Hiện nay, hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty Cổ phần Chứng Khoán Bảo Việt tập trung vào ba loại chứng khoán hiện có trên thị trường là Cổ phiếu, Trái phiếu
Trang 1PHẠM TRÂM ANH
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT GIAI ĐOẠN 2015-2025
Chuyên ngành: Kinh tế Đầu tư
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ MAI HƯƠNG
Hà Nội, năm 2020
Trang 2chứng khoán của Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2025” là
do cá nhân tôi nghiên cứu, dưới sự hỗ trợ hướng dẫn của TS Trần Thị Mai Hương Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2020
Học viên thực hiện
LỜI CẢM ƠN
Trang 3́ th ầy cô trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình hoc ̣ tâp ̣
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Mai Hương đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến các đồng nghiệp đang công tác tại Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt đã cung cấp các thông tin, số liệu giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của Quý thầy cô và các bạn
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 41.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
1.3 Mục đích nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 8
2.1 Công ty chứng khoán 8
2.1.1 Khái niệm 8
2.1.2 Mô hình tổ chức của các Công ty chứng khoán 9
2.1.3 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 11
2.1.4 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 14
2.2 Hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán 17
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động tự doanh chứng khoán 17
2.2.2 Mục đích và yêu cầu của hoạt động tự doanh chứng khoán 20
2.2.3 Phân loại hoạt động tự doanh 23
2.2.3.1 Phân loại theo đối tượng đầu tư 23
2.2.3.2 Phân loại theo mục tiêu đầu tư 25
2.2.4 Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh 28
2.2.4.1 Xây dựng chiến lược đầu tư 29
2.2.4.3 Phân tích, đánh giá cơ hội đầu tư 30
2.2.4.4 Xây dựng danh mục đầu tư và thực hiện đầu tư 32
2.2.4.5 Quản lý danh mục đầu tư và thu hồi vốn 33
2.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán 34
2.2.6 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán 37
Trang 52.3.2 Những nhân tố chủ quan 41
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT GIAI ĐOẠN 2015-2019 45
3.1 Tổng quan về Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt 45
3.1.1 Giới thiệu chung 45
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 46
3.1.3 Cơ cấu tổ chức 47
3.1.4 Các sản phẩm dịch vụ chính của Công ty 49
3.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của BVSC giai đoạn 2015-2019 50
3.2 Thực trạng hoạt động Đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt 52
3.2.1 Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại BVSC 52
3.2.1.1 Xây dựng chiến lược đầu tư 54
3.2.1.2 Tìm kiếm thông tin về các loại chứng khoán 55
3.2.1.3 Phân tích, đánh giá các loại chứng khoán 56
3.2.1.4 Xây dựng danh mục đầu tư 59
3.2.1.5 Thực hiện đầu tư và quản lý danh mục đầu tư 61
3.2.1.6 Kiểm tra và đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư 63
3.2.2 Quy mô của hoạt động tự doanh 63
3.2.3 Danh mục đầu tư trong hoạt động tự doanh chứng khoán 65
3.2.3.1 Tự doanh cổ phiếu 65
3.2.3.2 Tự doanh trái phiếu 68
3.2.3.3 Tự doanh chứng chỉ quỹ 69
3.2.4 Kỹ thuật phân tích 72
3.2.4.1 Phân tích cơ bản 72
3.2.4.2 Phân tích kỹ thuật 73
3.2.4.3 Ví dụ minh họa 75
3.2.5 Quản trị rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt 81
3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động tự doanh của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2019 84
3.3.1 Những kết quả đạt được 84
Trang 6ty 87 3.3.1.4 Sự đa dạng hóa danh mục đầu tư 89 3.3.2 Một số hạn chế trong hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt 90 3.3.2.1 Tổng vốn đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh còn thấp 90 3.3.2 2 Tỷ suất sinh lời của danh mục đầu tư còn thấp so với các công ty chứng khoán khác 91 3.3.2.3 Danh mục đầu tư của công ty chưa đa dạng hóa hoàn toàn 92 3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 93
CHƯƠNG IV: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG
KHOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT 101
4.1 Định hướng phát triển hoạt động tự doanh của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt đến năm 2025 101 4.1.1 Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2025 101 4.1.2 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt đến năm
2025 103 4.1.3 Định hướng của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại BVSC đến năm 2025 106 4.2 Một số giải pháp cho hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt 107 4.2.1 Mở rộng quy mô vốn đầu tư cho hoạt động tự doanh 107 4.2.2 Đào tạo và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ tự doanh tại BVSC 108 4.2.3 Hoàn thiện quy trình tự doanh 109 4.2.4 Tăng cường áp dụng các kỹ thuật phân tích trước khi thực hiện đầu tư 112 4.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý rủi ro với hoạt động đầu
tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán 114 4.3 Kiến nghị 116
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 87 HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh cơ bản của BVSC giai đoạn
2015-2019 51
Bảng 3.2 Thành phần và trách nhiệm của các bộ phận tham gia hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại BVSC 53
Bảng 3.3: Các nhóm ngành tại sàn HOSE do phòng đầu tư phân loại 55
Bảng 3.4: Phân bổ vốn đầu tư theo các loại hình chứng khoán……….……… 63
Bảng 3.5: Hạn mức phân bổ và sử dụng vốn tự doanh cho các ngành 65
Bảng 3.6: Giá trị danh mục cổ phiếu trong hoạt động tự doanh 67
Bảng 3.7: Tình hình nắm giữ cổ phiếu và các mã chứng khoán đã bán tính đến thời điểm 30/06/2020 67
Bảng 3.8 Hạn mức phân bổ vốn cho các loại trái phiếu trong danh mục tự doanh tại BVSC 68
Trang 9Bảng 3.11: Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại BVSC giai đoạn 2015-2019 85 Bảng 3.12: Doanh thu từ hoạt động tự doanh giai đoạn 2015-2019 86 Bảng 3.13: Doanh thu từ hoạt động tự doanh so với tổng doanh thu của BVSC giai đoạn 2015-2019 88 Bảng 3.14: Tỷ suất sinh lời của danh mục đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh của một số công ty chứng khoán 92
Biểu đồ 3.1 : Hạn mức phân bổ vốn cho các loại hình chứng khoán giai đoạn
2015-2019 64 Biểu đồ 3.2: Doanh thu từ hoạt động tự doanh so với tổng doanh thu giai đoạn 2015-2019 88 Biểu đồ 3.3: Tổng vốn đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại một số công
ty chứng khoán 91
Sơ đồ 2.1: Quy trình hoạt động tự doanh 28
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức nhân sự tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt 48
Sơ đồ 3.3: Quy trình hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại BVSC 54
Sơ đồ 3.4: Danh mục đầu tư của Phòng đầu tư Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt năm 2019 89
Hình 3.1 Đồ thị phân tích kĩ thuật mã PVS 80
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000, đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua 20 năm hoạt động Trong 20 năm, quy mô TTCK đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng góp vai trò là kênh dẫn vốn trung
và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán hoạt động mạnh mẽ Hiện nay, các hoạt động chủ yếu tại công ty chứng khoán bao gồm : Hoạt động môi giới chứng khoán; hoạt động tự doanh chứng khoán; hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoạt động tư vấn đầu tư; các dịch vụ chứng khoán và các dịch vụ tài chính, tư vấn tài chính khác Trong đó, hoạt động tự doanh chứng khoán của các CTCK là một hoạt động đầu tư chiếm phần lớn trong tổng doanh thu của đa số các CTCK, bên cạnh hoạt động tư vấn và môi giới chứng khoán
Đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh là hoạt động quan trọng nhất đối với CTCK nhằm thu lợi cho chính mình Tự doanh chứng khoán đã đem lại cho các CTCK thông tin, diễn biến về tình hình biến động của các loại chứng khoán trên thị trường, từ đó giúp công ty đưa ra các chiến lược kinh doanh hợp lý Hoạt động
tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường đồng thời tạo ra quan hệ giữa các CTCK và các bạn hàng từ đó nảy sinh các mối quan hệ tốt đẹp khác
Cũng như các công ty chứng khoán khác, Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt coi tự doanh chứng khoán là một trong những nghiệp vụ cơ bản quan trọng bậc nhất Hàng năm lợi nhuận thu về tự doanh chứng khoán luôn chiếm khoảng 30% trong cơ cấu lợi nhuận của BVSC Hiện nay, hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty Cổ phần Chứng Khoán Bảo Việt tập trung vào ba loại chứng khoán hiện có trên thị trường là Cổ phiếu, Trái phiếu và Chứng chỉ quỹ
Trang 12Đối với đầu tư cổ phiếu, Bộ phận tự doanh tại BVSC chỉ đầu tư với mục tiêu hưởng chênh lệch giá và cổ tức; Các mã cổ phiếu trong danh mục đầu tư chỉ tập trung vào các công ty lớn, có quy mô vốn hóa lớn và khả năng thanh khoản cao Đối với đầu
tư trái phiếu, với tiêu chí đặt an toàn lên hàng đầu, ban lãnh đạo công ty đã dành 70% vốn đầu tư trái phiếu cho trái phiếu chính phủ và 30% còn lại cho trái phiếu doanh nghiệp Đối với tự doanh chứng chỉ quỹ, có 2 mã chứng chỉ quỹ mở được đầu tư là E1VFVN30 và FUESSV50
Phạm vi và quy mô hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại BVSC phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn và mức dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán của công ty Hoạt động đầu tư này đem lại công ty chứng khoán những khoản lợi nhuận lớn từ lợi tức (như cổ tức, trái tức, lợi tức cổ phần quỹ đầu tư v.v…) và hưởng chênh lệch giá Ngoài ra, hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh giúp BVSC nắm giữ số lượng chứng khoán rất lớn, trong khi chứng khoán lại
là một công cụ có khả năng thanh khoản cao và mang lại lợi nhuận lớn Chính vì có nguồn chứng khoán dự trữ lớn, khả năng thanh toán của Công ty được đảm bảo ổn định hơn Nhờ nguồn chứng khoán dự trữ, Công ty có thể vay vốn từ các trung tâm thanh toán và lưu ký chứng khoán, các ngân hàng hay các CTCK khác để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình
Tuy nhiên, thực tế hiện nay hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại BVSC vẫn còn tồn tại những hạn chế như quy mô vốn đầu tư còn nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng, danh mục đầu tư của hoạt động tự doanh còn chưa
đa dạng hóa tối ưu.… Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt đã có nhiều biện pháp
để tăng hiệu quả của hoạt động này như đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban từ khâu theo dõi, cập nhật tình hình thị trường đến khâu đánh giá, nhận định, dự báo, xây dựng chiến lược đầu tư, xây dựng các tiêu chí cảnh báo đến quy trình tác nghiệp, phối hợp xử lý trong các tình huống đặc thù Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động tự doanh vẫn chưa đạt được như mong đợi, tỷ suất sinh lời của danh
Trang 13mục tự doanh vẫn chưa cao so với các công ty chứng khoán khác, đã phần nào làm giảm tên tuổi của BVSC trên thị trường chứng khoán
Trên ý nghĩa ấy, tôi chọn đề tài: “Đầu tƣ chứng khoán theo hình tự doanh chứng khoán của Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2025”
làm luận văn thạc sỹ của mình
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán là một trong những nghiệp vụ cơ bản của các công ty chứng khoán, là hoạt động mang lại nguồn doanh thu lớn hàng năm cho các CTCK Chính vì vậy, ở Việt Nam trong những năm gần đây, hoạt động này cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh Trong số đó, có thể kể đến một số đề tài sau:
Giáo trình “Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán” của PGS TS Thái Bá Cần chủ biên, được xuất bản năm 2015, Khoa Tài Chính – Trường ĐH Kinh doanh Công nghệ Hà Nội Giáo trình đã đưa ra các cơ sở lý luận chi tiết về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán như định nghĩa về hoạt động tự doanh, mục đích của hoạt động
tự doanh, điều kiện để thực hiện hoạt động tự doanh Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan nhất về hoạt động tự doanh
Luận văn thạc sĩ: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự doanh tại công
ty chứng khoán Maritime bank” của Ths Cao Xuân Tuyến (2014), Học Viện Tài Chính Luận văn nghiên cứu về hoạt động tự doanh chứng khoán, phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động tự doanh đồng thời đưa ra giải pháp nhằm phát triển hoạt động tự doanh Tuy nhiên công trình vẫn còn nhiều thiếu sót như chưa nêu ra được mục đích và yêu cầu của hoạt động tự doanh ở phần cơ sở lý thuyết Phần đánh giá thực trạng của hoạt động tự doanh còn sơ sài, mới chỉ nêu ra được những thành tựu
và hạn chế mà chưa có được dẫn chứng rõ ràng
Trang 14Luận văn thạc sĩ: “ Thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty CP Chứng khoán VNDirect” của Thạc sỹ Lê Thành Trung (2010) nghiên cứu về thực trạng hoạt động tự doanh chứng khoán trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh Tuy nhiên, Công trình này chưa nêu ra được cơ sở lý luận về công ty chứng khoán và hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ
tự doanh Người đọc chưa có cái nhìn tổng thể về hoạt động tự doanh, từ đó khó có thể hiểu và theo dõi toàn bộ bài nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ: “ Hoạt động tự doanh chứng khoán tại công ty CK Ngân hàng Công thương Việt Nam” của Thạc sỹ Dương Văn Cường (2007) nghiên cứu
về hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty chứng khoán ngân hàng Công thương Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động tự doanh chứng khoán Tuy nhiên, bài viết chưa trình bày được các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động tự doanh, do đó phần đánh giá thực trạng của hoạt động tự doanh còn chung chung và chưa có số liệu dẫn chứng cụ thể Những giải pháp phát triển hoạt động tự doanh được tác giả nêu ra còn sơ sài, chưa bám sát vào những hạn chế của hoạt động tự doanh tại công ty
Khoảng trống trong nghiên cứu
Mặc dù các công trình đã nghiên cứu trên về hoạt động tự doanh chứng khoán nhưng các công trình đã công bố chủ yếu mới chỉ nên ra được những có sở lý luận chung nhất về hoạt động tự doanh chứng khoán Đa số các công trình nghiên cứu đều chưa trình bày được rõ mục đích và yêu cầu của hoạt động tự doanh chứng khoán, chưa trình bày rõ ràng được một quy trình tự doanh chung cho các công ty chứng khoán Các nghiên cứu hiện có đều chưa nêu ra được bộ các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào về hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại Công ty cổ phần
Trang 15Chứng khoán Bảo Việt, từ thực trạng hoạt động tự doanh , những kết quả và hạn chế đến nguyên nhân – giải pháp và định hướng cho hoạt động tự doanh tại Công ty
CP chứng khoán Bảo Việt cho những năm tiếp theo
Đề tài: “Đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại Công
ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt Giai đoạn 2015-2025” là một thử thách đối với tôi Tuy nhiên, do công tác tại Công ty chứng khoán nên tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này nhằm tăng cường hiểu biết cá nhân đồng thời mong muốn sẽ đóng góp cho các CTCK nói chung và Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt nói riêng có thêm một góc nhìn mới về hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán, từ đó có thể hạn chế những tác động không mong muốn cho các Công
ty chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.3 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận về công ty chứng khoán và hoạt động đầu tư
chứng khoán theo hình thức tự doanh tại các Công ty chứng khoán
- Vận dụng nhứng kiến thức về chứng khoán và kinh nghiệm thực tế để phân
tích thực trạng của hoạt động tự doanh chứng khoán tại BVSC Từ đó đánh giá những kết quả, hạn chế và đưa ra được những nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại
Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cho hoạt động đầu tư chứng khoán theo
hình thức tự doanh chứng khoán tại BVSC
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại CTCP Chứng khoán Bảo Việt Vấn đề nghiên cứu
Trang 16luôn gắn với mục tiêu chiến lược kinh doanh, gắn với các quy định về quản lý hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh của nhà nước và của Công ty
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn này chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động đầu
tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán - một hoạt động cơ bản nhưng
đặc biệt quan trọng của CTCP Chứng khoán Bảo Việt
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại BVSC trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2019, tầm nhìn đến năm 2025
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Sau khi xác định những thông tin cần thiết, đề tài sử dụng số liệu quá khứ về Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt được thu thập từ nguồn dữ liệu công ty như Báo cáo tài chính hàng năm, từ báo cáo ngành của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tài liệu nội bộ từ Phòng đầu tư của công ty … để nắm được thực trạng hoạt động tự doanh của BVSC
Đề tài luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận
văn Phân tích để làm rõ một số cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh như phân tích đặc điểm của hoạt động tự doanh chứng khoán; phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh chứng khoán Phương pháp này còn được dùng để phân tích sự thực trạng của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán tại BVSC như phân tích sự thay đổi của tổng vốn đầu tư cho hoạt động tự doanh, phân tích sự biến động về doanh thu, lợi nhuận của hoạt động này trong giai đoạn 2015-2019; phân tích những kết quả , hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đới với hoạt động
Trang 17đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh để đưa ra được những giải pháp thiết thực nhất
- Phương pháp tổng hợp: Với phương pháp này, luận văn đã tổng hợp các cơ sở lý
luận về công ty chứng khoán và hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh; sau đó sắp xếp, trình bày một cách hệ thống tiêu chí theo logic để làm căn
cứ để phân tích và đưa ra các quan điểm đánh giá, nhận xét hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2019
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: được dùng để so sánh sự biến động các số liệu
về nguồn vốn, doanh số, lợi nhuận của hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh tại công ty Chứng khoán Bảo Việt theo thời gian theo thời gian So sánh sự khác biệt của số liệu theo các chỉ tiêu khác nhau, các đối tượng khác nhau để tìm ra xu hướng biến động khi phân tích thực trạng hoạt động tự doanh
và đưa ra đánh giá về hoạt động này tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2019
1.6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 4 chương :
Chương I: Tổng quan nghiên cứu
Chương II: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Chương III: Thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2019 Chương IV: Định hướng và một số giải pháp cho hoạt động đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán của Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt
Trang 18CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO HÌNH THỨC TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
2.1 Công ty chứng khoán
2.1.1 Khái niệm
Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán nêu rõ: “Công ty là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.”
Theo Nghị định số 144/2003/NĐCP ngày 28.11.2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ đông
Đại hội cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã đề ra
Ưu điểm của công ty cổ phần: Đây là loại hình công ty tồn tại liên tục không phụ
thuộc vào việc thay đổi cổ đông Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất đinh Nếu công ty thua lỗ và phá sản, cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã đầu tư vào công ty Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo
Trang 19mô hình công ty cổ phần và được niêm yết tại Sở giao dịch uy tìn và tên tuổi của công ty cũng được nâng cao
Do các ưu điểm trên, ngày nay các công ty chứng khoán chủ yếu tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, thậm chí nhiều nước còn quy định công ty chứng khoán bắt buộc là công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đây là loại công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn trong số vốn mà họ đã góp Vì thế điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với người đầu tư Mặt khác, về phương diện huy động vốn, cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh Đồng thời, vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh Vì những lý do đó, rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty hợp danh
Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên Thành viên tham gia vào quá
trình ra quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình Ngược lại, các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty giới hạn trong số vốn góp của họ Thông thường khả năng huy động vốn của công ty bị giới hạn trong số vốn mà các hội viên
có thể đóng góp
2.1.2 Mô hình tổ chức của các Công ty chứng khoán
Về mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán có thể khái quát thành hai mô hình
đó là: Mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Trang 20Mô hình công ty chứng khoán đa năng:
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ tài chính Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư các là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hoá, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro do hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu đựng các biến biến động của TTCK là cao Mặt khác, các ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán, khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác, theo
mô hình này, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường, và nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh
Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh:
Hoạt động của các công ty chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham
gia kinh doanh chứng khoán Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hoá cao
hơn Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là rất nhỏ bé, đặc biệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực thương mại ngắn hạn, trong khi hoạt động của TTCK thuộc
Trang 21lĩnh vực vốn dài hạn Khả năng khắc phục những yếu điểm này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài Do đó, để bảo vệ an toàn cho các ngân hàng, pháp luật Việt Nam có quy định các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập một Công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng
2.1.3 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán
Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán
Sản phẩm của các CTCK chính là dịch vụ cung cấp cho khách hàng Do đó, một số chức năng chính của CTCK là: CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và
bảo lãnh phát hành); Cung cấp cơ chế giá cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh); Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán (Hoàn chuyển từ chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách dễ dàng); Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò tạo lập thị trường)
Vai trò của công ty chứng khoán
Vai trò của CTCK được thể hiện qua các hoạt động của CTCK Thông qua các hoạt động này, CTCK đã thực sự tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung CTCK đã trở thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của TTCK
Đối với các tổ chức phát hành
Trên lý thuyết khi doanh nghiệp cần huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán thì họ có thể tự chào bán chứng khoán của mình đến các nhà đầu tư Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức phát hành không thể làm tốt điều này do họ không có một bộ máy chuyên nghiệp trong lĩnh vực này để thực hiện Do đó, họ cần một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra để mua bán chứng khoán cho họ Mặt khác, một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK đó là nguyên tắc trung gian
Trang 22Theo nguyên tắc này, các nhà phát hành và nhà đầu tư không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán Vì vậy, các CTCK với
cơ cấu tổ chức phù hợp, trình độ chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ sẽ thực hiện vai trò trung gian cho nhà đầu tư và các chủ thể phát hành Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các tổ chức phát hành
Đối với các nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả chứng khoán thường xuyên biến động cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian để tìm hiểu thông tin trước khi đưa ra các quyết định đầu tư
CTCK lại có những đặc thù riêng Do họ có trình độ chuyên môn cao và có một hệ thống thu thập và xử lý thông tin để làm cơ sở cho hoạt động tư vấn điều mà các nhà đầu tư cá nhân không thể có được nên CTCK trở thành nơi cung cấp những nguồn thông tin đáng tin cậy nhất
Vì vậy, thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, CTCK giúp nâng cao hiệu quả của các khoản đầu tư bằng cách giảm chi phí và thời gian giao dịch
Vai trò đối với thị trường chứng khoán:
Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán có 2 vai trò chính:
Thứ nhất: Công ty chứng khoán góp phần tạo lập thị trường thông qua việc điều tiết thị trường và tạo lập giá cả
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh chứng khoán cho các tổ chức phát hành, CTCK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá chào bán hợp lý đối với các chứng khoán Thông thường, mức giá phát hành do các CTCK xác định trên cơ sở xác định giá trị của doanh nghiệp và thông qua việc tiếp xúc, tìm hiểu và thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn
Trang 23trong đợt phát hành và tư vấn cho tổ chức phát hành Mặt khác, CTCK cũng là những thành viên của thị trường, do vậy, họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua hoạt động đấu giá
Trên thị trường thứ cấp, dù đó là thị trường đấu giá hay đấu lệnh, giá chứng khoán được xác định theo quy luật cung cầu của thị trường, do đó với hoạt động tư vấn của mình, CTCK đã luôn giữ vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về khoản đầu tư của họ
Bên cạnh đó, để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích cho chính mình, nhiều CTCK đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường
Thứ hai, CTCK góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
Như chúng ta đã biết, TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Nhưng các CTCK mới là những người thực hiện tốt
vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường
Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các hoạt động bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các CTCK không những huy động được một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho các tổ chức phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trên thị trường thứ cấp Điều này làm giảm tính rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư chứng khoán
Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua bán, các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách thuận tiện, nhanh chóng, ít tốn kém và ít thiệt hại nhất Chính những hoạt động này đã làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính
Đối với cơ quan quản lý thị trường
Trang 24Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các
cơ quan quản lý thị trường Thật vậy, các CTCK là thành viên hoạt động thường xuyên, liên tục trên TTCK theo nguyên tắc trung gian và công khai Với ưu thế nắm
rõ tính hình của các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu tư thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, trung gian mua bán, CTCK là nơi cung cấp các thông tin về các loại chứng khoán, các giao dịch, về tổ chức phát hành, nhà đầu tư và các biến động của thị trường một cách cập nhật, chính xác và tổng hợp nhất Dựa vào nguồn thông tin này, cơ quan quản lý thị trường có thể theo dõi, giám sát toàn cảnh hoạt động của TTCK để từ đó đưa ra các quyết định, chính sách phù hợp, đúng đắn, kịp thời, đảm bảo cho hoạt động của TTCK diễn ra một cách trật tự, an toàn và hiệu quả
Như vậy, thông qua trung gian là các CTCK, các cơ quan quản lý nâng cao được nâng cao năng lực quản lý để duy trì sự hoạt động lành mạnh của một thị trường tự do nhất trong tất cả các thị trường
2.1.4 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới chứng khoán được hiểu là hoạt động mà công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện lệnh mua bán cho khách hàng – nhà đầu tư Như vậy về phía khách hàng sẽ ra các quyết định mua, bán loại chứng khoán, khối lượng, giá cả, thời điểm mua bán Nhà đầu tư sẽ hưởng và chịu trách nhiệm về kết quả của việc mua bán đồng thời phải trả phí cho công ty chứng khoán Số tiền hoa hồng môi giới được tính trên tỉ lệ % doanh số mua, bán đã thực hiện cho khách hàng
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán và nhà đầu tư mua chứng khoán Do đó, nhà môi giới chứng khoán cần có đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp trong công việc, thái độ quan tâm tới khách hàng
Trang 25Hoạt động bảo lãnh và phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua
số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành, hoặc hỗ trợ
tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng
Tổ chức bảo lãnh phát hành là CTCK được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và ngân hàng thương mại được UBCK chấp thuận bảo lãnh phát hành trái phiếu theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định
Theo thông tư 210/2012/TT-BTCCTCK hướng dẫn về thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, CTCK chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh CK; vốn pháp định để thực hiện nghiệp vụ tự doanh CK là 100 tỷ đồng, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là
165 tỷ đồng
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một
số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng Các sản phẩm tư vấn bao gồm tư vấn tài chính doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán
Đây là nghiệp vụ mà sử dụng chủ yếu các kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của CTCK Do đặc điểm riêng của hoạt động tư vấn chứng khoán là giá cả thường xuyên biến động nên việc tư vấn
về giá trị chứng khoán rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích Đặc biệt là với hoạt động này, các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về giá trị và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán, việc này có thể do
Trang 26khả năng của họ hoặc do họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi Do vậy, đây là một trong những hoạt động nghiệp vụ cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn nhất định trong khi thực hiện công việc
Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là hoạt động mà trong đó CTCK thực hiện mua và bán chứng khoán cho chính mình Chứng khoán ở đây có thể là chứng khoán niêm yết hoặc chưa niêm yết Ngoài ra, CTCK có thể tự doanh chứng khoán lô lẻ của khách hàng, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để giao dịch trên thị trường chứng khoán Mục đích của CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh là nhằm thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất của CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận Tuy nhiên, do hoạt động tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên theo quy định tại Điều 53 Thông tư 210/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạt động công ty chứng khoán do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, các CTCK phải tổ chức thực hiện hai hoạt động ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó được thực hiện cả hai hoạt động và CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình
Các nghiệp vụ phụ trợ
Nhìn chung, các hoạt động hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các hoạt động phụ trợ của CTCK bao gồm:
- Hoạt động lưu ký chứng khoán:
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng của Trung tâm lưu ký chứng khoán và giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán
Trang 27Việc lưu ký chứng khoán được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán Các thành viên lưu ký bao gồm các CTCK và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán Khi thực hiện hoạt động lưu ký chứng khoán, CTCK sẽ thu phí liên quan đến lưu ký chứng khoán như phí gửi, phí chuyển nhượng chứng khoán
- Hoạt động tín dụng:
Bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán để hưởng hoa hồng, CTCK còn cung cấp dịch vụ cho khách hàng vay chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho vay ký quỹ Nghiệp vụ tín dụng là một hoạt động thông dụng tại các thị trường chứng khoán phát triển Còn đối với các thị trường mới nổi như Việt Nam, hoạt động này còn bị hạn chế
2.2 Hoạt động đầu tƣ chứng khoán theo hình thức tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động tự doanh chứng khoán
Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động của CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường, nên CTCK có những lợi thế nhất định khi tiến hành hoạt động tự doanh như: CTCK có thể dự đoán diễn biến của thị trường, nắm được xu thế giao dịch; có nhân viên đại diện sàn, nên họ biết thông tin đầy đủ về quan hệ cung cầu đối với từng chứng khoán và không phải nghĩ đến phí giao dịch khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Hoạt động tự doanh của mỗi CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn được coi là hoạt động giao dịch của một nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp có những tác động nhất định tới giá cả của thị trường Do đó, CTCK có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường Khi
Trang 28thực hiện nghiệp vụ tự doanh, mục đích quan trọng nhất đối với CTCK tất yếu là nhằm thu lợi cho chính mình Tại Việt Nam, theo điều 6 Luật chứng khoán Số:
27/VBHN-VPQH quy định: “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình” Như vậy, Tự doanh là hoạt động tự
mua bán chứng khoán cho mình để hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán Nói cách khác, tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán nhằm thu chênh lệch giá (mua thấp, bán cao) Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện ở SGD
và thị trường OTC Tại SGD hoạt động mua bán này cũng được tiến hành như hoạt động của nhà đầu tư thông thường Trên thị trường OTC, hoạt động tự doanh có thể được thực hiện trực tuyến giữa công ty với các đối tác, thông qua hoạt động tạo thị trường hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động
Tự doanh chứng khoán được thực hiện theo phương thức giao dịch trực
tiếp hay gián tiếp
- Giao dịch trực tiếp
Là các giao dịch “trao tay” giữa khách hàng và công ty chứng khoán theo giá thỏa thuận trực tiếp Các đối tác giao dịch do các tổ chức tự “đấu mối”, họ có thể là cá nhân hay tổ chức (chủ yếu là các công ty chứng khoán) Thời gian giao dịch thường được thực hiện trong và ngoài giờ giao dịch của Sở (Trung tâm) giao dịch Chứng khoán giao dịch rất đa dạng (chủ yếu là chứng khoán không niêm yết, chứng khoán mới phát hành) Các đối tác giao dịch thường trực tiếp thực hiện các thủ tục thanh toán và chuyển nhượng chứng khoán Vì vậy, trong giao dịch này không có bất kỳ một loại phí nào, riêng phí thanh toán do bên thụ hưởng chịu, phí chuyển khoản chứng khoán do bên chuyển nhượng chịu Các hoạt động này không chịu sự giám sát của Sở (trung tâm) giao dịch nhưng chịu sự giám sát của Thanh tra Nhà nước về chứng khoán
- Giao dịch gián tiếp
Trang 29Là các giao dịch mà công ty chứng khoán không thể thực hiện được bằng giao dịch trực tiếp để đảm bảo an toàn khi giá chứng khoán có biến động lớn và đôi khi có thể vì mục đích can thiệp vào giá thị trường Thao tác giao dịch này cũng được thực hiện tương tự như giao dịch theo ủy thác, hay nói cách khác, trên Sở (trung tâm) giao dịch không có sự phân biệt giao dịch theo ủy thác và giao dịch tự doanh Do giao dịch qua Sở (trung tâm) giao dịch, nên công ty chứng khoán phải chịu các chi phí môi giới lập giá, chi phí thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán
Hoạt động tự doanh chứng khoán có đặc điểm:
Thứ nhất, hoạt động tự doanh của CTCK mang tính chuyên nghiệp cao Tính
chuyên nghiệp được thể hiện trước hết ở trình độ và khả năng của các cán bộ thực hiện hoạt động tự doanh Họ phải là những người có kiến thức chuyên sâu, có khả năng phân tích, là người có khả năng đưa ra được các quyết định đúng đắn trong hoạt động tự doanh và phải làm việc dưới những áp lực lớn Bên canh đó, tính năng động và tự chủ của họ luôn được đề cao trong các quyết định đầu tư và kinh doanh chứng khoán Song quá trình đầu tư và kinh doanh chứng khoán này đều phải tuân theo những quy trình đầu tư chặt chẽ nhằm bảo đảm tính hiệu quả và an toàn trong đầu tư Quy trình đầu tư đưa ra các bước cần thiết để thực hiện một phương án đầu
tư, đồng thời cũng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các đối tượng tham gia hoạt động tự doanh của công ty Bên cạnh đó, hoạt động tự doanh của CTCK luôn mang tính chiến lược, có định hướng đồng thời dựa vào các phân tích thị trường và mục tiêu trong từng giai đoạn hoạt động mà CTCK có thể đưa ra các chiến lược đầu
tư và chính sách quản trị danh mục đầu tư một cách phù hợp nhất
Thứ hai, do có tiềm lực tài chính mạnh và hoạt động có tính chuyên nghiệp
cao nên quy mô đầu tư của CTCK lớn và danh mục đầu tư đa dạng Hoạt động tự doanh của CTCK không chỉ tập trung vào một thị trường, một ngành nghề hay một công ty mà CTCK đầu tư trên nhiều thị trường từ thị trường tập trung đến thị trường phi tập trung cả trong và ngoài nước với nhiều ngành nghề khác nhau Dựa vào những lợi thế có được của một tổ chức tài chính trung gian các CTCK có khả năng
Trang 30tìm ra những cơ hội đầu tư với chi phí thấp nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro
Thứ ba, hoạt động tự doanh của CTCK luôn chứa đựng nhiều rủi ro, do đó
trong hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán của mình, các CTCK đều sử dụng các công cụ phòng vệ như option, future Việc sử dụng các công cụ phòng vệ của các CTCK hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như việc sử dụng rộng rãi các công cụ phòng vệ trong hoạt động đầu tư, chiến lược phát triển, chính sách quản lý danh mục đầu tư của công ty Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng hoạt động
tự doanh chứng khoán của các CTCK vẫn luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, tương tự như những rủi ro các nhà đầu tư gặp phải, thậm chí với quy mô khoản đầu tư lớn, nếu gặp phải rủi ro, hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn bình thường, bởi vậy trong hoạt động tự doanh của mình, các CTCK đều sử dụng các công cụ phòng vệ để phòng tránh rủi ro Việc sử dụng các công cụ phòng vệ hữu hiệu đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cả yếu tố khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan thể hiện ở sự phát triển của thị trường với việc sử dụng rộng rãi của các công cụ phòng
vệ trong hoạt động đầu tư như hợp đồng tương lai, quyền chọn; Yếu tố chủ quan thuộc về công ty bao gồm các yếu tố về nhân lực, chiến lược phát triển, chính sách quản lý danh mục đầu tư
2.2.2 Mục đích và yêu cầu của hoạt động tự doanh chứng khoán
Mục đích:
Đối với CTCK, mục đích của hoạt động tự doanh là thu chênh lệch giá chứng khoán cho chính mình Phạm vi kinh doanh bị phụ thuộc và nguồn vốn và mức dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán Chứng khoán là một công cụ tài chính có chức năng thanh khoản cao và khả năng tạo lợi nhuận lớn Hoạt động tự doanh CK tại các Công ty chứng khoán nhằm mục đích:
Trang 31- Kinh doanh đầu tư: Việc đầu tư chứng khoán đem lại cho các Công ty chứng khoán các khoản lợi nhuận từ lợi tức CK (cổ tức, trái tức, lợi tức cổ phần quỹ đầu tư v.v…) và chênh lệch giá Ngược lại, khi thị giá bị tụt giảm thì các khoản lãi khó có thể bù đắp được phần mất giá Vì vậy, các Công ty chứng khoán rất thận trọng trong việc hoạch định chiến lược đầu tư và đầu
- Can thiệp bảo vệ giá khi giá chứng khoán bị biến động bất lợi do tình hình hoạt động chung của thị trường: các công ty chứng khoán thực hiện các giao dịch mua bán nhằm ổn định lại thị trường theo yêu cầu can thiệp của cơ quan quản lý và tự bảo vệ mình hay khách hàng của mình khi thực hiện các đợt phát hành hay bảo lãnh phát hành
- Thu lợi: Với lợi thế về thông tin và sở trường phân tích, ngoài mục đích tích lũy chứng khoán phục vụ khách hàng, hoạt động đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán thường là đầu tư chờ chênh lệch giá, hoặc nhằm thực hiện các giao dịch khi có chênh lệch giá tại các thị trường khu vực
Yêu cầu:
Yêu cầu đối với CTCK trong hoạt động tự doanh chứng khoán là:
Một là, Tách biệt quản lý Tự doanh CK là nhằm thu lợi nhuận cho chính
công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụ này hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách
Trang 32hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và tự doanh CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của chính mình Thậm chí ở một số nước còn quy định có hai loại hình CTCK là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới và CTCK
có chức năng tự doanh Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về: yếu tố con ngời, quy trình nghiệp vụ, vốn và tài sản của khách hàng và Công ty
Hai là, Ưu tiên khách hàng CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách
hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của Công ty Nguyên tắc này đảm bảo công bằng cho khách hàng trong quá trình GDCK Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các CTCK có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán trước khách hàng nếu không có nguyên tắc trên
Thứ ba, Góp phần bình ổn thị trường Các CTCK hoạt động tự doanh nhằm
góp phần làm bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các CTCK phải dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường Theo
đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán bị giảm và bán ra khi chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định
Thứ tư, Hoạt động tạo lập thị trường Khi được phát hành, các chứng khoán
mới chưa có thị trường giao dịch Để tạo thị trường cho các chứng khoán mới này các CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp hai Trên những TTCK phát triển, các nhà tạo lập thị trường sử dụng nghiệp vụ mua và bán chứng khoán trên thị trường OTC để tạo
Trang 33thị trường Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua hoăc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán khác Như vậy họ sẽ duy trì một thị trường liên tục với chứng khoán mà họ kinh doanh
2.2.3 Phân loại hoạt động tự doanh
2.2.3.1 Phân loại theo đối tượng đầu tư
Tự doanh Cổ Phiếu
Đối với tự doanh cổ phiếu, Các cán bộ tự doanh sẽ thực hiện mua bán cổ phiếu
để nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho các công ty chứng khoán trên thị trường
Cổ phiếu được hiểu đơn giản là giấy tờ có giá xác nhận quyền sở hữu cổ phần của doanh nghiệp với một số đặc điểm như: Cổ phiếu thường không có kỳ hạn, chỉ khi công ty phá sản hoặc giải thể thì cổ phiếu mới mất hiệu lực; Cổ phiếu thường có cổ tức không ổn định, phụ thuộc lớn vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Giá cổ phiếu biến động mạnh trên thị trường do chịu tác động của nhiều nhân tố; tuy nhiên cổ phiếu là loại chứng khoán có tính thanh khoản cao, dễ dàng thực hiện mua/bán trên thị trường
Khi thực hiện tự doanh cổ phiếu, các CTCK có thể được hưởng những lợi ích Bao gồm hưởng chênh lệch giá cổ phiếu, hưởng cổ tức bằng tiền hay cổ phiếu hay hưởng quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi
Tự doanh Trái phiếu
Tự doanh trái phiếu là việc các cán bộ tự doanh thực hiện mua/bán trái phiếu nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định.Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh) Trái chủ là người cho
Trang 34nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của người vay Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay Các loại trái phiếu thường xuất hiện trong danh mục đầu tư của các công ty chứng khoán bao gồm: Trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính
Thông thường đầu tư trái phiếu sẽ có lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm,
có thể mua bán lại và hưởng lãi suất tương ứng với thời gian đầu tư Đầu tư trái phiếu an toàn hơn đầu tư cổ phiếu do được ưu tiên thanh toán trước cổ đông khi doanh nghiệp phá sản Ngoài lãi suất trái phiếu thông thường, nhà đầu tư có thể nhận được lãi giá vốn nếu giá trái phiếu tăng
Tự doanh Chứng chỉ quỹ
Tự doanh chứng chỉ quỹ là việc cán bộ tự doanh thực hiện việc mua/bán các chứng chỉ quỹ cho danh mục đầu tư của mình Chứng chỉ quỹ (Exchange Traded Fund) là loại chứng khoán xác nhận một phần quyền sở hữu của nhà đầu tư đối vốn góp của quỹ đại chúng.Trong đó quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư, nhằm mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đa dạng hóa đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác Việc đầu tư
này mang mục đích phân tán rủi ro Tuy nhiên:
- Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định
đầu tư của quỹ
- Nhà đầu tư khi góp vốn vào quỹ đại chúng thì việc mua chứng chỉ quỹ để
đảm bảo cũng như xác nhận sự góp vốn của bản thân vào quỹ chung đó
So với những loại hình đầu tư khác, chứng chỉ quỹ sở hữu nhiều ưu điểm nổi bật Những đơn vị quản lý quỹ đều là những đơn vị lớn, có đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, chuyên môn cao trong lĩnh vực chứng khoán Sự tính toán đầu tư sẽ được thực hiện theo nhóm, với các nguồn thông tin phân tích xu hướng thị trường
Trang 35toàn diện, cả trong nước và quốc tế, cùng nhiều công cụ hỗ trợ chuyên biệt khác, khiến mỗi quyết định đầu tư từ quỹ có xác suất thành công (đạt lợi nhuận ở mức kỳ vọng) cao hơn nhiều so với các tính toán của cá nhân Chứng chỉ quỹ còn giúp các nhà đầu tư tránh được những biến động của thị trường, giảm thiểu được rủi ro cho nguồn tiền, bảo toàn vốn vững chắc, tăng trưởng vốn một cách hiệu quả, có thu nhập thường xuyên và được hưởng nhiều dịch vụ đi kèm từ đơn vị quản lý quỹ Chứng chỉ quỹ có tính thanh khoản cao giúp người đầu tư có thể rút một phần hoặc rút toàn bộ số tiền đã đầu tư một cách dễ dàng bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đã mua bất cứ lúc nào Đồng thời, chứng chỉ quỹ còn giúp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, ai cũng có thể dễ dàng tham gia dù không có chuyên môn về lĩnh vực đầu tư hay còn non kinh nghiệm
Tự doanh chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giá của một tài sản cơ sở Chứng khoán phái sinh quy định quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán và/hoặc chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai.Tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh có thể là hàng hóa như nông sản, kim loại, v,v hoặc công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, v.v Tự doanh chứng khoán phái sinh là việc cán bộ tự doanh thực hiện mua hoặc bán các loại chứng khoán phái sinh trên thị trường chứng khoán Các loại chứng khoán phái sinh hiện có bao gồm hợp đồng ký hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi
2.2.3.2 Phân loại theo mục tiêu đầu tư
Hoạt động đầu tƣ ngân quỹ
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải dự trữ cho mình một lượng tiền mặt nhất định để thực hiện chi trả và dự phòng cho các nhu cầu thanh toán hàng ngày
Trang 36Yêu cầu này càng đặc biệt cấp thiết đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính
Ngoài tiền mặt, các khoản dự trữ này còn được thực hiện dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng và một số chứng khoán ngắn hạn, có tính lỏng cao, dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt Hoạt động đầu tư ngân quỹ phát sinh nhằm giúp các ngân hàng, các công ty chứng khoán quản lý tốt khoản dự trữ này Bằng việc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi vào thị trường tiền tệ, họ đạt được cả hai mục đích: vừa đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa có mức sinh lời nhất định
Hoạt động đầu tƣ chênh lệch giá
Kinh doanh chênh lệch giá là việc các nhà đầu tư mua chứng khoán ở một mức giá thấp và bán chúng ở một mức giá cao hơn, phần lợi nhuận thu về là phần chênh lệch giá
Các nhà đầu tư đầu tư chỉ quan tâm đến chênh lệch giá cả trên thị trường để thực hiện đầu tư, tức là họ mong muốn tạo ra lợi nhuận nhưng không chịu rủi ro trên cơ sở khai thác sự không nhất quán về giá chứng khoán tại các thời điểm khác nhau và tại các thị trường khác nhau Công ty chứng khoán thực hiện hoạt động tự doanh cổ phiếu với chiến lược tập trung chính vào loại hình này thì chính sách đầu
tư của Công ty sẽ thiên về đầu tư trong ngắn hạn Khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng hơn giá mua vào với một tỷ lệ phần trăm nhất định, công ty sẽ thực hiện bán cổ phiếu đó trên thị trường để thu về lợi nhuận từ mức giá chênh lệch
Hoạt động đầu cơ
Các Công ty chứng khoán tiến hành đầu cơ với hy vọng kiếm được lợi nhuận thông qua hành vi chấp nhận rủi ro về giá chứng khoán Trong lĩnh vực chứng khoán, đầu cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại chứng khoán nhằm thu lợi từ sự biến động giá mạnh của chúng Do đó, khi đầu cơ, Công ty chứng khoán sẽ
Trang 37mua vào tại thời điểm giá chứng khoán thấp để bán số chứng khoán đó với giá cao hơn trong tương lai
Những công ty chứng khoán sẵn sàng chấp nhận thua lỗ cao nếu gặp rủi ro nhưng lại có thể đạt được những khoản lợi khổng lồ Hoạt động đầu cơ thường chỉ được thực hiện trong ngắn hạn và chỉ những Công ty chứng khoán cần tích tụ nhiều vốn, đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, có chính sách đầu tư mạo hiểm mới thực hiện hoạt động này
Hoạt động đầu tư phòng vệ
Công ty chứng khoán thực hiện hoạt động đầu tư phòng vệ với mục đích tự bảo vệ trước sự biến động của giá chứng khoán Để thực hiện được mục đích đó, các Công ty chứng khoán phải sử dụng đến các công cụ phòng vệ như option, future, swap,…
Đây là một loại đầu tư được thực hiện để làm giảm hoặc loại trừ rủi ro xảy đến với một loại đầu tư khác, trong khi vẫn đảm bảo một mức lợi nhuận khi thực hiện thương vụ
Hoạt động tạo lập thị trường
Tạo lập thị trường là hoạt động của Công ty chứng khoán trong đó công ty chấp nhận rủi ro nắm giữ một khối lượng nhất định của một loại chứng khoán nhất định để hỗ trợ, thúc đẩy giao dịch đối với loại chứng khoán đó
Với vai trò nhà tạo lập thị trường, Công ty chứng khoán thường xuyên yết lên các mức giá chào mua, chào bán và thực hiện mua bán theo các mức giá đó
Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
Mục đích của Công ty chứng khoán ở đây là thao túng và nắm quyền kiểm soát các tổ chức phát hành do vậy Công ty chứng khoán sẽ sẵn sàng chấp nhận một chi phí lớn nhưng hợp lý để nắm được quyền kiểm soát và trong tương lai kỳ vọng
Trang 38có thể thao túng những tổ chức đó và thu được những nguồn lợi cao Công ty chứng khoán sẽ có đầy đủ điều kiện để thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát khi có một tiềm lực tài chính mạnh và đội ngũ cán bộ có trình độ cao Với những công ty phát hành làm ăn không hiệu quả các Công ty chứng khoán hoàn toàn có thể mua lại toàn bộ hoặc một phần đủ quyền để chi phối hoặc tham gia quản lý công ty, sau đó tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh
và quản lý doanh nghiệp… của các công ty phát hành để rồi có thể đưa công ty đó niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại công ty đó cho các đối tác với giá trị cao hơn
Với xu hướng này các Công ty chứng khoán ngày càng phát triển theo mô hình một tập đoàn tài chính trung gian vừa thực hiện cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng khoán, vừa đóng vai trò là những nhà đầu tư chiến lược
2.2.4 Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh
Quy trình đầu tư chứng khoán theo hình thức tự doanh được chia thành một
số giai đoạn và thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 2.1: Quy trình hoạt động tự doanh
Nguồn: Phòng đầu tư Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
Nguồn: Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
Xây dựng danh mục đầu tƣ và thực hiện đầu tƣ
Quản lý danh mục đầu tƣ &
thu hồi vốn
Trang 392.2.4.1 Xây dựng chiến lược đầu tư
Trong giai đoạn này, CTCK phải xác định được chiến lược trong hoạt động
tự doanh của mình Đó có thể là chiến lược đầu tư chủ động, thụ động hoặc kết hợp… Chiến lược kinh doanh đầu tư của công ty phụ thuộc vào các nhân tố như thực trạng nền kinh tế (thế giới, quốc gia, ngành, doanh nghiệp), khả năng nắm bắt
và xử lý thông tin, trình độ phân tích tài chính doanh nghiệp, chính trị, xã hội và khả năng phân tích tâm lý và khả năng điều hành của ban lãnh đạo công ty
Tùy thuộc vào từng thời điểm và tình hình diễn biến thực tế của thị trường chứng khoán mà CTCK có thể lựa chọn các mục tiêu đầu tư như sau:
- Đầu tư vào các doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả, lợi nhuận cao trong
những ngành tiềm năng với kỳ vọng đạt được sự tăng trưởng mạnh trong định giá và việc trả cổ tức hàng năm diễn ra đều đặn
- Đầu tư vào các công ty có thương hiệu mạnh hay các doanh nghiệp cổ phần
hóa có quy mô lớn
- Đầu tư vào các loại chứng khoán có chọn lọc với tính thanh khoản cao
- Bảo toàn số vốn so với số lượng vốn ban đầu và sức mua không đổi nếu thị trường có biến động
2.2.4.2 Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư
Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ nhằm xác định triển vọng đem lại hiệu quả và sự phù hợp với thứ tự ưu tiên trong chiến lược và mục tiêu đã định
Nội dung của việc nghiên cứu và tìm kiếm cơ hội đầu tư là xem xét nhu cầu
và khả năng cho việc tiến hành hoạt động tự doanh, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Việc tìm kiếm cơ hội đầu tư áp dụng đối với cả chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết, trên cả thị trường thứ cấp và sơ cấp
Trang 40Đối với cổ phiếu: các cán bộ tự doanh có thể tìm kiếm cơ hội đầu tư thông qua việc nghiên cứu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: Các bài báo cáo về tình hình phát triển kinh tế chung (lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng GDP hay chỉ số CPI), các báo cáo tình hình kinh tế ngành hay Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, báo cáo thường niên Đối với trái phiếu: Các cán bộ tự doanh chủ động theo dõi biến động lãi suất thị trường trong và ngoài nước (lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc, lãi suất huy động vốn VNĐ, ngoại tệ, lãi suất trong khu vực…) mục đích phát hành và dự án sử dụng vốn phát hành, hình thức đảm bảo trái phiếu… 2.2.4.3 Phân tích, đánh giá cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phân tích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu tư Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty có nên đầu tư hay không và đầu tư với số lượng, giá cả bao nhiêu là hợp lý
Đối với cổ phiếu:
Cán bộ tự doanh tập trung phân tích từng loại cổ phiếu với những mục đích khác nhau Phương pháp phân tích là dựa vào phân tích cơ bản để chọn ra công ty tốt và chứng khoán tốt Sau đó, cán bộ tự doanh tiến hành phân tích kỹ thuật để lựa chọn thời điểm tăng giá hoặc giảm giá để đi đến quyết định đặt lệnh giao dịch