để có được các điều kiện sản xuất, tức là các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, địa điểm sản xuất kinh doanh, thiết bị, nguyên vật liệu và các điều kiện khác.
Trong phần này, học viên đã giới thiệu khái quát các phương thức huy động vốn đang sử dụng phổ biến hiện nay và có thể nói, mọi phương thức huy động vốn đều hình thành nên hai nguồn, đó là : vốn chủ sở hữu và nguồn nợ phải trả (vốn vay).
1.2 Dự án đầu tư xây dựng nhà ở
Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân Dự án đầu tư xây dựng nhà ở là tập họp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trong một thời gian nhất định.
Trang 13dụng đất, thủ tục pháp lý phức tạp, thời gian thực hiện dự án kéo dài, vốn đầu
tư lớn, chủ đầu tư thường chỉ sử dụng một phần nhỏ vốn tự có, phần lớn vốn đầu tư thường được huy động vốn ứng trước của khách hàng
1.3 Các nhân tố ảnh hưỏng đến việc huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm: Sức hấp dẫn, tính khả thi của Dự án; Hệ thống pháp luật trong nước; Sự phát triển của thị trường tài chính; Uy tín, thương hiệu của Chủ đầu tư; Hệ thống chính sách huy động vốn của doanh nghiệp; Tình hình thị trường.
1.4 Các quy định của nhà nước về huy động vốn cho các dự án xây dựng nhà ở
Căn cứ theo Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn, học viên đã đi sâu vào nghiên cứu các phương thức huy động vốn, thời điểm huy động vốn theo quy định đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở.
Như vậy, có thể tóm gọn lại một số phương thức huy động vốn đối với các dự án nhà ở như sau: Huy động vốn từ khách hàng mua nhà tại thời điểm
đã hoàn thành xong xây dựng phần móng của công trình; huy động vốn theo hình thức hợp đồng góp vốn phân chia sản phẩm hay lợi nhuận (nếu là sản phẩm không quá 20% số lượng sản phẩm của dự án) và chỉ được thực hiện khi đã phê duyệt dự án và khởi công xây dựng công trình; huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu dự án,
1.5 Kinh nghiệm huy động vốn của các doanh nghiệp chủ đầu tư các dự
án nhà ở
Trình bày một số chính sách huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; Cách thức huy động vốn của các doanh nghiệp nước ngoài, cụ thê ở Mỹ và Sinpapore.
Cuối cùng rút ra một số phương thức huy động vốn có thể áp dụng đối với các dự án xây dựng nhà ở do Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) đang làm chủ đầu tư.
Trang 14CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC D ự ÁN ĐẦU T ư X Â Y DỤNG NHÀ Ỏ TẠI TỎNG CÔNG T Y ĐẦU T ư PHÁT
TRIÉN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ (UDIC)
Trong chuông 2, học viên trình bày đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn, đó là nhu cầu vốn và thực trạng huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) 2.1 Đặc điểm, tình hình của Tổng công ty có ảnh hưởng đến việc huy động vốn
Đe cụ thể hóa về đối tượng nghiên cứu, học viên mô tả một cách tổng quan các thông tin chung về Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) Trong đó, có các nội dung về quá trình hình thành phát triển, cơ cấu
tổ chức hoạt động, ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của Tổng công ty.
Giới thiệu khái quát một số dự án đầu tư xây dựng nhà ở giai đoạn gần đây về quy mô, tiến độ trien khai, tống mức đầu tư.
Mô tả năng lực tài chính thông qua một số các chỉ tiêu tài chính trong Báo cáo tài chính các năm qua Bên cạnh đó, cũng phân tích kết quả sản xuất kinh doanh qua hai chỉ tiêu chính là tổng doanh thu và lợi nhuận
Với kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt được, Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) ngày càng khẳng định được sức mạnh và uy tín trên thương trường Đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, ƯDIC đang thực hiện những mục tiêu đột phá: “Chuyển dần từ vai trò làm thuê sang làm chủ trong thị trường đầu tư xây dựng trên phạm vi toàn Tống công ty, nhanh chóng tạo thế và lực mới cho sự phát triển”.
Từ các số liệu nêu trên, đánh giá chung về khả năng huy động vốn cho các dự án nhà ở của Tống công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị.
2.2 Thực trạng huy động vốn các dự án nhà ở tại tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị thòi gian vừa qua
Thời gian vừa qua, Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
Trang 15Chung cư cao tầng Trung Yên 1, Trung Yên Plaza, Dự án Tổ họp Nhà ở và DVTM 122 Vĩnh Tuy Dự án, Dự án Chung cư cao tầng CT13 - KĐT Nam Thăng Long và dự án Khu đô thị mới Hoàng Văn Thụ Với năm dự án này, Tông công ty đã huy động và cân phải huy động là trên 2.000 tỷ đồng.
Thực tế, Tổng công ty cũng đã huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau
và đã đạt được một số kết quả nhất định như việc tuân thủ quy định của pháp luật về huy động vốn, tạo dụng được thưong hiệu UDIC trên thị trường đầu tư xây dựng nhà ở Thủ đô Một trong các dự án tiêu biểu là dự án đầu tư xây dựng Chung cư cao tầng Trung Yên 1.
2.3 Một số tồn tại về công tác huy động vốn cho các dự án nhà ỏ’ tại tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
Bên cạnh nhũng kết quả đạt được trong công tác huy động vốn thì vẫn còn một số tồn tại nhất định như: Thiếu đa dạng hóa trong lựa chọn nguồn huy động; Chi phí vốn cao; Cơ cấu vốn thiếu họp lý và một số những hạn chế khác như mới chỉ có thương hiệu trên địa bàn TP Hà Nội, chưa áp dụng phương thức huy động vốn mới,
Từ các tồn tại trong công tác huy động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) nêu trên sẽ là
cơ sở đê học viên đề xuất các giải pháp, phương thức thực hiện giải quyết các vấn đề này một cách triệt để, hiệu quả tại chương 3.
Trang 16CHƯƠNG 3 M Ộ T SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC D ự
ÁN ĐẢƯ T ư X Â Y DựNG NHÀ Ở TẠI TỐNG CÔNG T Y ĐẦU TƯ
PHÁT TRIÉN HẠ TẰNG ĐÔ THỊ (ƯDIC)
Nhàm chủ động các nguồn vốn đầu tu các dự án xây dựng nhà ở do Tổng công ty Đầu tu phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) làm chủ đầu tư, học viên đã tiến hành nghiên cứu phương hướng kế hoạch phát triển kinh doanh thời gian tiếp theo của Tổng công ty trong giai đoạn 2011-2015, đồng thời tìm hiểu quan điểm huy động vốn cho các dự án nhà ở để từ đó đề ra các giải pháp chủ yếu, các phương thức huy động vốn chính với mong muốn giải quyết các vấn đề trước mắt cũng như lâu dài trong việc huy động vốn của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC).
3.1 Phương hướng kế hoạch phát triển kinh doanh thời gian tiếp theo
Học viên xác định cụ thể về nhu cầu vốn tổng hợp của toàn bộ các dự
án đầu tư xây dựng nhà ở do Tổng công ty làm chủ đầu tư Căn cứ trên khả năng đáp ứng vốn tự có (hay vốn chủ sở hữu) của Tổng công ty đe từ đó rút ra được số lượng vốn cần huy động cho các năm tiếp theo.
3.2 Quan điểm về huy động vốn
Ưu tiên sử dụng những nguồn vốn có chi phí thấp; Huy động, sử dụng vốn đúng mục đích, tuân thủ quy định pháp luật; Thực hiện đầu tư lâu dài, từng bước xây dựng uy tín, thương hiệu
3.3 Giải pháp tổng thể về huy động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị.
Nhằm nâng cao uy tín, thương hiệu của Tổng công ty Đầu tư phát triên
hạ tầng đô thị (UDIC) và tăng tính hấp dẫn, tính khả thi của dự án thì việc đầu tiên phải thực hiện là các giải pháp về đẩy mạnh công tác nhân sự, kiện toàn
bộ máy tổ chức các phòng ban chức năng, từ đó hoàn thiện công tác thông tin thị trường bất động sản và các hoạt động Marketing dự án giúp Tổng công ty xác định và cập nhật thường xuyên nhu cầu khách hàng.
Trang 17đê có thê tận dụng được các thê mạnh đó tập trung phục vụ cho quá trình huy động vốn đầu tư dự án.
3.4 Lựa chọn phương thức huy động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà
ở tại tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
Từ các giải pháp tổng thể, học viên tiến hành đi vào chi tiết các dự án đầu tư xây dựng nhà ở, đề xuất lựa chọn phương thức huy động vốn cụ thể áp dụng cho từng dự án nhà ở do Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC).
Một sổ phương thức huy động vốn chủ yếu sau: Đầu tư bằng vốn chủ
sở hừu; Huy động vốn từ khách hàng mua nhà; Huy động vốn theo phương thức Họp đồng góp vốn đầu tư; Huy động vốn theo phương thức Họp đồng họp tác kinh doanh; Huy động tín dụng ngân hàng ; Huy động tín dụng thương mại; Huy động vốn theo phương thức Phát hành trái phiếu dự án.
Trang 18PHẦN KÉT LUẬN •
Tống công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị đang trong giai đoạn phát triển trở thành một Tổng công ty hàng đầu về đầu tư xây dựng trên địa bàn Hà Nội, với việc hướng tới mục tiêu chuyến dần từ làm thuê sang làm chủ mà Công ty mẹ sẽ thực hiện trước tiên Qua tổng kết phân tích các hoạt động đầu
tư nói chung và lĩnh vực đầu tư kinh doanh nhà ở đang được Tổng công ty ưu tiên hàng đầu với hàng loạt các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Nội.
Tông nhu cầu vốn cho các dự án nhà ở đang triển khai trong những năm tói vào khoảng 3.500 tỷ đồng, nhưng khoản tiền và tương đương tiền thời diêm hiện tại của Tổng công ty đang ở con số 135 tỷ đồng, rất ít so với nhu cầu thời gian tới, dẫn tới vấn đề đặt ra là làm thế nào để huy động đủ vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở một cách hiệu quả nhất.
Dù gặp phải một số khó khăn do tác động của các yếu tố vĩ mô như hạn chế cho vay đầu tư phi sản xuất (trong đó có lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản), giảm đầu tư công, nhưng đầu tư kinh doanh nhà ở vẫn là một phân khúc đầu tư hấp dẫn, mang lại lợi nhuận cao trong ngành kinh doanh bất động sản hiện nay, đặc biệt tại các thành phố lớn Để kinh doanh thành công trong lĩnh vực này, ngoài việc hoàn thiện vấn đề về nhân sự, cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - UDIC cần phải đặc biệt chú trọng đến việc nghiên cứu chính sách huy động và sử dụng vôn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở.
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp, luận văn đã hướng vào nghiên cứu một trong những nội dung trọng yếu của hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở, đó là vấn đề huy động vốn Kết quả nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng sau:
M ột là, khái quát ý nghĩa và tầm quan trọng của vốn, hệ thống hoá các
hình thức huy động vốn đang được sử dụng trên thị trường tài chính.
Hai là, khái quát về nhà ở, hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở, đặc điểm
dự án nhà ở.
Trang 19Tổng công ty Đầu tu phát triển hạ tầng đô thị (UDIC).
Bốn là, thống kê nhu cầu sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây
dựng nhà ở do Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) làm chủ đầu tư và đang triển khai trong thời gian từ 2011-2015.
Năm là, đưa ra một số giải pháp huy động vốn các dự án nhà ở do Tổng
công ty đầu tư xây dựng, đồng thời đó cũng là các giải pháp chung cho các dự
án sẽ được triển khai trong thời gian tới.
Trong những nghiên cứu tiếp theo về Tổng công ty Đầu tư phát triên, tác giả cần phải hoàn thiện các giải pháp huy động vổn, đưa ra khuyến nghị về tái cấu trúc vốn để Tổng công ty có co cấu vốn hợp lý.
Nếu Tổng công ty tiến hành cổ phần hoá thì ngoài các giải pháp và kênh huy động vổn trên, tác giả sẽ nghiên cứu thêm về một kênh huy động vốn quá sàn chứng khoá khá hiệu quả trong thời gian vừa qua đối với các công ty cổ phần đã niêm yết trên sàn chứng khoán.
Nếu nhu cầu vốn ngày càng lớn, ngoài việc nghiên cứu các kênh huy động vốn trong nước, tác giả cũng cần tiếp tục nghiên cứu các kênh huy động vốn từ nước ngoài như hoạt động hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp nước ngoài, kêu gọi các nguồn von FDI từ các chủ đầu tư thứ phát,
Trang 20Đàm Thanh Tùng
GIẢI PH Á P HUY ĐỘNG VỐN C Á C Dự ÁN ĐẦU Tư X Â Y DỰNG NHÀ ỏ TẠI T ổ N G CÔ N G T Y ĐẦU Tư PH Á T TR IEN
HẠ TẦNG ĐỒ TH Ị(U D IC )
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh bất động sản
LUẬN VĂN THẠC s ĩ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUỜI HUỐNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGUYỄN THÊ PHÁN
HÀ NỘI, 2011
Trang 21PH Ầ N M Ở Đ À U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hoá thì nhu cầu về nhà ở của nguời dân đô thị ngày càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi các nhà đầu tư phải đấy nhanh quá trình đầu tư xây dựng nhà ở và rút ngắn thời gian đầu tư xây dựng Một doanh nghiệp có cùng một lúc nhiều dự án đầu tư nhà ở trong khi nguồn vốn lại hạn chế sẽ đặt một bài toán khó về vốn đối với người chủ doanh nghiệp đó và không phải doanh nghiệp nào cũng giải được bài toán về vốn này
Muốn thành công trong kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải dám đương đầu và vượt qua khó khăn về vốn Tạo vốn và quy vòng vốn luôn là những bài toán theo đuổi suốt cuộc đời kinh doanh của doanh nghiệp và việc tìm ra lời giải cho bài toán đó sẽ tạo nên một bản sắc riêng, đồng thời khắng định vị thế của doanh nghiệp đó trên thương trường
Cũng như bất kỳ lĩnh vực nào, đối với lĩnh vực đầu tư bất động sản nói chung và nhà ở nói riêng, vấn đề vốn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong quá trình thực hiện các dự án
một khối lượng vốn rất lớn so với các lĩnh vực khác, có thể hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng Do đó, doanh nghiệp phải trường vốn mới có thê hoàn thiện được công tác giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng hạ tầng dự án, còn để hoàn thiện toàn bộ một dự án phải huy động vốn của toàn xã hội
nghiệp nào dám mạo hiểm bỏ hết cả vốn của mình để đầu tư vào một dự án xây dựng nhà ở Do đó, nhu cầu huy động vốn của các thành phần kinh tế khác nhau là hết sức cần thiết
dựng nhà ở quy định đối với chủ đầu tư ngày càng được hoàn thiện với một
hệ thống các văn bản pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và Bộ Xây dựng đưa
ra nhằm tạo cho các nhà đầu tư có các kênh huy động vốn hợp pháp để thực hiên Dư án
Trang 22Nhừng năm trước đây, do quy 1 TLÔ đầu tư các dự án còn nhỏ với danh mục dự án đâu tư hạn chế nên phần lớn Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tâng đô thị (ƯDIC) - doanh nghiệp nơi học viên đang công tác chủ yếu sử dụng nguôn vôn chủ sở hữu của mình để đầu tu các dự án xây dựng nhà ở hoạt động huy động vốn từ khách hàng thông qua việc ký hợp đồng mua bán nhà ở chiêm một phần nhỏ và việc huy động vốn từ các ngân hàng còn rất ít
và hạn chế
Tuy nhiên, những năm gần đây, với mục tiêu đua ngành nghề đầu tu kinh doanh bât động sản là ngành nghề số 1, định hướng chuyển từ làm thuê sang làm chủ nên Tổng công ty đã có chủ trương mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh về quy mô, phạm vi và lĩnh vực đầu tư Nhu cầu vốn cho các dự
án đầu tư xây dựng ngày càng nhiều trong khi vốn chủ sở hữu lại tăng chậm
đã dẫn tới việc lựa chọn các giải pháp huy động vốn từ các nguồn vốn khác vốn chủ sở hữu để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở được đặt ra hết sức cấp thiết
Chính vì nhũng lý do nêu trên mà tôi chọn đề tài: "Giải pháp huy động vốn các d ự án đầu tư xây dự ng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát
động vốn các dự án đầu tư xây dựng nhà ở hiện nay trên địa bàn Thành phố
Hà Nội Từ đó, đưa ra những giải pháp để công tác huy động vốn của doanh nghiệp mình đang công tác được đẩy mạnh và hiệu quả hon
2 M ục đích của đề tài
- Đánh giá khả năng giải quyết nhu cầu huy động vốn tài trợ cho các dự
án đầu tư xây dựng nhà ở do Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) làm chủ đầu tư
- Phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dụng nhà ở của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
Trang 23- Vận dụng các cơ sở lý luận phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm tận dụng những thuận lợi, hạn chế khó khăn nhằm đẩy nhanh tiến độ huy động vốn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (ƯDIC).
- Dùng áp dụng và nhân rộng các giải pháp huy động vốn tại Tổng công
ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) cho các công ty thành viên, công ty con và các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh nhà ở khác
3 Đ ối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các hình thức huy động vốn để đầu tư dự án nhà ở đang được sử dụng hiện nay
- Tình hình tài chính của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC)
- Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án nhà ở của Tổng công ty
4 Phạm vi nghiên cứu
Đê thực hiện một dự án đầu tư xây dựng nhà ở sẽ trải qua nhiều giai đoạn: tìm hiêu dự án, xin chấp thuận địa điếm, chủ trương đầu tư, các công việc chuẩn bị thực hiện dự án; Thực hiện dự án; Kết thúc đầu tư đưa dự án vào khai thác, vận hành, Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong việc huy động nguồn vốn để thực hiện dự án
Không gian nghiên cứu của luận văn là các dự án đầu tư xây dựng nhà
ở trên địa bàn Thành phố Hà Nội Thời gian nghiên cứu trong luận văn là tình hình huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị giai đoạn 2006-2010 và các dự án đã
và đang thực hiện giai đoạn 2011-2015
5 P hư ơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, lịch sử, thống
kê, so sánh đối chiếu và phân tích tổng hợp kết họp với việc vận dụng các quy định, chủ trương, đường lối chính sách của Nhà nước vào các chính sách huy động vốn của doanh nghiệp
Trang 24- Nguồn số liệu chủ yếu từ báo cáo phòng Tài chính Ke toán, phòng Đầu tu phát triển và các Ban quản lý dự án của Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC).
6 N ội dung, kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn được trình bày gồm 3 chương có nội dung chính như sau:
• Chương 1: Cơ sở khoa học về huy động vốn đầu tư cho các dự án xây dựng nhà ở
• Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (ƯDIC)
• Chương 3: Một số giải pháp huy động vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC)
Trang 25PH Ầ N N Ộ I D U N G
C H Ư Ơ N G 1 CO SỞ K H O A H Ọ C V È H U Y Đ Ộ N G V Ố N Đ Ầ U CH O
C Á C D ự Á N X Â Y D Ụ N G N H À Ở
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯNG VỀ VỐN
1.1.1 K hái niệm về vốn của doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực tài chính nhất định để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực tài chính đuợc thể hiện và sử dụng dưới các dạng khác nhau nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hon trong tương lai được coi là vốn của doanh nghiệp
Vốn là tài sản tích luỹ được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra lợi ích lớn hơn; đó là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất (các yếu tố khác là đất đai và lao động) Trong kinh doanh, vốn được coi là giá trị của tài sản hữu hình được tính bằng tiền, nghĩa là tài sản dưới dạng không phải bằng tiền như nhà xưởng, máy móc thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu
Vốn có thể có nhiều dạng khác nhau được phân nhóm thành hai loại: Vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền, vốn bằng tiền được coi là nguồn tài chính của doanh nghiệp Nguồn tài chính này là cơ sở để có được các điều kiện sản xuất, tức là các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, địa điểm sản xuất kinh doanh, thiết bị, nguyên vật liệu và các điều kiện khác
vốn của doanh nghiệp còn có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là số tiền và tài sản hữu hình khác, doanh nghiệp có được nguồn tài chính của chính mình, tức là không tính đến nguồn tài chính của doanh nghiệp có được nhờ đi vay
Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường dùng vốn theo nghĩa rộng đê chỉ toàn bộ nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, không phân biệt nguồn vốn huy động
Từ những phân tích đã nêu, thì vốn của doanh nghiệp (theo cách hiếu vốn tài chính) có thể coi là giá trị bằng tiền của tất cả các nguồn lực có thế chuyển thành tiền được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai, không phân biệt nguồn gốc hình thành
và không phân biệt hình thái biểu hiện
Trang 261.1.2 Vai trò của vốn
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp, vốn là điều kiện không thê thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động vốn và sự luận chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản
và hiệu quả tài chính Các vai trò chủ yếu là:
1 1 2 1 Đ iề u k iệ n tiê n q u y ế t đ ể th à n h lậ p d o a n h n g h iệ p
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp, về mặt pháp lý, mồi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải đủ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp, vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chúng khoản, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng và Kinh doanh ngoại tệ
Đổi với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp
và công nghệ có thể mua được khi có vốn
Trang 27Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh, hoạt động thực tể hàng ngày đòi hỏi phải có tiền chi tiêu, mua sắm nguyên vật liệu, máy móc, trả luơng, số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm.
1 1 2 3 C ơ s ở c h o v iệ c m ở r ộ n g p h á t triể n s ả n x u ấ t k ỉn h d o a n h
Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển Trong quá trình phát triên của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vừng và vươn lên trong thị trường Đe làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm, Kỷ nguyên của công nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp, buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới không ngừng nếu không muốn giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu Đe làm được tất cả những công việc đó doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn Nhiều doanh nghiệp do không có nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường
Vốn là nhân tốt cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, vốn không những là cơ sở đe doanh nghiệp
có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối mà còn
có thê giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn nữa là loại
bỏ họ bằng cách chính sách marketing hiệu quả
Trang 28Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để có thể tồn tại và không ngừng phát triển trên thưong trường.
1.1.3 Phân loại vốn và các hình thức huy động vốn phố biến của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp được nhóm lại thành hai khoản mục, đó là: vốn chủ sở hữu và vốn nợ phải trả (vốn vay)
Vốn chủ sở hữu được huy động từ các nguồn: vốn cổ phần (vốn điều lệ), thặng dư vốn cổ phần, quỹ khấu hao cơ bản, quỹ tích lũy đầu tư hoặc điều chỉnh cơ cấu tài sản nợ Nợ phải trả được huy động từ nguồn nợ ngắn hạn và
là do các thành viên tự thoả thuận và cam kết góp vốn Trên cơ sở đó doanh nghiệp kê khai và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh
Xu hướng hiện nay, các công ty được thành lập mới hoặc chyên đôi theo mô hình công ty cổ phần, vốn góp tương đương với số lượng các cô phần nắm giữ, đây là hình thức phổ biển, hiệu quả và rất thuận lợi cho việc huy động vốn, huy động nhân lực điều hành bộ máy
Đổi với công ty cổ phần, khi cần vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các dự
án đầu tư, Hội đồng quản trị có thể phát hành thêm cổ phần để tăng vốn, cổ phần có thể nhiều loại khác nhau, nhưng cơ bản có hai loại chủ yếu có thể giúp công ty huy động vốn được nhanh đó là cô phần ưu đãi và cố phân phô thông
Trang 29b Quỹ khẩu hao:
Đây là nguồn vốn hình thành bằng tiền trích khấu hao tài sản cố định Quỹ khấu hao gồm hai phần: Quỹ khấu hao cơ bản và Quỹ khấu hao sửa chữa lớn Quỹ khấu hao cơ bản dùng để mua sắm, thay thế những tài sản cố định bị đào thải bằng những tài sản cố định mới (tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định) Quỹ khấu hao sửa chữa lớn dùng để sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết cơ bản bị hao mòn của tài sản cổ định (tái sản xuất từng bộ phận của tài sản cố định)
c Quỹ đâu tư phát trỉên:
Tât cả các doanh nghiệp sau khi hạch toán được lợi nhuận, thường phải trích lập các quỹ như: Quỹ dự phòng trợ cấp thất nghiệp, Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ đầu tư phát triến, lợi nhuận chưa phân phối, đây là một lượng tiền mặt tương đối lớn và thường được các doanh nghiệp bổ sung vào các khoản đầu tư ngắn hạn Tuy nhiên, ngoại trừ quỹ đầu tư phát triển, còn lại các quỹ khác là các quỹ dự phòng, hoặc quỹ phúc lợi Do đó, doanh nghiệp phải hết sức cân nhắc khi sử dụng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cán
bộ nhân viên và các cố đông
1 1 2 2 H u y đ ộ n g v ố n n ợ p h ả i trả :
a Nguón tài trợ ngan hạn:
Nguồn tài trợ ngan hạn là những khoản tiền mà công ty phải hoàn trả trong vòng một năm kể từ ngày nhận được chúng Nguồn tài trợ này bao gồm các khoản tín dụng thương mại mà công ty nhận được từ các nhà cung cấp khi mua các loại hàng hóa dưới hình thức mua chịu, mua bằng tiền quỳ Ngoài ra,
nó còn bao gôm tiên đặt cọc của khách hàng đế mua hàng hóa hay dịch vụ theo hợp đồng và những khoản tiền vay ngắn hạn do các ngân hàng, công ty tài chính, công ty mua nợ, công ty bảo hiêm tài trợ Đồng thời nó cũng bao gồm các khoản nợ tích lũy gồm có nợ các loại tiền lương của người lao động
mà công ty chưa trả, nợ tiền thuế nhưng chưa trả cho Chính phủ, và lợi tức của phần theo số sách mà chưa phải trả cho cố đông
Trang 30Nguôn tài chính ngắn hạn có thế phân thành ba nhóm chính: nguồn tài trợ ngắn hạn không cho vay mượn (tín dụng thương mại), nguồn tài trợ ngắn hạn không có đảm bảo và nguồn tài trợ ngắn hạn có đảm bảo.
- Tín dụng thư ơn g mại:
Một công ty có thể dựa vào nguồn tín dụng mở rộng do mua hàng hóa của các nhà cung cấp dựa trên "tài khoản mở" như là một nguồn tài trợ ngắn hạn Hình thức tín dụng này được gọi là hình thức "tín dụng thương mại" và hoàn toàn khác so với các hình thức tín dụng ngắn hạn khác vì nó không phải
do các định chế tài chính tài trợ
Khi công ty quyết định sử dụng nguồn vốn này phải luôn nghĩ tới hậu quả lâu dài của tín dụng thương mại Bởi nếu công ty trì hoãn thanh toán các hóa đơn mua hàng, thường dẫn đến hậu quả là các nhà cung cấp sẽ không sẵn sàng tiếp tục cung cấp hàng hóa của họ, hoặc nếu tiếp tục thì sẽ bán với giá cao hơn
Tuy nhiên, có một yếu tố mà các công ty có dự định sử dụng tín dụng thương mại sẽ thu được nguồn lợi là phần chiết khấu (nếu có) dành cho nó
Sở dĩ có khoản chiết khấu này là do các nhà cung cấp nhận thấy người sử dụng tín dụng thương mại phải chịu phí tổn rất cao nên họ áp dụng chiết khấu nhằm hấp dẫn khách mua hàng
Tín dụng thương mại thường luôn sẵn sàng để phục vụ các công ty vì
nó không do các định chế tài chính tài trợ, do đó có thể nói nó là nguồn tài trợ không do vay mượn Tổng giá trị khoản tiền nợ do mua hàng hóa của nhà cung cấp được đưa vào tài khoản "nợ phải trả" của công ty
Đồng thời, công ty cũng có thể nhận được một nguồn tài trợ ngắn hạn không do vay mượn khác do chậm thanh toán một số khoản chi tiêu như tiền lương, tiền thưởng của người lao động, tiền thuê mướn thiết bị, nhà xưởng, tiền thuế và tiền điện nước, Dĩ nhiên công ty sẽ phải thanh toán những khoản nợ tích lũy này trong một thời gian ngắn hạn, nếu không công ty sẽ chỉ còn một cách duy nhất là phải trả lời trước các cơ quan công quyền
Trang 31- N guồn tài trợ ngắn hạn không có bảo đảm:
Bên cạnh nguồn tài trợ ngắn hạn của các nhà cung cấp, công ty còn có thể dựa vào các định chế tài chính đế nhận được những khoản tiền vay ngắn hạn không đảm bảo Những khoản cho vay này là những khoản vay do các ngân hàng tài trợ cho công ty mà không đòi hỏi bất cứ sự đảm bảo nào Các hình thức cho vay ngắn hạn không có đảm bảo chủ yếu là:
+ H ạ n m ứ c tín d ụ n g (h a y th ấ u c h i):
Hạn mức tín dụng hay thâu chi ngân hàng là một thỏa thuận giữa công
ty và ngân hàng mà theo đó, ngân hàng tạo sẵn một khoản tín dụng nào đó cho công ty Ví dụ nếu một thỏa thuận quy định hạn mức tín dung cho một công ty là 10 tỷ đồng, điều đó có nghĩa là công ty đó có thể mượn được số tiền lên tới 10 tỷ đồng của ngân hàng, số tiền này là tổng số tín dụng mà ngân hàng bằng lòng tạo sẵn cho công ty Loại tín dụng này thường được thiết lập trên cơ sở từng năm
Tại thời điểm kết thúc mồi năm, ngân hàng sẽ xem xét lại tình hình hoạt động tài chính của công ty, và dựa trên cơ sở xem xét này có thê gia hạn hay điều chỉnh tổng mức tín dụng cho công ty trong năm tiếp theo Hình thức tín dụng thuận lợi này thường được hiểu là thấu chi ngân hàng (rút vượt) được tạo ra để cung cấp nguồn tài chính nhất định đủ bù đắp phần chênh lệch giữa dòng lưu kim tiền thu nhập và dòng lưu kim chi phí của công ty
Tiền lãi của hình thức cho vay này tùy thuộc vào tống giá trị tín dụng thấu chi của công ty đã sử dụng và công ty được phép tín khoản tiền trả lãi này cho chi phí hàng ngày
Nhìn chung, đây là hình thứ tài trợ có chi phí thấp nhất đói với các doanh nghiệp Song điều bất lợi của hình thức tài trợ vốn này là nếu công ty vay tiền theo thỏa thuận này thì phải duy trì đảm bảo khả năng tài chính, đề phòng có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân hàng yêu cầu, tức là ngân hàng có thể từ chối thực hiện hạn mức tín dụng đã thỏa thuận
Trang 32+ T h o u th u ậ n tín d ụ n g tu ầ n h o à n :
Thoả thuận tín dụng tuần hoàn cũng là một công cụ tín dụng do ngân hàng thuơng mại sáng tạo ra đế phục vụ các doanh nghiệp Nó cũng tương tự như hạn mức tín dụng, ngaọi trừ những cam kết chính thức và mang tính pháp
lý do ngân hàng đưa ra đế tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp theo tổng mức tín dụng tối đa đã thoả thuận
Theo hình thức thoả thuận này, công ty có nghĩa vụ trả cho ngân hàng một khoản phí sử dụng nguồn ngân quỹ trên toàn bộ hạn mức tín dụng đã thoả thuận, đôi lại ngân hàng dành cho công ty đặc quyền sử dụng tín dụng phải trả
có thê được thanh toán một lần, hoặc thanh toán theo tỷ lệ phần trăm của giá trị trung bình trên phần chênh lệch tín dụng đã không sử dụng tuỳ theo sự thương lượng giữa doanh nghiệp và ngân hàng
Sau khi số tiền theo tín dụng thư đã được ngân hàng thanh toán hoàn tất, nó sẽ trở thành một khoản nợ do ngân hàng tài trợ cho nhà nhập khẩu và
nó thường là một thoả thuận tín dụng tuần hoàn
Trang 33Đê được châp thuận mở tín dụng thư, thì trước đó nhà nhập khẩu phải
có một khoản tiền ký quỹ tại ngân hàng Độ lớn của khoản tiền ký quỳ tuỳ thuộc vào vị thế tín dụng của nhà nhập khẩu theo cách đánh giá của ngân hàng và tuỳ theo quy định của Chính phủ
+ C h o v a y th e o h ợ p đ ồ n g :
Theo hình thức thoả thuận này, khi công ty nhận được đơn đặt hàng của một khách hàng, họ có thể tiếp xúc với một ngân hàng và yêu cầu cho vay một khoản tiền để tài trợ cho họp đồng Ví dụ, một công ty vừa nhận được một họp đồng do một công ty lớn và công ty này có tình hình tài chính lành mạnh đặt hàng, công ty đề nghị một ngân hàng cho vay một khoản tiền theo thê thức câp tài trợ theo họp đông đê mua nguyên liệu và thanh toán các khoản chi phí khác nhằm hoàn thành họp đồng Ngân hàng thường rất sẵn sàng chấp thuận tài trợ theo thể thức này, nhất là khi khoản tiền họ cho vay được sử dụng để tài trợ cho một họp đồng ký kết giữa công ty mượn tiền với công ty lớn và đáng tín cậy, bởi như vậy họ được đảm bảo sẽ thu hồi nợ đúng hạn
Theo những điều kiện của tài trợ theo họp đồng, khoản tiền cho vay phải được thu hồi càng sớm càng tốt như những khoản tiền thanh toán nhận được từ hợp đồng Tuy nhiên, nếu trong khi đang thực hiện họp đồng mà công ty ký tiếp một họp đồng khác, ngân hàng có thể xem xét và chấp thuận cho vay một khoản tiền khác dựa trên cơ sở giao dịch thứ hai
Hình thức tài trợ theo hợp đồng thường rất hay được sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, nhất là các nhà thầu
Tỷ lệ lãi suất của các khoản cho vay không có đảm bảo thường thay đổi tuỳ theo từng công ty và tuỳ từng ngân hàng, tuỳ thuộc vào vị trí tín dụng của công ty đi vay Một công ty có uy tín tín dụng sẽ phải trả lãi suất vay với tỷ lệ thấp hơn công ty không có danh tiếng Các ngân hàng thường tiến hành phân loại khách hàng của họ thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo mức độ rủi ro và
vị thế tín dụng của họ
Trang 34- Tài trọ’ ngắn hạn có đảm bảo
Một công ty không dễ dàng gì nhận được nguồn tài trợ ngắn hạn của một ngân hàng hay các nguồn khác khi không có đảm bảo, vì các hình thức tài trợ đó đem lại rất nhiều rủi ro cho người cho vay Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp đủ sự bảo đảm đối với khoản tiền vay theo yêu cầu, thì họ sẽ
dễ dàng nhận được khoản tín dụng cần thiết từ một nhà tài trợ nào đó
Việc bảo đảm an toàn nhằm đảm bảo thanh toán cả tiền vốn gốc và lãi của khoản cho vay là hình thức "thế chấp" Tài sản thế chấp để đảm bảo cho các hình thức vay ngắn hạn thường bao gồm khoản phải thu, giấy hẹn nợ, các loại hàng hoá, các loại chứng khoán Chúng có the là các loại cô phần, nhũng giấy tờ có giá trị có khả năng chuyển đổi nhanh, những khoản ký quỹ định kỳ, quyên sở hữu máy móc, thiêt bị, hoặc chỉ là sự bảo lãnh của các nhân các cô đông chính của doanh nghiệp
Những khoản vay ngắn hạn được thế chấp bằng những khoản phải thu như các loại thương phiếu, hối phiếu được gọi là "vay có thế chấp bằng khoản phải thu" Đồng thời công ty cũng có thể đem bán lại các chứng từ này thay vì đem chúng đi thế chấp để vay tiền
Việc bán những khoản phải thu này cho một ngân hàng, một công ty tài chính hay công ty mua nợ để gia tăng nguồn vốn ngắn hạn được gọi là "Mua nợ" Còn các khoản nợ vay được do đảm bảo bằng hàng hoá, tài sản được gọi
là "vay thế chấp bằng hàng hoá"
+ V a y c ó t h ế c h ấ p b ằ n g k h o ả n p h ả i th u :
Một công ty muốn nhận được một khoản vay ngắn hạn có thể tiếp xúc với ngân hàng hay công ty tài chính và đề nghị sử dụng các hoá đơn thu tiền làm vật bảo đảm cho khoản vay Nếu ngân hàng quan tâm và đồng ý tài trợ cho công ty, họ sẽ đánh giá chất lượng của các loại hoá đơn thu tiền được dùng làm vật thế chấp và sau đó, xác định giá trị khoản cho vay tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro và có thể dao động trong khoản 20% đến 90% giá trị danh nghĩa của khoản thu
Trang 35Một khi giá trị này đã được xác định, công ty đi vay sẽ gửi ngân hàng cho vay một bản danh mục liệt kê danh sách các khoản phải thu, cùng thời hạn trả và tổng số tiền Sau đó công ty sẽ yêu cầu ngân hàng cho một cam kết bằng văn bản để chuyển tất cả các khoản phải thu sang phần thanh toán và bù trừ cân đối công nợ Thông thường, một khi doanh nghiệp đã được ngân hàng tài trợ, ngân hàng có thể tiếp tục cho vay trên cơ sở cầm cố những khoản phải thu mới như những giao dịch đã xảy ra trước đó.
Bên cạnh việc có nguồn tài chính như mong muốn, mua nợ còn cho phép một doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng mà không phải chịu nhiều rủi ro, bởi công ty mua nợ sẽ kiếm tra tài chính của khách hàng trước khi quyết định mua chứng từ bán hàng của doanh nghiệp Tuy nhiên, vì
nó là một nguồn tài trợ nên chi phí huy động vốn theo hình thức thoả thuận mua nợ khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí kiếm tra tư cách tín dụng của khách hàng hay những rủi ro không thu hồi được vay nợ
+ V ay t h ế c h ấ p b ằ n g h à n g h o á :
Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hoá, tài sản cũng thường được sử dụng để thế chấp cho các khoản vay ngan hạn Trị giá của khoản vay thuộc loại thế chấp này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển đổi nhanh, và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hoá thế chấp Nếu những hàng hoá, tài sản này không có rủi ro, có thể bán nhanh trên thị trường và có giá cả ổn định thì khoản tiền vay mượn sẽ chiếm một tỷ lệ khá cao so với giá trị ghi trên chứng từ
Trang 36Những công ty có hàng hoá, tài sản mà cần một số vốn ngắn hạn có thể dựa vào nguồn tài trợ này Vay thế chấp bằng hàng hoá gồm có các hình thức sau:
+ Vay ký thác
+ Vay thế chấp bàng ký hoá phiếu hàng di chuyên được
+ Vay thế chấp bằng ký hoá phiếu hàng hoá cồng kềnh
b Nguồn tài trợ dài hạn
Nguồn tài trợ dài hạn là những khoản tiền có thời hạn sử dụng dài hơn một năm kể từ ngày đầu tiên khi nhận chúng Nguồn ngân quỹ này thường được công ty sử dụng để tài trợ cho việc mua máy móc, thiết bị hay xây dựng nhà xưởng và một phần nguyên vật liệu v.v
Công ty có thể huy động tín dụng dài hạn từ nhiều nguồn khác nhau Các nguồn này bao gồm: Thuê mua trả góp, tín dụng thuê mua, vay dài hạn định kỳ hay vay có kỳ hạn, phát hành trái phiếu và kỳ phiếu
- Thuê mua trả góp:
Một doanh nghiệp cần tiền để mua máy móc, thiết bị có thể sử dụng phương pháp huy động nguồn tín dụng trực tiếp bằng cách mua các loại tài sản đó dưới hình thức thuê mua trả góp Khi mua tài sản theo hình thức này, công ty tiến hành thiết lập một hợp đồng với chủ tài sản hay một định chế tài chính Thoả thuận này cho phép công ty trả ngay một phần giá trị tài sản và phần còn lại được thanh toán trong nhiều kỳ, vào những thời điếm được ấn định trước và mỗi lần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi, nếu công ty đồng ý tuân theo những điều khoản và điều kiện của hợp đồng thuê mua trả góp Trong thời gian thi hành hợp đồng, quyền sở hữu tài sản cho người bán - người cho thuê giữ Và nó sẽ được chuyển cho người mua - người thuê vào thời điểm hết hạn hợp đồng nếu người thuê hoàn thành tốt các nghĩa vụ theo quy định
- Tín dụng thuê mua:
Trang 37Thay vì mua tài sản theo hình thức thuê mua trả góp, doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức thuê tài chính hay thuê vận hành đê thuê tài sản của công ty thuê mua hay công ty tài chính Khi công ty tiến hành thuê một tài sản, thì họ sẽ được quyền sử dụng tài sản đó (như máy móc, ôtô, ) như thoả thuận và phải thanh toán tiền thuê theo định kỳ cho người chủ tài khoản Hợp đồng được thiết lập giữa công ty và chủ tài sản có thể quy định rằng, công ty không được quyền trả lại tài sản và cũng không được từ chối thanh toán tiền thuê trong thời hạn thuê Đồng thời, nó cũng có thể cho phép công ty được quyền lựa chọn trả lại tài sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thông báo trước với chủ sở hữu theo quy định trong hợp đồng.
- Các khoản vay có định kỳ hay có kỳ hạn:
Một doanh nghiệp có thể tăng ngân sách thông qua hình thức đi vay vói thòi gian đáo hạn hơn một năm, bằng cách thế chấp một số tài sản của hộ như một hình thức bảo đảm cho khoản tiền vay Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính thường chấp nhận những loại tài sản sau là tài sản thế chấp như: quyền sử dụng đất, các loại máy móc thiết bị, các loại bất động sản, những khoản ký quỹ có thời hạn, ngoại tệ các loại, các loại chứng khoán và cô phiếu của các công ty cổ phần đại chúng, khoản vay này thường được gọi là vay định kỳ hay vay có kỳ hạn
Đặc điểm riêng của vay định kỳ là trong mồi kỳ hạn - hàng tháng, quý hay năm người vay phải trả cho chủ nợ một khoản tiền nhất định bao gồm một phần gốc và lãi Nó khác với hình thức thấu chi (hay rút vượt) là thấu chi thường trả cả vốn gốc và lãi vào cuối kỳ, còn nó trả dần thành nhiều đợt Sở
dĩ người vay phải làm như vậy là để đảm bảo cho nợ gốc và lãi không vượt hạn mức tín dụng đã được dành cho họ và vị thế tín dụng của công ty không
bị ngày càng xấu hơn
- Phát hành trái phiếu và kỳ phiếu:
Một doanh nghiệp cũng có thể mượn tiền của công chúng bằng cách phát hành trái phiếu và kỳ phiếu Những công cụ này là giấy hẹn nợ được cấp
để chứng minh khoản nợ của công ty đối với người giữ chúng
ĐẠI HỌC KTQD
TT THÔNG TIN THƯ VIỆN
ìm
Trang 38Sự khác biệt chủ yếu giữa trái phiếu và kỳ phiếu là ở quyền lưu giữ tài sản Kỳ phiếu là những khoản vay có bảo đảm bằng quyền lưu giữ đối với một số tài sản của công ty, còn sau này chúng là những khoản vay không có bảo đảm hay còn gọi là trái phiếu tín dụng thường Tuy nhiên về thực chất, trái phiếu và kỳ phiếu thường được sử dụng rất tuỳ tiện để đề cập đến cùng một công cụ nợ.
1.1.4 V ốn đầu tư d ự án xây dựng nhà ở
Các dự án đầu tư xây dựng công trình nói chung và xây dựng nhà ở nói riêng đều triển khai qua ba giai đoạn cơ bản là: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu
tư và hoàn thành đưa dự án vào khai thác sử dụng Nội dung cụ thê các khoản mục chi phí trong các giai đoạn này được xác định trong tông mức đâu tư quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định số 112/2009/NĐ-CP như sau:
1 1 4 1 C h i p h í x â y d ự n g
Bao gồm chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình; chi phí phá dỡ các công trình xây dựng; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công; nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
1 1 4 2 C h i p h í th iế t b ị
Bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ; chi phí đào tạo và chuyên giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh; chi phí vận chuyển, bảo hiểm; thuế và các loại phí liên quan khác
1 1 4 3 C h i p h í b ồ i th ư ờ n g , h ỗ trợ , tả i đ ịn h c ư và n ộ p tiề n s ử d ụ n g đ ấ t
Bao gồm chi phí bồi thường nhà, công trình trên đất, các tài sản gắnliền với đất theo quy định được bồi thường và chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; chi phí tái định cư; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng (nếu có); chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật (nếu có); chi phí nộp tiền
sử dụng đất hoặc tiền thuê đất
Trang 391 1 4 4 C h i p h í q u ả n lỷ d ự án
Bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện quản lý dự án từ khi lập dự
án đến khi hoàn thành, nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng và chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
1 1 4 5 C h i p h í t ư v ấ n đ ầ u t ư x â y d ự n g
Bao gồm chi phí tư vấn khảo sát, lập dự án, thiết kế, giám sát xây dựng
và các chi phí tư vấn khác liên quan
B ảng 1.1 Phân đoạn vốn đầu tư xây dựng dự án nhà ở
Trang 40- Nhà ở thương mại: là nhà ở do tố chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tu xây dựng để bán, cho thuê theo cơ chế thị trường.
- Nhà ở xã hội: là nhà ở do nhà nước hoặc tô chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Luật Nhà ở (bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức, s ĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kỉnh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và
chế do Nhà nước quy định
- Nhà ở công vụ: là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho một số đối tượng quy định tại Điều 60 của Luật Nhà ở thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác theo cơ chế do Nhà nước quy định, các đối tượng quy định tại Điều
60 của Luật Nhà ở bao gồm:
+ Cán bộ, công chức thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội được điều động, luân chuyến theo yêu cầu công tác mà chưa
có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại địa phương nơi đến công tác
+ Sĩ quan chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được điều động, phục vụ theo yêu cầu quốc phòng, an ninh
+ Cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước thuộc diện ở nhà ở công vụ trong thời gian đảm nhận chức vụ
1 2 1 2 Đ ịn h n g h ĩa v à n ộ i d u n g c ủ a d ự án
D ự án đầu tư xây dựng nhà ở là tập họp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ von đê xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo nhĩmg công trình xảy d\mg với mục đích đề ở và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cả nhân trong một thời gian nhất định.