Tuy nhiên kèm theo các ưu đãi về lãi suất thì EU dự kiến sẽ kiểm soát gắt gao hơn việc đáp ứng các rào cản kỹ thuật và rào cản môi trường của các lô hàng nông sản xuất khẩu và doanh nghi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Tuyết Mai.Các tư liệu, số liệu, trích dẫn được nêu trong Luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm Luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ quý báu của cô giáo chủ nhiệm, các thầy cô giáo trong trường và các anh chị em, bạn bè trong lớp Em xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới các thầy cô của Viện Đào tạo sau Đại học, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đặc biệt là Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Tuyết Mai đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian qua
để em hoàn thành được luận văn này Do còn nhiều hạn chế về việc tiếp cận nguồn
số liệu và kiến thức nên luận văn không tránh khỏi còn những khoảng trống, em rất mong tiếp tục nhận được sự góp ý và giúp đỡ của các thầy cô để có thể hoàn thiện hơn đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN Error! Bookmark not defined.
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG CỦA EU ĐỐI VỚI NHẬP KHẨU NÔNG SẢN 5
1.1 Khái niệm và vai trò của rào cản môi trường của EU đối với nông sản nhập khẩu 5
1.1.1 Khái niệm về rào cản môi trường 5
1.1.2 Vai trò của việc đáp ứng rào cản môi trường của EU đối với nông sản nhập khẩu 6
1.2 Đặc điểm và những quy định của EU về rào cản môi trường đối với nông sản nhập khẩu 9
1.2.1 Đặc điểm những quy định của EU về rào cản môi trường đối với nhập khẩu nông sản 9
1.2.2 Những quy định và tiêu chuẩn của EU về môi trường đối với nông sản nhập khẩu 12
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng rào cản môi trường của EU đối với nông sản xuất khẩu của một quốc gia 29
1.3.1 Nhân tố quốc tế 29
1.3.2 Nhân tố trong nước 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ ĐÁP ỨNG CÁC RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG CỦA EU ĐỐI VỚI NÔNG SẢN VIỆT NAM 36
2.1 Thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU 36
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu 36
2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng và theo thị trường 38
2.1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chính 40
2.1.4 Các hình thức xuất khẩu và phân phối 52
Trang 42.2 Biện pháp mà nhà nước và doanh nghiệp đã thực hiện để nông sản xuất
khẩu Việt Nam đáp ứng các rào cản môi trường của EU 53
2.2.1 Biện pháp của nhà nước đã thực hiện để nông sản xuất khẩu Việt Nam đáp ứng được các rào cản môi trường của EU 53
2.2.2 Biện pháp của doanh nghiệp và hiệp hội đã thực hiện để nông sản xuất khẩu Việt Nam đáp ứng được các rào cản môi trường của EU 58
2.3 Đánh giá về thực trạng đáp ứng các rào cản môi trường của EU của nông sản xuất khẩu Việt Nam 60
2.3.1 Kết quả đạt được 60
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 62
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM ĐÁP ỨNG TỐT HƠN VỚI RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG CỦA EU ĐẾN NĂM 2020 71
3.1 Định hướng xuất khẩu nông sản sang EU tới năm 2020 71
3.2 Giải pháp đối với nhà nước để nông sản xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng tốt hơn với rào cản môi trường của EU 77
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và tiêu chuẩn môi trường 77
3.2.2 Quy hoạch hiệu quả các khu vực sản xuất hàng nông sản an toàn 77
3.2.3 Xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết theo ngành từ sản xuất tới chế biến các sản phẩm nông sản 78
3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chất lượng các lô hàng xuất khẩu nông sản sang EU 79
3.2.5 Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận môi trường 80
3.2.6 Tăng cường tuyên truyền về trách nhiệm môi trường và tiêu chuẩn đối với nông sản xuất khẩu của EU cho các doanh nghiệp Việt Nam 80
3.2.7 Đẩy mạnh các mối quan hệ với các nước thành viên EU 82
3.3 Kiến nghị đối với các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu nông sản 83
3.3.1 Một số kiến nghị đối với hiệp hội ngành hàng 83
3.3.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang EU 85
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASC Aquaculture Stewardship
Council
Tiêu chuẩn của hội đồng quản
lý nuôi trồng thủy sản
EU European Union Liên minh Châu Âu
FLEGT Forest Law Enforcement,
Governance and Trade
Thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ
FTA A Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GI Geographical Indication Chỉ dẫn địa lý
HACCP Hazard Analysis Critical
Restriction of Chemicals
Đăng kí, Đánh giá, cấp phép và hạn chế hóa chất
VPA Voluntary Partnership
Agreement Hiệp định đối tác tự nguyện
WWF World Wide Fund For
Nature Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên WTO Worrld Trade Organnization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH Bảng
Kim ngạch nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam tại một số thị trường
Bảng 2.4
Kim ngạch nhập khẩu cà phê Việt Nam tại một số thị trường
Hình
Hình 2.1 Cán cân thương mại Việt Nam – EU giai đoạn 2007 - 2015 36
Hình 2.2 Cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam tại EU theo mặt
Hình 2.6 Cơ cấu theo thị trường chính trong khối EU nhập khẩu gỗ và
sản phẩm từ gỗ của Việt Nam năm 2008 và 2014 50
Trang 7và hạn chế nhập khẩu EU là một trong những nước áp dụng hệ thống rào cản kỹ thuật chặt chẽ nhất thế giới, trong đó có các quy định liên quan đến trách nhiệm với môi trường, con người và vật nuôi
Trong nhiều năm qua, Liên minh Châu Âu (EU) luôn là một trong những thị trường xuẩu khẩu lớn nhất của Việt Nam đối với sản phẩm từ nông nghiệp Cùng với những bước tiến tích cực trong việc kí kết các hiệp định song phương giữa Việt Nam và EU (từ việc kí hiệp định khung về hợp tác toàn diện vào năm 2012 tới việc thúc đẩy kí kết hiệp định Thương mại tự do FTA dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2015), hàng nông sản Việt Nam có cơ hội thâm nhập sâu và rộng hơn vào thị trường rộng lớn này Tuy nhiên kèm theo các ưu đãi về lãi suất thì EU dự kiến sẽ kiểm soát gắt gao hơn việc đáp ứng các rào cản kỹ thuật và rào cản môi trường của các lô hàng nông sản xuất khẩu và doanh nghiệp Việt Nam chưa có sự chuẩn bị tốt trong thời gian vừa qua để tận dụng được các ưu đãi từ các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU Trong vài năm gần đây, hàng nông sản Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng được các hàng rào kỹ thuật môi trường từ EU nhưng vẫn có khá nhiều vấn
đề còn tồn tại.Việc trả lại các lô hàng đã nhập khẩu kèm theo cảnh báo nếu hàng xuất khẩu của Việt Nam còn vi phạm thì sẽ bị cấm nhập vĩnh viễn đã đặt ra nhu cầu cấp thiết phải có những giải pháp tích cực để khắc phục tình hình này giúp thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường EU trong khuôn khổ FTA
Xuất phát từ nhu cầu trên, tôi đã chọn đề tài: “Rào cản môi trường của EU
và xuất khẩu nông sản của Việt Nam”
Trang 82 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các rào cản môi trường của EUđối với hàng xuất khẩu nói chung
và đối với hàng nông sản xuất khẩu nói riêng trong bối cảnh hai bên tiến tới kí kết hiệp định FTA giữa Việt Nam - EU và thực trạng xuất khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua Qua việc tìm hiểu phân tích các biện pháp mà nhà nước và doanh nghiệp đã triển khaiđể tăng khả năng đáp ứng được rào cản môi trường của
EU đối với nông sản xuất khẩu Việt Nam và thực tế thực hiện trong thời gian qua, luận văn tìm ra các vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tận dụng tốt những cơ hội mà hiệp định FTA Việt Nam - EU mang lại
để vượt qua các rào cản môi trường, thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường EU vẫn đầy tiềm năng này
Để thực hiện mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
- Hệ thống hóa được những nội dung cơ bản về rào cản môi trường nói chung và các quy định chính của EU đối với hàng nông sản;
- Nghiên cứu các nội dung của hiệp định FTA giữa Việt Nam - EU và chỉ ra được những cơ hội đối với hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam vượt qua rào cản môi trường của EU;
- Phân tích tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU trong những năm qua, các giải pháp nhà nước và doanh nghiệp đã thực hiện nhằm tăngkhả năng đáp ứng rào cản môi trường tại EU của nông sản xuất khẩu Việt Nam và kết quả thực hiện thực tế;
- Đề xuất những giải pháp đối với nhà nước Việt Nam và một số kiến nghị đến các hiệp hội ngành hàng liên quan và doanh nghiệp xuất khẩu nông sản để tăng khả năng đáp ứng các rào cản môi trường của EU đối với hàng nông sản xuất khẩu
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Rào cản môi trường của EU và ảnh hưởng của nó
tới xuất khẩu nông sản Việt Nam
Trang 9- Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian
từ khi Việt Nam gia nhập vào WTO (năm 2007) tới năm 2015, số liệu năm 2015 là giá trị ước tính dựa trên số liệu của 10 tháng đầu năm
- Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu tới các quy định về rào cản môi trường tại EU và xuất khẩu nông sản từ Việt Nam sang EU EU được xét gồm 28 nước thành viên hay còn gọi là EU (28)
4 Tình hình nghiên cứu
Nông sản luôn là lĩnh vực xuất khẩu truyền thống và Việt Nam có thế mạnh trong những năm qua Do tầm quan trọng của thị trường EU đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam nên đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này Gần đây nhất có
công trình luận án tiến sĩ: "Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO" của tác giả Nguyễn
Thị Thúy Hồng bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2014, đã đi vào phân tích và đánh giá chung về các chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU Tuy nhiên, luận án này chưa đi vào cụ thể đối với hàng nông nghiệp xuất khẩu và vấn đề rào cản môi trường
Ngoài ra một số luận văn thạc sĩ như "Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của nhóm hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường EU" của tác giả Đỗ Thanh Tuấn bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2004; "Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU trong bối cảnh EU 25" của tác giả Nguyễn Thúy Ngọc bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm
Trang 102004 mới viết về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu một mặt hàng cụ thể sang EU chứ chưa đi sâu vào hàng rào môi trường của EU
Tóm lại, theo tác giả được biết, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về hàng rào môi trường của EU đối với hàng nông sản xuất khẩu, đặt biệt là trong bối cảnh Việt Nam đã hoàn thiện cơ bản việc đàm phán hiệp định FTA với EU Vì vậy đề tài được lựa chọn là hoàn toàn mới mẻ và mang ý nghĩa thực tiễn cao
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp và phương pháp chuyên gia
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về rào cản môi trường của EU đối với nhập khẩu nông sản
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu và đáp ứng các rào cản môi trường củaEU đối với nông sản Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp, kiến nghị để nông sản xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng tốt hơn với các rào cản môi trường của EU đến năm 2020
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG
CỦA EU ĐỐI VỚI NHẬP KHẨU NÔNG SẢN
1.1 Khái niệm và vai tròcủa rào cản môi trường của EU đối với nông sản nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm về rào cản môi trường
Rào cản môi trường không có khái niệm chính thức nhưng vềthực tế trong thương mại, các nước có thể áp dụng các tiêu chuẩn môi trường và điều này đã gây cản trở, khó khăn cho việc buôn bán giao thương giữa các nước Chính vì vậy, có thể hiểu rào cản môi trường là các quy định, biện pháp, các chính sách về môi trường
mà chính phủ mỗi quốc gia áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu và có tác động hạn chế hoặc kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa hay dịch vụ vào quốc gia mình Bản chất rào cản môi trường là một trong các rào cản kỹ thuật trong thương mại và việc áp dụng không đi ngược lại các quy tắc trong WTO Bởi lẽ “Rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (hay technical barriers to trade) được thừa nhận trong hiệp định TBT, theo đó, WTO thừa nhận rằng các nước có quyền tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người, động vật và môi trường
Nếu hiểu chi tiết hơn thì rào cản môi trường là hệ thống các biện pháp kỹ thuật gồm các hệ thống tiêu chuẩn và quy định về môi trường trong hoạt động sản xuất từ việc sử dụng nguyên vật liệu và trình độ công nghệ sản xuất, sử dụng, thu gom và xử lý chất thải, phải đảm bảo thân thiện môi trường Việc xây dựng và áp dụng rào cản môi trường phụ thuộc vào trình độ phát triển và quan điểm của từng quốc gia đối với vấn đề môi trường vì theo nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO thì hàng xuất khẩu và nhập khẩu phải được đối xử như nhau nên việc áp dụng các biện pháp môi trường sẽ tác động cả tới sản xuất trong nước Tuy nhiên do trình độ phát triển của các nước là khác nhau nên quan điểm và việc giải quyết các vấn đề về môi trường ở các nước là khác nhau, phần lớn các nước lại là tại các nước đang và chậm phát triển chưa coi trọng vấn đề này Chính vì vậy các chính sách về môi trường đã
Trang 12trở thành một rào cản lớn đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang và chậm phát triển khi muốn xâm nhập vào thị trường các nước phát triển
1.1.2 Vai trò của việc đáp ứng rào cản môi trường của EU đối
với nông sản nhập khẩu
1.1.2.1 Vai trò của rào cản môi trường của EU đối với các nước trong khối
EU là một trong những khu vực phát triển và đi đầu về những hành động hướng tới bảo vệ môi trường nội khối nói riêng và môi trường toàn cầu nói chung
EU với thị trường chung gồm 28 nước thành viên, thực sự là một thị trường tiềm năng, có nhu cầu rất lớn đối với nhiều loại sản phẩm khác nhau, đặc biệt là hàng nông sản Hiện tại nhu cầu nội khối đối với hàng nông sản đang vượt quá khả năng đáp ứng của các nước thành viên và tận dụng lợi ích của thương mại quốc tế, EU đã
mở cửa nhập khẩu các hàng hóa nông sản, vốn là sản phẩm mà các nước đang phát triển có lợi thế hơn Tuy nhiên khi đó EU cũng đã nhận diện được một số nguy cơ
có thể tác động tiêu cực tới thị trường trong nước, nhất là các vấn đề môi trường và
an toàn đối với con người và vật nuôi nội khối Trong bối cảnh các biện pháp thuế quan trực tiếp đã dần được gỡ bỏ thì rào cản môi trường càng trở nên cần thiết và có tác động tích cực trong việc kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu nói riêng và hạn chế nhập khẩu nói chung Vì vậy chính sách môi trường của EU đối với nhập khẩu nông sản có một số vai trò chính sau:
Thứ nhất: Các rào cản môi trường sẽ có vai trò tích cực để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái trong tương lai tại các nước thuộc khối EU, hướng tới tăng trưởng bền vững Nông sản vốn nằm trong nhóm sản phẩm thiết yếu
và có tính tiêu dùng trực tiếp nên các vấn đề về chất lượng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người Thêm vào đó thời gian tiêu thụ sản phẩm thường ngắn nên dễ phát sinh các vấn đề về rác thải và có thể mang các nguy cơ đối với môi trường như gây ô nhiễm, lây bệnh tật cho cây trồng và vật nuôi tại nước nhập khẩu
Thứ hai: Rào cản môi trường định hướng doanh nghiệp xuất khẩu sản xuất sản phẩm sạch, có trách nhiệm với vấn đề bảo vệ môi trường EU là một trong
những nước đi đầu về các hoạt động hướng tới giảm thiểu tác hại tới môi trường nội
Trang 13khối nói riêng và môi trường toàn cầu nói chung Qua những nghiên cứu của mình,
EU cũng nhận thức khá rõ việc sản xuất các sản phẩm có thể phải đánh đổi bằng việc cạn kiệt các tài nguyên có hạn, ô nhiễm các nguồn tài nguyên khác như nước, không khí, đất, nên các rào cản môi trường sẽ buộc các doanh nghiệp sản xuất phải cân đối giữa vấn đề lợi nhuận và vấn đề môi trường để hướng tới phát triển bền vững ở phạm vi quốc tế
Thứ ba: Những rào cản môi trường giúp tuyên truyền tới người người tiêu dùng châu Âu về sản phẩm chất lượng, nâng cao ý thức của mỗi con người đối với việc bảo vệ môi trường sống chung Thực tế thì người tiêu dùng châu Âu đều ủng
hộ các sản phẩm thân thiện với môi trường và thậm chí sẵn sàng trả giá cao để chọn
sử dụng các sản phẩm có nhãn sinh thái hay tẩy chay các sản phẩm, doanh nghiệp không đảm bảo trách nhiệm của mình đối với môi trường Chính vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản nói riêng cũng cần thể hiện đúng trách nhiệm của mình
để sản phẩm được người tiêu dùng EU chấp nhận
Thứ tư:Rào cản môi trường giúp bảo hộ sản xuất trong nước, là một phương
án thay thế hiệu quả cho các hàng rào thuế và phi thuế truyền thống như hạn ngạch,… mà vẫn đảm bảo phù hợp với các thông lệ quốc tế Lương thực thực phẩm
luôn được coi là một trong những vấn đề thuộc an ninh quốc gia nên các nước luôn tìm cách bảo hộ sản xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu, tránh bị phụ thuộc vào các thị trường nhập khẩu EU cũng không ngoại lệ
Thứ năm:Rào cản môi trường có tác dụng tích cực hỗ trợ việc đàm phán quốc tế.Việc hỗ trợ các thông tin và kỹ thuật để đáp ứng tốt hơn các rào cản môi trường của
EU cũng là một công cụ để tăng cường hợp tác giữa EU và các nước thành viên Về cơ bản thì các quy định về môi trường đang được EU áp dụng thống nhất đối với sản xuất trogn nước và nhập khẩu Vì vậy, hỗ trợ nước nhập khẩu vượt qua rào cản sẽ giúp tăng cường thương mại giữa hai nước và đó cũng là một lợi ích mà EU dành cho đối phương Bên cạnh đó việc áp dụng các rào cản môi trường là một xu thế tất yếu trong
sự phát triển và gắn kết các nước chung tay giải quyết vấn nạn ô nhiễm toàn cầu nên việc đảm bảo các tiêu chí của môi trường cũng là lời cam kết của chính phủ các nước
Trang 14Tuy nhiên rào cản môi trường đối với hàng nông sản tại EU cũng có phần gây thiệt hại cho chính người tiêu dùng tại các nước nội khối khi không được lựa chọn và sử dụng hàng hóa một cách phong phú hơn với chi phí thấp hơn Thực tế thì tại thị trường EU cũng luôn có những bộ phận người dân có thu nhập và đời sống thấp, họ sẽ có ít sự lựa chọn đối với các hàng hóa rẻ hơn mặc dù vẫn đảm bảo giá trị sử dụng
1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc nông sản xuất khẩu Việt Nam cần đáp ứng cácrào cản môi trường của EU
EU là một trong những thị trường lớn, phát triển và có nhu cầu nhập khẩu nông sản rất lớn từ các nước đang và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam Từ khi quan hệ hai nước được thiết lập, Việt Nam cũng luôn là một trong những nước đang phát triển xuất khẩu nông sản khá ổn định sang EU Các tiêu chuẩn môi trường của
EU được hình thành cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa nhằm đảm bảo việc phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường nên tất yếu nó sẽ ngày càng được bổ sung nhiều và khắt khe hơn Các tiêu chuẩn này được áp dụng đối với cả hàng hóa trong nội khối và hàng nhập khẩu nên không vi phạm các điều ước quốc tế
về tự do thương mại và buộc các nước xuất khẩu phải đáp ứng khi muốn đưa hàng hóa vào thị trường EU
Do sự phát triển kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp hơn EU khá nhiều nên việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam còn ở mức thấp Chính vì vậy các rào cản môi trường của EU đang gây khá nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam.Thêm vào đó việc nhận thức về các rào cản cũ và mới còn hạn chế nên mặc dù Việt Nam luôn nhận định EU là thị trường tiềm năng đối với các sản phẩm nông sản nhưng để có thể thay đổi để đáp ứng được kịp thời các tiêu chuẩn môi trường của EU thì vẫn là một bài toán khó mà cả nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu đang cùng tìm cách tháo gỡ Tuy nhiên đây không phải là khó khăn của riêng Việt Nam mà là khó khăn chung của các nước xuất khẩu nông sản khác sang EU Chính vì vậy đáp ứng rào cản môi trường cũng là tăng khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu trên thị trường EU
Trang 15Hàng nông sản là một trong các mặt hàng xuất khẩu truyền thống và có thế mạnh của Việt Nam nhưng phương thức sản xuất đang còn khá lạc hậu và phụ thuộc quá nhiều vào lợi thế tài nguyên có sẵn, cơ chế sản xuất không tập trung và theo hướng
tự phát trong các hộ gia đình, tự phát theo trào lưu nên chất lượng đầu vào sản xuất không đồng đều và không cao Thêm vào đó các rào cản môi trường làm phát sinh chi phí thêm cho nhiều hạng mục (ví dụ: kiểm định và cấp giấy chứng nhận, thu gom và xử
lý chất thải,…) dẫn tới tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu Các chi phí này đôi khi quá cao so với giá thành sản phẩm và lợi nhuận nên khiến các nhà xuất khẩu của Việt Nam chùn bước.Thực tế thì rào cản môi trường đang gây khó khăn cho việc xuất khẩu nông sản từ Việt Nam sang
EU và góp phần làm tăng khoảng cách giữa thị trường các nước phát triển và các nước đang phát triển Việc áp dụng ngày càng tăng các biện pháp môi trường của EU khiến cho thị trường xuất khẩu cho hàng hóa nông sản của Việt Nam bị thu hẹp, ảnh hưởng tới cán cân thương mại giữa hai nước và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Chính vì vậy Việt Nam cần phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và buộc phải có những hành động tích cực nhằm đáp ứng được các rào cản môi trường tại EU đối với nông sản và có sự chuẩn bị tốt để sẵn sàng đáp ứng các rào cản mới
1.2 Đặc điểm và những quy định của EU về rào cản môi trường đối với nông sản nhập khẩu
1.2.1 Đặc điểm những quy định của EU về rào cản môi trường đối với nhập khẩu nông sản
Năm 1972, Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường được tổ chức tại Stockhom (Thụy Điển) được coi là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc
và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường và thành lập chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc Trong cuộc họp của các nhà đứng đầu trong Cộng đồng kinh tế Châu Âu EEC từ năm 1972, các nước đi đến thống nhất rằng vấn đề môi
Trang 16trường không còn nằm trong biên giới quốc gia mà đã trở thành vấn đề toàn cầu và các tiêu chuẩn môi trường lần đầu được đề cập và đưa ra xem xét và tới năm 1987, các chính sách về môi trường mới chính thức được ban hành với nội dung chính là yêu cầu cộng đồng phải có trách nhiệm với môi trường sinh thái tuy nhiên còn khá
sơ sài Sau Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) năm 1992 tại Rio Rio de Janeiro, (Brasil), các đại biểu tham gia trong đó có những người đứng đầu EU đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 Đây cũng chính là một trong các cơ sở của các chính sách môi trường sau này của EU
Chính sách môi trường của EU cơ bản được các nước thành viên cơ bản đồng thuận và phù hợp với các chương trình hành động trong khuôn khổ Hiệp định Rio, với định hướng là cân đối giữa mục tiêu kinh tế và bảo vệ môi trường Trên cơ sở hiệp ước và các thông lệ quốc tế, EU còn phát triển các tiêu chuẩn và quy định môi trường lên cao hơn và chặt chẽ hơn Cùng với việc chứng minh tính đúng đắn của chỉ thị qua các báo cáo thực tế, các tiêu chuẩn nói chung và chính sách môi trường nói riêng của EU vẫn luôn được nhiều nước tham chiếu và học theo và đưa vào bổ sung cho các hiệp ước quốc tế Tại thị trường chung EU, các chính sách môi trường
sẽ được thống nhất chung với các tiêu chuẩn và hạn mức tối thiểu, sau đó sẽ được
áp dụng theo phạm vi quốc gia và nhiều chính sách đã được cụ thể vào luật quốc gia Các rào cản môi trường cũng được cân đối lại và điều chỉnh dựa trên các báo cáo, đánh giá chiến lược về môi trường và việc thực hiện tại các nước thành viên
Nguyên tắc chung khi đưa ra các chính sách môi trường tại EU là việc nghiên cứu và xử lý nguyên nhân của vấn đề môi trường chứ không phải là đối phó với rắc rối đã xảy ra.Mục tiêu của EU là tránh sử dụng chất thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên với tích hợp công nghệ môi trường và hướng tới ngăn ngừa các nguy có thể xảy ra trong dài hạn Tiêu chuẩn chất lượng môi trườngtại EU thường được mô tả thành quy định về chất lượng môi trường có gắn liền với các yếu tố khác nhau của môi trường (như đất, nước, ) hoặc nhắm một mục tiêu cụ thể (ví dụ như con người, hệ sinh thái,
Trang 17) Khi đó, tiêu chuẩn môi trường được hiểu là một định lượng và đo lường mức độ ô nhiễm hoặc bị hư hại.Cơ quan môi trường Châu Âu EEA cũng thường xuyên công bố các báo cáo chỉ số môi trường và đánh giá về ảnh hưởng của các chính sách môi trường hiện tại
Qua gần bốn thập kỷ liên tục được lấy ý kiến chỉnh sửa và bổ sung, ngày nay
EU đã có hệ thống các chính sách môi trường tiến bộ nhất của bất kỳ nhà nước trên thế giới EU đã ban hành một mạng lưới ngày càng dày đặc các chính sách và chỉ thị trên nhiều lĩnh vực và hướng tới bảo vệ môi trường, bao gồm: Kiểm soát ô nhiễm không khí, bảo vệ nguồn nước, quản lý chất thải, bảo tồn thiên nhiên, và kiểm soát hóa chất, công nghệ sinh học và rủi ro công nghiệp khác Các Viện Chính sách môi trường châu
Âu ước tính cơ thể của pháp luật về môi trường EU chiếm tới hơn 500 chỉ thị, quy định
và quyết định hướng tới đề ra các quy định được cụ thể hóa bằng lượng dành cho hàng hóa và dịch vụ Hệ thống tiêu chuẩn về môi trường của EU được xây dựng cụ thể cho từng lĩnh vực, từng ngành, từng dòng sản phẩm nói chung và sản phẩm đặc thù Danh sách các sản phẩm chịu tác động của các quy định bắt buộc từ chính sách về môi trường cũng khá rộng, trong đó có nông sản và ngày càng được bổ sung dài hơn.Các quy định của EU đề cập đến rất nhiều vấn đề trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất tới tiêu dùng sản phẩm như hàm lượng chất phụ gia, bao bì, hóa chất, ô nhiễm nước và không khí, cạn kiệt tài nguyên không thể tái sinh, rác thải và xử lý rác thải sản xuất, rác thải tiêu dùng,… Các chính sách môi trường là một phần của các quy định kỹ thuật nói chung và đôi khi không tách rời Ví dụ về việc quy định giới hạn các chất, hóa chất có trong thực phẩm, các hệ thống quản lý môi trường và an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất sạch,… sẽ vừa bao gồm mục tiêu đảm bảo an toàn với sức khỏe con người nói riêng, vừa vì mục tiêu bảo vệ môi trường nói chung
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ môi trường trong khối và các
hệ thống phân tích đánh giá, hệ thống quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU đối với hàng hóa nói chung, nông sản nói riêng ngày càng chặt chẽ, yêu cầu ngày càng cao, và khó thực hiện đối với các nước đang và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam
Trang 181.2.2 Những quy định và tiêu chuẩn của EU về môi trường đối với nông sản nhập khẩu
EU có một hệ thống quy định khá sát sao về trách nhiệm đối với môi trường của doanh nghiệp trong suốt vòng đời sản phẩm từ lúc nuôi trồng, sản xuất chế biến tới sử dụng và tái chế Bên cạnh các quy định, EU cũng có một hệ thống các tiêu chuẩn và các chứng nhận về môi trường để công nhận những sản phẩm, doanh nghiệp đã hoàn thành các trách nhiệm cũng như đóng góp cho việc cải thiện chất lượng môi trường nói chung Các tiêu chuẩn và chứng nhận môi trường là không bắt buộc đối với cả hàng nhập khẩu và hàng hóa nội khối nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu có chứng nhận sẽ thuận lợi hơn khi đưa hàng hóa thông quan và tiêu thụ tại thị trường EU Các nội dung cụ thể:
1.2.2.1 Những quy định của EU về môi trường đối với nông sản nhập khẩu
Liên minh châu Âu EU có ban hành chính sách cho nội khối đối với nông nghiệp gọi tắt là CAP, có nhấn mạnh rất nhiều về chủ đề xanh với mục tiêu hướng tới bảo vệ môi trường Theo đó các nhà sản xuất phải hoàn thành quy trình “xanh” trong sản xuất và nhận được chứng nhận trước khi đưa sản phẩm ra lưu hành trên thị trường Đối với hàng nhập khẩu, các quy định về quy trình sản xuất thân thiện, đóng gói,… thân thiện với môi trường cũng ngày càng được hoàn thiện và chặt chẽ hơn, trở thành rào cản lớn đối với hàng nông sản xuất khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy chưa bắt buộc phải có những chứng nhận quốc tế nhưng hàng nông sản phải đảm bảo những nội dung chung trong chính sách môi trường và các quy định riêng cho từng loại sản phẩm nông nghiệp, cụ thể được tóm lược trong một số nội dung sau:
Thứ nhất: Quy định về an toàn thực phẩm, luật thực phẩm và kiểm soát tới hạn HACCP
Trong quy định số 178/2002 của Nghị Viện Châu Âu và Hội đồng liên minh Châu Âu thiết lập các nguyên tắc và yêu cầu chung của hệ thống pháp luật thực phẩm
và qui định những thủ tục liên quan đến an toàn thực phẩm có ghi: Thực tế là một số sản phẩm được cho phép theo quy định của luật lệ về thực phẩm, như thuốc trừ sâu
Trang 19hay các loại phụ gia thực phẩm dùng cho thức ăn động vật có thể gây ra những mối nguy đối với môi trường và an toàn của người lao động, nên một số yếu tố môi trường và bảo vệ người lao động phải được đánh giá bởi Cơ quan thẩm quyền theo đúng quy định của hệ thống luật pháp về lĩnh vực này Vì vậy việc quản lý và bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất là một phần tất yếu phải thực hiện nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường nói chung Người kinh doanh phải đảm bảo sản phẩm làm ra phải an toàn, chịu trách nhiệm về việc giám sát
vệ sinh và đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc ở tất cả các giai đoạn của quá trình khi cần, kể cả các dây chuyền tại các nước xuất khẩu Các nội dung cụ thể liên quan tới quy định bảo vệ môi trường trong các văn bản luật thực phẩm:
- Luật thực phẩm dựa trên nguyên tắc phân tích và phòng ngừa các khả năng
có thể xảy ra Cơ quan thẩm quyền góp phần vào việc đảm bảo ở mức độ cao sức khoẻ và cuộc sống của con người, với nghĩa bao gồm cả sức khoẻ và sự an toàn của động vật, bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường thông qua việc quản lý chặt chẽ và công bố thông tin rộng rãi để cả người sản xuất và người tiêu dùng đều nắm được và thực hiện nghiêm túc
- Quy định (EC) số 852/2004 bổ sung thêm các quy định sử dụng các nguyên tắc phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) trong quá trình sơ chế thực phẩm Việc xác lập các mục tiêu như giảm mầm bệnh hoặc thực hiện các tiêu chuẩn có thể có tác dụng hướng dẫn việc thực hiện các qui tắc
vệ sinh từ đó có biệm pháp quản lý và giảm thiểu các chất gây nhiễm trong thực phẩm Trong nội dung quy định những mức chấp nhận tối đa đối với các chất gây nhiễm cụ thể và Qui định (EC) số 178/2002 đã cấm đưa các thực phẩm không an toàn ra thị trường và đã cung cấp những căn cứ thống nhất cho việc sử dụng nguyên tắc phòng ngừa sớm
- Các sản phẩm động vật và các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật phải được kiểm tra và chứng thực về chất lượng và bảo đảm vệ sinh trong quá trình sản xuất còn cần được kiểm tra về dịch bệnh, dư lượng các chất gây ô nhiễm, các chất cấm, kí sinh trùng, các chất gây ô nhiễm môi trường,… ngoài ra các động vật xuất khẩu phải không nằm trong danh sách cần bảo tồn bảo vệ của Công ước CITEs
Trang 20- Việc kiểm tra kiểm soát hành nhập khẩu phải do các nước thành viên thực hiện nghiêm túc Ủy ban EU có chấp nhận các kết quả xác nhận của nước thứ 3 nhưng phải kèm theo Chứng thư và đảm bảo rằng có đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền Nước thứ 3 phải đảm bảo áp dụng các quy định và tiêu chuẩn ở mức tương đương, được EU chấp nhận và có được công bố trong danh sách chính thức
- Các phân hữu cơ và các chất cải tạo đất và phân bón được sử dụng trong nhưng phải đảm bảo trong phạm vi cho phép của luật hóa chất Châu Âu, đảm bảo
dư lượng các hóa chất trong thực phẩm không được vượt ngưỡng cho phép
- Điều 53 trong luật 178/2002 có đề cập tới các tình huống khẩn cấp khi
phát hiện sai phạm: Khi có bằng chứng nghi ngờ rằng hàng hoá thực phẩm hoặc thức ăn cho gia súc từ cộng đồng hay một nước thứ ba nào đó gây ra một mối nguy nghiêm trọng đối với sức khoẻ con người, sức khoẻ động vật hoặc môi trường, và mối nguy này không thể chế ngự được một cách thoả đáng gián tiếp qua các biện pháp mà các Nước Thành Viên liên quan đã thực hiện, Uỷ ban Châu Âu sẽ được quyền ra quyết định cao nhất để xử lý ngay tình hình
- Gần đây Quy định EU số 1276/2011 cũng sửa đổi Phụ lục 3, Quy định EC
số 853/2004 về kiểm soát kí sinh trùng trong sản phẩm thủy sản dùng làm thực phẩm để không ảnh hưởng tới hệ sinh thái tại địa điểm tiêu thụ sản phẩm
HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) là hệ thống quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm dựa trên nguyên tắc phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn trong quá trình sản xuất thực phẩm để đảm bảo rằng việc sản xuất
và sử dụng thực phẩm là thân thiện và không ảnh hưởng tới môi trường Ví dụ về một quy định về cơ sở chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tốt: các sơ cở chế biến của nước xuất khẩu phải được EU kiểm tra và công nhận theo nguyên tắc HACCP để đảm bảo kiểm soát được dư lượng kháng sinh, chất gây bệnh, chất phụ gia trong thuốc thú y và thức ăn gia súc; trong ngưỡng cho phép để khi truy xuất lại quá trình sản xuất, việc sử dụng khánh sinh, thuốc thú ý,… đảm bảo không gây nguy hại với môi trường tại nước sản xuất và việc tiêu dùng cũng như rác thải sau tiêu dùng không gây nguy hại cho môi trường của nước nhập khẩu
Trang 21Một số sản phẩm đặc thù như rau củ quả, gỗ và sản phẩm từ gỗ đã mang theo nguy cơ của việc lây lan sâu bệnh và các bệnh mới đã tăng lên Cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi, chúng có thể lây lan và dẫn đến thiệt hại về môi trường, hủy diệt các loài thực vật bản địa, thiệt hại đáng kể về kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và tăng việc sử dụng thuốc trừ sâu tại EU Do đó các biện pháp để ngăn chặn nhập và lây lan là rất cần thiết Đối với các sản phẩm này, tùy thuộc vào các nước xuất xứ và loại sản phẩm nhập vào EU được hoặc bị cấm hoặc cho phép theo các điều kiện nhất định (yêu cầu kiểm dịch thực vật) Nhiều loại gỗ phải đảm bảo được xử lý để phòng trừ sinh vật hại đang được lây lan cùng với gỗ, do đó giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật thường yêu cầu với các lô hàng nhập khẩu Các sản phẩm cây trồng,
gỗ khi nhập khẩu vào EU phải được kiểm dịch thực vật, danh sách cụ thể liệt kê trong phần A và B, Phụ lục V - Chỉ thị 2000/29 / EC và nội dung đã đính chính lại của Qui định (EC) số 882/2004 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 29 tháng
4 năm 2004 nhằm đảm bảo sản phẩm đã được: kiểm tra đúng cách; không chứa sinh vật gây hại và không có khả năng lây bệnh cho thị trường nội địa; phù hợp với các quy định kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu
Các sản phẩm nông sản xuất khẩu vào thị trường EU thường bị vướng vào các quy định về dư lượng kháng sinh khi xuất khẩu vào EU, và Việt Nam cũng không ngoại lệ.Chính vì vậy các nhà xuất khẩu cần phải cập nhập thường xuyên và
có sự điều chỉnh trong việc sản xuất để đảm bảo quy định này
Thứ hai: Quy định về vệ sinh: Luật REACH
REACH (Registration, Evaluation, Authorisation and Restriction of Chemicals - Đăng ký, Đánh giá, Cấp phép và Hạn chế Hóa chất) có hiệu lực vào tháng sáu năm 2007 REACH thiết lập một hệ thống quy chuẩn, hàm lượng,… đối với các chất hóa học và đặt ra yêu cầu tuân thủ đối với các nhà sản xuất cũng như các nhà sử dụng các sản phẩm hóa chất Ngoài ra REACH cũng công bố danh sách các chất có nguy cơ cao (substances of very high concern – SVHC) là các chất có khả năng gây ra những tác động sau: gây ung thư, gây đột biến hay gây độc cho sinh sản; tích tụ sinh học và độc hại, nguy hiểm và có thể gây tổn hại đến môi trường và sức khỏe con người, là chất gây tổn hại hệ thống hormone
Trang 22Tính đến 10/3/2015 thì danh sách các chất bị hạn chế đã lên con số 161, được liệt kê cụ thể trong phụ lục số XIV.Các chất thuộc danh mục này sẽ không được phép
sử dụng hoặc nhập khẩu vào EU tính từ ngày được công bố trừ khi công ty đó đã được cấp phép REACH không chỉ để kiểm soát hóa chất trong các sản phẩm mà còn nhằm kiểm soát việc sử dụng các hóa chất đưa vào sản xuất Theo đó bất kỳ loại sản phẩm nào có chứa hóa chất trong nhóm nguy hại cao với nồng độ 0,1% trên tổng trọng lượng thì nhà cung cấp phải cho người nhận sản phẩm đó đầy đủ thông tin, tối thiểu là tên hóa chất để họ có thể sử dụng sản phẩm một cách an toàn Tuy nhiên nếu nó là một phần không thể tách rời của hàng nhập khẩu thì không cần phải cấp phép Bên cạnh đó các sản phẩm mà hóa chất hiện hữu trong những sản phẩm sản xuất trong một năm có số lượng lớn hơn 1 tấn/nhà sản xuất cũng đều phải khai báo và phải đảm bảo hóa chất dự định được đưa ra trong điều kiện sử dụng bình thường và hợp lý
Theo quy định của REACH thì các chất hóa học sẽ được kiểm soát và khai báo trong suốt quá trình sản xuất ra sản phẩm, do đó phạm vi của REACH rất rộng
và ảnh hưởng tới hầu hết các ngành và có cả ngành nông nghiệp Đối với sản phẩm nông nghiệp, một số chất hóa học sẽ được phép sử dụng như phân bón, thuốc trừ sâu, chất tẩy rửa… thì sẽ phải áp dụng các loại sản phẩm phù hợp với quy định của REACH và các quy định tương ứng cho phân bón, thuốc trừ sâu,… Cụ thể:
- Các sản phẩm bảo vệ thực vật và chất diệt sinh vật phải tuân theo quy
định EU số 1107/2009 Sản phẩm phải chứng minh được các nồng độ là ở mức cho phép và an toàn đối với sức khỏe con người, sức khỏe động vật và môi trường nhưng vẫn phải có hiệu quả cho mục đích sử dụng Bản chất các sản phẩm bảo quản, khử trùng,… là các chất hóa học, có thể chứa các chất có thể gây hại cho con người, động vật và môi trường cũng như thường phân hủy lâu và có thể tích tụ trong môi trường, gây ô nhiễm môi trường trong dài hạn
Các sản phẩm bảo vệ thực vật được hiểu là các sản phẩm, hợp chất ngăn cản hoặc tiêu diệt các bệnh tật, sinh vật có hại cho cây trồng, thực vật có lợi trong quá trình sản xuất, di chuyển và lưu trữ cây trồng Các sản phẩm bảo vệ thực vật được
sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và cả trong vườn nhà Ngoài ra các
Trang 23chất khác như thuốc trừ sâu, chất khử trùng và các thuốc bảo quản cũng được sử dụng rộng rãi nhằm kiểm soát hoặc tiêu diệt các sinh vật có hại cho sức khỏe của con người, động vật nuôi và các hoạt động khác của con người như sinh vật gây hại
và gây dịch bệnh (chuột, côn trùng,…); các vi sinh vật (vi trùng, vi khuẩn,…) Các sản phẩm trừ sâu và thuốc khử trùng là rất cần thiết vì chúng kiểm soát và hạn chế các bệnh qua sinh vật và các bệnh truyền nhiễm qua động thực vật tới con người
Có nhiều chất được sử dụng rộng rãi trong các vật liệu như nhựa, sơn, gỗ, dệt may,… để giúp vật liệu chống được vi khuẩn, nấm hay côn trùng
Theo quy định của EU, đối với việc công nhận sử dụng các sản phẩm bảo vệ thực vật và các chất diệt sinh vật sẽ do các nước thành viên sẽ chịu trách nhiệm cấp phép trên thị trường nước mình và có thể tham chiếu công nhận kết quả của các nước thành viên khác Hiệu lực của giấy phép thường là 10 năm nhưng một nước thành viên có quyền rút lại hoặc sửa đổi trên phạm vi của nước mình Các nước thành viên chịu trách nhiệm kiểm soát trên thị trường trong nước và chịu sự kiểm tra giám sát của hội đồng chuyên gia của Ủy ban Liên Minh Nếu phát hiện có sản phẩm có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe của con người, động vật và môi trường thì Ủy ban có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp để hạn chế, cấm sử dụng hoặc buôn bán, lưu hành sản phẩm đó trên thị trường ngay cả khi các nước thành viên chưa bị đe dọa
Đối với các sản phẩm nhập khẩu thì EU sẽ tiến hành kiểm tra mức dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật để làm cơ sở đánh giá Đối với nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật hiện đã có các mức dư lượng chung áp dụng cho toàn bộ Cộng đồng Châu
Âu Tuy nhiên, một số loại thuốc thì mức dư lượng lại khác nhau giữa các nước.Mỗi quốc gia phải xác định là đáp ứng được các quy định (thường là thông qua bộ nông nghiệp) tại địa điểm nhập khẩu.Trường hợp các nước trong Cộng đồng Châu Âu chưa thiết lập được mức dư lượng tối đa, các nhà xuất khẩu yêu cầu cần phải có giấy phép nhập khẩu
- Chất tẩy rửa được hiểu là các chất có thể làm ướt bề mặt và làm sạch
một cách hiệu quả các đồ vật khác có bao gồm cả bao bì đóng gói và thậm chí là vệ
Trang 24sinh trong quá trình chế biến sản phẩm EU đã ban hành quy định EC số 648/2004
và bổ sung bằng quy định mới đây nhất là EC số 259/2012 về chất tẩy rửa để cải thiện môi trường thông qua việc bảo vệ nguồn nước khỏi tác động có hại của một số chất được tìm thấy trong các chất tẩy rửa Theo quy định, khả năng phân hủy sinh học để an toàn với môi trường nước Luật cũng quy định cơ chế đánh giá độ tan hạn chế trong nước của các chất tẩy rửa và phù hợp với tiêu chuẩn ISO 10.708:1997 về chất lượng nước và quy định REACH về hóa chất và nồng độ cho phép
- Phân bón: Về bản chất thì phân bón nằm trong các chất hóa học cần
được kiểm soát vì nó được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong nông nghiệp nhưng lại có khả năng gây nguy hiểm cho con người và môi trường nếu không sử dụng đúng cách Phân bón khi được sử dụng với lượng không thích hợp có thể tích
tụ lại trong môi trường đất và có khả năng gây ô nhiễm nguồn nước Nội dung về phân bón được quy định cụ thể trong quy định EU số 2003/2003 của nghị viện Châu
Âu và hội đồng liên quan đến phân bón theo đó thống nhất sẽ hiểu chung về khái niệm và thành phần của phân bón Luật pháp về phân bón tại EU liên tục được chỉnh sửa bổ sung qua các năm và bản mới nhất là Quy chế của Ủy ban (EU) số 1257/2014 của tháng mười một năm 2014
Đối với các mặt hàng nông sản có thể có các quy định riêng, ví dụ đối với sản phẩm thủy sản: EU đã áp dụng một số quy định khác về nguyên liệu đóng gói thực phẩm, kiểm soát cặn và các chất gây ô nhiễm EU đã chi tiết hóa quyền kiểm soát thành luật đối với việc sử dụng và theo dõi các loại thuốc thú y, các loại thuốc khác dùng cho cá và các sản phẩm cá Luật kiểm soát những loại thuốc cấm chỉ định cho vật nuôi và các sản phẩm dự tính xuất khẩu đều được áp dụng cả với sản phẩm từ nước thứ ba Một số nội dung liên quan:
- Quy định của Ủy ban châu Âu (EC) Số 466/2001 đưa ra mức độ tối đa cho phép đối với chất gây ô nhiễm nhất định trong thực phẩm, đối với các sản phẩm
cá và nông sản thì chất gây ô nhiễm đó là thủy ngân, cát mi và chì (kim loại nặng)
- Quyết định của Ủy ban châu Âu 95/249/EC ấn định giới hạn tổng lượng nitơ cơ bản dễ bay hơi (TVB-N) đối với ngạch sản phẩm cá nhất định và cụ thể hóa những phương pháp phân tích được sử dụng
Trang 25- Hướng dẫn 96/22/EEC ngăn cấm sử dụng các loại chất cụ thể có chứa hooc-môn và hoạt chất thyreostatic, trong đó có kháng thể trong các sản phẩm cá
Thứ ba: Các quy định về nhãn mác và xuất xứ
Nội dung về nhãn mác được quy định trong Chỉ thị 94/11/EC EU và trong các chỉ thị đối với một số ngành đặc thù như hóa chất, và được cập nhật bằng Quy định EU số 1169/2011 được Ủy ban Châu Âu ban hành vào ngày 22/11/2011 và được áp dụng đối với nhãn sản phẩm thực phẩm kể từ ngày 13/12/2014
EU quy định nhãn mác của sản phẩm phải thể hiện được nguồn gốc, cân nặng, kích thước và thành phần cấu tạo của sản phẩm để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.Ngoài ra trên nhãn mác có thể có các kí hiệu của các chứng nhận chất lượng, chứng nhận môi trường, và phải là các kí hiệu đã được phổ biến hoặc quen thuộc với người tiêu dùng châu Âu để họ có thể phân biệt được
Nhãn mác hay nhãn hiệu phải gắn với bất cứ một mặt hàng nào khi đem ra bán lẻ Nhãn mác phải được nhìn thấy rõ, được đính kèm chắc chắn và dễ tiếp cận, kích thước của các ký hiệu phải đủ lớn để người sử dụng dễ dàng hiểu được.Nếu như sản phẩm không thể gắn hay đóng dấu nhãn mác thì những thông tin về hàng hoá phải được ghi trên phiếu đóng gói đi kèm sản phẩm hoặc ghi trên một tờ riêng giới thiệu về sản phẩm Người xuất khẩu hoặc đại lý phân phối sản phẩm sẽ là người chịu trách nhiệm về việc dán nhãn và tính minh bạch, chính xác của những thông tin được ghi trên nhãn hàng hóa
Việc đảm bảo nguồn gốc và truy xuất nguồn gốc sản phẩm rất được các nước
EU coi trọng, nhất là đối với hàng nhập khẩu.Các quy định của Cộng đồng Châu Âu
về truy xuất nguồn gốc sản phẩm có hiệu lực từ tháng 1 năm 2005 và được làm rõ hơn qua Qui định (EC) số 178/2002
Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm sẽ giúp cho EU tìm lại và đánh giá được quy trình sản xuất có đảm bảo các yêu cầu về môi trường hay không.Chính vì lý do
đó, gần đây EU yêu cầu các nhà xuất khẩu tuân thủ các qui định về truy xuất nguồn gốc thậm chí trong trường hợp các nhà xuất khẩu tại các nước đối tác thương mại theo luật không đòi hỏi.Việc kiểm soát sẽ được cơ quan thanh tra tiến hành tại địa
Trang 26điểm nhập khẩu hoặc kiểm chứng tại nước thứ ba, tại địa điểm xuất khẩu hoặc kiểm tra ngẫu nhiên ngay cả khi sản phẩm vào thị trường nội khối
Gỗ và các sản phẩm từ gỗ là một trong những nhóm sản phẩm được yêu cầu khá khắt khe về nguồn gốc xuất xứ vì liên quan tới vấn đề rừng và môi trường nguyên sinh.EU cấm nhập khẩu và bán gỗ và các sản phẩm làm bằng gỗ được khai thác bất hợp pháp.Các sản phẩm nhập khẩu phải chứng minh nguồn gốc chính xác của gỗ và rằng nó đã được cắt một cách hợp pháp Quy định (EU) No 995/2010 của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 20 tháng mười 2010 đề ra các nghĩa vụ của nhà khai thác những người đặt gỗ và sản phẩm gỗ trên thị trường được áp dụng vào 03 tháng ba năm 2013 Quy chế này bao gồm một loạt các sản phẩm gỗ bao gồm sản phẩm gỗ, ván sàn, gỗ dán, giấy và bột giấy.Không bao gồm những sản phẩm tái chế, cũng như giấy tờ in như sách, tạp chí và báo chí.Quy chế này áp dụng cho cả gỗ nhập khẩu và sản xuất trong nước của 28 nước thành viên
Bạn sẽ cần một giấy phép FLEGT (Forest Law Enforcement, Governance and Trade – Việc thực hiện luật bảo vệ rừng, quản trị và Thương mại) đảm bảo rằng các sản phẩm gỗ từ cây chặt một cách hợp pháp và đã được nhập khẩu hợp pháp theo quy định của quốc gia nó được thu hoạch hoặc giấy chứng nhận phù hợp công ước CITEs (CITEs
có bao gồm cả một số loại gỗ).Các nước nhập khẩu gỗ tại EU còn đưa ra một số đề xuất nhằm chặn đứng hoạt động buôn bán các sản phẩm gỗ nhiệt đới Chính quyền địa phương ở Đức, Hà Lan, Áo đã thi hành lệnh cấm sử dụng các loại gỗ nhiệt đới
Để đảm bảo được điều kiện này các doanh nghiệp xuất khẩu cần chú trọng việc quản lý hồ sơ, nhất là đối với việc nhập khẩu các nguyên vật liệu đầu vào và phải đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng và lưu giữ đầy đủ giấy tờ mua bán Các doanh nghiệp tại nước đang và chậm phát triển như Việt Nam đôi khi do thói quen kinh doanh mà không thực hiện tốt việc này dẫn tới khó khăn trong việc làm các thủ tục chứng nhận và chưa đáp ứng được yêu cầu của EU
Thứ tư: Quy định về đóng gói bao bì
Bao bì đóng gói hàng nông sản xuất khẩu khá quan trọng vì hàng nông sản rất dễ bị hư hỏng khi vận chuyển đi xa.Bao bì không chỉ cần đảm bảo bảo vệ cho
Trang 27sản phẩm trong suốt quá trình lưu thông không bị hư hỏng, biến chất mà còn phải thân thiện với môi trường và có khả năng tái chế Bao gói hàng hóa thường được nhiều nước châu Âu áp dụng với các tiêu chí bảo vệ môi trường, yêu cầu các nhà xuất khẩu của các nước phải sử dụng các loại chất dẻo, nhựa, sợi hóa học thay vì sử dụng sợi truyền thống vì họ cho rằng chất dẻo dễ tái chế hơn Luật châu Âu quy định chất lượng các túi nhựa trong thùng carton nên cùng cấp với chất lượng thức
ăn, có nghĩa là tiếp xúc giữa thức ăn và túi nhựa không gây hại sức khỏe Trong trường hợp các sản phẩm cá đóng hộp, có các quy định dành riêng cho chất thủy ngân và catmi bên trong.Đặc biệt việc sử dụng thùng carton phủ sáp và bọc ngoài vốn không tái chế được sẽ ít được chấp nhận
Chỉ thị EU 94/62/EEC quy định: “Bao bì và phế thải bao bì của EU được áp dụng thống nhất cho hàng nội địa và hàng nhập khẩu trên phạm vi các quốc gia thành viên để giảm thiểu, ngăn chặn các tác động không mong muốn tới môi trường” Trong chỉ thị cũng nêu rõ mục tiêu chiến lược của việc quản lý đóng gói và bao bì là hướng tới giảm thiểu rác thải bao bì, bổ sung các nguyên tắc về sử dụng, tái chế và các hình thức khác nhằm tái sử dụng bao bì và chất thải bao bì Các nước cần áp dụng sự tiến bộ của khoa học của công nghệ để nghiên cứu vòng đời và có
hệ thống phân cấp rõ ràng giữa các loại bao bì tái sử dụng, tái chế, thu hồi để có phương án xử lý phù hợp theo hướng an toàn với môi trường
Theo quy định tại các phụ lục của 94/62/EEC thì bao bì được sản xuất với khối lượng bao bì và trọng lượng được giới hạn tối thiểu đủ để duy trì mức độ cần thiết về
an toàn, vệ sinh và chấp nhận cho các sản phẩm đóng gói và cho người tiêu dùng Bao bì phải được thiết kế, sản xuất và thương mại hóa, cho phép sử dụng lại hoặc phục hồi của nó, bao gồm cả tái chế, và để giảm thiểu tác động của nó đối với môi trường khi đóng gói chất thải hoặc đóng gói cặn từ các hoạt động quản lý chất thải sau khi xử lý
Trong quá trình sản xuất bao bì, các chất và vật liệu nguy hiểm, độc hại có thể được sử dụng nhưng phải đảm bảo dưới lượng cho phép (ví dụ đối với các nước thành viên thì tổng các mức nồng độ chì, cadmium, thủy ngân và hexavalent
Trang 28chromium có trong bao bì hoặc bao bì thành phần không được vượt quá 100 ppm theo trọng lượng năm) và có phương án giảm thiểu sự tồn tại trong khí thải, tro hoặc nước rỉ khi chất thải bao bì được đốt hoặc chôn lấp.Đối với các bao bì không tái chế được thì phải đảm bảo khi đốt sẽ không sinh ra các khí độc hại phát tán vào môi trường.Đối với bao gói nguyên liệu gỗ thì cẩn bảo đảm mức độ tối đa và các yêu cầu đặc thù theochỉ thị 2004/102/EC và 2006/14/EC (sửa đổi chỉ thị 2000/29/EC) và cần phải được xử lý và đóng nhãn đảm bảo chất lượng
Ngoài ra, các dấu hiệu ghi trên bao bì phải có ý nghĩa riêng và phải được phổ biến tới người tiêu dùng tại nước nhập khẩu trước trước.Ví dụ bao bì bằng gỗ nhập khẩu vào EU từ các nước khác phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu của tiêu chuẩn ISPM 15 về kiểm dịch thực vật quốc tế Bao bì bằng gỗ phải có dấu hiệu bao gồm:logo IPPC (Hội nghị Bảo vệ thực vật quốc tế); có 2 chữ mã quốc gia;một mã
số mà theo đó để xác định các nhà sản xuất;một mã hiển thị gỗ đã được xử lý như thế nào.Mực in trên bao bì tuy chưa có quy định cụ thể, thống nhất nhưng cũng được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, thành phần các chất trong mực, ngoài ra có một yêu cầu bắt buộc là mực in tuyệt đối không được dính trên thực phẩm nói chung
Việc đầu tư cho bao bì đôi khi cũng chưa được các doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư nhiều để giảm thiểu chi phí Tại các nước đang phát triển và có nền công nghiệp phụ trợ, cụ thể là các ngành công nghiệp liên quan tới chế tạo bao bì chưa phát triển cũng khá dễ vi phạm các quy định này của EU
1.2.2.2 Các tiêu chuẩn về môi trường của EU đối với nông sản xuất khẩu
Hệ thống rào cản môi trường của EU khá chặt chẽ và để nông sản xuất khẩu Việt Nam có thể tiếp cận cũng như thâm nhập tốt hơn vào thị trường này thì sản phẩm cần trang bị cho mình một số chứng nhận sau:
Thứ nhất: Nhãn sinh thái, nhãn môi trường
Nhãn sinh thái CE (Eco Labelling) hay còn gọi là nhãn xanh hoặc nhãn môi trường là một nhãn được đưa lên nhãn hiệu của sản phẩm nhằm công bố cho người dùng về sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại và
có tác động môi đến môi trường giảm trong suốt vòng đời của chúng, từ việc khai
Trang 29thác các nguyên liệu thông qua để sản xuất, sử dụng và thải bỏ Nói một cách khác nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hay sơ đồ nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm và dịch vụ, tuy nhiên không phải chứng nhận về chất lượng Đối với nông sản, khi được dán nhãn CE của châu Âu thì sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường này và được người tiêu dùng chấp nhận.Tuy nhiên tiêu chuẩn
CE không phải là tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm mà là các tiêu chuẩn về an toàn Một sản phẩm đạt tiêu chuẩn CE điều đó nói lên rằng sản phẩm này đạt độ an toàn cho người sử dụng theo tiêu chuẩn của Châu Âu
Tháng 12/1991, Hội đồng bộ trưởng Châu Âu đã thông qua Chương trình cấp nhãn sinh thái EU số 880/92.EU Ecolabel xác định các sản phẩm và dịch vụ có một tác động môi trường giảm trong suốt vòng đời của chúng, từ việc khai thác các
nguyên liệu thông qua để sản xuất, sử dụng và thải bỏ Trong điều 1 ghi rõ: Nhà sản xuất phải đảm bảo việc thiết kế, sản xuất, tiếp thị và sử dụng các sản phẩm và đã làm giảm tác động môi trường trong suốt chu trì sống của nó và cung cấp người tiêu dùng với các thông tin tốt hơn về tác động môi trường của sản phẩm Nhãn
sinh thái không được trao cho các sản phẩm là chế phẩm loại nguy hiểm theo chỉ thị 67/548/ EEC và 88/379/EEC; các sản phẩm sản xuất bởi quy trình có khả năng gây tổn hại đáng kể cho con người và/hoặc môi trường
Hàng hóa nhập khẩu có thể được dán nhãn sinh thái nếu đáp ứng các yêu cầu
và tiêu chuẩn khắt khe ở mức độ tương đương thị trường nội địa (điều 3, 880/92/EC) Với mỗi nhóm sản phẩm khác nhau, thời gian có hiệu lực cũng khác nhau để đảm bảo khả năng giảm tác động với môi trường Theo quy định của Ủy ban thì một tiêu chí thường có hiệu lực trong từ 3 – 5 năm, sau đó sẽ bị sửa đổi hoặc thu hồi Các doanh nghiệp cần phải công bố được các sản phẩm có sự cải thiện về công nghệ và chứng minh được sự phù hợp thì mới tiếp tục được sử dụng
Nhãn hiệu sinh thái Châu Âu được quản lí bởi Ủy ban nhãn sinh thái Châu
Âu (EUEB) và nhận được sự hỗ trợ của Ủy ban Châu Âu, tất cả các nước thành viên của liên minh Châu Âu và các khu vực kinh tế Châu Âu (EEA) Ủy ban nhãn sinh thái Châu Âu bao gồm các đại diện của các ngành công nghiệp, những nhóm bảo vệ
Trang 30môi trường và hội những người tiêu dùng.Các nhãn sinh thái sẽ được in ngay trên bao bì sản phẩm giúp cho người tiêu dùng dễ dàng nhận biết Logo bông hoa Châu
Âu dành cho những sản phẩm mang nhãn sinh thái tại tất cả các quốc gia thành viên châu Âu.Đây là logo nhãn sinh thái được áp dụng cho hầu hết các loại sản phẩm trừ thực phẩm, đồ uống và sản phẩm y dược Các sản phẩm mang logo này phải là loại sản phẩm có thể tái chế và tái sử dụng theo chu trình: sản phẩm ban đầu- phân phối- tiêu thụ- tái chế Ngoài nhãn chung bông hoa xanh Châu Âu, tại đây còn có một số nhãn sinh thái quốc gia khác cũng được áp dụng và tham chiếu rộng rãi như các nước Bắc Âu có nhãn Thiên nga trắng, Đức có nhãn Thiên thần xanh,
Được công nhận trên khắp Châu Âu, EU Ecolabel là một nhãn tự nguyện và được tin cậy trong việc hoàn thành trách nhiệm với môi trường của nhà sản xuất nên được hàng trăm các công ty trên khắp Châu Âu tham gia Các tiêu chí được thống nhất giữa các nhà khoa học các tổ chức phi chính phủ có uy tín và các bên liên quan Từ các nguyên liệu để sản xuất, đóng gói, phân phối và xử lý, … sản phẩm
EU Ecolabel được đánh giá bởi các chuyên gia độc lập để đảm bảo rằng tất cả các yếu tố đều đáp ứng các tiêu chí làm giảm tác động môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm Các doanh nghiệp phải trả phí cho các quy trình kiểm tra thẩm định sản phẩm để được công nhận đủ điều kiện và phí duy trì theo quy định của (EU) số 782/2013
Mặc dù là một nhãn tự nguyện nhưng người tiêu dùng Châu Âu đã quen với việc sử dụng các hàng được dán nhãn CE nên việc dán nhãn đối với hàng nông sản ngày càng được các nhà xuất khẩu coi trọng
Thứ hai: Bộ tiêu chuẩn môi trường ISO 14.000
Chứng nhận sản xuất nông sản theo bộ tiêu chuẩn môi trường ISO 14.000 cũng là một trong những yêu cầu để đảm bảo sản phẩm phù hợp với các quy định về môi trường của EU ISO 14000 có cấu trúc tương tự như bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, là một bộ các tiêu chuẩn liên quan đến quản lý môi trường nhằm hỗ trợ cho các tổ chức giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường và hiện được chấp nhận trên phạm vi toàn thế giới Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 ra đời năm
Trang 311996, bởi Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc Tế (đại diện cho cộng đồng ISO thế giới).ISO
14000 vừa là công cụ quản lý nội bộ và là cách chứng minh trách nhiệm với môi trường của nhà sản xuất đến người tiêu dùng trong nước và các nước nhập khẩu
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 bao gồm nhiều hệ thống tiêu chuẩn, trong đó cốt lõi nhất là ISO 14001 với những nội dung chủ yếu liên quan tới hoạt động của hệ thống quản lý môi trường (EMS) Sử dụng ISO 14001 có thể giúp các doanh nghiệp
đo lường và cải thiện các tác động tới môi trường, hỗ trợ cải thiện việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, giảm chất thải, cắt giảm chi phí.Phiên bản hiện tại ISO 14001: 2004 là xem xét lần cuối trong năm 2012 do Ủy ban ISO quyết định Phiên bản mới được dự kiến đưa ra vào cuối năm 2015
Tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ đáp ứng nhu cầu tương tự trong lĩnh vực môi trường, và có thể được áp dụng cho mọi loại hình, mọi qui mô của một tổ chức, trong đó các nội dung chính có:
- Hai tiêu chuẩn về hệ thống quản lý môi trường:
ISO 14001: Các yêu cầu, qui định và hướng dẫn sử dụng
ISO 14004: Hướng dẫn chung về nguyên tắc và kỹ thuật hỗ trợ xây dựng hệ thống
- Ba tiêu chuẩn về đánh giá môi trường:
ISO 14010: Hướng dẫn đánh giá môi trường - Nguyên tắc chung
ISO 14011: Hướng dẫn đánh giá môi trường - Thủ tục đánh giá - Đánh giá môi trường
ISO 14012: Hướng dẫn đánh giá môi trường - chuẩn cứ trình độ đối với chuyên gia đánh giá môi trường
Để được cấp chứng nhận ISO 14.000 thì doanh nghiệp phải tiến hành đăng kí với một tổ chức có thẩm quyền và thực hiện đúng theo các quy định tương ứng Sau khi được cấp chứng nhận, doanh nghiệp phải có trách nhiệm đảm bảo thực hiện đúng các quy trình đã đăng kí Các chứng nhận ISO chỉ có giá trị tham chiếu, các
Trang 32nước nhập khẩu có quyền kiểm tra lại theo các quy định tương ứng và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận kết quả
Thứ ba: Các bộ tiêu chuẩn về thực hành tốt trong nông nghiệp: Global GAP, EurepGAP
GlobalGAP là một bộ tiêu chuẩn về nông trại được công nhận quốc tế dành cho việc Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) được tham chiếu và chấp nhận trên phạm vi toàn cầu Giấy chứng nhận GlobalGAP là sự đảm bảo rằng thực phẩm đạt được mức độ chấp nhận được về an toàn và chất lượng, và quá trình sản xuất được chứng minh là bền vững và có quan tâm đến sức khỏe, an toàn và phúc lợi của người lao động, môi trường, và có xem xét đến các vấn đề “phúc lợi” của vật nuôi
EUREPGAP là bộ tiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt của Châu Âu, được ban hành lần đầu vào năm 1997 Tiêu chuẩn này được xây dựng bởi nhóm các nhà bản lé thực phẩm châu Âu (Euro-Retailer Produce Working Group) trong lĩnh vực kinh doanh các thực phẩm nông nghiệp.EUREPGAP được xây dựng dựa trên các nguyên tắc phân tích và phòng ngừa các mối nguy Sử dụng các phương pháp trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), quản lý mùa vụ tổng hợp (ICM) để đảm bảo rằng các sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng là an toàn Trong nội dung của mình, để đạt được chứng nhận EUREPGAP, cơ bản người sản xuất phải đảm bảo trách nhiệm với môi trường trong mọi khâu của sản xuất
Thứ tư: Các chứng nhận môi trường khác về khai thác bền vững, bảo vệ hệ sinh thái và truy xuất nguồn gốc đối với hàng nông sản (thủy sản và gỗ)
Đối với một số ngành sản phẩm nông sản chính xuất sang EU của Việt Nam như thủy sản và gỗ còn cần chú ý đáp ứng thêm một số yêu cầu và quy định đặc thù cho sản phẩm để đảm bảo nguồn gốc và việc khai thác sản phẩm không gây ảnh hưởng tới môi trường Cụ thể về các chứng nhận:
- Chứng nhận sản phẩm không thuộc nhóm động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (chứng nhận CITEs): EU quyết định rằng việc bảo vệ môi trường có bao
gồm cả bảo vệ môi trường sinh thái động thực vật trong tự nhiên, vì vậy các nhà xuất khẩu thực vật, động vật, hoặc các sản phẩm của chúng, phải tuân thủ các quy
Trang 33định đặt ra bởi Công ước CITES để đảm bảo không đe dọa đến việc bảo tồn các loài nguy cấp Công ước về buôn bán quốc tế các loài hoang dã động thực vật (CITES), được ký kết vào năm 1973, nhằm đảm bảo cho thương mại quốc tế trong mẫu vật động vật hoang dã và thực vật sẽ không đe dọa sự sống còn của chúng CITEs quy định bảo vệc hơn 30.000 loài động vật và thực vật với ba cấp độ khác nhau Công ước CITES quy định rõ danh sách các mẫu vật của một số động vật, thực vật hoặc sản phẩm có chứa vật liệu từ chúng (ví dụ như hàng da, thủ công mỹ nghệ, đồ trang sức, hoa, cây, đồ nội thất và đồ cổ) bị cấm hoặc hạn chế trong thương mại Cùng với
đó, EU ban hành Quy định của Hội đồng (EC) số 338/97 của tháng mười hai năm
1996 bảo vệ các loài động vật hoang dã và thực vật cấm nhập khẩu mẫu vật các loài nguy cấp nhất định Đối với mẫu vật của các loài khác, việc nhập khẩu là trong một
số hoàn cảnh cho phép nhưng chỉ nếu hàng kèm theo tài liệu chính thức: giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu hoặc giấy chứng nhận Các quy định về giấy phép, giấy chứng nhận và các tài liệu liên quan được quy định cụ thể trong các quy định
EU số 2015/57 dành cho các doanh nghiệp trong và ngoại khối
Đối với gỗ và các sản phẩm từ gỗ thì cần có các chứng nhận môi trường sau:
- PEFC là viết tắt của Programme for the Endorsement of Forest Certification Schemes là hệ thống chứng chỉ về rừng lớn nhất thế giới PEFC áp dụng cho các khu rừng nhỏ, phi công nghiệp tư nhân, và hàng trăm ngàn chủ rừng
để chứng nhận tuân thủ các chuẩn bền vững mà quốc tế chấp nhận Nội dung của PEFC tuân thủ hoàn toàn Công ước ILO của quốc tế trong những nội dung cơ bản
về quản lý rừng và đặt ra các tiêu chuẩn cao nhất cho chứng chỉ rừng phù hợp với phần lớn các chính phủ trên thế giới, bao gồm cả các trách nhiệm môi trường
- Chứng nhận The Forest Stewardship Council (FSC) là một tổ chức quốc tế thúc đẩy quản lý rừng có trách nhiệm FSC đã phát triển nguyên tắc quản lý rừng,
và một hệ thống truy tìm, xác minh và ghi nhãn gỗ và sản phẩm gỗ, có nguồn gốc từ rừng FSC chứng nhận Ngoài ra từ năm 2013, khi EU thực hiện luật Rừng thì các sản phẩm đạt chứng nhận FLEGT sẽ được ưu tiên hơn khi xuất khẩu vào EU
Đối với thủy sản cần đạt được các chứng nhận môi trường: ASC, MSC
Trang 34- ASC là chữ viết tắt của Aquaculture Stewardship Council (Hội Đồng Quản
Lý Nuôi Trồng Thủy Sản) Đây là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, được thành lập vào năm 2009 bởi Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Tổ chức Sáng Kiến Thương Mại Bền Vững Hà Lan nhằm quản lý các tiêu chuẩn toàn cầu đối với việc nuôi trồng thuỷ sản có trách nhiệm ASC xây dựng bộ tiêu chuẩn ASC dựa trên 4 nền tảng chính là môi trường, xã hội, an sinh động vật và an toàn thực phẩm Chứng nhận theo tiêu chuẩn ASC là sự xác nhận cấp quốc tế đối với thủy sản được nuôi có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, hệ sinh thái, cộng đồng dân cư và đảm bảo tốt các quy định về lao động.Tiêu chuẩn ASC trong nuôi trồng thủy sản được áp dụng cho: các trang trại nuôi, hộ nuôi ở quy mô gia đình và các vùng nuôi
- MSC là chữ viết tắt của Marine Stewardship Council - Hội đồng quản lý biển Đây là một tổ chức quốc tế phi chính phủ được thành lập để khuyến khích các vùng khai thác thủy sản bền vững và thực hành nghề cá có trách nhiệm trên toàn thế giới thông qua các giải pháp thị trường dài hạn, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu
cả về môi trường và thương mại Sản phẩm thủy sản sử dụng nhãn hiệu của MSC đảm bảo được khai thác từ một ngư trường bền vững, được quản lý tốt và được khai thác một cách có trách nhiệm Hiện nay, MSC là một trong số các loại nhãn hiệu sinh thái được chú trọng trên thế giới, nhất là ở các nước châu Âu 17% số người tiêu dùng thủy sản Đức có thể nhận biết và miêu tả về logo của MSC như một dấu hiệu của thủy sản bền vững/thân thiện với môi trường (thống kê năm 2010)
- Ngoài ra tại các nước Châu Âu, các nhà bán lẻ và nhà cung cấp đang sử dụng các nhãn thủy sản khác để quảng bá về chất lượng và tính bền vững của sản phẩm Một số chương trình chứng nhận chính cho nuôi trồng thủy sản tại Đức:
Euro bio (trước là Tiêu chuẩn sinh thái quốc gia Đức)
Naturland – cho sản phẩm sinh thái;
Friend of the Sea – về các vấn đề môi trường;
Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản – về cả vấn đề môi trường và xã hội; Trên bao bì sản phẩm có dán nhãn chứng nhận ASC, MSC CoC giúp người
Trang 35tiêu dùng nhận biết đây là sản phẩm an toàn, có trách nhiệm về môi trường, xã hội
và cam kết sử dụng sản phẩm lâu dài Nhãn chứng nhận có giá trị lên tới 3 năm
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng rào cản môi trường của
EU đối với nông sản xuất khẩu của một quốc gia
1.3.1 Nhân tố quốc tế
Để thâm nhập được vào thị trường EU, Việt Nam nói riêng và các nước xuất khẩu nông sản nói chung phải tìm hiểu khá rõ thị trường nhập khẩu cũng như chủ động đáp ứng được các yêu cầu khắt khe cả về kỹ thuật, trong đó có tiêu chuẩn môi trường Một số nhân tố nước ngoài có ảnh hưởng tới khả năng vượt qua rào cản môi trường của EU đối với hàng nông sản xuất khẩu của một quốc gia có thể kể tới như:
Thứ nhất: Yêu cầu của người tiêu dùng EU đối với trách nhiệm môi trường của hàng nhập khẩu.Người tiêu dùng EU chính là những người sử dụng sản phẩm
cuối cùng và việc đề cao trách nhiệm môi trường sẽ buộc các nhà sản xuất phải cung cấp các sản phẩm tương ứng.Cùng với sự phát triển kinh tế và hệ thống pháp luật, quy định, người tiêu dùng EU cũng có ý thức hơn hẳn đối với vấn đề môi trường, họ sẵn sàng trả giá cao hơn và ưu tiên tiêu dùng đối với các sản phẩm được chứng nhận môi trường, được dán nhãn sinh thái, hướng tới là người tiêu dùng
“xanh”, vì vậy các nhà xuất khẩu bắt buộc phải thay đổi để đáp ứng được yêu cầu
của người mua cuối
Người tiêu dùng EU cũng thích các hàng hóa có thương hiệu vì họ cho rằng những nhãn hiệu nổi tiếng này gắn với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời cho nên dùng những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ rất an toàn về chất lượng và
an tâm cho người sử dụng Tuy nhiên nếu các doanh nghiệp sản xuất bị phát hiện không đảm bảo về chất lượng hay các nghĩa vụ về xã hội và môi trường thì thì hàng hóa đó có thể bị tẩy chay trên thị trường trong nước và toàn khối Chính vì vậy thương hiệu phải được xây dựng tổng hòa trên nhiều yếu tố gồm cả chất lượng sản phẩm, trách nhiệm với môi trường và xã hội và phải được giữ gìn qua thời gian
Thứ hai: Kết quả từ các dự án hỗ trợ của EU và tổ chức quốc tếđối với vấn
đề sản xuất nông sản hướng tới đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường của quốc tế nói
Trang 36chung và tại EU nói riêng Có thể nói trình độ phát triển tại EU hơn hẳn các nước
đang và chậm phát triển nên việc áp dụng, thẩm định và kiểm soát các tiêu chuẩn môi trường cũng cao và khắt khe hơn.Thêm vào đó là vấn đề về khoảng cách địa
lý, khả năng tiếp cận và chuẩn bị các giấy tờ thủ tục đảm bảo yêu cầu của EU về môi trường của doanh nghiệp cũng không phải đơn giản và tạo thêm các chi phí cho doanh nghiệp nên thường gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tại các nước đang và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.Các quy trình và chi phí để được cấp các chứng chỉ, chứng nhận đạt tiêu chuẩn của EU sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc đáp ứng của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Thủ tục càng thuận lợi nhanh chóng và chi phí càng thấp thì càng tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp sẵn sàng thực hiện, thay vì tìm cách đối phó
Thể hiện sự thiện chí của mình trong thương mại quốc tế, EU cũng chủ động mở rộng các cổng thông tin, đối với quy định và tiêu chuẩn bao giờ cũng kèm theo các nội dung hướng dẫn thực hiện, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành, các cổng tư vấn thông tin,… nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tại các nước xuất khẩu nông sản có thể nắm bắt và thực hiện được Bên cạnh đó EU và các tổ chức quốc tế khác như WTO đã và đang nỗ lực hỗ trợ các quốc gia thực hiện các dự án về môi trường, trong đó có bao gồm cả việc xử lý vấn đề ô nhiễm hiện tại và cải thiện khả năng sản xuất theo hướng thân thiện hơn, đảm bảo an toàn với môi trường hơn Đây chính là cơ hội đối với các nước đang và chậm phát triển để tận dụng cả ngân sách
và công nghệ chuyển giao nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm nông nghiệp trong nước, đáp ứng tốt hơn với các yêu cầu về môi trường khi xuất khẩu sang EU
Thứ ba: Tác động từ các hiệp định kinh tế song phương và đa phương
Trong xu hướng toàn cầu hóa và các nước ngày hướng tới hợp tác kinh tế toàn diện
đã dẫn tới việc dỡ bỏ dần các rào cản thuế quan, việc áp dụng và kiểm soát các rào cản môi trường của EU đối với hàng nông sản sẽ ngày càng được thắt chặt, gây nhiều khó khăn hơn đối với doanh nghiệp tại các nước xuất khẩu, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên khi giảm thuế, doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ giảm nhẹ chi phí và
Trang 37có thể đầu tư hơn cho các yếu tố về bao bì, chất lượng, xin cấp các chứng nhận, nhãn sinh thái,… Thêm vào đó các luồng vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng thêm, kèm theo các chuyển giao công nghệ, quy trình sản xuất và quản lý tiên tiến cũng có tác động tích cực, cải thiện sản xuất nông sản trong nước tiếp nhận theo hướng thân thiện với môi trường hơn và tăng khả năng đáp ứng các yêu cầu của EU
Hiện nay EU cũng đang tích cực mở rộng quan hệ thương mại thông qua việc kí kết các FTA với các nước ở Châu Á, trong đó có Việt Nam.Cùng với các thỏa thuận về ưu đãi trong thương mại, trong quá trình đàm phám cũng như kí kết
và thực hiện các FTA, quan hệ EU và các nước đang phát triển đã mở thêm nhiều lĩnh vực khác có lợi cho cả hai bên, đặc biệt là thúc đẩy thực hiện các chính sách môi trường và đàm phán để giải quyết các vấn đề khó khăn của các nhà xuất khẩu khi tiếp cận thị trường EU Ví dụ cụ thể đối với Việt Nam: việc đàm phán và kí kết FTA vào tháng 12/2015 đã mang lại nhiều cơ hội cho các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam để nâng cao khả năng đáp ứng các rào cản môi trường của EU Bên cạnh việc giảm thuế, EU cũng có nhiều hoạt động đầu tư và hỗ trợ Việt nam vượt qua các rào cản kỹ thuật, trong đó có rào cản về môi trường nhằm mục tiêu tăng cường giao lưu thương mại giữa hai nước Thêm vào đó hai bên cùng thống nhất các nội dung
về một số vấn đề liên quan tới các rào cản môi trường của EU như quy tắc xuất xứ, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật, … cùng với đó EU
sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam và phần lớn trong số này là hàng nông sản, thực phẩm Bên lề việc đàm phán và kí kết FTA, EU cũng đã triển khai một số dự án hỗ trợ Việt Nam về môi trường hay dự án hỗ trợ
triển khai áp dụng FLEGT đối với các sản phẩm từ gỗ khi đưa vào thị trường EU
Các rào cản môi trường của EU phần lớn là hợp lý và đảm bảo áp dụng công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và nội khối nên hầu như không giảm trừ khi đàm phán kèm theo các hiệp định hợp tác kinh tế Tuy nhiên EU cũng áp dụng nhiều hình thức khai báo, kiểm soát có giá trị tương đương để đánh giá việc đáp ứng tiêu chuẩn môi trường cho phù hợp với tình hình phát triển tại các nước khác nhau
1.3.2 Nhân tố trong nước
Trang 38Bên cạnh những tác động của yếu tố bên ngoài thì các yếu tố trong nước mới
có vai trò quyết định đối với khả năng đáp ứng yêu cầu về môi trường đối với hàng nông sản.Về cơ bản thì nông nghiệp và sản xuất nông sản thường là vấn đề quốc gia
và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước.Tại các nước đang và chậm phát triển, nông nghiệp vẫn là ngành chủ lực và truyền thống nên việc tái cơ cấu, chuyển đổi phương thức sản xuất tiến bộ hơn thường khá chậm chạm và gặp nhiều khó khăn Một số nhân tố trong nước và ảnh hưởng tới việc đáp ứng các rào cản môi trường của EU có thể kể tới gồm:
Thứ nhất: Hệ thống luật pháp về môi trường nói chung và các tiêu chuẩn đối với xuất khẩu nông sản nói riêng.Hệ thống luật pháp về môi trường của các quốc
gia được xây dựng trên tình hình thực tế về sự phát triển, phương thức sản xuất, thói quen sản xuất và tiêu dùng,…và khác nhau giữa các khu vực Thường sản xuất để xuất khẩu có thể tách riêng nhưng vẫn nằm trong hệ thống sản xuất sản phẩm chung của một quốc gia vì vậy nếu hệ thống quy định, quy chuẩn quốc gia càng cao, càng gần với quy định của EU thì hàng hóa xuất khẩu càng có khả năngđáp ứng các rào cản môi trường EU tốt Tại các nước đang phát triển, hệ thống luật pháp về môi trường thường chưa được chặt chẽ, hệ thống tiêu chuẩn thường chưa có hoặc mức
áp dụng chưa cao để có thể phù hợp với tình hình sản xuất trong nước nên hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường lớn như EU gặp khá nhiều khó khăn để đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường cao hơn
Thứ hai:Khả năng quản lý của các cơ quan nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu nông sản: Khả năng quản lý của nhà nước đối với xuất khẩu nông sản là
rất quan trọng.Trước tiên nhà nước phải kiểm soát quá trình sản xuất có đảm bảo thân thiện với môi trường không Quy định về môi trường của EU không bị giới hạn bởi tác động tới môi trường của nước nhập khẩu mà còn đề cao việc sản xuất hàng hóa phải thân thiện với môi trường ở nước xuất khẩu, đảm bảo truy xuất nguồn gốc
và tùy mức độ vi phạm thì EU sẽ có các biện pháp xử lý khác nhau Thường thì việc theo dõi và đánh giá ở khâu thành phẩm sẽ đơn giản, đỡ tốn thời gian và chi phí hơn nhưng sẽ không đảm bảo đáp ứng được quy định của EU Thêm vào đó nếu EU phát hiện các trường hợp không đáp ứng thì có thể ban lệnh cấm nhập khẩu sản
Trang 39phẩm từ quốc gia đó trên toàn khối nên các cơ quan nhà nước phải thống nhất và kiểm soát được chất lượng các lô hàng xuất khẩu
Thứ ba: Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất
và chế biến hàng nông sản xuất khẩu: Trình độ phát triển khoa học và công nghệ
của quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.Việc áp dụng khoa học công nghệ sẽ giúp tiết kiệm được tài nguyên, cải thiện phương thức sản xuất giúp cho năng suất cao hơn, chất lượng cao hơn Đầu tư nghiên cứu những loại thuốc trừ sâu an toàn với môi trường hơn, bao bì thân thiện và dễ phân hủy hơn,… đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của công nghệ Tất nhiên các sản phẩm trung gian của quá trình sản xuất có thể đi nhập từ nước ngoài nhưng chi phí khá cao nên
sẽ khiến doanh nghiệp e ngại.Chính vì vậy cần phát triển công nghệ sẽ giúp tăng
năng suất, chất lượng và tăng khả năng đáp ứng yêu cầu về môi trường của EU
Thứ tư: Hệ thống đánh giá, cấp chứng nhận cho hàng nông sản: Nhà nước
có trách nhiệm quản lý và cấp các chứng nhận cho hàng hóa trước khi xuất khẩu
Hệ thống đánh giá, cấp giấy chứng nhận cần được đầu tư và bố trì cho phù hợp với các vùng được quy hoạch sản xuất hàng nông sản xuất khẩu sang EU và có sự đầu
tư về cơ sở hạ tầng và cán bộ chuyên môn cho việc phân tích và đánh giá thì mới có khả năng cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn có giá trị khi xuất sang EU, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
Thứ năm: Các chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho xuất khẩu nông sản nông sản của nhà nước và liên kết các doanh nghiệp cùng xây dựng thương hiệu quốc gia.Nông nghiệp vốn là lĩnh vực mà nước nào cũng quan tâm và
đặt dưới sự điều tiết, đặc biệt là tại các nước đang và chậm phát triển.Tuy nhiên quy
mô sản xuất thường nhỏ lẻ nên khó quản lý về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ Để hướng tới xuất khẩu nông sản, các nước đều phải có những biện pháp riêng cho từng thời kì nhằm thúc đẩy sản xuất, tăng cường xuất khẩu và phần lớn đều hướng tới hiện đại hóa, thân thiện hơn với môi trường Với một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, chi phí đầu tư cho các yếu tố khác như bao bì, công nghệ môi trường, làm tăng chi phí sản xuất một cách đáng kể Chính vì vậy để nâng cao khả năng đáp
Trang 40ứng được với các rào cản môi trường thì các ngành công nghiệp phụ trợ cũng phải được đầu tư và phát triển tương ứng Trợ cấp trong xuất khẩu đã bị cấm tại WTO nhưng các chính sách phát triển ngành về quy hoạch vùng nguyên liệu, khuyến khích
và hỗ trợ xây dựng thương hiệu quốc gia, hỗ trợ thông tin, thì vẫn được chấp nhận và
sẽ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cùng ngành sản phẩm thống nhất theo
một hướng, cùng phát triển các thương hiệu sản phẩm quốc gia
Thứ sáu: Chiến lược sản xuất của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản.Doanh nghiệp xuất khẩu có thể đi theo hai hướng: từ nhu cầu của người tiêu
dùng để sản xuất hoặc từ sản phẩm để đi tìm người tiêu dùng phù hợp Bên cạnh đó việc lựa chọn thị trường sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và cách tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.Nếu doanh nghiệp tập trung vào thị trường EU thì sẽ buộc phải tự cải
thiện để đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường để thuận lợi cho việc xuất khẩu
Nông sản vốn là hàng hóa thiết yếu nhưng không có nhiều tính đặc thù nên buộc các nhà sản xuất phải làm ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.Thị trường nông sản thế giới khá phong phú và các nhà sản xuất có nhiều
sự lựa chọn cho hàng xuất khẩu, các nhà nhập khẩu EU cũng có nhiều sự lựa chọn bạn hàng.Các thị trường như EU tuy có tiêu chuẩn cao nhưng khi đã tạo được chỗ đứng trên thị trường thì sẽ khá ổn định nên thường được hướng tới trong dài hạn
Các doanh nghiệp trong ngắn hạn có thể hướng tới các thị trường dễ tính và
có yêu cầu thấp hơn nhưng về dài hạn cần có chiến lược đúng đắn nhằm cải thiện quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm để có thể đáp ứng các rào cản EU và hướng tới các thị trường ở phân khúc trên này Do hệ thống tiêu chuẩn của EU ở mức chặt chẽ bậc nhất nên khi đã đáp ứng được thị trường này thì về cơ bản sẽ dễ dàng đáp ứng cả các thị trường khác và thậm chí các chứng nhận chất lượng của EU
có thể sử dụng để tham chiếu tại các nước khác
Thứ bảy: Sự phát triển của các hiệp hội ngành hàng, các chuỗi liên kết dọc trong ngành.Để làm ra một sản phẩm cần phải đi qua nhiều công đoạn: thu mua
nguyên liệu, phân loại và sơ chế, chế biến, đóng gói, và cần tới sự tham gia của nhiều thành phần, cả hộ gia đình, trang trại, nhà máy chế biến đóng hộp, có thể cả các