1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng duyên hải bắc bộ

98 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng duyên hải bắc bộ
Tác giả Nguyễn Thanh Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hải Yến
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh Bất động sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

------ NGUYỄN THANH NGA GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ Chuyên ngành: Quản trị Kinh doa

Trang 1

- -

NGUYỄN THANH NGA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở

KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bất động sản

Mã ngành: 8310101

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hải Yến

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là do tôi tự thực hiện và không

vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật Những nhận xét, kết quả nêu trong luận văn được tác giả rút ra từ những số liệu tổng hợp, thu thập từ các nguồn được công bố của các tổ chức trong và ngoài nước trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGUYỄN THANH NGA

Trang 3

đang công tác tại Khoa Bất động sản và Kinh tế Tài Nguyên, trường Đại học Kinh

tế Quốc dân đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt hai năm học tập và rèn luyện tại trường Vốn kiến thức này không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn mà còn là hành trang vô cùng vững chắc

để tôi ứng dụng vào trong công việc và cuộc sống của mình

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Hải Yến, người đã dành thời gian hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cơ quan chức năng đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện cung cấp thông tin dữ liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người thân - những người đã luôn ở bên tôi động viên, chia sẻ, khuyến khích cũng như tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

TÁC GIẢ LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGUYỄN THANH NGA

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ i

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ 5

1.1 Những vấn đề chung về nhà ở khu vực đô thị 5

1.1.1 Khái niệm nhà ở 5

1.1.2 Vai trò của nhà ở đối với đời sống và phát triển kinh tế 7

1.1.3 Tiêu chí phản ánh chất lượng nhà ở thông qua việc phân loại nhà ở theo mức độ kiên cố và chiều cao 10

1.2 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng 12

1.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu 12

1.2.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 12

1.2.3 Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam 13

1.2.4 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG 29

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Duyên hải Bắc Bộ 29

2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng Duyên hải Bắc Bộ 29

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Bắc Bộ 32

2.2 Thực trạng nhà ở vùng Duyên hải Bắc Bộ 34

2.2.1 Về diện tích nhà ở và số lượng hộ dân có nhà ở 34

Trang 5

2.2.4 Nhận xét chung về thực trạng nhà ở vùng Duyên hải Bắc Bộ 39

2.3 Thực trạng biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ 39

2.3.1 Đặc điểm thiên tai vùng Duyên hải Bắc Bộ 39

2.3.2 Đánh giá khả năng nhà ở thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng 47

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ 50

3.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố 50

3.1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam 52

3.1.2 Kịch bản biển đổi khí hậu cho vùng Duyên hải Bắc Bộ 55

3.2 Xu hướng phát triển nhà ở 60

3.2.1 Về nhu cầu nhà ở trong những năm tới 60

3.2.2 Xu hướng phát triển nhà ở tại các địa phương vùng Duyên hải Bắc Bộ 61

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ 62

3.3.1 Quan điểm lựa chọn giải pháp 62

3.3.2 Xác định phương hướng thực hiện 62

3.3.3 Cơ sở lựa chọn giải pháp 63

3.3.4 Các nhóm giải pháp chung 64

3.3.5 Các nhóm giải pháp cụ thể 70

3.3.6 Lộ trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện 75

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 6

Bảng 2.1 Phân loại theo chất lượng nhà ở vùng Duyên hải Bắc Bộ 36

Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ có nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ, tỷ lệ hộ không có nhà ở phân theo thành thị, nông thôn, tỉnh/Thành phố toàn vùng 01/4/2019 37

Bảng 2.3 Diện tích nhà ở bình quân đầu người phân theo thành thị, nông thôn, tỉnh/Thành phố toàn vùng 01/4/2019 39

Bảng 3.1 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ cơ sở 56

Bảng 3.2 Biến đổi của lượng mưa năm (%) so với thời kỳ cơ sở 58

Bảng 3.3 Mực nước biển dâng theo kịch bản RCP2.6 (cm) 58

Bảng 3.4 Mực nước biển dâng theo kịch bản RCP6.0 (cm) 59

Bảng 3.5 Mực nước biển dâng theo kịch bản RCP8.5 (cm) 59

Trang 7

NGUYỄN THANH NGA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở

KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bất động sản

Mã ngành: 8310101

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu trên trái đất xảy ra nhanh chóng và

có những diễn biến bất thường Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới

Việt Nam là một trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất do hậu quả của việc biến đổi khí hậu gây ra Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến biến đổi khí hậu, trong đó phải kể đến sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên Biến đổi khí hậu làm đại dương ấm lên Nhiệt độ tăng làm tăng dung tích nước vốn có của các đại dương làm cho băng tan Hệ quả của các hiện tượng này là quá trình nước biển dâng Nước biển dâng dẫn tới chuỗi các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiều vùng đất bị ngập nước, đe dọa đến đa dạng sinh học, gây xâm nhập mặn làm ảnh hưởng đến chất lượng nước ngọt, giảm năng suất đất nông nghiệp… Với trên 3.000km bờ biển, Việt Nam được coi là quốc gia có mức độ dễ bị tổn thương cao hơn trước những biến đổi vô cùng khó lường của khí hậu Sự tác động của biến đổi khí hậu mà cụ thể là sự gia tăng của mực nước biển đang có xu hướng làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp của nước ta, đặc biệt là các vùng đất ven biển Dự báo đến năm

2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam sẽ tăng lên 30C và mực nước biển sẽ tăng lên khoảng 1m Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, khoảng 90% diện tích trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long

bị ngập hoàn toàn, 4,4% lãnh thổ Việt Nam bị ngập vĩnh viễn, đồng nghĩa với khoảng 20% xã trên cả nước, 9.200km đường bộ bị xóa sổ Tại vùng đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, mực nước biển dâng sẽ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, tạo điều kiện xói lở bờ biển, gây khó khăn cho nghề cá do những thay đổi theo hướng tiêu cực của phần lớn nguồn lợi thủy sản Diện tích sinh sống của các khu dân cư ven biển bị thu hẹp, khả năng xói lở bờ biển tăng lên, trực tiếp đe dọa tới các công trình giao thông, xây dựng, công nghiệp và một số đô thị trên nhiều

Trang 9

tuyến bờ biển Riêng đồng bằng sông Cửu Long, dự báo vào năm 2030, khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục độ và gây thiệt hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và ngập úng Nếu không có kế hoạch ứng phó, phần lớn diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập trắng nhiều thời gian trong năm và thiệt hại ước tính sẽ lên tới 17 tỷ USD Gần 6 triệu người (chiếm 7,3% dân số Việt Nam) sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp do hiện tượng ngập lụt khi nước biển dâng, 82,5% hệ thống cấp nước

ở các vùng trũng Nam Bộ (trong đó: 71,7% là ở đồng bằng Sông Cửu Long và 10,8%

ở Đông Nam bộ) sẽ bị ảnh hưởng Hiện tượng ngập lụt này sẽ dẫn tới sự thay đổi độ mặn của nước, ảnh hưởng tới điều kiện sinh sống, sản xuất và đa dạng sinh học Khu vực vùng núi tuy không chịu tác động trực tiếp của nước biển dâng nhưng vẫn chịu những ảnh hưởng gián tiếp như gia tăng các hiện tượng lũ ống, lũ quét, vấn đề về nước sạch và đất ở Còn đối với khu vực miền núi cũng chịu không ít các tác động gián tiếp như về an ninh lương thực, vấn đề nước sạch, vấn đề về chỗ ở và đất sản xuất…

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng khiến cho tình hình nắng nóng, khô hạn, bão, lụt, tố, lốc xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại nặng nề cho người dân trên cả nước Các loại thiên tai này ngày càng khốc liệt, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống

hạ tầng kỹ thuật cũng như các lĩnh vực khác của ngành xây dựng, đặc biệt là nhà ở

Do tác động của thiên tai bão, lũ, lụt nên rất nhiều nhà ở của người dân bị hư hỏng hoặc bị sập đổ làm cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với người thu nhập thấp, người nghèo Nhà ở bị hư hỏng hoặc bị sập đổ dẫn tới cuộc sống của người dân bị xáo trộn, không có sự ổn định cần thiết để họ yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế một cách bền vững Điều đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội của Chính phủ

Duyên hải Bắc Bộ là một trong những vùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu ở nước ta Những năm gần đây, các địa phương trong vùng thường xuyên xảy ra các cơn bão lớn và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn, làm xuất hiện các đợt lũ có cường độ rất mạnh, gây ngập lụt trên diện rộng Thiên tai xảy ra không những làm hư hỏng nhiều công trình, kết cấu hạ tầng mà còn làm hàng trăm nghìn

Trang 10

căn nhà bị ngập sâu trong nước, trong đó hàng chục nghìn căn nhà bị hư hỏng, sập

đổ hoặc nước cuốn trôi, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của người dân

Thời gian qua, chính quyền các địa phương và người dân trong vùng đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về nhà ở do thiên tai gây ra Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn, mặt khác do tác động của biến đổi khí hậu nên thiên tai ngày càng khốc liệt, do đó các biện pháp của các địa phương và người dân chưa đảm bảo ứng phó hiệu quả với những tác động trước mắt

và tiềm tàng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là đối với nhà ở tại khu vực đô thị ven biển Các thành phố tại khu vực ven biển dễ bị tổn thương bởi thiên tai làm tăng rủi

ro đối với con người, tài sản và hạ tầng đô thị

Trên cơ sở những vấn đề nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp

nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ” làm vấn đề nghiên cứu tại luận văn Thạc sỹ

của mình Đề tài này là rất cần thiết và ít công trình nghiên cứu

Luận văn có nhiều đóng góp đó là:

Về mặt lý luận: Làm rõ nội dung về nhà ở, vai trò của nhà ở đối với đời sống

và phát triển kinh tế; Làm rõ khái niệm biến đổi khí hậu, nguyên nhân và một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam; Làm rõ các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tới kinh tế - xã hội nói chung và tới nhà ở nói riêng

Về mặt thực tiễn: Làm rõ thực trạng nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ; Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Xây dựng lộ trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho người dân, các nhà nghiên cứu, tư vấn, quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực phát triển nhà ở khu vực đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhà ở và tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến chất lượng nhà ở khu vực đô thị

Trang 11

Chương 2: Thực trạng nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ

1.1 Những vấn đề chung về nhà ở khu vực đô thị

1.1.1 Khái niệm nhà ở

Tại mục này, tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận về khái niệm nhà ở Tra cứu theo từ điển Tiếng Việt thì “Nhà” được hiểu trong nghĩa nhà ở là danh từ chỉ công trình xây dựng có mái, có tường vách được sử dụng làm chỗ ở, thường cùng với gia đình Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về nhà ở thì “nhà ở” là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân Nhà ở được phân loại theo nhiều cách khác nhau như mục đích sử dụng, quản lý chất lượng công trình, thiết kế hay mức độ kiên cố

1.1.2 Vai trò của nhà ở đối với đời sống và phát triển kinh tế

Nhà ở có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người

1.1.3 Tiêu chí phản ánh chất lượng nhà ở thông qua việc phân loại nhà ở theo mức độ kiên cố

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chất lượng nhà ở Chất lượng nhà ở

có thể được đo lường thông qua phương pháp khách quan và chủ quan tùy vào từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau Theo quan điểm của tác giả trong luận văn này thì

để phân tích được các tác động rõ nét nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng tới nhà ở, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở của người dân khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ, tác giả đã lựa chọn tiêu chí phân loại nhà ở theo mức độ kiên cố Đây là một tiêu chí phản ánh chất lượng nhà ở có thích ứng được với biến đổi khí hậu ngày càng xảy ra nhanh chóng, khốc liệt hay không

1.2 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng

1.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

Trang 12

Biến đổi khí hậu không còn xa lạ nữa, mà giờ đây có thể được cảm nhận một cách vô cùng rõ nét Có nhiều định nghĩa về biến đổi khí hậu

1.2.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Có hai nguyên nhân chính gây biến đổi khí hậu là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

1.2.3 Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam đó là: Bão, áp thấp nhiệt đới; Mưa lớn gây lũ, lụt, sạt lở đất; Nắng nóng, hạn hán; Giông sét, lốc

1.2.4 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng

- Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với kinh tế - xã hội nói chung

- Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với nhà ở

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Duyên hải Bắc Bộ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng Duyên hải Bắc Bộ

Trang 13

Điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã dần được cải thiện, đặc biệt ở khu vực thành thị Hầu hết các hộ dân cư trong vùng đều có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng lên Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ dân cư đang sống trong các ngôi nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ hoặc nhà ở có diện tích bình quân dưới 6m2/người Đây là những đối tượng cần được quan tâm trong các chính sách cải thiện nhà ở dân cư trong thời gian tới Quy hoạch xây dựng nhà ở chậm, chưa theo kịp tốc độ phát triển nhà ở, do đó nhà ở của người dân phần lớn xây dựng tự phát, không theo quy hoạch,

do đó ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

2.3 Thực trạng biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ

2.3.1 Đặc điểm thiên tai vùng Duyên hải Bắc Bộ

Biến đổi khí hậu gây ra nhiều loại thiên tai như bão, lũ, lụt, giông, lốc, hạn hán, nước biển dâng, triều cường, xâm nhập mặn Vùng Duyên hải Bắc Bộ có hầu

hết các loại thiên tai kể trên, trong đó ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là bão, lũ, lụt

2.3.2 Đánh giá khả năng nhà ở thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Nhà ở được phân làm 4 loại: Nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố

và nhà đơn sơ Do chất lượng khác nhau nên khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của từng loại nhà cũng khác nhau

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ

3.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố

3.1.1 Kịch bản biển đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam

- Kịch bản biển đổi khí hậu đối với nhiệt độ

- Kịch bản biển đổi khí hậu đối với lượng mưa

- Kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam

Trang 14

3.1.2 Kịch bản biển đổi khí hậu cho vùng Duyên hải Bắc Bộ

- Về nhiệt độ

- Về lượng mưa

- Kịch bản nước biển dâng

3.2 Xu hướng phát triển nhà ở

3.2.1 Về nhu cầu nhà ở trong những năm tới

3.2.2 Xu hướng phát triển nhà ở tại các địa phương vùng Duyên hải Bắc Bộ

Trong thời gian tới việc phát triển nhà ở tại các địa phương vùng Duyên hải Bắc Bộ theo xu hướng: phát triển nhanh về số lượng nhà ở để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đồng thời phát triển nhà ở theo quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; phát triển nhà ở trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn lực Phát triển nhà ở đồng thời đảm bảo điều kiện ở ngày càng tốt hơn bằng việc nâng cao diện tích ở Nhà ở xây dựng đảm bảo an toàn và đáp ứng các điều kiện về chất lượng xây dựng, tiện nghi và môi trường; nhà ở có kiến trúc Nhà ở phải được thiết kế, xây dựng đủ khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ

3.3.1 Quan điểm lựa chọn giải pháp

3.3.2 Xác định phương hướng thực hiện

3.3.3 Cơ sở lựa chọn giải pháp

3.3.4 Các nhóm giải pháp chung

- Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực tổ chức, hoàn thiện thể chế, chính sách nhà ở

- Nhóm giải pháp về quy hoạch, bố trí dân cư

- Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo

- Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng

- Nhóm giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ xây dựng nhà ở

Trang 15

- Nhóm giải pháp hạn chế tác động của thiên tai đối với nhà ở

- Nhóm giải pháp về nâng cao điều kiện an toàn nhà ở, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách hỗ trợ nâng cao điều kiện an toàn nhà

ở cho các đối tượng thu nhập thấp, đời sống khó khăn

3.3.5 Các nhóm giải pháp cụ thể

- Giải pháp theo loại nhà ở

- Các mô hình nâng cao điều kiện an toàn nhà ở

- Giải pháp theo khu vực

kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành xây dựng trong lĩnh vực nhà ở, đồng thời là cơ sở để xây dựng chính sách hỗ trợ về nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ xây dựng nhà ở an toàn, nâng cao chất lượng nhà ở thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng Trên cơ sở các giải pháp đề xuất, triển khai thực hiện thí điểm giải pháp kỹ thuật phù hợp, rút kinh nghiệm để triển khai nhân rộng

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, luận văn có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng, áp dụng các lý thuyết khoa học kết hợp thu thập,

Trang 16

phân tích các dữ liệu thứ cấp từ các dữ liệu thống kê về kinh tế - xã hội; các tài liệu quy hoạch; các đề án; các chương trình phát triển nhà ở, đô thị và thị trường bất động sản; báo cáo của các Sở, ngành và các doanh nghiệp

Đề tài luận văn dựa trên những cơ sở khoa học về pháp lý, kết hợp với những

cơ sở về tự nhiên, khí hậu, môi trường, bên cạnh đó là những cơ sở chuyên môn như quy hoạch, kiến trúc, kinh tế, Đề tài mang tính thực tiễn cao khi nghiên cứu cụ thể thực trạng tại một số tỉnh, thành khu vực vùng Duyên hải Bắc Bộ Việt Nam

Luận văn đã tạo lập được một tài liệu tham khảo, đưa ra một số mô hình nhà

ở làm cơ sở để người dân, các nhà quản lý hay những ai quan tâm đến vấn đề này có

cơ sở tham khảo

Để người dân có cơ sở và thông tin xây dựng nhà đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng nhà ở có khả năng phòng, chống bão, lụt, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật và đề xuất không gian kiến trúc nhà ở đảm bảo an toàn khi xảy ra thiên tai cho người dân vùng Duyên hải Bắc bộ là rất cần thiết

Trang 17

- -

NGUYỄN THANH NGA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở

KHU VỰC ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bất động sản

Mã ngành: 8310101

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hải Yến

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 18

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có bờ biển dài (trên 3.000km bờ biển), nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, hàng năm thường xuyên phải đối mặt với các loại thiên tai do biến đổi khí hậu gây nên Thuật ngữ biến đổi khí hậu dường như không còn xa lạ đối với tất cả mọi người và trong trường nhiều hợp nó được vận dụng một cách vô thức hoặc có chủ ý để giải thích những gì xảy ra đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường Hiện nay, biến đổi khí hậu không còn là một câu chuyện xa lạ nữa mà giờ đây có thể cảm nhận một cách vô cùng rõ nét Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến biến đổi khí hậu, trong đó phải kể đến sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải nhà kính cùng với các hoạt động khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên Biến đổi khí hậu làm đại dương ấm lên Nhiệt độ tăng làm tăng dung tích nước vốn có của các đại dương làm cho băng tan Hệ quả của các hiện tương này là quá trình nước biển dâng Nước biển dâng dẫn tới chuỗi các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiều vùng đất bị ngập nước, đe dọa đến đa dạng sinh học, gây xâm nhập mặn làm ảnh hưởng đến chất lượng nước ngọt, giảm năng suất đất nông nghiệp… Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên thiên tai xảy ra thường xuyên với những diễn biến khó lường, không theo quy luật và ngày càng khốc liệt hơn Tình hình nắng nóng, khô hạn, bão tố, giông, lốc, lũ, lụt xảy ra liên tiếp, đã gây nhiều tổn thất về người và tài sản cho người dân cũng như gây thiệt hại các cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá, xã hội của các địa phương, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như các lĩnh vực khác của ngành xây dựng, đặc biệt là nhà ở

Duyên hải Bắc Bộ là một trong những vùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu so với các khu vực khác Những năm gần đây, tại các địa phương trong vùng, thiên tai có xu hướng gia tăng cả về số lượng và cường độ Tại đây liên tiếp xảy ra các cơn bão lớn và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn, làm xuất hiện các đợt lũ có cường độ rất mạnh, gây ngập lụt trên diện rộng Thiên tai

Trang 19

xảy ra không những làm hư hỏng nhiều công trình, kết cấu hạ tầng mà còn làm hàng trăm nghìn căn nhà bị ngập sâu trong nước, trong đó hàng chục nghìn căn nhà bị hư hỏng, sập đổ hoặc nước cuốn trôi

Thời gian qua, chính quyền các địa phương và người dân trong vùng đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về nhà ở do thiên tai gây ra Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn, mặt khác do tác động của biến đổi khí hậu nên thiên tai ngày càng khốc liệt, do đó những biện pháp của các địa phương và người dân chưa đảm bảo ứng phó hiệu quả với những tác động trước mắt

và tiềm tàng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là đối với nhà ở tại khu vực đô thị ven biển Các thành phố tại khu vực ven biển dễ bị tổn thương bởi thiên tai làm tăng rủi

ro đối với con người, tài sản và hạ tầng đô thị

Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng

cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ” làm luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài dự kiến có các mục tiêu sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhà ở và tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến chất lượng nhà ở khu vực đô thị

- Đánh giá thực trạng nhà ở của người dân tại khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ

3 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo cứu tài liệu: Để thực hiện luận văn này, tác giả đã tìm đọc và nghiên cứu các công trình có liên quan đến biến đổi khí hậu và nhà ở được thực hiện trong nước Các dữ liệu thống kê về điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm xã hội của Việt Nam nói chung và vùng Duyên hải Bắc Bộ nói riêng; các tài liệu, báo cáo của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở, ngành địa phương có liên quan về nhà ở và biến đổi khí hậu; các chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của các địa

Trang 20

phương vùng Duyên hải Bắc Bộ đã được phê duyệt; chiến lược phát triển nhà ở quốc gia; các cơ chế, chính sách đã được ban hành quy định về vấn đề nhà ở, biến đổi khí hậu; Kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố,…

- Các phương pháp truyền thống như phân tích, tổng hợp, so sánh,… để tiếp cận về việc xây dựng nhà ở đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng nhà ở đô thị của các địa phương vùng Duyên hải Bắc Bộ nhằm ứng phó với các thiên tai, đặc biệt là thiên tai xảy ra thường xuyên tại vùng đó là bão, lũ, lụt Phân tích thực trạng tác động của biến đổi khí hậu lên nhà ở Từ đó đưa ra các gợi ý, khuyến nghị nâng cao chất lượng nhà ở cho người dân khu vực đô thị vùng này

- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng trong nhiều khâu như hỏi ý kiến một số cán bộ quản lý nhà nước làm về mảng nhà ở Bộ Xây dựng, các Sở, ngành địa phương có liên quan; tham khảo ý kiến của các chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường về kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng Bên cạnh đó, tác giả cũng trao đổi trực tiếp và xin ý kiến của các nhà khoa học, các giảng viên khác và những người có kinh nghiệm trong khâu quy hoạch, thiết kế, từ

đó đưa ra các mô hình nhà ở thích ứng với các loại thiên tai khác nhau do biến đổi khí hậu gây ra

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là nhà ở, chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại vùng Duyên hải Bắc Bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ (bao gồm 5 tỉnh đó là Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình)

- Thời gian: Luận văn đánh giá thực trạng nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên

hải Bắc Bộ và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng giai đoạn 2014-2019 Đề xuất một số giải pháp, đưa ra một số kế hoạch hành động trước mắt

và lâu dài (giai đoạn đến năm 2025, đến năm 2030 và từ năm 2031 trở đi) nhằm

Trang 21

nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận văn tập trung vào nghiên cứu một

số nội dung sau: (1) Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến nhà ở (2) Thực trạng nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng (3) Đề tài tập trung vào một số giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

5 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, mục lục, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhà ở và tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến chất lượng nhà ở khu vực đô thị

Chương 2: Thực trạng nhà ở khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở khu vực đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng Duyên hải Bắc Bộ

Trang 22

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN NHÀ Ở

Nhà ở được phân loại theo nhiều cách khác nhau như: mục đích sử dụng, quản lý chất lượng công trình, thiết kế hay theo mức độ kiên cố,

Phân loại theo mục đích sử dụng thì nhà ở bao gồm: nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ tái định cư, nhà ở xã hội Cụ thể, trong Luật Nhà ở năm 2014 có định nghĩa các loại nhà ở trên như sau:

“Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc

quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự,

nhà ở liền kề và nhà ở độc lập (khoản 2 Điều 3 Chương I) Nhà chung cư là nhà có

từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh

Trang 23

(khoản 3 Điều 3 Chương I) Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường (khoản 4 Điều 3 Chương I) Nhà

ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc diện được ở nhà công vụ

theo quy định của Luật này thuê trong thời gian đảm nhận chức vụ, công tác (khoản

5 Điều 3 Chương I) Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia

đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà

ở theo quy định của pháp luật (khoản 6 Điều 3 Chương I) Nhà ở xã hội là nhà ở có

sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này (khoản 7 Điều 3 Chương I)”

Nếu phân loại theo quản lý chất lượng công trình xây dựng thì nhà ở được chia làm: nhà chung cư và nhà riêng lẻ Nhà ở riêng lẻ gồm: biệt thự, nhà cấp I, nhà cấp II, nhà cấp III, nhà cấp IV, nhà tạm còn biệt thự thì được đánh giá từ hạng 1 đến hạng 4

Phân loại nhà theo thiết kế thì nhà hiện hữu gồm ba dạng: Nhà xây dựng theo tiêu chuẩn (nhà theo tiêu chuẩn), nhà xây dựng không theo tiêu chuẩn (nhà phi tiêu chuẩn) và các loại nhà còn lại

Nhà theo tiêu chuẩn trong “Hướng dẫn phân loại nhà an toàn” của Viện Khoa học công nghệ xây dựng - Bộ Xây dựng là nhà được thiết kế và thi công tuân thủ các tiêu chuẩn và các quy định về quản lý xây dựng của Nhà nước Nhà theo tiêu chuẩn chịu được cấp gió bão trong giới hạn tính toán thiết kế theo phân vùng áp lực gió và tuổi thọ công trình của tiêu chuẩn hiện hành Khi cấp bão lớn hơn cấp thiết kế, cần có biện pháp phòng chống và gia cố, đặc biệt đối với các kết cấu bao che và kết cấu mái Trong trường hợp cần thiết cần tiến hành di dân tới nơi trú ngụ

an toàn

Nhà phi tiêu chuẩn trong hướng dẫn trên là nhà không được thiết kế và thi công theo các tiêu chuẩn và các quy định về quản lý xây dựng của Nhà nước Khi có bão các nhà này có thể không đảm bảo an toàn phòng chống bão Do đó, việc đánh giá an toàn nhà theo cấp bão cần được tập trung vào đối tượng nhà phi tiêu chuẩn

Trang 24

Các loại nhà còn lại trong hướng dẫn trên là nhà có kết cấu chịu lực chính được tính toán thiết kế và thi công theo tiêu chuẩn nhưng các kết cấu mái, tường làm bằng tôn, fibrô xi măng hoặc các vật liệu tương tự không được thiết kế và thi công theo tiêu chuẩn

Trong đó nhà phi tiêu chuẩn theo mức độ kiên cố được phân thành: nhà kiên

cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ

Nhà kiên cố là nhà có cả ba kết cấu chính (cột, mái, tường) đều được làm bằng vật liệu bền chắc Nhà ở bán kiên cố là nhà có hai trong ba kết cấu chính (cột, mái, tường) được làm bằng vật liệu bền chắc Nhà ở thiếu kiên cố là nhà có một trong ba kết cấu chính (cột, mái, tường) được làm bằng vật liệu bền chắc Nhà ở đơn sơ là nhà có cả ba kết cấu chính (cột, mái, tường) được làm bằng vật liệu không bền chắc

Ngoài những cách phân loại trên thì nhà ở còn được phân loại theo một số yếu tố khác nữa

1.1.2 Vai trò của nhà ở đối với đời sống và phát triển kinh tế

Trong đời sống xã hội, việc cải thiện chỗ ở là một trong những yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao đời sống của nhân dân Trong lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các đại biểu tham dự Hội nghị Kiến trúc sư họp tại chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (tháng 4/1948) có câu viết: “Trong bốn điều quan trọng cho dân sinh: ở và đi lại cũng cần thiết như ăn và mặc” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cuộc sống hạnh phúc của mỗi con người gắn với nhu cầu cải thiện điều kiện về chỗ ở

“Có chỗ ở thích hợp và an toàn là một trong những quy ền cơ bản của con người, là nhu cầu chính đáng của mỗi hộ gia đình , cá nhân và là điều kiện cần thiết đ ể phát triển ngu ồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Trích “Chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia theo Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ”)

Nhà ở là nơi cung cấp các “nền tảng cơ bản” giúp cho con người sống và duy trì mọi hoạt động khác như hoạt động xã hội, hoạt động thể chất Nhà ở là nơi tái

Trang 25

sản xuất sức lao động và là nơi phát huy nguồn lực con người Đa phần tăng trưởng nghề nghiệp và hiểu biết của mỗi người được hình thành tại gia đình Nhà ở không chỉ là tài sản lớn, có giá trị của mỗi gia đình, cá nhân mà còn là yếu tố quan trọng thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như nền văn hóa, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, của từng vùng miền

Giải quyết tốt vấn đề nhà ở là tạo tiền đề thuận lợi để thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo, từng bước ổn định xã hội, tiến tới phát triển bền vững đô thị và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Lĩnh vực xây dựng nhà ở sử dụng sản phẩm của nhiều ngành kinh tế vì vậy, phát triển nhà ở góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của đất nước và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động

Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người, mỗi gia đình,

là một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Trong lĩnh vực xây dựng và nhà ở, Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhà nước tạo điều kiện tối ưu cho một hệ thống nhà ở phát triển mạnh

mẽ Với quan điểm giải quyết nhu cầu nhà ở cho nhân dân là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và từng người dân, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo, giải quyết nhà ở cho người dân và xác định rõ đây là vấn đề an sinh

xã hội, là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong

đó đặc biệt chú trọng việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội Dù là quốc gia nào, nước đang phát triển hay nước phát triển thì chính sách nhà ở xã hội đều rất được quan tâm để giải quyết nhu cầu chỗ ở cho các đối tượng chính sách xã hội đang có khó khăn về nhà ở, nhất là người có công với cách mạng, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão, lũ, giúp người thu nhập thấp có sở hữu nhà ở Nền kinh tế Việt Nam

là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nếu định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng tới những điều tốt đẹp, thì có lẽ thể hiện rõ nhất qua việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nứớc về phát triển và quản lý nhà ở xã hội Đây còn là một trong những thước đo trình độ quản trị quốc gia và khả năng kiến tạo của Nhà nước; là cơ hội và thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp xây dựng,

Trang 26

cộng đồng khoa học công nghệ và xã hội khởi nghiệp Chương trình phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã có khởi đầu, song sẽ không kết thúc, thể hiện triết lý cốt lõi của một quốc gia, dù còn thuộc nhóm nước đang phát triển: Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp và dần hướng tới: Mọi gia đình Việt Nam ai cũng có nhà ở - Một căn nhà khang trang với môi trường sống (sinh kế và cộng đồng) tốt đẹp để “An cư

- lạc nghiệp”, "Dân giàu - Nước mạnh” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ trong giai đoạn 2016-2020 cần phải “thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên”

Tầm quan trọng của nhà ở được chứng minh thông qua tỷ lệ thu nhập của hộ gia đình dành cho nó Thu nhập của hộ gia đình là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện toàn

bộ kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ gia đình hay đấy chính là nguồn nội sinh (bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp) và nguồn ngoại sinh bao gồm các hoạt động trợ cấp của Nhà nước, trợ giúp của họ hàng hoặc là từ thành viên trong gia đình gửi về,

Nguồn nội sinh là nguồn hình thành thu nhập chính của hộ gia đình, chiếm trên 92% tổng thu nhập Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn này chưa được phát huy hiệu quả, chưa tạo nên nền tảng vững chắc để đảm bảo cuộc sống cho người dân Nguồn nội sinh thì chịu tác động của rất nhiều yếu tố Thứ nhất, những yếu tố

từ môi trường bên trong như: ngành nghề và việc làm, trình độ văn hóa, khoa học

kỹ thuật, tư liệu sản xuất, tăng trưởng kinh tế, Thứ hai, những yếu tố từ môi trường bên ngoài như: chính sách của chính phủ và việc thi hành chính sách của chính phủ,

Nguồn ngoại sinh chiếm khoảng 8% trong tổng thu nhập, tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng nguồn này đóng vai trò rất quan trọng Nó không chỉ là bộ phận hình thành nên thu nhập mà còn là động lực, điều kiện để thúc đẩy nguồn nội sinh Những yếu

tố chính ảnh hưởng đến nguồn ngoại sinh là, thứ nhất, an sinh xã hội truyền thống Thứ hai, chính sách và sự thi hành chính sách của chính phủ

Trang 27

Kinh tế tăng trưởng kéo theo mức thu nhập của người dân tăng làm tăng khả năng chi trả nói chung và tăng mức độ sẵn sàng chi trả cho nhu cầu về nhà ở nói riêng Qua đó có thể thấy được vai trò vô cùng quan trọng của nhà ở đối với mỗi người dân Như vậy, vai trò của nhà ở đối với mỗi người là không thể phủ nhận được

1.1.3 Tiêu chí phản ánh chất lượng nhà ở thông qua việc phân loại nhà ở theo mức độ kiên cố và chiều cao

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chất lượng nhà ở Chất lượng nhà ở

có thể được đo lường thông qua phương pháp khách quan và chủ quan tùy vào từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau Đo lường khách quan được sử dụng khá phổ biến,

là việc đánh giá các đặc tính vật lý, cơ sở vật chất, dịch vụ và môi trường Tuy nhiên, đánh giá khách quan không thể kiểm tra và giải thích các khía cạnh tâm lý xã hội của dân cư Đo lường chủ quan bao gồm đo lường các vấn đề nhận thức, sự hài lòng, kỳ vọng, sự thất vọng liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh tâm lý xã hội của mỗi cá nhân (Nguyễn Ngọc Tuấn, 2017)

Theo quan điểm của tác giả trong luận văn này thì để phân tích được các tác động rõ nét nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng tới nhà ở, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở của người dân khu vực đô thị vùng Duyên hải Bắc Bộ, tác giả đã lựa chọn tiêu chí phân loại nhà ở theo mức độ kiên cố

và theo chiều cao Đây là các tiêu chí phản ánh chất lượng nhà ở có thích ứng được với biến đổi khí hậu ngày càng xảy ra nhanh chóng, khốc liệt hay không Theo đó, dựa vào mức độ kiên cố, nhà ở phi tiêu chuẩn được phân loại thành nhà kiên cố, nhà

ở bán kiên cố, nhà ở thiếu kiên cố và nhà ở đơn sơ

Nhà ở kiên cố có cả ba kết cấu chính đều được làm bằng vật liệu bền chắc Cột, dầm được làm bằng bê tông cốt thép hoặc gạch, đá hoặc sắt, thép, gỗ bền chắc Mái được làm bằng bê tông cốt thép Tường được làm bằng bê tông cốt thép hoặc gạch, đá hoặc gỗ, kim loại Như vậy trong tất cả các loại nhà trên thì nhà kiên cố có mức độ kiên cố được đánh giá là cao nhất Do được làm bằng các vật liệu bền chắc nên nhà kiên cố sẽ ít bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu nhất

Trang 28

Nhà ở bán kiên cố thì hai trong ba kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền chắc Nhà ở thiếu kiên cố thì chỉ có một trong ba kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền chắc

Nhà ở đơn sơ là nhà có cả ba kết cấu chính được làm bằng vật liệu không bền chắc Cột, dầm được làm bằng gỗ, tạp tre hoặc vật liệu khác Mái được làm bằng ngói (xi măng, kim loại) hoặc lá, rơm rạ, giấy dầu hoặc vật liệu khác Tường bao che được làm bằng đất, vôi, rơm hoặc phiên, liếp, ván ép loại hoặc vật liệu khác Như vậy trong tất cả các loại nhà trên thì nhà đơn sơ có mức độ kiên cố được đánh giá là thấp nhất Vì vậy sức chịu đựng của loại nhà này trước biến đổi khí hậu nhất là kém nhất

Dưới đây là bảng nhận dạng vật liệu bền chắc, không bền chắc:

2 Ngói (xi măng, đất nung);

3 Tấm lợp (xi măng, kim loại);

4 Lá/rơm rạ/giấy dầu;

Bên cạnh đó, nếu xét theo chiều cao của tòa nhà thì nhà cao tầng và kiên cố sẽ

ít chịu tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhất (Nhà cao tầng là thể loại công trình có tên gọi chính xác là “nhà ở cao tầng” hay “cao ốc nhà ở” Với sự phân loại hiện nay của nhiều nước cũng như của nước ta thì nhà cao tầng được chia theo số tầng cao đạt được theo các cấp 9-15 tầng, 15-25 tầng, 25-40 tầng và trên 40 tầng thì được gọi là nhà chọc trời Ngược lại, nhà thấp tầng và là nhà đơn sơ sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Trang 29

1.2 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng

1.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

Hiện nay, thuật ngữ “biến đổi khí hậu” dường như không còn xa lạ đối với tất

cả mọi người và trong nhiều trường hợp nó được vận dụng một cách vô thức hoặc

có chủ ý vào việc giải thích những gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường Biến đổi khí hậu không còn xa lạ nữa mà giờ đây có thể cảm nhận được vô cùng rõ nét

Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) trong

báo cáo lần thứ tư (AR4) năm 2007 thì: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của

hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất” Theo Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United

Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa “biến đổi khí hậu

là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài” Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres nhấn mạnh rằng: “Biến đổi khí hậu đang diễn ra nhanh hơn bao giờ hết và đây là mối đe dọa lớn nhất đối với hành tinh chúng ta, đây là vấn đề sống còn của thời đại chúng ta”

1.2.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Có rất nhiều nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, trong đó có hai nguyên nhân chính sau:

Nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển

Trang 30

Nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người

Trong kỷ nguyên công nghiệp hiện nay, nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển ngày càng tăng dẫn đến tăng nhiệt độ trái đất, làm cho trái đất ngày càng nóng lên Trong suốt gần một triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 đến 280 phần triệu (ppm) Hiện tại, con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387 ppm và sẽ còn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề biến đổi khí hậu là do trái đất không thể hấp thụ được hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyển Trong báo cáo mới nhất

do Tổ chức Khí tượng Thế giới công bố, lượng khí gây hiệu ứng nhà kính, vốn được coi là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng biến đổi khí hậu đã lên mức kỷ lục mới trong năm 2019 Biến đổi khí hậu không chỉ là hậu quả của hiện tượng hiệu ứng nhà kính mà còn bởi nhiều nguyên nhân khác

1.2.3 Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.2.3.1 Bão, áp thấp nhiệt đới

“Bão và áp thấp nhiệt đới được gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới là một

vùng gió xoáy, có đường kính tới hàng trăm kilômét, hình thành trên vùng biển nhiệt đới Ở Bắc bán cầu, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ Áp suất khí quyển trong bão thấp hơn rất nhiều so với xung quanh và thường dưới mức 1000mb Sự chênh lệch về khí áp ở vùng tâm bão với các vùng xung quanh là nguyên nhân gây ra tốc độ gió bão rất lớn Bão, áp thấp nhiệt đới có thể ví như mô ̣t chiếc bánh khổng lồ , khi cắt đôi chiếc bánh đó ta thấy bên trong nó cũng có nhân bánh đó là mắ t bão và thành mắt bão Như vâ ̣y có thể xem bão là m ột vùng gió xoáy từ các phía thổi vào trung tâm bão, càng gần trung tâm thì gió càng mạnh, có khi lên đến vài trăm cây số một giờ, nhưng chính giữa lại là một vùng gió tương đối nhẹ hay lặng gió gọi là mắt bão Không khí chung quanh dồn vào giữa

Trang 31

không phải theo những đường thẳng mà theo hình xoắn ốc Trong một trận bão, ở tầng gần mặt đất không khí bốn bề di chuyển vào gi ữa, đến vùng giữa bão thì không khí chuyển động lên cao rồi toả ra tứ phía Bão bắt nguồn từ các vùng biển nhiệt đới, làm chuy ển động một khối không khí ẩm rất lớn Khối không khí ẩm này chuyển động lên cao thì hơi nước mà nó chứa ngưng tụ lại thành mây và gây ra mưa, cho nên vùng bão không những có gió mạnh mà lại có mây dày đặc phủ kín và mưa nhiều” (Theo Tổng cục khí tượng thủy văn - Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là một trong những vùng bão với số lượng lớn và cường độ mạnh với xu thế ngày càng gia tăng Trong vòng 50 năm trở lại đây, mỗi năm có khoảng 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam Bão đổ bộ vào cả Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Có tới 80 - 90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng thiệt hại do bão gây ra Bão ngày càng gia tăng cả về tần suất

và cường độ Trong các năm 1964, 1973, 1978, 2007, 2008, 2009, 2012, 2013 và năm 2017, mỗi năm có trên 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ vào nước ta Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, bão và áp thấp nhiệt đới đổ vào nước ta với số lượng ngày càng nhiều Hầu như năm nào cũng có những cơn bão có cường độ lớn làm chết nhiều người, phá hủy nhiều công trình kiến trúc, cây cối, hoa màu , thiệt hại về kinh tế ước tính lên tới hàng nghìn tỷ đồng

Một số cơn bão lớn gây thiệt hại đáng kể được thống kê theo các năm như sau: Năm 2009, cơn bão số 9 có tên quốc tế Ketsana đi vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, ở đảo Lý Sơn gió mạnh cấp 11, giật cấp 14 Cơn bão này đã trút một lượng mưa khổng lồ ở Trà Bồng, Quảng Ngãi, lượng mưa đo được hơn 1.900mm, gần bằng tổng lượng mưa của cả năm Cơn bão và mưa lũ sau đó đã khiến hơn 170 người thiệt mạng và mất tích

Năm 2012, cơn bão số 8 - bão Sơn Tinh, sau khi vào Biển Đông, bão di chuyển thần tốc với tốc độ lên tới 30k/h, là “cơn bão nhanh nhất trong gần 10 năm trở lại”, tiến thẳng vào đất liền Việt Nam Bão làm thiệt hại trên 7.500 tỷ đồng, trong đó, các tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất là: Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng…

Trang 32

Năm 2013, cơn bão số 14 có tên quốc tế siêu bão Haiyan - sau khi quét qua Philippines với cường độ trên cấp 17 đã đi vào Biển Đông, đã đổ bộ vào tỉnh Quảng Ninh với cường độ gió cấp 11-12, giật trên cấp 14, làm hơn 100 người chết, mất tích và bị thương

Năm 2017, có 2 cơn bão mạnh đổ bộ vào miền Trung và 1 cơn bão mạnh quét qua quần đảo Trường Sa của nước ta

- Đó là cơn bão số 10 có tên quốc tế là bão Doksuri, bão đổ bộ vào khu vực giáp ranh tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, với sức gió mạnh cấp 12 (135 km/h), giật cấp 14-15 Lần đầu tiên, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương phải đưa ra cảnh báo thiên tai cấp 4 (ở mức cảnh báo màu đỏ) Bão làm 6 người chết, 37 người bị thương; hơn 800 nhà sập, hơn 190.000 nhà bị hư hỏng…

- Là cơn bão số 12 có tên quốc tế là Damrey, sức gió mạnh cấp 12-13 khi đổ

bộ vào Phú Yên và Khánh Hòa Đây là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Khánh Hòa trong vòng hơn 20 năm, khiến hơn 100 người thiệt mạng và mất tích Đây là lần thứ hai trong năm 2017, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương đưa ra cảnh báo đạt ở mức cấp độ rủi ro thiên tai bậc cấp 4

- Bão Tembin - cơn bão số 16, tuy không ảnh hưởng nhiều đến đất liền nhưng là cơn bão mạnh kỷ lục quét qua quần đảo Trường Sa của ta và Nhà giàn DK1 với sức gió cấp 13, giật cấp 15 Lần đầu tiên cơ quan dự báo ra mắt bản tin bão dành riêng cho quần đảo Trường Sa

Bão được xem là thiên tai rất nguy hiểm đối với nước ta Lãnh thổ Việt Nam (kể

cả vùng thềm lục địa) nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của trung tâm bão Tây Bắc Thái Bình Dương Biển Đông cũng là khu vực phát sinh và có bão hoạt động mạnh

1.2.3.2 Mưa lớn gây lũ, lụt, sạt lở đất

“Mực nước là độ cao của mặt nước trong sông tại một vị trí đo so với độ cao

chuẩn quốc gia (mực nước trung bình trạm Hòn Dấu), được ký hiệu là H và đơn vị

là cm (centimét) hoặc m (mét) Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang sông (hình 3.1) trong một đơn vị thời gian (1 giây), được ký hiệu là Q và đơn

vị là m3/s hoặc l/s

Trang 33

Lũ là hiện tượng mực nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất

định, sau đó giảm dần Lụt là hiện tượng ngập nước của một vùng lãnh thổ do lũ gây

ra Lụt có thể do lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông, đê hoặc làm vỡ các công trình ngăn

lũ vào các vùng trũng; có thể do nước biển dâng khi gió bão làm tràn ngập nước vùng ven biển” (Theo Tổng cục khí tượng thủy văn - Bộ Tài nguyên và Môi trường)

“Sạt lở đất là hiện tượng đất bị sạt, trượt, lở do tác động của mưa, lũ hoặc dòng

chảy” Sạt lở đất là sự dịch chuyển của đất đá xuống bên dưới sườn dốc Hiện tượng sạt

lở đất do nhiều nguyên nhân Đầu tiên, có thể là hậu quả của sự xuất hiện các chấn động địa chất tự nhiên, do hiện tượng phong hóa hoặc do sự thay đổi độ ẩm trong đất, hoặc do

sự dịch chuyển của kết cấu bảo vệ của phần chân của mái dốc, hoặc do xây dựng công trình trên sườn dốc hoặc do hiện tượng phong hóa bề mặt sườn dốc và do các tác động của con người làm thay đổi Ngoài ra còn do: kết quả của những chấn động tự nhiên làm mất sự liên kết của đất, đá trên sườn đồi và núi ở vùng có địa hình dốc lớn, địa chất yếu

có độ rỗng lớn, vùng đất pha cát/đá và vùng rừng thưa; Rừng bị chặt phá nhiều; Địa hình đồi núi cao, dốc lớn, xây dựng công trình thiếu nghiên cứu các yếu tối địa chất; Do quá trình sản xuất lúa nước một vụ ở ruộng bậc thang nước ngấm sâu vào lòng đất làm đất tơi xốp Khi trổ nước vào ruộng làm cho đất mềm, gặp mưa to gây ra sạt lở; Nắng nóng kéo dài gây ra nứt đất, khi có mưa to sẽ tạo thành đường trượt gây sụt đất hay sạt lở đất, đá trượt nhanh từ sườn dốc, mái dốc xuống gây ra sạt cả mảng đồi trượt xa hàng km (Theo trung tâm Chính sách và kỹ thuật phòng chống thiên tai)

Không phải năm nào lũ cũng trở thành thiên tai gây hoạ cho nhân dân ở các vùng ven sông , chỉ những đợt lũ lớn với mực nước dâng lên cao mới có khả năng gây hại như các năm 1968, 1971, 1985… Trên những hê ̣ thống sông có đê thu ộc Bắc và Trung B ộ thiệt hại tập trung chủ yếu ở các khu vực ngoài đê , nhưng những nơi đê vỡ thiê ̣t ha ̣i sẽ rất lớn Các vùng núi cao thuộc các tỉnh ở Tây Bắc, Đông Bắc

và Tây Nguyên hầu như năm nào cũng xảy ra lũ quét và sạt lở đất Thiệt hại về người và của cũng ngày một trầm trọng hơn Các trận mưa lớn dẫn đến các đợt lũ trên sông, suối đặc biê ̣t lũ quét , sạt lở đất cũng có xu th ế gia tăng chủ yếu trên phần lãnh thổ phía Bắc, có nơi tăng đến 100%

Trang 34

Thống kê các trận lũ lịch sử và thiệt hại của chúng được ghi nhận trong những năm gần qua như sau:

Trận lũ năm 2000: đây là trận lũ lịch sử tại đồng bằng sông Cửu Long, lũ về sớm nhất lịch sử và đỉnh lũ đều rất cao, diễn biến lũ, lụt phức tạp, nằm ngoài tầm hiểu biết đã tích luỹ được trong thời gian trước Do lũ thường ngồn sớm, tổng lượng rất lớn, trong khi nền nước lụt đang rất cao Trong vòng 75 năm qua chưa bao giờ

có lũ, lụt sớm, lớn, diện rộng, ngập sâu và kéo dài ngày như trận lũ năm 2000 Nó

đã gây ảnh hưởng rộng lớn và rất nặng nề về người tài sản và môi trường

Trận lũ năm 2011: trên sông Mêkông, năm 2011 đã xuất hiện một đợt lũ lớn Theo báo cáo của Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương, đỉnh lũ năm

2011 tại vùng đầu nguồn sông Cửu Long vượt mức báo động 3 từ 0,2 đến 0,5m tương đương đỉnh lũ lịch sử năm 2000; một số nơi ở hạ lưu như Long Xuyên, Cần Thơ, Mỹ Thuận, Chợ Mới, Mỹ Tho đã vượt đỉnh lũ lịch sử từ 0,1 - 0,3m Lũ lớn, duy trì mức cao trên báo động 3 trong một thời gian dài gần 1 tháng đã gây ngập lụt sâu, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội tại nhiều tỉnh

Trận lũ năm 2015: tổng lượng mưa đo được tại một số điểm ở Quảng Ninh từ ngày 23 đến ngày 29/7/2015 đã vượt quá 1.500 mm Theo đánh giá, đây là trận mưa lớn nhất trong vòng 55 năm tại Quảng Ninh (tính đến năm 2015), phá vỡ hàng loạt kỷ lục Sau ba ngày mưa lũ, tổng thiệt hại về tài sản tại đây đã vượt quá con số 1.000 tỷ đồng, 23 người thiệt mạng và mất tích, gần 4000 nghìn ngôi nhà bị ngập lụt

1.2.3.3 Nắng nóng, hạn hán

Nắng nóng là dạng thời tiết đặc biệt trong mùa hè, khi nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày vượt quá 35 0C và độ ẩm không khí xuống dưới 65% Một ngày, tại đi ̣a phương nào đó được coi là có nắng nóng khi nhiê ̣t độ cao nhất (ký hiệu

C thì được gọi là ngày nắng nóng diện rộng Còn khi chỉ quan sát thấy dưới m ột nửa số tra ̣m trong khu vực có

Trang 35

nhiê ̣t đô ̣ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35 0

C thì được gọi là nắng nóng cục bộ Một ngày được coi là nắng nóng gay gắt trên diện rộng khi có ít nhất 2/3 số trạm quan trắc trong khu vực có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 35 0C, trong đó ít nhất một nửa số trạm quan trắc trong khu vực dự báo có nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 37 0C Khi nắng nóng diện rộng xuất hiện liên tục từ 2 ngày trở lên trong mô ̣t khu vực dự báo thì đư ợc gọi

là một đợt nắng nóng

Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm cạn kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo, dịch bệnh

Hạn hán xuất hiện với mức độ khốc liệt ngày càng nhiều và kéo dài Điển hình là đợt hạn hán năm 2015-2016 vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề cho nền nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên

Số ngày nắng nóng theo kịch bản biến đổi khí hậu cũng tăng lên đáng kể, song không rải rác mà thường hình thành những đợt nóng kéo d ài nhiều ngày Theo

dự báo đến cuối thế kỷ này số ngày nắng nóng có thể tăng từ 10 đến 20 ngày Ngươ ̣c với nắng nóng , số ngày la ̣nh có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, những đợt lạnh cực đoan với nhi ệt độ giảm sâu kèm theo mưa tuyết , băng giá lại có xu hướng gia tăng ở các tỉnh miền núi phía cực Bắc

1.2.3.4 Giông sét, lốc

Giông lốc hình thành do hiện tượng đối lưu rất mạnh trong không khí gây ra,

có thể đi kèm sấm chớp hoặc lốc xoáy, mưa đá, với gió giật từ 92 km/h trở lên

Theo NSSL, văn phòng nghiên cứu giông lốc thuộc Cơ quan Hải dương và

Khí quyển Quốc gia Mỹ (NOAA), giông là hiện tượng mưa to kèm sấm chớp, do

đối lưu rất mạnh trong khí quyển gây ra

Lốc là luồng gió xoáy có sức gió mạnh tương đương với sức gió của bão

nhưng được hình thành và tan trong thời gian ngắn, phạm vi hoạt động hẹp từ vài

km2 đến vài chục km2

Trang 36

Sét là hiện tượng phóng điện trong đám mây, giữa các đám mây với nhau

hoặc giữa đám mây với mặt đất Điện thế của sự phóng điện từ sét có thể đạt từ vài chục đến hàng trăm triệu Vôn Chiều cao của rãnh sét khoảng 500-2000m Chiều dài của sét đo được trung bình 5km, có khi đến 10km Vận tốc phóng điện khoảng 15.000-150.000 km/s Đường kính của tia sét khoảng 40-50cm, phần lõi của tia sét chừng 15cm Nhiệt độ trong tia sét có thể đạt đến 18.000-20.0000C

Trong điều kiê ̣n gia tăng nhiê ̣t lớp bề mă ̣t do hiê ̣n tượng “nóng lên toàn cầu” đã và sẽ làm gia tăng các nhiễu động dẫn đến khả năng tăng lên các hoa ̣t động dông , lốc xoáy trên nhiều khu vực Trên thực tế, những thiê ̣t ha ̣i do lốc xoáy gây ra trong vài thập kỷ gần đây ở Việt Nam cũng cho thấy xu thế gia tăng này

1.2.4 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng

1.2.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với kinh tế - xã hội nói chung

Ở Việt Nam, vấn đề nóng nhất hiện nay là đô thị hoá rộng khắp trên mọi vùng lãnh thổ Đô thị hóa nhanh chóng góp phần không nhỏ để thay đổi bộ mặt kinh

tế xã hội, đồng thời cũng để lại hậu quả nặng nề, do càng phát triển đô thị càng bộc

lộ các yếu kém gây tác hại lâu dài Các căn bệnh đô thị như: Kiến trúc lộn xộn, giao thông tắc nghẽn, ô nhiễm môi trường, dự án đô thị - phòng ngủ thiếu vắng việc làm

và dịch vụ đời sống thiết yếu… Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam đang gia tăng, hệ thống đô thị quốc gia được quan tâm đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng Trong giai đoạn 2011-2020, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tạo

cơ sở cho quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam năm

2018 đạt 38%, tăng 0,9% so với năm 2017 Dự báo trong năm 2019, đầu năm 2020,

tỷ lệ đô thị hóa sẽ đạt khoảng 40% Tỷ lệ đô thị hóa của nước ta dự kiến đạt 59% vào năm 2050 (dữ kiện của Liên Hợp quốc)

Trong 10 năm qua, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thì: Tổng diện tích quốc gia là

Trang 37

331.698 km2; Dân số là 96,2 triệu người (Trong đó: dân số nam là 47,9 triệu người (chiếm 49,8%); dân số nữ là 48,3 triệu người (chiếm 50,2%); dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người (chiếm 34,4%), ở khu vực nông thôn

là 63.149.249 người (chiếm 65,6%))

Từ năm 2009 đến nay, tỷ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8 điểm phần trăm Sau 10 năm, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với 10 năm trước (tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 1999-2009 là 1,18%/năm) Dự kiến dân số đô thị vào năm 2030 sẽ là 46 triệu người

Trong khoảng 10 năm gần đây, nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã lên tiếng cảnh báo về sự bùng nổ dân số đô thị và hiện tượng đô thị hóa không bình thường ở Việt Nam, càng đặc biệt khi vấn đề này lan rộng ở quy mô toàn quốc, kể cả vùng sâu vùng xa, có thể trở thành vấn nạn ở tầm mức quốc gia nếu không quan tâm đúng mức Trào lưu đô thị hoá kiểu này không dễ gì kiểm soát Đó là nguyên nhân lớn gây nên biến đổi về khí hậu ở nước ta

Biến đổi khí hậu không chỉ là sự thay đổi các đặc trưng của khí hậu mà còn gây nên sự thay đổi của những hiện tượng thời tiết cực đoan với xu hướng tăng lên

cả về tần số và cường độ: Các trận mưa tăng lên một cách dữ dội, hạn hán xuất hiện thường xuyên và khắc nghiệt hơn

Tần suất và cường độ El Nino1 tăng lên rõ rệt trong những thập niên gần đây… Trong 05 thập niên gần đây, tác động của hiện tượng ENSO ngày càng mạnh mẽ đối với chế độ thời tiết và khí hậu trên nhiều khu vực ở Việt Nam Biến đổi của ENSO và tác động của nó đến sự biến đổi của gió mùa sẽ ảnh hưởng mạnh hơn đối với sự biến

Trang 38

đổi của mưa Hiện tượng ENSO cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi sự xuất hiện, cường

độ và đặc trưng của xoáy thuận nhiệt đới và sự biến đổi của nó giữa các năm

Ở ven biển Trung và Nam Bộ, trong những thập niên gần đây, lũ lụt lớn và đặc biệt lớn xảy ra nhiều hơn và nghiêm trọng hơn Ở ven biển Bắc Bộ, lũ đặc biệt lớn Ngoài ra, lũ quét và trượt lở đất xảy ra nhiều hơn, khốc liệt hơn ở vùng núi Bắc

Bộ, ven biển Bắc Bộ và Tây Nguyên Lũ lụt, lũ quét đã ảnh hưởng lớn đến môi trường và kinh tế, xã hội

Sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do biến đổi khí hậu là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng Bão, lũ, lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố, lốc

là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất

và đời sống

Biến đổi khí hậu làm cho các thiên tai nói trên trở nên khốc liệt hơn và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho cho phát triển kinh tế - xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển Những khu vực được dự báo chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là vùng Duyên hải Bắc Bộ

Mực nước biển dâng cao dẫn đến mặn xâm nhập sâu vào hệ thống sông ngòi, kênh rạch và tầng chứa nước ngầm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng - Thái Bình, đồng bằng sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển Bắc Bộ làm cho nuớc ngọt bị nhiễm mặn và do đó làm giảm lượng nước ngọt có thể khai thác, sử dụng Theo kết quả các kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được đưa ra, nếu mực nước biển dâng cao từ 0,75-1,0 m so với giai đoạn 1980-1999, thì có thêm khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và 10,5% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng - là hai vùng sản xuất lúa chính của Việt Nam bị ngập và do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực để cung cấp cho khoảng hơn 96 triệu dân Việt Nam và khoảng 100 triệu dân trên thế giới Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km, hơn 1 triệu km2

lãnh hải, nhiều đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với nhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn về

Trang 39

mùa khô Biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đến các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển Nước biển dâng cũng sẽ tác động đến các đầm phá, vũng vịnh, đảo nhỏ, các cồn cát và bãi tắm, các bãi phù sa, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản

Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đến rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển Tất cả những điều trên đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng

Biến đổi khí hậu như nhiệt độ gia tăng, biến đổi của mưa, bao gồm cả ENSO

và mực nước biển dâng, cũng đã và đang ảnh hưởng đến tài nguyên nước cả về số lượng, chất lượng và chế độ dòng chảy của các sông:

- Nhiệt độ không khí tăng lên đã và sẽ làm tăng lượng bốc hơi từ các thuỷ vực (sông suối, ao hồ, hồ chứa, đầm lầy), dẫn đến giảm nguồn nước có thể cung cấp cho các nhu cầu sinh hoạt, tưới, công nghiệp, thuỷ điện và cấp nước cho sản xuất Tác động của biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng khan hiếm và thiếu nước, đặc biệt nghiêm trọng trong mùa khô vào những năm gần đây ở hạ lưu sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và ven biển Bắc Bộ

- Sự biến đổi thất thường của mưa gây nên suy giảm lượng dòng chảy sông suối và lượng nước được chứa trong các hồ chứa và ao hồ, đặc biệt là vào những năm xuất hiện hiện tượng El Nino mạnh; dẫn đến giảm nguồn nước có thể khai thác, sử dụng; gia tăng tình trạng căng thẳng về nước Trong những năm xuất hiện

La Nina, mưa nhiều và lớn có thể làm tăng dòng chảy mùa lũ và do đó gia tăng nguồn nước có thể khai thác, sử dụng ở một số khu vực Gia tăng dòng chảy, xói

Trang 40

mòn, ngập lụt và lũ quét đã, đang và sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước mặt và nước ngầm

Việt Nam là một trong những nước trên thế giới chịu nhiều thiên tai như giông, bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, nắng nóng, hạn hán Phần lớn những thiên tai này liên quan đến các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tần số và cường độ của những thiên tai này phụ thuộc vào thời tiết và khí hậu trong từng mùa Do đó, biến đổi khí hậu sẽ làm cho các loại thiên tai nêu trên càng trở nên nguy hiểm hơn

Những tác động nêu trên của biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác động mạnh

mẽ đến môi trường và sự phát triển bền vững của Việt Nam Mưa lớn, bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, nắng nóng, hạn hán đã gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế và ảnh hưởng đến an ninh lương thực và an sinh xã hội do mùa màng bị thiệt hại Biến đổi khí hậu cũng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên Môi trường sống của nhiều loại sinh vật, thực vật và động vật thay đổi, đặc biệt là một số loài động vật hoang dã; làm cho đa dạng sinh học bị suy giảm

Việt Nam là một trong các quốc gia trên thế giới được đánh giá là sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Trong đó, đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng chịu tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhiều nhất Đây là hai vùng có địa hình thấp, phần lớn chỉ cao hơn 1m so với mực nước biển, thậm chí có nơi thấp hơn mực nước biển Ngoài ra, theo các chuyên gia Việt Nam, trước mắt có 3 khu vực chịu tác động rõ nhất của biến đổi khí hậu, đó là vùng núi Tây Bắc, cực nam Trung Bộ và ven biển Ở vùng núi Tây Bắc, sẽ có một số loài thực, động vật bị tuyệt chủng do nhiệt độ tăng Vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, do địa hình thấp nhất, có nhiều cửa sông, cù lao có địa hình thấp nên có thể bị hiểm hoạ của biến đổi khí hậu

do xâm nhập mặn và mức nước biển dâng

Biến đổi khí hậu nói chung và nước biển dâng nói riêng không còn là nguy cơ mà nó đã hiển hiện trong cuộc sống, đang là thách thức không của riêng quốc gia nào

Ngày đăng: 06/04/2023, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2009
2. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2012
3. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2016), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2016
4. Bộ Xây dựng, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản
Tác giả: Bộ Xây dựng
5. Bộ Xây dựng, Hướng dẫn phân loại nhà an toàn, Viện Khoa học công nghệ xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phân loại nhà an toàn
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Viện Khoa học công nghệ xây dựng
6. Bộ Xây dựng,Trung tâm nghiên cứu nhà ở và thị trường bất động sản - Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Xây dựng
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu nhà ở và thị trường bất động sản
Nhà XB: Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản
8. Nguyễn Ngọc Tuấn (2017), Phát triển nhà ở thu nhập thấp khu vực đô thị, Nghiên cứu thực tế Thành phố Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhà ở thu nhập thấp khu vực đô thị
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuấn
Nhà XB: Nghiên cứu thực tế Thành phố Hà Nội
Năm: 2017
9. Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế, Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành
Nhà XB: Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
11. Quốc hội (2014), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 1/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 1/4/2014
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
12. Quốc hội (2014), Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhà ở số 65/2014/QH13
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
13. Sở Xây dựng Hà Nội (http://www.soxaydung.hanoi.gov.vn/vi-vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Xây dựng Hà Nội
14. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
15. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008
16. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2011
17. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 2623/QĐ-TTg ngày 31/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2623/QĐ-TTg ngày 31/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "“Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2016
18. Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2017
19. Tổng cục khí tượng thủy văn - Bộ Tài nguyên và Môi trường (http://kttvqg.gov.vn/) Link
25. Trang web: http://faf.utb.edu.vn/index.php/mnnews/thong-tin-m-i-nh-t/401-nu-c-bi-n-dang-va-nh-ng-nh-hu-ng-c-a-no-d-n-vi-t-nam Link
29. Website của Cục khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: http://www.dmhcc.gov.vn/ Link
30. Website của Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia: http://kttvqg.gov.vn Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm